Feeds:
Posts
Comments

TÔI VIẾT TÊN EM

thơ Uyên Thúy Lâm, nhạc Nhất Chi Vũ, ca sĩ Lan Anh trình bày:

 

 

 

ToiVietTenEm

Advertisements

Mark Surridge

TỎ TÌNH MÙA THU 

 

Em cất thơ rồi anh ạ
Bây chừ chỉ còn anh thôi
Gió thu ngó nghiêng khe cửa
Hình như mùa rủ anh về.

Mùa thì vẫn thu như thế
Song thưa  mưa hát dịu dàng
Con chuồn chuồn đang mắc cỡ
Đêm qua hẹn bạn vội vàng.

Thôi thì cất bớt đa mang
Bình yên nghe mùa kể chuyện.

Nguyễn Hồng

 

Tua

CÂY ÐA NƠI ÐỈNH MIẾU

 

Trích một chương trong TIẾNG CỒNG

NAM DAO

                                                                                           

 

 

Chập tối, chuyến xe cuủa cà phê Sinh từ Hà Nội lăn bánh rào rạo trên lớp đá xanh raủi trước sân.  Mẹ gọi.  Khách sạn bật đèn lên. Sa từ dưới bếp vội chạy vào buồng vén tóc, xốc lại áo, rồi ra phòng tiếp khách.  Tiếng người hướng dẫn du lịch từ sân vẳng lại một thứ ngôn ngữ có thể hiểu là tiếng Anh, vì cứ chốc chốc, anh ta ngừng nói, đệm vào * exì, exì…+, nghe đoán ra là * yes, yes…+.  Mẹ mừng, đứng dậy cười hơ hơ, hỏi nhỏ *… Sa này, được bao nhiêu ? +.  Nhìn qua kẽ song cưủa sổ, Sa đáp *… bốn, năm.  Có thể là sáu khách +.  * Có thế thôi à ? +, mẹ có chiều thất vọng.  Sa tần ngần *… mùa này lạnh rồi, mẹ ạ ! +.

 

Khi khách vào, Sa lấy giọng vui veủ * Welcome to Sapa.  Do you have a good trip ? +[1][1][1].  Khách lịch sự, keủ nói * yes +, người gật đầu.  Sa đếm, thế là chỉ có bốn.  Nàng nhìn sổ rồi sắp phòng.  Một cặp, phòng lớn.  Còn hai anh độc thân này, mỗi người một phòng nhoủ.  Sa hoủi anh hướng dẫn du lịch *… Sao Hà Nội điện xuống baủo có sáu cơ mà ? +.  Anh ta nuốt ngụm nước, vừa uống vừa đáp *… khách lại boủ.  Mình phaủi nhập với khách bọn cà phê  Trốt Tơ mới đi được.  Còn một toán khác ơủ khách sạn Xuân Hồng…á+.  Nói xong, anh đổi giọng, trầm xuống một cung, bắt đầu bằng * exì, exì… +  và hẹn khách xuống phòng ăn vào lúc tám giờ tối.  Anh ngoác mồm cười nhưng không giấu được veủ moủi mệt * Please, take a rest, exì… see you later ! +[1][1][1].

Khách lục tục đi lên thang.  Sa cầm chìa khóa, đưa khách vào từng phòng, miệng hoủi * Tây ba lô à ? +.  Anh hướng dẫn cười *… một thôi+, tay chỉ, anh tiếp *… chú đây người mình !  Còn hai ông bà kia là người Pháp.  Thằng Tây ba lô là Mỹ chính hiệu đây ! +  Sa cười, nhìn cặp vợ chồng, ngượng ngập *… Ah, ah.  Bonsoir ! +[1][1][1].  * Bà này cũng là người mình, không nói được tiếng Việt bao nhiêu, nhưng hiểu một chút… +, anh hướng dẫn quay sang nhìn người đàn bà vừa nói vừa cười.  Người đàn bà trạc trên bốn mươi nghe rồi gật đầu, nhìn Sa nói trọ trẹ * … Ah, oui… tên Việt tôi là Lan.  Bích Lan… +.

 

Sapa tối nhanh tựa như chùm chăn, thoáng một cái là đất trời đen màu mực.  Ðêm không trăng, không sao.  Trước cưủa khách sạn, ngọn đèn đường màu vàng bệnh hoạn hắt một khoaủng sáng uủ ê xuống con lộ đang sưủa lại, bên lề để ngổn ngang gạch đá.  Trong phòng ăn, hai ngọn đèn nê-ông ơủ ngay giữa trần nhà, thỉnh thoaủng lại chớp chớp như động kinh, trắng lạnh lẽo khiến da mặt người tái bệch đi.

 

Ðúng tám giờ, đám khách du lịch đã đuủ mặt, quần áo tươm tất hơn.  Tây ba lô, tên là Billy, dềnh dàng đi lại bàn kéo ghế ngồi.  Nó nhìn Sa, nói đùa :

– Come on !  I= m so hungry that I can eat you…[1][1][1]

 

Người đàn ông tuổi trạc trên dưới sáu mươi tuổi lịch sự kéo ghế cho vợ.  Bà nói * Merci +.  Billy lại lên tiếng, nói với Hà, giọng mũi Texan :

– Này, bạn. Cái gì đây ?

 

Tay cầm lấy baủng thực đơn, Billy chìa ra.  Người tên Hà đọc rồi đáp :

– Thịt.  Thịt nai.  Thịt rắn…  Ðuủ thứ thịt rừng.

 

Billy nhăn nhó :

– Tao chỉ thèm một cái Big-Mac và french frites, với ketchup [1][1][1].

 

Nó quay sang cặp vợ chồng Pháp, cười nói tiếng Pháp giọng Mỹ ngọng ngịu:

– N=est-ce pas, phaủi không ?

 

Người đàn ông khó chịu nhìn vợ, hỏi nhoủ :

– Marthe, em ăn gì ?

 

Marthe ngần ngừ rồi bật cười, tay chỉ vào thực đơná:

– Này!  André… Du loup sauvage! Anh muốn thưủ không ?

 

Lắc đầu không tin,  André mỉm cười nhờ Hà dịch.  Hà gật đầu baủo :

– Thịt sói… Ðúng đấy !

1

 

André nhăn mặt.  Thằng Billy lại  hô hố :

– ƠẨ Hà Nội, ăn thịt chó nhà.  Lên đây ăn thịt chó sói… Fantastic [1][1][1] !

 

Lúc đó, anh hướng dẫn du lịch mới nói, giọng khẩn khoản :

– Chó, không phaủi chó sói đâu !  Nhưng tôi đề nghị quí vị đừng ăn.  ƠẨ đây, nhỡ đau bụng thì… chẳng phaủi như ơủ Hà Nội.  Xin hãy chọn những món thông thường như gà, bò…

 

Bữa ăn là một bữa ăn bình thường như mọi bữa ăn trong những khách sạn dành cho khách du lịch nước ngoài, vừa đắt, vừa không ngon. Sa chạy lăng quăng, lúc nào cũng cười, mang thức ăn, rót nước, và dọn bát đĩa.  So với con gái ơủ đây, Sa cao hơn nưủa cái đầu.  Tóc nàng đen màu gụ, thắt thành bím dài chấm vai.  Khi Sa baủo Sa đã hai mươi tuổi, không một ai tin.  Thằng Billy vừa nhồm nhoàm, vừa kêu :

– Mày chỉ độ mười bốn, mười lăm là cùng…

 

Sa lại cười :

– Thank you !

 

Chợt Marthe giơ tay lên làm dấu,  miệng khẽ xuỵt xuỵt.  Nàng lắng tai rồi nói nhoủ :

– Có nghe thấy gì không ?  Các bạn …  lắng nghe.

 

Mọi người ngơ ngác.  Marthe thì thào :

– Tiếng nhạc.  ChắÔc nhạc baủn xứ.  Tiếng như khèn… Lại còn tiếng một thứ âm vọng từ chất kim, các bạn nghe thấy chứ ?

 

*

 

 Sáng tinh mơ, tiếng đập đá trước khách sạn đã vang lên.  Marthe choàng chiếc áo len, ra ngoài hiên.  Lúc đó, Sa đang ngồi giặt những tấm khăn traủi bàn.  Ðến gần, Marthe vui veủ :

– Trời ơủ đây sáng lạnh nhỉ ?

 

Sa đáp :

– Thưa cô, chốc có nắng sẽ ấm lên !

 

Marthe hoủi :

– Cô, cô nghĩa là gì ?…

 

Nghe Sa giaủi thích, bất cứ ai nhoủ tuổi hơn mẹ, đều được gọi là cô, là dì… như người trong gia đình.  Cách gọi đó vừa thân mật, vừa kính trọng, và lại vừa lịch sự.  Marthe ầm ừ :

– Bên Pháp, gọi là Tata…

 

Sa lập lại *… Tata ? +.  Gật đầu Marthe tiếp :

– Không phân biệt em cuủa cha, hay cuủa mẹ.  Tất caủ là Tata.

 

Sa ngước nhìn, cười rũ rượi, rồi nói :

– Thế cháu gọi cô là Tata nhé …

 

Marthe cũng cười.

 

Bỗng có tiếng sáo ngang réo rắt từ tầng trên khách sạn vẳng lại.  Marthe lắng nghe, hoủi :

– Ai thổi sáo đấy ?

 

– Dạ, ông người Mỹ.  Tên là Freddy.  Ông ấy baủo đấy là cách gọi tắt Frederic.  Thôi, cháu phaủi vào dọn ăn sáng – Sa cười, giọng ngượng nghịu – Tata nhé…

 

Nhìn bóng Sa lẩn vào sau, Marthe lững thững đi vào khu vườn nằm phía hông khách sạn.  Chuyến xe từ Hà Nội hôm qua khơủi hành vào sáu giờ sáng.  Thế là sau mười hai giờ đường mới tới Sapa, lắm đoạn xe xóc nẩy lên, người Marthe doãi ra baủi hoaủi.  Nhìn lên cao,  mây chập chùng vây quanh che những đỉnh núi chót vót.  Mắt đaủo một vòng, Marthe tự hoủi đỉnh Phăng Xi Păng là đỉnh nào nhỉ ?  Giữa trời mây trắng kết thành những taủng bông lượn lờ dưới ánh nắng sớm vàng tươi. Ưỡn người hít đầy không khí, Marthe lim dim, tai vẫn nghe tiếng sáo ngang, miệng lẩm nhẩm theo nhạc điệu lúc trầm lúc bổng.

 

 Marthe mở cánh cổng bước lên hàng hiên. Khách sạn là một loại vila xây có lẽ từ thời Tây, ba tầng, trần cao, tường mới quét vôi vàng nhưng không che dấu được những vết rạn nứt của một thời đã qua.  Vuốt lên thớ gỗ bóng loáng của cái tay vịn cầợu thang đi lên tầng trên, Marthe bỗng tự nhiên bùi ngùi mà không rõ tại sao. Nàng lẳng lặng ngồi xuống chiếc ghế bành, vơ vẩn thả mình vào một cõi mông lung. Bất thình lình, anh hướng dẫn du lịch cất tiếng gọi khách.  Marthe bước xuống.

André ra đón vợ, vòng tay quàng lấy vai Marthe,  hôn lên má, dịu dàng  :

– Khoủe chứ ! Mình nguủ có ngon không ?

 

Marthe ngước lên, gật đầu :

– Oui… Nguủ ngon chứ, đi đường mệt thế nên nhắm mắt là không biết gì nữa…

 

Anh hướng dẫn khuyên mọi người ăn cho no trước khi đi treking[1][1][1].  * Ngày hôm nay, sẽ đi hai mươi cây số, anh giơ tay, exì, hai mươi cây đường núi chứ không phaủi đường bằng đâu !+, anh vừa cười vừa nói.   Ðám khách du lịch ngồi vào bàn.  Thằng Billy nhaủy quẫng lên :

– Ăn sáng, bây giờ thì quen ăn phơủ… No toast, no eggs [1][1][1]… chỉ phơủ.

 

Mang ra đặt trước mặt Marthe một ly cà phê, Sa chỉ về phía một người maủnh khaủnh ngồi trong góc, nói :

– Tata, Freddy đấy…  Ông ta ơủ đây caủ tháng rồi.

Ghé vào tai André, Marthe thì thầm rồi đứng dậy đi về bàn Freddy.  Marthe mời :

– Anh ra ngồi bàn chúng tôi cho vui.

 

Freddy lắc đầu, lạnh lẽo cám ơn.  Marthe chưng hưủng, ngượng nghịu :

– Anh là nhạc sĩ ?  Tôi nghe anh thổi tác phẩm cuủa Richter lúc nãy…

 

– Không!  Bây giờ tôi chỉ thổi sáo cho mình  tôi thôi !

 

Marthe nhẹ nhàng :

– Thế anh làm gì ?

 

Freddy ngưủng lên, mắt  nhìn Marthe, buông thoủngá:

–  I chase butterflies !Tôi là keủ đi săn bướm !

 

Tay chỉ vào một bộ vợt bướm to nhoủ đủ các cỡ, Freddy thủnh thỉnh tiếp :

– Ngày nào tôi cũng vào rừng… Ăn sáng xong là đi!

 

Marthe vui veủ reo :

– Cái nghề đến hay !  Thật tuyệt…

OSGSIMG_4772

Nàng quay về bàn.  André ngước mắt lên ra dấu chào Freddy, nhưng hắn đã đứng dậy, lưng quay về phía đám du khách.  Tay xách vợt bướm, Freddy đi ra, không nói năng gì.  Thằng Billy kêu lớn :

– Này  bạn, đi vui nhé!

 

Thấy Freddy không ngoái lại, nó thò ngón tay troủ vào thái dương, ý nói chắc là không bình thường.  Rồi nó quay ngón tay troủ, thọc lên trời, lẩm bẩm nhưng để ai nấy đều nghe thấy * Fuck you !  Fool ! [1][1][1]+.

 

*

 

Mẹ quờ quạng tìm các gắp than, tay quơ qua quơ lại  trên miệng chiếc lò bếp bằng gạch, rồi gọi nhỏ :

– Sa ơi !  Mẹ nghe trời lại trơủ mưa, phaủi không con ?  Gió nữa, gió to đấy !

 

Vừa múc nước đổ vào nồi, Sa vừa nói :

– Mưa rồi… Sáng trời còn trong vắt, đùng một cái là mưa.  Này, mẹ…

 

Mẹ đưa tay đỡ lấy nồi, đặt lên bếp.  Nhấc cặp kính đen ra, mẹ lấy khăn chấm mắt, rồi lại đeo vào.

– Cứ mỗi lần mắt chaủy nước là y rằng mưa.

 

Sa ngoaủnh lại.  Có lẽ caủ năm nay mẹ nhập nhòa chẳng nhìn thấy gì nữa.  Ðiều đó, có phaủi là giá phaủi trả cuủa ba năm mẹ khóc ngày khóc đêm ?  Sa không biết.  Hoặc Sa cố tình cho mình cái phép được coi như không biết ?  Mẹ lại lên tiếng :

– Ðêm qua tao lại nằm mơ thấy anh mày.  Mỗi lần như vậy, là y rằng sắp lại có chuyện gì…  Tao thấy nó gõ cưủa, tay cứ chỉ lên đỉnh Hàm Rồng, Sa ạ !

 

Sa tiếp tục thái rau.  Mẹ im lặng, quạt bếp phành phạch.  Lát sau, mẹ hoủi :

– Ông phát thư qua chưa ?

 

Sa đáp * Dạ, rồi ! +.  Nàng chắc chắn rằng dẫu không hoủi nhưng trong đầu mẹ là câu mẹ đã từng hoủi ba năm liền * có thư cha cho mẹ không con ? +. Ba năm liền Sa baủo * không ! +.  Nàng không mơủ, cất đi những bức thư đó trên kèo nhà, mặc dầu sau câu traủ lời đó là mẹ lại kêu mệt, nằm dấu mặt vào tường giaủ vờ nguủ, ấm ức khóc một mình.  Sa nhớ tới bức thư Sa bịa ra chuyện bước thêm bước nữa cuủa mẹ.  Nàng tươủng tượng veủ mặt cha  nhăn nhó lại khi đọc *… mẹ có người khác, chỉ xin cha cho mẹ yên, xây dựng một hạnh phúc mới…  và cha đừng bao giờ trơủ lại đất Sapa này nữa ! +.  Từ đó cha chỉ viết cho Sa, chẳng nhắc gì tới mẹ.  Khi traủ lời, không bao giờ Sa trách móc gì cha, úp mở để cha đoán là mẹ sống yên lành vui vẻ.  Chuyến cha vào Ðàng Trong thành một chuyến đi không ngày trở lại. Ðám bạn cũ ruủ cha về sống ơủ Ðà Lạt, rồi cha vẽ và trình bầy cho tờ báo có cái tên là lạ là Lang Biang.  Sa chưa từng thấy tờ báo.  Có dịp về Hà Nội, Sa đi tìm mua.  Người ta ngớ ra, baủo * … chưa nghe thấy !  Báo gì đấy? Chắc lại là loại Kiến Thức Phổ Thông hẳn ? +.  Sa không biết, lắc đầu.

Ðến nay, cha chưa biết là mẹ gần như mù.  Bức thư cuối, cha viết *… Sa con, cha mừng là con học xong cấp ba, và biết phấn đấu học thêm ngoại ngữ.  Cha còn một ước vọng : cha mong con học lên đại học+.  Thư traủ lời, Sa đáp *… con sẽ đi học ngành Ðiện aủnh như cha khi xưa.  Con sẽ thực hiện những bộ phim cha ao ước nhưng chưa làm được. Viết cho đất nước mình một bộ * Chiến tranh và Hòa bình + như Lép Tôn Toi, con sẽ quay phim, mời cha đóng một vai +.  Cha vội vã viết ngay *… Thôi, đừng đi theo vết xe đổ, cái ngày con vẽ ra còn xa.  Trên Ðại học Ðà Lạt, có môn Luật pháp. Cha đề nghị con học môn Luật, vì đất nước chúng ta sẽ cần, rất cần luật…  Mọi việc, cha lo.  Bây giờ con phaủi thuyết phục mẹ.  Vaủ lại, như con đã báo, nay mẹ con đi thêm một bước rồi, để con xa nhà vì tương lai chắc mẹ cũng vui lòng… +.

 

Quay sang nhìn mẹ, lòng bỗng chùng xuống, Sa ngậm ngùi nói :

 – Mẹ ạ !  Có thư đấy !

 

Mẹ vội vãá:

– Cuủa cha à.  Cha có nói gì không ?

 

Sa đáp :

– Cha baủo con đi học Luật trên Ðà Lạt, nơi cha ơủ !

 

Mẹ im lặng.  Một lát sau, mẹ tức tươủi :

– Cha có hoủi gì đến mẹ không ?

 

Như mọi lần, câu mẹ hỏi lại đẩy Sa hững người vào một trũng sâu. Nàng quờ quạng tìm lối ra, miệng cứng lại, đắng chát.  Hình phạt bắt caủ cha lẫn mẹ chịu đựng nay biến thành thứ hình phạt cho chính nàng, vừa tàn ác, vừa vô lý.  Nhưng  làm sao ngưng hình phạt đó lại được ?  Nước vạc dầu còn sôi, và trận tắm lưủa đã nung nấu thịt da ba năm rồi.  Nàng bất lực, bỗng  chạnh thương thân, nước mắt ứa ra. Mẹ lại nhấc kính lau mắt. Tránh òa lên khóc ,  Sa vội vàng đứng dậy. Nàng vấp chân  vào cái ghế đẩu để lối ra, chúi người, tay đập vào cánh cửa. Mẹ gọi hốt hoaủng :

– Sa, Sa.  Sao thế con ?

 

Sa nghẹn ngào nói trong cổ họng :

– Không. Con vấp.  Không sao đâu mà ! 

 

*

 

Ðám khách du lịch boủ chuyến treking về đến khách sạn vào cuối trưa.  Trời mù mịt mưa. Mây sà thấp xuống trùm lên núi rừng một màn sương u ám. Khí lạnh theo độ ẩm chui qua kẽ áo, thấm vào da thịt, khiến mọi người co ro run rẩy.  Thằng Billy nhìn Hà, lầu bầu :

– Fuckin= rain [1][1][1] !  Tao sợ còn mưa nữa…

 

Quay sang Sa, nó nham nhơủ :

– Hey, baby… I=m getting wet [1][1][1].

 

Marthe và André bước lại.  Xoa tay vào nhau, André lập cập hoủi Sa :

 – Cô có rượu gì, uống cho ấm bụng ?

 

Sa cười :

– Dạ có.

 

Nhìn  tấm baủng có ghi tên dăm ba loại rượu, André lắc đầu, đưa cho Hà.  Hà dịch.  Rượu mận.  Rượu đào.  Rượu táo.  Rượu rắn… André hoủi bằng tiếng Pháp có phaủi là rượu rắn chỉ là tên tươủng tượng ra không ?  Sa có lẽ chẳng hiểu gì, nói *yes, yes +, tay chỉ vào hiệu Rémy Martin, và tiếp * good, good… +.  Nàng quay sang Marthe, mắt sáng lên :

– Tata baủo ông ấy uống rượu Tây.  Ngon hơn rượu ta.  Cháu baủo đaủm không phaủi rượu giaủ !

 

Marthe cười, gật đầu.  Hà và André ruủ nhau thưủ rượu rắn.  Marthe thè lưỡi nhìn con rắn bằng cái que đũa lơ lững trong chai rượu màu vàng nhạt.  André nhấp rượu, kêu :

– Cũng được.  Hơi đắng một chút.

 

Cưủa bỗng bật mơủ, Freddy bước vào, tấm áo mưa nước nhoủ giọt.  Ðể đống vợt vào một góc, hắn cơủi áo mưa treo lên cái mắc cạnh cưủa, rồi khẽ cúi đầu chào mọi người. André kéo ghế mời. Khi Freddy bước tới, hắn mỉm cười, nhìn Marthe. André giơ tay ra bắt, nói tiếng Anh với giọng  Pháp :

– Thật là một ngày xấu trời !

 

Marthe làm thân, ân cần hoủi :

– Anh có bắt được con bướm nào không ?

 

Freddy lắc đầu.

 

– Nhưng sao anh lại có thể bắt những con bướm xinh đẹp kia nhỉ ? Marthe tiếp.

 

Freddy trầm ngâm :

– Kiếp bướm, chỉ từ năm ba ngày đến độ một tháng.  Không bắt, chúng cũng tự huủy tự diệt.  Bắt chúng, tôi biến chúng thành bất tưủ.

 

– Bất tưủ ?

 

– Vâng.  Muốn chúng bất tưủ, không phaủi dễ.  Chất hóa cơ như là chất dính lên cánh bướm thay đổi tùy theo màu, theo loại.  Hơn nữa, chỉ để lên một lớp vừa moủng.  Ðể dầy quá, màu sẽ đổi, moủng quá thì màu sẽ phai dần.  Lại còn chất phóc-môn trích vào thân bướm, và một loại véc-ni bôi lên chân, lên râu.  Làm cho một cánh bướm bất tưủ, tôi mất từ 45 phút tới một giờ… Sau đó, tôi lại ghi rõ phaủi baủo quaủn chúng ơủ điều kiện nhiệt độ nào, với loại ánh sáng nào…

53

Trố mắt nhìn Freddy, Marthe thốt :

– Nhưng chúng chết caủ rồi…

 

Freddy bật cười :

– Sự bất tưủ dĩ nhiên chỉ đến sau cái chết…  Tôi có bao giờ nói rằng tôi làm chúng sống mãi đâu.  Nhưng cái đẹp cuủa những cánh bướm kia thì tôi giữ được.  Cái đẹp đó bất tưủ.  Ðời sống cưu mang cái đẹp đó lại hữu hạn.  Công việc tôi làm là lấy cái đẹp ra khoủi sự hữu hạn sống chết.  Khaủ năng  đạt đến bất tưủ sau cõi chết  là tạo ra cõi sống cuủa cái gì  đó khác đi với sự sống trước đó, một sự sống đã có, nhưng lucÔ nào cũng tiến đến huủy diệt một cách không khiên cưỡng được…

 

André đưa tay bóp trán, lắc đầu chậm rãi :

– Tôi là bác sĩ tâm thần.  Tôi hiểu.  Với con người, câu hoủi lớn nhất vẫn là cái chết.  Trốn nó, người ta đặt ra vấn đề bất tưủ…  Ông xem đấy, khái niệm đó, như linh hồn bất tử chẳng hạn, tồn tại trong mọi tôn giáo…

 

Freddy nhìn vào mắt André :

– Sau sự chết, ông có tin linh hồn có không ?

 

Tươi cười, Marthe ngắt lời Freddy như để lái câu chuyệnsang hướng khác :

– Câu hoủi lớn nhất, là tình yêu.  Not life, but love in death[1][1][1] mà ! – mơ màng, Marthe tiếp – mà này, tôi lại nghe thấy tiếng… một thứ nhạc khí… mà không thể định loại được…

 

Freddy nghiêng tai :

– Không…  Tôi không nghe thấy gì !

 

Marthe ngước mắt :

– Có đấy !

– Xưa tôi chơi cho dàn hợp tấu Philharmony of NewYork. Không lẽ tai tôi bây giờ tồi thế.

– Anh lắng nghe đi…, Marthe nhẹ nhàng. 

 

André cũng chăm chú nghe, nhìn Freddy.  Hắn lại lắc đầu, hoủi Marthe :

– Bà là nhạc sĩ ?

 

– Không !  Tôi là chuyên viên âm nhạc.  Tôi nghiên cứu về nhạc những dân tộc thiểu số miền Bắc Borneo.

 

Freddy mỉm cười rồi đứng dậy :

– Thật ra, khi tôi muốn nghe gì tôi chỉ nhắm mắt lại một lúc là tôi nghe được.  Ðó, không phaủi nghe bằng tai, mà nghe bằng tâm caủm và trí tuệ… Có lẽ bà đang nghe như vậy, và chỉ có bà, bà mới nghe thấy tiếng nhạc khí đó.  Thanh âm, như cánh bướm đẹp kia, đã thuộc về bất tưủ rồi…

 

Nốc hết ly rượu rắn, Hà bắằt chước Freddy lịch sự  cáo lỗi rồi cũng đứng lên. Chàng đi về phía cuối phòng, mắt ngước nhìn. Trên tường, một bức tranh khổ khá lớn treo ngay chính giữa, khung làm bằng gỗ gụ đen bóng. Mỉm cười, Hà thầm nhuủ, chắc lại thêm một sự bất tưủ nữa ơủ đậu bằng sơn dầu trên cái cõi đời moủng maủnh phù du này. Ðến gần, Hà chăm chú nhìn. Bức tranh vẽ một cây đa, rễ xù xì vươn ra như vòi bạch tuộc uốn lượn quanh  cái hốc đen ngòm. Cạnh gốc cây, là cái miếu mái xiêu vẹo, chênh vênh như sắp đổ. Cưủa ngoủ toang hoác, trong miếu có một cái bàn thờ. Trên bàn thờ, lư hương vỡ làm đôi, những cây nhang cháy dơủ đã tắt nằm ngơ ngác bên một ngọn nến tàn, chân nến chaủy nhiễu xuống trông như nước mắt rơi. Phaủi để ý lắm, Hà mới thấy trên nền miếu, còn một tờ sách nát nhầu, rách rưới,  nằm chơ vơ lạc lõng.

 

*

 

 Cho đến đêm mưa vẫn raủ rích. Trừ một mình Hà, đám khách du lịch đã đi nguủ hết. Khoác áo mưa, chàng lẳng lặng ra khoủi khách sạn. Nhồi thuốc vào tẩu, Hà bật quẹt. Mùi khói thuốc thơm lừng lên rồi taủn mạn vào trong cái không gian cao nguyên ẩm ướt.

 

Sapa chỉ có một con phố chính. Phố co mình nằm cong như như một con sâu đen ngòm, với dăm khoaủng sáng hắt ra từ những khách sạn loại mini và những quán Karaoké đèn chớp chớp như cái nháy mắt mời mọc khách vào chơi. Ði dọc phố, sau Bưu Ðiện là nhà thờ Sapa. Ngôi nhà xây từ thời Tây, mái chuông nghễu nghện cắm cây thập tự chơ vơ vươn lên cao, tường gạch đoủ long lơủ, trông ngoài như boủ hoang. Một vị thừa sai còn đó, nhưng nhà thờ thật hiếm con chiên. Họ chỉ độc vỏn vẹn bốn người.  Tuy không có lễ, họ  vẫn đều dặn gập nhau ngày Chuủ Nhật. Vị thừa sai, dĩ nhiên. Một bác làm vườn nay đã già lắm. Một mụ đàn bà người Hmông, xưa nay lên chợ ngày thứ bẩy, nguủ lại dưới mái hiên nhà thờ cho đến trưa Chuủ Nhật mới về giồng [1][1][1]. Và cuối cùng, một ông cụ làm nghề ăn mày  từ đầu Cách Mạng Tháng Tám.

Hà bước qua sân, coủ dại mọc tua ra từ kẽ những hòn gạch lát đường, lững thững đi vào. Ðứng dựa cột chống mái hiên nhà thờ, chàng lại bật quẹt châm lại mồi thuốc vừa tắt. Chung quanh, sự sống chỉ còn tiếng dế rỉ raủ, tất caủ im ắng chìm vào màn đêm đen nghịt. * Pu man xi khan a…+, một tiếng nói khe khẽ vẳng lên  cạnh tai. Giật mình quay lại, Hà nhận ra một thanh niên tay đang giơ lên điếu thuốc lá xin lửa. Hà lại bật quẹt. Dưới ánh lưủa trong gió chập chờn, một thiếu nữ ngồi thu lu, mình quấn chăn, đầu đội khăn mầu đoủ au. Có lẽ, Hà thầm nghĩ, cặp vợ chồng này gập mưa đành trú lại. Anh thanh niên rít thuốc, nói tiếng Kinh giọng lờ lợ * Giồợng xa, xa la ! + như để giaủi thích. Hà chỉ tay vào ngực mình, đáp nhoủ * …Giồng tôi cũng xa,  xa đến chẳng biết ơủ chốn nào…+. Hà ngạc nhiên nghe tiếng mình nói tiếp *…và bao giờ mới về được ! +. Anh thanh niên không hiểu, nhếch miệng cười, răng vàng ánh lên trong tối. Vỗ vai anh, Hà lẳng lặng bước ra, luồn đi trong bóng đêm dầy đặc.

 

Về khách sạn, người đợi cưủa là Sa. Lách người vào, cái lạnh khiến Hà run rẩy. Sa cười :

– Mưa thế, chú đi làm gì cho lạnh. Tối mưa như tối nay, Sapa chẳng có gì. Quán Karaoké cũng đóng hết…

 

Hà hoủi chai rượu rắn uống dơủ bữa chiều, nói khẽ :

– Sa buồn nguủ cứ đi nguủ trước.

 

Cầm ly rượu đến trước bức tranh vẽ cây đa và cái miếu cổ, Hà nheo mắt ngắm. Tranh vẽ kiểu siêu hiện thực. Nhìn kỹ, nó đang tìm bắt một cái gì đó, ma quái, huyền aủo và lẫn lộn  caủ  đau thương. Thấy Hà chăm chú, Sa baủo :

– Cha cháu vẽ đấy. Chú cũng là họa sĩ ?

 

Hà lắc đầu, uống cạn ly rượu, rồi lại rót.

– Thế chú làm gì bên ấy ?

– Broker.

– Thế là gì hơủ chú ?

– Là mua qua bán lại. Mua reủ bán dắt…

– ƠẨ đây người ta gọi thế là gian thương đấy!

 

Hà bật cười. Sa lại hoủi :

– Thế chú mua bán gì ?

– Những con số. Khi mình đoán một con số sắp xuống, bán nó. Rồi mua một con số khác mình nghĩ là nó sắp lên. Ðấy, nghề cuủa tôi thế đấy…

 

Sa trề môi, giọng ngờ vực :

– Cháu chỉ thấy người ta mua sổ số. Còn mua bán như chú, cháu chưa bao giờ nghe qua…ngay như ơủ Hà Nội. Thế chú có kiếm được tiền không ?

 

Hà không đáp. Lát sau, Hà nói như nói một mình :

– Kiếm thì kiếm được, nhiều nữa là khác. Nhưng chán lắm. Hóa ra cái đồng tiền khiến người ta khổ vì nó chỉ là những con số vô hồn lên lên xuống xuống…

 

Không nhìn Sa, Hà quay sang bức tranh, hoủi

– Cha cháu đâu không thấy ?

 

Sa đáp, giọng buồn buồn :

– Cha cháu nay ơủ Ðà Lạt.

– Chắc đi vẽ. Ðà Lạt có nhiều caủnh đẹp…

 

Sa lắc đầu :

– Cháu chẳng biết. Cha cháu vào với bác P, viết lách cái gì đó, tên nghe đâu như có tấm baủng chỉ đường và trí tuệ. Cha cháu nói thế…

 

Tò mò, Hà đến gần, mắt dán vào bức tranh. Sa giọng bùi ngùi :

– Cha cháu có dậy cháu xem bức tranh này. Cây đa, chú nhìn thật kỹ, thấy gốc nó đang bị sâu bị mối ăn. Cái hốc đen đấy, nhìn chếch về phía trái, chú sẽ nhận ra những con sâu xanh xám. ƠẨ dưới, có những con mối li ti trắng…Còn lá, lá xanh đang úa, chuyển sang vàng nhưng trời không phaủi là mùa thu vì cây coủ xung quanh vẫn tươi tốt. Cha cháu baủo cây đa đang bị bệnh…

– à

– Trước đây cha cháu không cho ai xem bức tranh này ngoài bác P. Nhưng bây giờ khác rồi. Mới lại cháu mang tranh treo đây cha cháu đâu có biết – Sa bật cười, tinh quái – cây đa thế, thật là hợp với cái cái bàn thờ tổ xiêu vẹo, nến thì  đổ, hương thì tàn…

 

Mơ hồ tươủng ra một người họa sĩ cô đơn với những dằn vặt khó có ai chia seủ, Hà lặng lẽ nâng ly rượu lên môi. Giọng Sa đều đều :

– Cha cháu dặt tên bức tranh là Cây đa nơi đỉnh miếu. Nói với bác P, cha cháu baủo miếu là Miếu Xã Tắc đấy. Rồi cha cháu cười, mong có dịp đi vẽ lại Ðền Hùng cuủa thời đại mới này. Bác P buồn lắm, lại quay về cái chuyện vẫy gọi nhau và trí tuệ gì gì đó…Bác hôm ấy mời cha cháu vào Ðà Lạt. Thế là mấy hôm sau cha cháu đi…

 

Hà lại uống. Lần này chàng để caủ chai vào miệng tu ừng ực một hơi. Thấy chai rượu đã cạn, chàng baủo :

– Cho chú thêm một chai nữa !

 

Sa kêu:

– Eo ôi, chú uống ghê quá! Hơn caủ mấy ông Tây.

Mang rượu ra, Sa nhăn mặt, nói * …thôi, cháu đi nguủ đây ! +. Không đáp, Hà chỉ gật đầu. Cứ thế, Hà vừa uống vừa chăm chăm ngắm bức tranh. Ðầu dần dần nặng, Hà cúi xuống chai rượu. Cặp mắt con rắn cổ bành ra bỗng sống động nhấp nháy. Hà lại đưa chai lên tu, con rắn uốn éo múa lượn trong cái dung dịch vàng nhạt, cổ cong lên như sẵn sàng mổ vào mặt. Hà bất giác cười, ngưủa cổ tu một hơi, miệng bốc lưủa, lưỡi tê đi, môi cứng lại. Cây đa rỗng ruột bỗng ơủ đâu chìa ra những cánh tay chờn vờn  đe dọa. Con rắn nhẩy khoủi chai rượu, uốn éo bò lên bàn thờ. Nó bạnh cổ, thơủ phì phì, cong thẳng mình lên như một khúc tre già, lươủi thoăn thắt thè ra thụt vào, lấp loáng như  lưỡi dao sắc và lạnh. Hà bỗng hoảng sợ lùi lại, loạng choạng ngã chúi xuống đất.

 

Không biết bao lâu sau Hà mới có caủm tươủng ai đó đang lay mình dậy rồi kéo cho ngồi lên. Hà chỉ ngưủi thấy một mùi hương nồng ngát, hăng hắc đến từ da thịt. Cố gắng ngóc lên, nhưng nặng như đeo chì ,  đầu chàng lại gục xuống, mặt úp vào một khoaủng mềm mại. Chàng rúc vào, mơ hồ lội ngược dòng, miệng hé ra như thươủ còn bú mớm. Dẫu thoáng qua, chàng bất chợt thấy an bình, hệt như  lúc ngã vào tay mẹ chàng khi chập chững tập đi trong cõi nhân gian này. Hình như chàng gọi * Mẹ, mẹ ơi ! +. Hình như chàng khóc. Hình như chàng mân mê bầu vú đã nuôi chàng bằng những dòng sữa ngọt thời thơ ấu.

 

Khi tỉnh dậy sáng hôm sau, Hà ngạc nhiên thấy mình nằm trên giường trong phòng, với một tấm chăn đơn phuủ ngang bụng.

 

 

NAM DAO

 

Tin trong nước

Nhạc sĩ Hoàng Giác,
tác giả của Mơ hoa, Ngày về… qua đời

1

 

Nhà biên kịch Hoàng Nhuận Cầm cho biết cha của anh là ca sĩ, nhạc sĩ Hoàng Giác đã qua đời vào tối 14-9-2017 do tuổi cao sức yếu.

Hoàng Giác sinh năm 1924, quê gốc Hà Nội. Ông là người đa tài, say mê âm nhạc, thể thao. Từ khi còn là học sinh trường Bưởi ông đã tự mày mò học âm nhạc theo các tài liệu của Pháp.

Hoàng Giác sáng tác không nhiều, trong cả sự nghiệp của mình ông sáng tác khoảng 20 ca khúc. 

Hai ca khúc nổi tiếng nhất trong sự nghiệp của ông là Mơ hoa (1945) và Ngày về (1946). 

Những ca khúc này đã được nhiều ca sĩ nổi tiếng như Ngọc Bảo, Ái Vân, Mai Hoa, Anh Thơ thể hiện…

Hoàng Giác chuyên sử dụng đàn guitar, từng là giảng viên nhiều năm tại trường Trường sư phạm Nhạc – Họa. Ông còn là một ca sĩ, thường đi biểu diễn.

Nhạc sĩ Thụy Kha đánh giá nhạc sĩ Hoàng Giác dù sáng tác ít, nhưng ông là người đã đem lại sự tươi mới cho dòng nhạc Tiền chiến (1938 – 1946).

“Là người xuất hiện về nửa cuối của dòng nhạc Tiền chiến, nhưng ông Hoàng Giác đã đem lại sự tươi mới về tiết tấu, về tình cảm cho dòng nhạc này. 

Tiêu biểu là ca khúc Mơ hoa. Cách tỏ tình của ca khúc này trực diện hơn, “Cô hái hoa tươi, hãy dừng bước chân. Trên đường thầm xa, tôi nhắn cô em đôi lời…“, chứ không còn kín đáo, bóng gió như những sáng tác của các đồng nghiệp trước ông.

Ngoài ca khúc Mơ hoa, phải kể tới ca khúc Ngày về, là ca khúc Hoàng Giác viết khi ông được về quần tụ với gia đình tại Vĩnh Yên.

Ông sáng tác không nhiều, mà sau này ông chỉ dạy đàn, đi hát. Ông là một nghệ sĩ đích thực, tính cách của ông hay lắm. Ông có một người vợ Hà Nội rất đẹp”.

Con trai của nhạc sĩ Hoàng Giác, là nhà biên kịch Hoàng Nhuận Cầm cho biết gia đình đang chuẩn bị tang lễ. 

Tang lễ nhạc sĩ Hoàng Giác được tổ chức từ 9h30 đến 11h ngày 20-9-2017 tại Nhà tang lễ 125 Phùng Hưng, Hà Nội.

Chân dung nhạc sĩ Hoàng Giác chụp năm 2013 – Ảnh: NGUYỄN KHÁNH

unknown-title-1960

 

THỜI HOA ĐỎ

Dưới mùa hoa như lửa cháy khát khao
Anh nắm tay em bước dọc con đường vắng
Chỉ có tiếng ve sôi chẳng cho trưa hè yên tĩnh
Chẳng chịu cho lòng ta yên.

Anh mải mê về một màu mây xa
Về cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ
Về cái vẻ thần kỳ của ngày xưa
Em hát một câu thơ cũ
Cái say mê một thời thiếu nữ

Mỗi mùa hoa đỏ về
Hoa như mưa rơi rơi…
Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi
Như máu ứa một thời trai trẻ
Hoa như mưa rơi rơi
Như tháng ngày xưa ta dại khờ
Ta nhìn sâu vào mắt nhau
Mà thấy lòng đau xót
Trong câu thơ của em
Anh không có mặt
Câu hát về một thời yêu đương tha thiết
Anh đâu buồn mà chỉ tiếc
Em không đi hết những ngày đắm say
Hoa cứ rơi ồn ào như tuổi trẻ
Không cho ai có thể lạnh tanh
Hoa đặt vào lòng chúng ta một vệt đỏ
Như vết xước của trái tim
Sau bài hát rồi em lặng im
Cái lặng im rực màu hoa đỏ
Anh biết mình vô nghĩa đi bên em.

Sau bài hát rồi em như thể
Em của thời hoa đỏ ngày xưa
Sau bài hát rồi anh cũng thế
Anh của thời trai trẻ ngày xưa.

Thanh Tùng
1935-2017

33

Di 1

 

Giữa đêm

thắp lên một ngọn nến

 những khung tranh rỗng

tối đen.

 

giữa đêm

tôi mò mẫm tìm mình qua các kí tự

tôi mò mẫm tìm B qua các kí tự

những tổ khúc của quá khứ đã băng hoại bởi mùa thu cận kề đến

vòng xoay của những chiếc bánh xe đạp – xoay

vòng xoay của chiếc máy đĩa cũ kỹ từ thế kỉ trước – xoay

vòng xoay của những làn khói thuốc ám trong đêm vắng

và làn hơi thở nhẹ bẫng trong đêm sương này

xoay

xoay

xoay

 

bài hát được lặp lại và phát mãi miết trên điện thoại

những nhắc nhớ về B

 

giữa đêm

tôi chập chờn bay qua những linh giác tối ám

Gloomy Sunday, Longing for paradise…

những giai điệu âm u quấn riết tôi trong cùng quẩn

con hồ ly xanh về chết bên Vịnh Nước Đen

nơi màu bỉ ngạn vẫn thắm đỏ

hãy nhận lấy những u buồn này

bởi chúng ta đã đánh mất thiên đường khi tình yêu vừa thai sinh

đừng khóc

ngày đã thoái hóa bởi bóng tối

đừng để mình băng hoại bởi sự độc thoại ngàn đời.

 

Di 2

 

Ngáo chữ

Cơn đại lộ chữ nghĩa

 hợp âm bay vun vút

khúc intro mùa thu rơi lả tả những phím buôn buốt lửa

buôn buốt im lặng ngấu nghiến

buôn buốt hơi heo may lạnh quay quắt

 những quãng tám câm lặng tiếng

và người dấu bóng

 

cơn nhập tràng chữ

tựa vòng bánh xe tròn xoay

xoáy đều trong âm u của khối não tối tăm

 những ám tượng xanh nhức nhối

người hát rong đã cầm tù tiếng ca trong buổi bình minh

bằng cái chết trong sương trời nhạt

 

Sốc chữ

những đại diện thay thế số

những ẩn ức không cầm biến

luôn là hàm biến thiên qua những âm vực ảo

 parabol nở dài về vô cực ảm đạm

 giữa đêm tối ám

rũ rượi nhớ một âm báo tin nhắn đến

trong bặt âm xanh màu máu.

 

cơn ảo tưởng vụt tan nát

 em trôi về phía cực đại quên lãng

 bỏ tôi lang thang đường nhị phân không gian day dứt nhớ

khúc intro mùa thu rơi lả tả những note rời câm nín

hoang vu chữ.

 

Ly 3

 

Những ngày buồn nhất

Tôi để suy nghĩ của tôi quay về trong lũng sâu của thời ấu thơ

nơi những chiếc lá đã rách khi trượt ngang kì phân hủy cuối

mùi thơm của nước mưa trong veo trên tán rễ cây long não

nhập nhằng giữa những nhớ nhớ quên quên

 ở phía cuối cùng nhất cũng là màu trắng

của những dọc ngang ánh trắng sót mùa mía trổ cờ

người bạn họ Trịnh nói với tôi về cơn gió lộng lẫy mùa cũ

 nơi mọi thứ không hề lớn lên

và bạn nói :

đừng tuyệt vọng

 

Những ngày buồn nhất

lần theo cơn sốt trên mái tóc

chiếc mặt nạ đã vỡ tan những hình hài tưởng tượng

tiếng huýt sáo vọng từ radio những hợp âm cũ nát sau cùng

 tháng 8 đã qua nhanh như những cơn gió biến âm qua những đọt cây

 người bạn nói với tôi:

đừng khóc.

 mùa mưa rồi cũng sẽ qua.

 

những ngày buồn nhất

sự im lặng bào mòn từng đốt ngón tay

đếm thời gian sa lầy trong bóng tối

 khi những viên nén đã không còn mang đến những giấc ngủ

 em đến bằng những im lặng của chiếc bóng

bay qua những chập chờn

 trên hành lang hẹp đầy bụi

những xác gió cười tê dại

 an ủi cho những ngón tay nuốt trắng tìm kiếm đam mê

bình an là không thật

đam mê cũng không thật

kiệt cùng cho những ý nghĩa cuộc sống này

là tồn tại

sống

hít thở

sướng điên

hay trào máu

 vẫn cứ phải tồn tại

 bởi đó là ý nghĩa của sự sinh tồn?

 

Phương Uy

 

 

30

Minh họa cho chứng trầm uất.

 

tôi vẽ lên sàn phòng

ô vuông lớn đoạn vào

đứng thường trực trong đấy

thú thực chả ai hình

 

dung ra nổi cái hình

vuông được vẽ ấy lớn

cỡ nào tuy nhiên ai

ai người ta cũng cho

 

tôi giống một thằng người

nộm đứng chỉ để đuổi

chim và đồng thời ai

ai cũng đòi đặt máy

 

quay toàn bối cảnh ngày

đêm khi tôi vào đứng

thường trực trong cái hình

vuông lớn đấy thì trong

 

lúc đứng thường trực như

thế tôi không ngừng tưởng

tượng (bấy giờ) mặc dù

đang làm chuyện chả có

 

lấy chút ý tưởng nào

mới mẽ khả thi nhưng

phải nói có được sự

tưởng tượng bao la đấy

 

nó bắt nguồn từ cái

ô vuông được vẽ lớn

như thế và điều đã

đang tưởng tượng lại chẳng

 

dính dáng chi đến cái

ô vuông được vẽ lớn

đấy ai ai người ta

muốn nói gì nói mồm

 

tôi có cũng chỉ để

há to ra kêu trời

gọi đất à do việc

tôi há mồm to kêu

 

trời gọi đất khiến ai

ai thảy đều hình dung

tôi chả khác hạng tuyền

 

làm chuyện vớ vẩn quá

 

quắt ngày đêm từ mồm

tôi liên tục tuôn các

từ ngữ nhằm kêu trời

gọi đất mặt khác hòng

 

đương trả thách thức từ

số phận asshole nên

nhớ mặc dù đã già

cả đã mất (hoàn toàn)

 

khả năng chống chọi lại

cảm xúc ướt át của

người nữ nhưng chưa bao

giờ đầu hàng nhá có

 

ngày tôi còn thách thức

người/ đời muốn đâm muốn

chém (các kiểu) đây sẵn

sàng- asshole.. đọc đến

 

đây quí vị nghỉ ngơi

nhé còn muốn xem tôi

có đúng thằng ngớ ngẩn

chuyên làm tuyền thơ nói

 

về chuyện sống chết đời

người (cho tới chết!) làm

ơn hãy đọc kĩ bài

tân hình thức này nhá!

..

vương ngọc minh.

thơ Lê Anh

tumblr_ntofkcljZ51suuc8do1_1280

Tiếng Lá Chiều Thu.

 

Một tiếng lá rơi

Trong chiều thu hiu hắt

Cảm giác chia lìa đời

Lòng thấy buồn khơi                   

 

Một bóng thu héo úa

Hờ hững bên mộ bia

Cả ngàn tơ vương kia

Sầu thương ai  ở lại

 

Ta đã cùng xao xuyến

Tình chớm giấc hoa mơ

Một tháng đen nào đó

Làm mất hết bao giờ

 

Người đã vào hư vô

Đời có khi nào ngờ

Tình buông nơi đầu cỏ

Lệ lấp thành dấu khô

 

Thời gian quen lá đổ

Ngày che bóng luân hồi

Những hương mùa gần gũi

Nghe buốt lòng  xa nơi

 

Lá rơi  chiều ly biệt

Tiếng lá buồn lẻ loi

Vạt nắng tàn cuối nẻo

Xuống nằm khuất sau đồi…

 

 

CUỐI THU.

 

Khi ngày chậm nắng đi qua

Tiếng chim bỏ bạn bay xa phố này

Từ trong hồn nặng sương bày

Mùa thu đã chết theo cây xuống đường

Sân ga nằm ủ lá buông

Tàu không người đợi bến buồn gió lên

Rồi đêm cồn lạnh như thiền

Cuối đầu nỗi nhớ về bên tuổi già

Rưng rưng tàu cạnh sân ga

Hồi còi xé mộng nhạt nhòa vọng xưa

 

Thu ơi, ngày chậm đi qua

Phố nghe nắng gãy đôi ra sau đồi

Tiếng chim muộn những lẻ loi

Gọi mùa thương cũ, gọi người xa xôi.

 

Lê Anh.

 

“Chút Quà Cho Anh”

Đêm ca nhạc gây quỹ cho thương phế binh VNCH

image002 

Chút Quà Cho Anh – là những tâm tình mà đồng hương trong cộng đồng người Việt tại tiểu bang Massachusetts cùng đóng góp một bàn tay để nói lên lòng tri ân dành cho những người thương phế binh VNCH.

Hơn 42 năm từ khi CSVN chiếm lấy miền Nam cũng là bắt đầu cho nổi đau vô tận cho hàng triệu người dân miền Nam, cho những người lính VNCH, nhưng nỗi đau đớn và bất hạnh hơn vạn lần đó là nhưng người thương phế binh, với tấm thân tật nguyền, họ là những người đã và đang bị phân biệt, đối xử, kỳ thị tồi tệ nhất trong xã hội VN hiện nay. Họ phải lê lết trên những vỉa hè xó chợ để tìm cách mưu sinh. Trong tinh thần tri ân các anh, cộng đồng người Việt tại tiểu bang Massachusetts cùng với các hội đoàn và đồng hương đã tổ chức đêm ca nhạc gây quỹ quyên góp để chia sẻ một phần yêu thương cùng với những người TPB với sự yểm trợ của các linh mục tại dòng chúa cứu thế tại Saigon thông qua qua các chương trình bảo hiểm y tế, khám sức khoe tổng quát hàng tháng và những món quà nho nhỏ dành cho các anh.

 

 

Chút Quà Cho Anh

 

 

(Cảm hứng từ buổi Gây quỹ cho Thương Phế Binh VNCH ngày 9/9/2017 tại

Boston, Massachusetts)

 

Từ Boston này, xa, rất xa

Thương gửi về anh một chút quà

Quà nhỏ nhưng chứa bao tình nghĩa

Tặng những người ơn ở quê nhà

 

Các anh dũng cảm những năm xưa

Bảo vệ quê hương chống giặc thù

Hy sinh xương máu vì đất mẹ

Mang thân què, liệt, với đui mù

 

Bạo quyền đày đoạ suốt bao ngày

Thân tàn cam chịu mọi đắng cay

Lang thang, lê lết trên đường phố

Nỗi niềm tủi nhục mấy ai hay

 

Toàn thể Miền Nam nợ các anh

Nợ xương, nợ máu, nợ tuổi xanh

Người dân hải ngoại luôn ghi nhớ

Hằng mong đền đáp những ân tình

 

Boston đát lạnh nhưng tình nồng

Xa xôi, lòng vẫn nhớ non sông

Thương dân, thương nước, thương biển đảo

Đoàn kết bên nhau dựng cộng đồng

 

Mọi người nô nức đến nơi đây

Những mong đóng góp một bàn tay

Cho ngày gây quỹ thành công lớn

Để chén yêu thương được tràn đầy

 

Tiếng hát ân tình nối tiếp nhau

Gợi bao nét đẹp lẫn niềm đau

Của người lính chiến Miền Nam ấy

Ngọt ngào, cay đắng tựa tình đầu

 

Thế rồi hoạt cảnh người ăn mày

Đui mù, lếch thếch, con dắt tay

Hát dạo ăn xin nuôi đồng đội

Trách mình: nước mất, dạ rứt ray…

 

Khán giả bỗng thấy lòng quặn đau

Tưởng như sống thật ở quê nghèo

Thương người lính chiến thân tàn phế,

Bỏ tiền đây nón, cảm động sao!

 

Viết mấy dòng này gửi người ơn

Biết rằng hải ngoại vẫn chẳng hề quên

Cảm tạ quý cha Dòng Cứu Thế,

Quý thày cùng quý thiện nguyện viên

 

Nhà Dòng can đảm cho thương binh

Cơ hội gặp nhau ngọt nghĩa tình

Đến hát nhau nghe ôn kỷ niệm

San sẻ cùng nhau những nhục vinh

 

Xe lăn, xe lắc tặng các anh

Lặn lội qua vùng rác hồi tanh

Tìm gặp thăm nom người lính cũ

Sửa lại căn nhà rách chênh vênh.

 

Nhà Dòng thắng nỗi sợ bảo quyền

Thắng bao áp lực với ghét ghen

Quyết làm điều phải, điều nhân nghĩa

Mục tử nhân lành bảo vệ chiên

 

Boston xin góp một bàn tay

Cùng người thiện nguyện thật hăng say

An ủi, đỡ nâng người chiến sĩ

Vơi bớt niềm đau, nỗi đắng cay

 

Mong ngày đất nước rực bình minh

Cho hoa Công Lý với Hoà Bình

Nở rộ thắm tươi trên muôn nẻo

Chúc mừng quê mẹ được hồi sinh

 

 

 

Bác sĩ Vũ Linh Huy

Boston, ngày 9 tháng 9 năm 2017

 

400826_523062607720506_1287443542_n

Yêu

 

Hôm nay anh thấy em rồi

Một bông hoa muộn trên đồi xanh non.

Yêu em, yêu những cái còn

Yêu luôn cái đã hao mòn từ xưa.

Yêu từ thời đại hoang sơ

Yêu sang man dại, yêu chờ u mê

Yêu đi chẳng ngại yêu về

Yêu em

Như thể

Lời thề

Ma vương

Yêu em trời có một phương

Vườn sau, Ngõ trước, Bên đường,

Dưới hoa

Yêu em

Vô định là nhà

Yêu em

Yêu những cái là của em.

 

Đêm qua anh hỏi ngọn đèn

Từ đây trăng có tới miền thùy dương

Đèn soi hai ngả yêu thương

Trăng kia chỉ rọi nửa đường u minh.

Nửa này trôi nổi phù sinh

Nửa kia chìm đắm mối tình hoài mong

Lại đây anh hỏi chuyện lòng

Đã bao sương khói vào trong mắt này.

Sương rằng khói đã mù bay

Khói rằng sương đã phủ đầy biển dâu.

Cho anh đôi mắt bồ câu

Tâm tư Hợp Phố / Mối sầu Đồng Đăng

Cho anh êm ái giọng vàng

Dáng đi chân sóc điệu nằm mèo ươn.

Cho anh dòng lệ u buồn

Nhỏ to tiếng gọi ngoan tròn lời xin.

Cho anh em nhé lòng tin.

 

Viên Linh

2

HẠ HUYỀN MỘT ĐÊM KIA

 

trăng bắt đầu rọi xuống

lá không sương giật mình gió thốc chéo lưng
lạnh vuốt qua trăng dọc qua em
để lại bầu trời nụ cười gần sáng mùi lá chanh non gợi gẫm

trăng ở chân trời tây biết nắng sẽ lên
chỉ còn nửa đêm này để sáng mai vĩnh biệt
ôi ánh trăng tôi yêu hơn cả đời tôi
khốc liệt giấu dịu dàng lẫn khuất

này hôn lần cuối này hôn lần cuối
chỉ còn ít phút giây, ít phút giây tự hạnh phúc
ôm khoảnh khắc cuối cùng
anh của ngày cuồng nhiệt sẽ tan

em cởi áo làm huyệt chôn trăng
trái tim rớt theo cơn nghẹt thở
sắp tàn rồi
tàn rồi
ôi tàn rồi chia cắt
đường dơi bay khuyết viền mộ trắng
khua lưỡi hái yêu tinh

vài phút cuối cùng cho em được như lần đầu tiên
máu xòa tràn đất
rồi ngoảnh mặt
đi qua nhau như trăng qua bầu trời không lắng lại vết tích
như tháng chưa hề có bóng hạ huyền

em đưa một cánh tay dựng làm bia mộ không cần chia buồn
mai người có đi qua không cần phải nhìn

em còn một tay kia vẫy chào lận đận.

ngày đã đến ngày đã đến
đã đến

đêm hết rồi
hết rồi

không còn trăng rọi xuống thềm cửa nữa…
…..
P.N. Thường Đoan

43722548bcfaeec441616a5a1fc04e02

Vắng 4

 

Đừng mang hoa , thôi đừng hương án

. Lối về thu phủ kín rồi.

Bầu trời xám nói với tôi đừng khóc.

 Để rồi mưa vẫn, rơi.

Chữ biệt dạng, trang trắng ngày không động.

Sương thì buốt mái đầu.

Đừng mộng mị mang về điều cổ tích.

Một chiều bước khỏi đời nhau

 

Ly 4

 

những con rối rời khỏi mùa diễn cũ

 thềm xưa

lá xưa

đêm xưa

mùa đưa tiễn tứ di quan từ xuân sang hạ

có những mùa quên em trót nhỡ tay

có những giấc ngủ tôi đã mong cơn mơ đừng đến

bởi sau lúc mơ là hoang trống rụng rời

bởi nếu tỉnh ra là biết game đã hết

trò chơi của em

 và hư ảo là tôi

em

trước mặt chỉ còn khung trang trắng

chiều mưa

 đêm mưa

thềm mưa

đừng mưa nữa

gió sẽ làm ướt áo

câu hỏi một thời chưa hẳn phải xa

đừng nhắc nữa

 kí ức làm rối tóc

 vì sao yêu?

đừng hỏi nữa

lời em thảng thốt

 tội tình day dứt quên chưa?

 

Ly 3

 

Những ngày buồn nhất

Tôi để suy nghĩ của tôi quay về trong lũng sâu của thời ấu thơ

nơi những chiếc lá đã rách khi trượt ngang kì phân hủy cuối

mùi thơm của nước mưa trong veo trên tán rễ cây long não

nhập nhằng giữa những nhớ nhớ quên quên

ở phía cuối cùng nhất cũng là màu trắng

 của những dọc ngang ánh trắng sót mùa mía trổ cờ

 người bạn họ Trịnh nói với tôi về cơn gió lộng lẫy mùa cũ

 nơi mọi thứ không hề lớn lên

 và bạn nói : đừng tuyệt vọng

 

Những ngày buồn nhất

 lần theo cơn sốt trên mái tóc

chiếc mặt nạ đã vỡ tan những hình hài tưởng tượng

 tiếng huýt sáo vọng từ radio những hợp âm cũ nát sau cùng

 tháng 5 đã qua nhanh như những cơn gió biến âm qua những đọt cây

người bạn nói với tôi: đừng khóc.

 mùa mưa rồi cũng sẽ qua.

 

những ngày buồn nhất

sự im lặng bào mòn từng đốt ngón tay

đếm thời gian sa lầy trong bóng tối

 khi những viên nén đã không còn mang đến những giấc ngủ

 em đến bằng những im lặng của chiếc bóng

bay qua những chập chờn trên hành lang hẹp đầy bụi

những xác gió cười tê dại

an ủi cho những ngón tay nuốt trắng tìm kiếm đam mê

 bình an là không thật

đam mê cũng không thật

kiệt cùng cho những ý nghĩa cuộc sống này

 là tồn tại

sống

 hít thở

sướng điên

hay trào máu vẫn cứ phải tồn tại

 bởi đó là ý nghĩa của sự sinh tồn?

 

Ly 12

 

có những ngày im lặng nhớ

là có những ngày không gọi nhau

 đã qua bao ngày như thế

lòng sóng thét gào.

 

Có những ngày im lặng đếm

thời khắc vô tình trôi

những gì mình đang có

là vô hình mồ côi.

 

Có những ngày im lặng nuốt

nước mắt cùng những tai ương

vu hồi dồn dập tới

lòng người là thứ vô chừng.

 

Có những ngày im lặng ngắm

bao nhiêu người qua đường

sao ngỡ ngàng hoài không tìm thấy

khuôn mặt người tôi thương?

 

Phương Uy

 

 

 

 

9a

Độc hành 1

 

Các dãy số lớn sụp đổ trong một khúc xương

những con bọ mang ánh trăng óng ánh chui vào

nở cánh hoa lẻ loi như ngôi đền vĩ đại

dòng sông đưa lời kinh về phía đông

song sóng bước lữ hành.

 

Mắt nàng đẹp long lanh dịu dàng nhóm lửa

giữa trái tim gần thoát tục của ta.

 

Độc hành 2

 

Xung quanh cây đèn là kinh nguyện

một mùa hoa tự hủy an nhiên

những bài ca chửa hoang vượt mặt

trong cái nồi tối sẫm hồng hoang.

 

Đại ngàn đi lắc lư êm dịu

trái tim tôi hư ảo chênh vênh

rung lên những bước thú hoang phiêu bạt

niềm đam mê ngắt đoạn đến vô cùng.

 

Lê Trinh

A1gUdo61EfL._SL1500_

TRONG MẦM BIẾN. ĐÃ HIỆN

1)
cỏ hoài nhớ. nỗi hư không
chiều. toan biến hiện. tấc lòng người dưng
ai phơi. dựng lại nỗi mừng ?
cỏ thương. dặm cỏ. mây tầng tầng trôi
2)
con cò. về núi qua đời
thả thương ở lại. rải trời bao dung
phận qua. lá ủ thương rừng
ở trong phiên khúc. bỗng bừng tỉnh em
3)
nổi – chìm. bao trận đắng mềm
ngụ cư theo gió. bỗng thèm nắng hanh
người dưng. nhớ riết cũng đành
dạ chôn sâu giấc. thâu canh trở mình
4)
bậu về. đón đợi bình minh
bỏ nơi đành đoạn. qua thình lình ôm
ôm dăm nhỏ lẻ. trận nồm
ngọt ngay phần bậu. chua lòm phận qua
5)
giữa rừng. gốc tựa làm nhà
chụp ngay kinh mạch. can qua liền kề
giấc trông. nối giấc sơn khê
giật mình. cát bụi bề bề trùng khơi.
Chu Thụy Nguyên

Herbert Bayer

hân khúc

đọc joseph huỳnh văn,với nguyễn xuân thiệp

 

 

 

mỏi lưng.  sào chống.  cạn đường

nằm nghe lục thẩm du dương bến tình

sao mình còn ở loanh quanh

chiếc nôi vinh sử

khúc quành máu xương

người còn thương mình còn thương

nên thơ chống chọi với tuồng hoa bay

một lời sơ thẩm ban mai

hỏi riêng mới biết chơn mày phôi pha

ôi.  xuân mặt đẹp như là

phẳng gương giác độ phồn hoa trập trùng

 

 

hoàng xuân sơn

21 tháng bảy 2017

 

 

 

hát giữa vườn

 

khi mây tràn về am thảo

thấy ta đứng giữa vườn nhìn

một cánh chim vừa bay khuất

một nụ mầm mới chết non

 

một phiến hồn trơ như đá

cùng nhau mài nhẵn mặt tình

khi lùa tay vào trong bóng

bỗng rụng rời xướng vô minh

 

câu ca.  chữ còn được mất

mà đời dài lắm quãng ba

con sông nước mù bức đoạn

chết cho sương được lứa già

 

nụ hồng.  đừng đưa tay hái

để cho em đẹp bình minh

mặt trời mặt trời sao vội

chưa thơ ngây đã tuyệt tình

 

thôi đứng riêng chiều.  thóc giống

rải thơm cho gió về ngàn

mai sau rừng xanh phá nhạc

thăng trầm một nốt không ngân

 

 

HoàngXuânSơn

Motherwell

bình minh. đời tạ ơn nhau

 

náu thân vào giọt đêm tràn

mắt khuya rướm máu ngỡ ngàng điêu linh

núi sông chìm xuống vô minh

chừng nghe âm vọng muôn nghìn đau thương

 

choàng ôm gió đứng tìm hương

khát trăng hú quỷ vô thường cùng say

cuồng ca sương rụng nào hay

lòng reo man dại hồn bay phương nào

 

bình minh. đời tạ ơn nhau

mai sau ánh mắt trầm màu thiên thu

thưa em: môi thơm ngục tù

cháy trong hơi thở hời ru cuộc tình!

 

giấc mơ & tháng bảy âm lịch

 

âm lịch. giấy tiền vàng mã

tự biết vinh danh sự tồn tại chính nó

đôi khi nhìn thấy đức tin không màu

than khóc ngoài vỏ âm thanh đang bám víu vào tro bụi

thời gian chắc sẽ cô đọng như vũng nước mưa

 

đích thực là những hình ảnh

diêm dúa nhưng không thiếu phần đỏm dáng

nhiều con mắt trắng dã thật thảm hại

tháng bảy. lố nhố cô hồn đi lang thang

người đời mang kính râm cứ tưởng bầu trời đang tối

 

có thể. cái điều sau cùng luôn ấn tượng

đêm qua. linh hồn Má trở về nhà bằng đôi cánh bướm

tung lên cao những đóa hoa đỏ tươi màu máu

vô số đốm sáng lập lòe nhẹ rơi xuống mặt tôi

 

Khaly Chàm

 

 

 

 

 

 

 

 

a003658276-001

ANH MẤT EM RỒI SAO

 

Anh mất em rồi sao?
Còn hẹn nhau kiếp nào!
Trăng vàng xưa tóc rối
Cỏ xanh bờ chiêm bao!

KỶ NIỆM HOA VÀNG xưa
Thơ bay lừng quán trưa
Bướm tiền duyên về đậu
Cành em bướm vàng tơ.

Em nhớ chăng mùa thu
Trăng vàng THU TƯƠNG TƯ
Em hát thu quyến rũ
Hồn anh xanh áo mơ!

Còn đâu ĐÊM VĂN THÁNH
Đèn thủy tạ lung linh
Hai vì sao lấp lánh
Nụ hôn say đắm tình.

Ôi nhành HOA THẠCH THẢO
Héo úa mộng hương tàn!
Dòng sông đời hư ảo
Sóng vỗ sấu mang mang!

Hồn anh giờ cổ mộ
Sương khói tuyết thời gian!
TÌNH YÊU HOA THIÊN SỨ
Rã cánh rụng trăng ngàn!

Anh mất em rồi sao?
Còn hẹn nhau kiếp nào!
Trăng vàng xưa tóc rối
Cỏ xanh bờ chiêm bao!

 

 

TRẦN THOẠI NGUYÊN

4f31a1a36c88af109981d9e1e2e99932

Tôi/ Quê.

 

Mùa này vậy mà phía trước mặt biển phẳng lặng

tôi đang dõi mắt nhìn theo đàn sếu bay bay

rồi bóng chúng nhỏ dần trong trời cực yên ắng

xa khơi dưới dạ cầu golden gate từng vạt song đổ dài

 

tôi đứng rất lâu

tưởng tượng linh tinh chuyện trên trời trên biển

người chết trước kẻ chết sau thảy đều qua cầu

tuần tự sau trước tất thảy bước móc miệng than vãng khản tiếng

 

ngây người một đỗi bổng thấy tôi con tàu tiến ra biển lớn

lịch sử được viết bởi những con cá kình già

dưới mỗi dòng chữ bọn người tàu đông nghịt la hét tí tớn

ngọn ngọn gió ngược thổi thốc giạt tứ tán luồng cá

 

cả cười tôi nói nói vang động

ở bờ bên kia (việt nam) con người chìm đắm trong mộng

cho tay cấu mặt rướm máu thấy quả “quê hương là chum khế ngọt..”

và lũ con bám đất vừa ăn vừa đá bát hí lộng

 

sụp tối lên đường cái bước dưới ngọn đèn tâm tưởng tự nhủ

mai về có đội bàn thờ em đi theo với niềm mơ ước ấp ủ

thì hãy ráng nhớ

tôi- kẻ cho đến chết còn săm soi từng gốc cây tìm dấu thù!

..

Vương ngọc minh.

Canvas

Adam Zagajewski – Nguyễn Quốc Trụ dịch

Canvas

 

I stood in silence before a dark picture,
before a canvas that might have been
coat, shirt, flag,
but had turned instead into the world.

I stood in silence before the dark canvas,
charged with delight and revolt and I thought
of the arts of painting and living,
of so many blank, bitter days,

of moments of helplessness
and my chilly imagination
that’s the tongue of a bell,
alive only when swaying,

striking what it loves,
loving what it strikes,
and it came to me that this canvas
could have become a winding-sheet, too.

 

Canvas

 

Tôi đứng im lặng trước bức hình tối thui
Trước tấm vải bố
Có thể là
Áo khoác, áo sơ mi, cờ quạt
Nhưng thay vì vậy thì biến thành
Thế giới

Tôi đứng in lặng trước tấm vải bố tối thui
Tẩm trong nó là thích thú, đam mê và nổi loạn và tôi nghĩ
Tới nghệ thuật vẽ và sống
Tới những ngày trống rỗng, cay đắng

Tới những khoảnh khắc vô vọng
Và trí tưởng tượng lạnh lẽo của mình
Cái lưỡi chuông
Chỉ sống khi lắc lư

Thoi, cái yêu
Yêu, cái đấm
Và bất chợt tôi ngộ ra rằng thì là
Tấm vải bố này, cũng, có thể trở thành tấm vải liệm.

 

You Are My Silent Brethren

 

You are my silent brethren,
the dead.
I won’t forget you.

In old letters I find traces of your writing,
creeping to the page’s top
like a snail on the wall of a psychiatric ward.

Your addresses and phone numbers pitch camp
in my notebooks, waiting, dozing.

I was in Paris yesterday, I saw hundreds of tourists,
tired and cold. I thought, they look
like you, they can’t get settled, they circle restlessly.

You’d think it would be easy, living.
All you need is a fistful of earth, a boat, a nest, a jail,
a little breath, some drops of blood, and longing.

You are my masters,
the dead.
Don’t forget me.

 

 

Đồng bào

 

Các bạn là đồng bào im lặng của tớ
Những người chết
Tớ không quên các bạn

Trong những lá thư cũ tớ kiếm thấy những nét chữ của các bạn,
Tườn vào đầu trang giấy
Như con ốc sên ở trên tường nhà thương điên

Địa chỉ và số phôn của các bạn thì cắm trại
Trong cuốn sổ tay của tớ,
Chờ đợi, ngủ gà ngủ gật.

Bữa hôm qua, tớ ở Paris, và tớ thấy hàng trăm du khách, mệt mỏi, rét run.
Tớ nghĩ, họ giống như các bạn, họ không thể có 1 nơi chốn để ở, cứ lòng vòng không ngừng.

Các bạn nghĩ, sống thì cũng dễ dàng thôi
Tất cả những gì các bạn cần, thì là một dúm đất,
Một cái thuyền, một cái lưới, một nhà tù,
Một tí hơi thở, vài giọt máu, và mong mỏi.
Các bạn là sư phụ của tớ,
Những người chết
Đừng quên tớ.

 

Adam Zagajewski

Nguyễn Quốc Trụ dịch

quandoi

ĐOÀN QUÂN ĐI

 

Mùa Thu đã hoe vàng theo sợi nắng,
Hoa cúc nở thờ ơ triền suối vắng.
Mắt ai hoài xao động bóng quân di
Chiến địa hoang tàn ghi dấu phân ly!

 

Đường hành quân sục sôi miền nắng cháy,
Ta biết em ngóng chờ tin chưa lại..
Đồng đội còn bên chiến lũy hào sâu
Nên đôi ta vẫn cách bến giang đầu.

 

Đêm biên cương trăng mờ qua kẻ lá
Rừng âm u bóng tối phủ nương đồi.
Xao xuyến nhớ người thương chùng tấc dạ
Hai phương đời biền biệt nỗi đơn côi.

 

Ầm ào vọng phía trường sơn vách núi,
Đoàn quân đi chập chùng làn mưa bụi.
Vẳng thôn xa nghe tiếng Mẹ ru hời
Ngủ ngoan con! Cha về lúc yên vui.

 

Trong gió lộng vang vó câu chiến mã,
Nắng cháy da hay mưa rừng tơi tả.
Tận hiến thân này cho đến tàn hơi
Đâu thể buông gươm súng ngủ bên trời.

 

Tháng năm qua tóc pha mầu sương tuyết
Từng lớp người viết sử xanh hùng liệt.
Tổ Quốc trường tồn qua Đinh Lý Trần Lê
Thì em ơi! Em gắng đợi ta về…

 

UYÊN THÚY LÂM

co-gai2

Dải ruy băng màu tím

 

Elena Pucillo Truong

(Nguyên tác : il nastrino viola )

Bản dịch của Trương Văn Dân

 

Nút thắt vừa được mở.  Chiếc ruy băng màu tím dùng để cột những bức thư mà tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần, lần nào cũng đầy cảm xúc. Tất cả bắt đầu từ mười năm trước, khi tôi rời quê hương để tìm việc làm ở phía bên kia trái đất. Thật chẳng dễ chút nào… nhưng thời đó đâu có nhiều chọn lựa :  Chết hoặc sống bấp bênh với những cơn đói thường trực… Thế  là phải nắm bắt cơ hội để có thể đổi đời…  mà nào chỉ là cuộc đời của riêng tôi.

Đi, mà không biết điều gì sẽ xảy ra và thực tế là tôi đã phải trả một giá đắt đỏ. Ngay cả khi tìm được một công việc như rửa chén trong nhà hàng, tôi cũng chẳng bao giờ có thời giờ để suy tính. Chấm dứt công việc đó tôi tìm được một công việc khác, giữ chân bảo vệ ban đêm hay thay thế lão gát dan trong một khách sạn rẻ tiền. Ngày và đêm đều  giống nhau, chỉ có trái tim tôi là luôn hướng về một nơi chốn xa vời hơn mười nghìn cây số.

 Công việc bận bịu đến nỗi có nhiều lúc tôi chẳng có thời gian ăn uống. Buổi sáng nuốt vội một cái gì, một mẩu bánh mì và một tách cà phê, được nhà chủ bao cho sau một đêm làm việc, còn tiền lương thì tôi cố gắng tiết kiệm. Góp được đồng nào là tôi có thể gửi thêm về cho ba mẹ ở bên kia trái đất, hai người già có đôi mắt sáng, và chỉ vì tôi mà họ sống. Suốt đời, họ đã làm việc cật lực và cho tôi rất nhiều yêu thương, cho tôi biết mùi vị của sách vở, nhưng không đủ khả năng để lấp đầy cái khoảng trống nằm trong bao tử lúc nào cũng háu đói. Có lẽ chẳng mấy ai thật sự biết cái đói nó khủng khiếp như thế nào :  Cái lưỡi liên tục đưa qua đưa lại trong cái miệng chẳng có gì để nhai và kéo dài hằng giờ như thế mà chẳng có chút hy vọng nào là sẽ có được một chén cơm. Chỉ có trí óc mới có thể giúp ta quên nghĩ đến nó : Ba kể cho tôi nghe về những thế giới xa lạ, những cuộc phiêu lưu, nói về những cánh rừng có cọp và voi đi qua, về những cuộc nhào lộn trong lễ lạc ở các làng mạc xa xôi hay nói về âm nhạc với tiếng trống, chiêng và kèn rộn rã. Đó là những thế giới kỳ ảo,  như các hình ảnh màu sắc rực rỡ trong kính vạn hoa, trong đó ánh sáng được nhân lên để làm cho cái góc tăm tối và nghèo nàn mà chúng tôi đang sống trở nên dễ chịu.  Đó là lý do mà dù đã ra đi nhưng tôi không thể nào quên được những ánh mắt và bốn bức tường thân thương của gia đình. Tôi làm việc, làm việc. Rồi ban đêm, khi công việc đã thưa đi, cũng có thể viết thư về nhà. Và những điều tôi viết cho họ bây giờ cũng giống như thế giới kỳ ảo mà ba tôi thường kể :  Có rất nhiều người giúp đỡ tôi, một công việc nhàn hạ, thoải mái và tôi đang sống một cuộc đời đơn giản và chẳng có buồn đau…

Đó là một món quà cho ba mẹ và cũng là sự đền đáp về tất cả những hy sinh mà suốt đời họ đã dành cho tôi.

Sau đó thì những bức thư hồi âm từ xa xôi cũng đến với tôi. Thuở đó đâu được như bây giờ, chỉ cần viết rồi nhấn phím là lát sau có được tin trả lời. Thời đó, những bức thư phải cần vài tháng và trong khi chờ đợi hồi âm tôi thường tưởng tượng ra những điều mà họ sẽ viết.

“ Cảm ơn số tiền mà con vừa gửi cho ba má. Nhờ nó mà mẹ con vừa may được một bộ đồ và ba cũng mua được một cái quần mới. Ba mẹ khỏe, con yên tâm. Hãy cố gắng sống bình an và hạnh phúc. Bên này ba má chỉ cần một ít tiền để sống, điều quan trọng là con viết thư liên lạc thường xuyên để ba má khỏi trông. Con biết không, cứ mỗi lần đọc lại những bức thư, ba má cứ tưởng là con vẫn còn hiện diện ở đây với gia đình chứ không xa ngút ngàn như sự thật…”

          Với tôi cũng thế. Tôi cũng thường đọc lại những bức thư nhà rồi cẩn thận xếp lại, cột tất cả bằng một dải ruy băng màu tím. Trong những lúc đó tôi cũng tưởng như mình vẫn còn sống trong gia đình, tôi lật qua lật lại những trang giấy mỏng và nhẹ như giấy quyến nhưng đầy ắp chữ  cùng những lời khuyên để trưởng thành một người tử tế. Rồi tôi lớn lên với một nỗi nhớ thương liên tục trong tim.

Làm việc nhiều nên tôi gầy như một que củi, thế nhưng khi nghe ai hỏi, tôi liền trả lời là tại thích chạy bộ để giữ gìn sức khỏe rồi vừa cười vừa lịch sự chào họ.

          Thời gian cứ thế trôi qua và tôi bắt đầu nói thạo thứ ngôn ngữ thật xa lạ của những ngày mới đến nên tôi đọc, đọc tất  cả những gì mà tôi tìm được trong khách sạn. Có khi một tờ báo, có lúc một tạp chí khoa học hay một vài quyển sách mà một người khách đãng trí nào đó đã bỏ quên. Rồi một ngày tôi như  bị hút bởi một trang sách đầy những con số và đồ thị… rồi chợt hiểu là những phép tính trong toán học chính là một thế giới mà mình thích khám phá. Quyển sách ấy thế là chưa đủ, và tôi quyết tìm cách học thêm. Rồi hằng đêm tôi chăm chỉ học, đến nỗi quên cả thời gian đã trôi qua. Có nhiều lần mệt mỏi, thế nhưng  chỉ cần đọc lại những bức thư nhà là tôi cảm thấy tinh thần thư thái và có cảm giác là mình mạnh mẽ thêm lên. 

“ Con yêu dấu, lúc này tuy ba má đã già hơn nhưng vẫn còn mạnh khỏe. Lúc này còn có những người hàng xóm thật tốt bụng và tử tế, thỉnh thoảng họ còn đi chợ giúp ba má hay nấu cho những món ăn ngon. Ít ra thì ba má cũng chẳng đơn độc. Nhớ viết thư thường xuyên nhé, như thể con đang tặng ba má một phần đời của con và ba má rất vui vì con hạnh phúc ”

Họ đâu biết hạnh phúc của tôi chính là được ở bên cạnh họ. Nhưng như vậy cũng được thôi. Dù sao thì sự xa cách này cũng có một ý nghĩa. Hoặc chính tôi phải gắn cho nó một ý nghĩa vì mình chẳng thể làm gì khác.

Mười năm trôi qua và giờ này thì tôi có thể sống và làm việc ở nơi chốn xa lạ này nhưng vẫn cảm thấy an tâm. Tôi không còn là một chàng thanh niên nữa… mà đã là một người đàn ông trưởng thành và rất tự hào về những điều mình thực hiện. Tôi không còn làm việc ở quán ăn, cũng  không còn thức đêm ở một khách sạn  nằm ở ngoại ô thành phố. Bây giờ tôi dạy tin học và với vị trí này tôi có thể giúp đỡ nhiều sinh viên ngoại quốc đã đến đất nước xa lạ này để tìm kiếm một tương lai. Họ chẳng biết nỗi niềm của tôi nhưng tôi thì hiểu sâu sắc cuộc đời  và những hy sinh mà họ đang gánh chịu. Nhiều em kể với tôi về những cơn đói lúc còn ở trên quê hương xa vời của họ và làm tôi như thấy lại bóng mình trong gương, với đôi mắt lạc thần cũng với nỗi sợ hãi về tương lai… luôn xuất hiện trong mắt tôi thuở đó.

          Những buổi tối rảnh rổi tôi thường đọc lại những bức thư  cuối cùng của ba mẹ vì rằng đã rất lâu rồi tôi không nhận được tin gì của họ.  Hằng tháng tôi đều gửi một ít tiền đã dành dụm được, về sau càng ngày càng nhiều thêm, nhưng thư hồi âm của họ càng ngày càng thưa dần. Tôi nghĩ chắc vì tuổi già, mắt kém, nên với họ, viết  một bức thư cũng là điều khó nhọc. Và với ý nghĩ đó, tôi càng cố gắng viết cho họ nhiều hơn, hay khi bận rộn chỉ viết được vài hàng nhưng lần nào cũng bỏ kèm thêm một ít tiền. Nhưng tin tức về họ vẫn mịt mờ. Thế là cuối cùng tôi cũng phải chọn một quyết định, bây giờ thì tôi có thể  trở về quê thăm ba  mẹ và nhân tiện chào hỏi và cảm ơn những người hàng xóm tốt bụng.     

Trong những bức thư cuối cùng hình như cả ba và mẹ đều viết cùng một giọng, nhưng có lẽ lúc này thì họ đã quá già rồi, và mặc dù đã nhiều lần tôi  yêu cầu gửi cho tôi một bức hình mới chụp nhưng họ vẫn không làm. Hình ảnh họ trong lòng tôi  chắc vẫn giống như trong bức hình đen trắng cũ đã mờ, trong đó mẹ trùm khăn trên đầu còn ba thì mặc chiếc quần rộng thùng thình có nhiều mảnh vá. Giữa họ, có tôi, lúc đó còn mặc quần ngắn nên phô ra đôi chân khẳng khiu, còn hai con mắt thì bị một lọn tóc vô duyên phủ lên một cách mất trật tự.

   Cầm lấy dải ruy băng màu tím để cột lại những bức thư cũ. Lòng tôi rạo rực vì sắp đến ngày khởi hành. Ba mẹ sẽ ngạc nhiên như thế nào trong chuyến về thăm bất ngờ, không báo trước ?

***

dinh-cuong-tranh-2

  Tôi gõ mạnh lên bàn phím của máy tính, như thể trong tay đang cầm cây búa. Tôi muốn đập vỡ, tan tành, mà không sao làm được.  Nhưng thật ra tôi cũng chẳng biết mình đang làm gì. Đối với mọi người, tôi vừa trở về từ một cuộc đi chơi, một kỳ nghỉ, thế nhưng những quầng thâm dưới đôi mắt mệt mỏi, hiển nhiên đến không thể nào che giấu. Bao nhiêu nước mắt, trời ơi, bao nhiêu tiếng nấc nghẹn mà tôi vật vã nuốt trọn vào lòng, dù  vẻ ngoài vẫn cứ nở một nụ cười gượng gạo.

 

Trở về thăm nhà sau mười năm xa cách và tôi hiểu ngay lý do của những bức thư thưa thớt đến từ gia đình. Nhưng làm gì còn một gia đình nữa mà  trông mong, chờ đợi!  

Chẳng còn ai cả. Ba, mẹ… họ đã chết cách nhau chỉ vài tháng và thi thể được chôn cất trong hai nấm mộ nghèo nàn. Trên đó chỉ có một tấm bia ghi tên, lấm láp bùn đất.

Họ đã chết cách đây năm năm, còn tôi, giờ đứng trước  hai nấm mồ lạnh lẽo để nhìn hàng chữ, những con số… “ mất ngày…” “ từ trần ngày…”. Họ đã quá già và hai trái tim cằn cỗi đã không còn chịu nổi. Còn tôi, nếu bỏ lại trái tim cạnh đó cũng vẫn còn chưa đủ.

Tôi khóc nức nở cho đến hết những giọt nước mắt cuối cùng.

 

Những giọt nước mắt đầu tiên chảy xuống khi tôi đứng trước căn nhà thời thơ ấu. Vài tấm ngói còn nằm chông chênh trên bốn bức tường rệu rã và xiêu vẹo giữa đống cây cỏ um tùm. Tôi gào lên, vô ích : “ Ba, Má… các người đang ở đâu?”. Cuối cùng tôi đọc tấm giấy  đã úa vàng bọc trong chiếc bao ny-lon rách nát : “ Thư từ xin liên hệ ở nhà số 52….”

 Một ông lão đang ngồi hút thuốc bên ngoài căn nhà bên cạnh đã chỉ tôi tìm ba mẹ ở nơi nào.

-“ Họ nằm ở đó, trong nghĩa trang ở cuối làng!”

   Tôi chưa hiểu. Bước đi vài bước rôi tôi quay người để hỏi thăm căn nhà  những người hàng xóm tốt bụng.

  • “Đó, căn nhà cao ba tầng đó là căn nhà số 52”

Mỗi bước chân tôi nặng như treo đá. Thất thểu lê người đến trước cổng nhà to lớn và bắt đầu nhấn chuông.

  • Ai đó? Chuyện gì vậy?

 Đáp lời tôi là một giọng cáu kỉnh và một người đàn bà ra mở cổng, ló đầu ra :

  • Anh là ai? Cần gì ?

Chỉ vừa nói tên tôi thì mặt bà ta tái mét. Bà lẩm bẩm vài lời… đáng lý phải báo tin… phải cho ông hay…  Một sự ngượng ngập cũng xuất hiện trên nét mặt người chồng, nhưng ông ta im lặng. À, phải rồi,  trong những tình huống như thế này thì người đàn bà luôn được đưa ra để phân trần, nhỏ vài giọt nước mắt, và phía bị hại thế nào cũng mủi lòng, hay ít ra không thể phản ứng mạnh.

          Giờ thì mọi việc đâu có thể thay đổi! Năm năm đã trôi qua mà họ vẫn không cho tôi hay biết. Thời gian đầu… họ “cũng” định trả lời những bức thư của tôi, nói cho tôi biết sự thật…nhưng sau…

          Tôi khinh khỉnh nhìn những ánh mắt lấm lét trên khuôn mặt trơ trẽn của họ, nhưng không thể nói được gì. Còn bà vợ thì nói, nói rất nhiều, như thể để lấp đầy sự yên lặng tráo trở sau mỗi câu nói. Cuối cùng tôi mới nói được vài lời.

– Còn tất cả những số tiền mà tôi gửi về cho ba mẹ? Đâu rồi ?

Hai người kín đáo nhìn nhau  rồi im lặng nhìn ra xung quanh. Tôi đã hiểu tất cả và bây giờ tôi không muốn làm gì khác hơn là chạy thật xa hai con ma không có trái tim và trốn khỏi căn nhà khốn nạn đó.

Thời gian vừa đủ để tôi có thể gọi một chiếc  xe để đưa tôi về một khách sạn trong thành phố và sau đó vội  sắp xếp cho chuyến trở về trước thời hạn. Đâu còn lý do gì để ở lại, và cho ai bây giờ?

 

Thế nhưng bây giờ đây, mỗi ngày cơn giận của tôi cứ dần dà trào ra. Một cánh cửa bị dập mạnh, một câu trả lời cáu gắt bất ngờ buông ra một cách thiếu lịch sự. Năm năm chồng chất những nỗi đau, hao tốn, nhưng vì nó đời tôi còn có một mục đích. Còn bây giờ… Hình như tôi chẳng còn lý lẽ gì để tin về những điều mình làm. Mỗi buổi sáng thấy bóng mình trong gương mà như thể đang nhìn một con người khác: Hàm râu mọc dài, má hóp, hai hốc mắt trũng sâu và không còn ánh sáng. Tôi không còn là tôi nữa. Tôi không còn lịch sử, một cuộc đời ở phía sau lưng. Tệ hơn nữa là tôi cũng chẳng nhìn thấy vì điều gì để sống trong tương lai. Như thể tôi cũng bị chôn vùi trong hai huyệt mộ ở quê nhà.

Đã nhiều ngày … nhưng tôi chẳng thiết đi làm.  Tôi như bị chôn sống trong nhà và chẳng quan tâm đến bất cứ việc gì.  Những ngày đầu, tôi có nghe vài tiếng chuông điện thoại nhưng sau đó thì không. Tôi đi đi lại lại trong nhà không mục đích, di dời vài vật dụng từ bàn đến tủ sách, cầm trên tay quyển sách, mở một hộc bàn nhưng đóng liền sau đó. Rồi tôi bước qua một căn phòng khác hay lập lại những động tác vừa rồi, di dời, rờ rẫm, mở rồi lại đóng…    

          Sau một thời gian, a, đây rồi, tôi nhìn thấy  đầu của một dải ruy băng màu tím đã bạc màu. Tôi cầm lấy xấp phong bì, nhưng vì mở vội nút thắt nên làm các bức thư rời ra, lả tả. Tôi cầm lấy một bức hình đã úa màu và cảm giác như mình đang chạm vào một cái gì đó rất thiêng liêng. Rồi bằng một cảm xúc mãnh liệt tôi bắt đầu lật những trang giấy đã úa vàng và  tìm thấy trong mỗi hàng chữ một sức mạnh mới.

“ Con yêu dấu,  cảm ơn con về tất cả những niềm vui dành cho ba má. Nhưng con đừng bận tâm. Mỗi lần đọc những hàng chữ này thì cũng như ba má đang ở bên con. Hãy sống hạnh phúc. Cuộc đời đầy những khó khăn. Ba má lúc nào cũng cầu nguyện cho con, ngõ hầu con có thể sống một cuộc đời tốt đẹp. Hãy bảo trọng nhé, con yêu ”

 

Elena Pucillo Truong

Sài Gòn 7/2014
Nguồn : tập san VHNT Quán Văn số 25, 8-2014

bolai

p h ư ơ n g   t r ư ợ n g

 

 

Mùa hè bốc lên những cơn lốc nồm

thổi phồng quả bóng nhân loại

rõ ràng anh thấy em đi dưới bầu trời thủy tinh

vậy mà bỗng chốc anh lùi về nơi chốn hồng hoang dự trữ

thời tối tăm đại cổ sơ

như tình yêu ở đó những con thú long tiền sử

vẫn kêu hoài tiếng kêu mất mẹ

bầy chim luýt chuýt ôi linh xưa !

vẫn người gù lửng lơ trên tháp chuông

rùng mình cây đổ xuống từng con chiên dối thánh múa hát quanh đám lửa tàn

rõ ràng anh vừa thấy em bên ngoài hành lang

đã khuất nẻo biến mất vào bên trong những siêu thị đại cồ bàng

cánh dang to khuất mắt anh đi vào mê cung quày hàng xú chiêng đồ lót mốt

những chiếc còng số 8 miên man

nai nịt rùng rùng thời đại

lũ hình nhân trần truồng nhăn miệng cười

có con mắt nháy (hình như)

ôi ai như em hình như anh thoáng nghe em cười

đâu đó

 

 

anh đi tìm em nơi nhồm nhoàm miệng mồm khu ăn uống ngợp ngời thức ăn tây tàu mỹ nhật ấn độ cà ri cay cũng có mà ơi hỡi em rồi nơi đâu biết tìm đâu ra một quả ớt nhồng ban trưa sừng sững mùa hè dưới quê gập mình cây trái

 

 

mùa hè mùa hè ầm vang những cuộc diễu binh

phương trượng tung lên giời

picasso erotique nơi trưng bày vú mọc ngược lên đầu

tiếng đàn thoát ra nipples thời hồng

áo quần bên trong nhạc hội jazz ngoài trời

mở cửa tự do vòm đen của nắng

hoa con mắt anh tìm em trên cao một người nào huýt sáo tình tang

không có ai ôm mặt blues tiếng kèn thời xanh non dạ

những chiếc dương cầm bò lê

xin bấm vào dấu lặng sau cùng tổ khúc

người xạ thủ hô to đã tới

giờ đóng cửa

rõ ràng anh mất

hút em .

 

Hoàng Xuân Sơn

 

ROMANCE PERDUE –  Người Tình Paris

ca khúc Chân Phương – Nguyễn Trọng Khôi trình bày

 

NguoiTinhParis

landcape2

TRỌ. TRONG CHIỀU ĐẦY HƯƠNG BAY.

 

 

Ghé một lần. Và rồi vụt xa

Và em mang. Hồn ta ta bà

Mang cho tình. Đôi lần đầm thắm

Mang cho đời. Chân vội phong ba

 

………………………………………………….

 

Trọ ở đâu ? Sao trọ chốn nầy ?

Trọ vai gầy ? Trọ hương tóc bay ?

Nơi an trụ. Là trăm năm cũ ?

Trăm năm nầy ? Nơi nào vui khuây ?

 

……………………………………………………

 

Người phương nao ? Sao người chợt đến ?

Đã bây giờ ? Hay từ hư vô ?

Gọi rong rêu. Vui buồn cuồng nộ

Ái ân tàn. Một đời cây khô

 

……………………………………………………….

 

Ghé một lần. Và rồi tắt nắng

Ôm hình em. Nhân ngải phù hoa

Ôm bóng lụa. Bóng tha thướt quá

Ngước bên đời. Một trời sao xa

 

………………………………………………………….

 

Trọ ở đâu ? Chiều rồi tâm thức

Trọ trong em ? Giấc trọ thu miên ?

Nơi đến trọ. Và nơi hằng trụ

Vệt khói nào ? Tịch tà vô biên…

 

 

Chu Thụy Nguyên.

( 07 – 2017 )

 

Dan

ĐIỆP KHÚC THÁNG BẢY

 

tháng bảy

rong rêu trời quá khứ

ngọn lửa

hân hoan nở nụ cười

ngoài kia

một tàn dư lệ

đêm . nhốt tiếng thở

giữa trời lặng gió

ngày . buông trôi theo

mây bão kéo ngang đầu

tóc phai màu thế kỷ

phố buồn như sương phụ

núi ngậm bờ môi em

tôi . ngao du một thời trên răng dưới dế đoái hoài hạt mưa mau

đại lộ nghiêng nghiêng từng bước đá rêu xanh mà tưởng nhớ

một linh hồn điêu đứng chết chưa chôn giữa trời bát ngát . em

chẻ tóc vào đời trên những nhánh sông trôi ngoài sương gió đợi

đêm giao thoa nghe mưa xô vô tận số thời gian thêm đau thương

đôi cánh cửa linh hồn là mắt môi em xanh miết với trăng sao

liễu dựng những cơn buồn soi mặt bóng hoàng hôn đẫm cuối trời

hư vô tôi hoang tàn như ăn co goát ăn co thom một thời đá dựng

vườn xếp lá me bay hoa ôm đến rũ xác trong lăng tẩm hoàng thành

em còn nhớ hay em đã quên tôi lột xác em trên ngũ giác đài?

làm tình xanh óng dưới trăng tháng bảy một điệp khúc buồn

và . đêm mò mẫm vào ngực thở em với dư âm rã rời nhân thế

sầu muôn năm nghe một khúc đàn trầm cho đá ngậm lời kinh

 

cho mi ướt biển sâu

cho gió ngàn thu đợi

cho mắt biếc nở hoa

cho trời xanh vô tận

cho sa mạc hoang vu

 

tôi . làm thân con thiêu thân

em . tóc rủ bóng rèm thưa

 

một thời lửa chảy

sụp đổ pom pê ./.

 

VÕ CÔNG LIÊM
(ca.ab.yyc.  7/2017)

 

thơ Lê Anh

CallaLily

Thế Giới Này Có Em.

 

Ta ở đây người cũng bên ta        
Thời gian không đủ tháng năm nhòa
Con tim vẫn ý tìm về mộng
Đời lại thấy sầu nở thành hoa

Đâu dễ quên vì chỉ là duyên
Ngàn thu biển lặng tựa như thiền
Sóng tình dẫu khuất mùa giông bão
Cũng tạt bọt bèo theo trăng lên

Ta đã từ lâu muốn được yên
Từ tâm bỏ hết chuyện ưu phiền
Những nẻo chân đi lòng dẫu động
Mặc tàn cát bụi hắt hiu bên

Vậy mà trong tĩnh mịch có em
Rừng thiêng ngơ ngẩn dáng huyền đền
Ngày chưa đề bạt, trời chưa nắng
Chim đã bay về tụ chốn quen

Em thấy mặt ta lạnh như tiền
Ta thấy được người tim đảo điên
Biết trong hiện tại tàng mây nước
Ai nợ nần ai ? -Ta nợ em

Bóng tâm chân thật dường như ngã
Tướng hiện hình vui có chút người
Trong biển đời qua ai cần độ
Nhìn nhau yêu hết cả hổ ngươi

Tình đây còn vẫn quanh mộng mị
Đêm về soi bóng chỉ lặng thinh
Em đến chẳng riêng gì kinh kệ
Kinh cũng là em, là chân kinh

Mặc nhiên thế giới này có em
Yêu em Ta đã trở nên hiền
Biết trong tự tại mình là một
Một dấu đời dường như đã quen.

Lê Anh.

 

TỜ THƯ BÊN KIA SÔNG 

thơ Hoàng Lộc, nhạc Nguyễn Trọng Khôi



 

 

ToThuBenKiaSong_1

 

ToThuBenKiaSong_2

MH

Anais Nin

 

Võ Công Liêm chuyển ngữ

 

MỞ: Đây là một trong mười lăm truyện ngắn ở tập: “Tam Giác Vệ nữ” hay còn gọi là ‘Thổ ngơi của nữ thần Ái tình / Delta of Venus’ của văn sĩ Anais Nin. Nổi tiếng về truyện khiêu dâm. Bà là tình nhân của nhà văn dung tục Henry Miller của Mỹ. The Boarding School / Nội Trú là truyện ngắn hay nhất của tác giả; truyện được liệt vào văn chương đương đại của nước Mỹ. Những gì có tính chất gợi dục là thực với đời và khai mở một sự trụy lac buông thả. Hân hạnh giới thiệu đến bạn đọc một khám phá mới cho văn chương ngày nay.(Người dịch: vcl)

                                                                                                              *

    Chuyện kể về cuộc đời đã xẩy ra nhiều năm qua ở nước Ba Tây; thuộc vùng sâu, xa phố thị nơi đây còn giữ tập tục nghiêm khắc của đạo Công giáo mà vẫn còn lưu truyền. Những thằng con trai có phúc sanh ra đây đều được gởi vào học nội trú thuộc dòng Tên và tiếp tục mục vụ theo lề thói thời Trung Cổ. Những thằng học trò ngủ trên những chiếc giường gỗ, mỗi lần bình minh dậy đều đi lễ trước khi ăn điểm tâm, xưng tội hằng ngày và kiên tâm trông chừng từng lúc, từng khi. Một không khí khắc khe và nghiêm cấm. Những linh mục ăn những phần ăn riêng và tỏ vẻ ngoan đạo xung quanh bọn học trò. Các cha làm dáng, kiểu cách mỗi khi phát biểu. Giữa lớp học cha dòng với lớp da thâm nâu, pha chút máu Da Đỏ, bảng mặt như mặt dê xồm, tai bự dán cứng vào đầu ông, đôi mắt trũng sâu, miệng với đôi môi trề tợ như thèm uống nước, tóc rậm đen và bốc hơi mùi thú vật. Dưới cái áo dòng thụng dài màu sậm nâu những thằng học trò thường chú ý một cái gì nhô ra dưới bụng mà những đứa học trò nhỏ tuổi không thể nào hiểu và giải thích cái gì nhô ra thẳng đứng nơi ông, mấy đứa lớn che miệng cười sau lưng thầy dòng.

Đây là cái nhô đội quần hiện ra ngoài ý kiến ở giờ dạy học –trong lúc lớp học đang nghe đọc bài Đồng Qúi Xốc (Don Quixote) hoặc là Ra-Bờ-La (Rabelais) hoặc một đôi khi ngó chừng vào đám học trò, và; một thằng học trò trông có vẻ đặc biệt với mái tóc mượt mà khác vớì những đứa trong lớp, mắt và da mặt như con gái mới lớn.

Cha già tợ như muốn tránh xa ở chính ông và chỉ cho thằng con trai những cuốn sách mà ông đã cất giữ riêng tư. Những cuốn sách bao gồm những lời giới thiệu về đồ gốm vùng Inca* mà trên mỗi thứ họ vẽ những người đàn ông đứng dựa vào ở mỗi thế khác nhau. Thằng học trò sẽ hỏi những vấn đề đó mà vị linh mục già đành phải trả lời nhát gừng. Những khi khác thì nói ra không chút ngại ngùng; cùng lúc đó một số khác hiện quanh giữa người cha dòng và thấu hiểu những gì khác nhau sau ý nghĩa đó.

Ở lúc xưng tội thì đây là dịp ông cha trả lời những vấn đề cho thằng con trai. Nhiều điều vô tội mà họ tỏ rõ ở đây. Ông ta đưa vấn đề gần gũi trong thâm ý đen tối ở ‘cái hộp’ xưng tội nhỏ bé này. Những khi xưng tội mấy thằng học trò qùy gối và có thể không nhận ra linh mục, người đã ngồi khuất xa. Giọng trầm xuống xuyên qua khe cửa sổ nhỏ; đoạn hỏi: “Con đã từng khi nào mơ màng dâm dục không? Con có nghĩ về đàn bà? Con đã có lần muốn cưới người đàn bà ở truồng không? Thế thì có hành động thủ dâm trong đêm trên giường ngủ không? Con có từng đụng chạm, sờ mó ở chính con chưa? Con đã từng vọc, mơn trớn, vuốt ve ở chính con chưa? Rứa thì con làm chi cho mỗi sáng thức dậy? Dương vật có thường cương cứng không? Con có khi nào nhìn những thằng bạn học trong những khi thay quần áo không? Hoặc khi tắm chung?”.

Thằng học trò không biết chi mô răng rứa, sớm muộn hắn học được những bài học vở lòng về luyến ái, những gì mà hắn mong đợi từ lâu và là những gì cha tinh thần đã đặc những câu hỏi về hắn. Thằng con trai biết thêm nhiều điều thích thú, thỏa mãn trong khi xưng tội, thêm nhiều chi tiết xúc động và nhiều mộng mơ. Từ đó đêm nào cũng mơ với mộng. Hắn chẳng biết đàn bà là cái giống gì mà sao họ làm cho người ta mê mệt. Nhưng; đã có lần hắn thấy người Da Đỏ làm tình bằng nắm lông mềm con hươu la-ma (vicũna)* tợ như cái gì dòn và mỏng nơi con dê cái. Và rồi hắn mơ làm tình cái dòn, mỏng nơi con dê cái và làm cho hắn thao thức mỗi sáng ngủ dậy. Vị linh mục già khuyến khích và căn dặn những lần xưng tội. Hắn lắng nghe và kiên tâm vô cùng. Hắn bị ấn tượng lạ như hình phạt. Thằng con trai tiếp tục thủ dâm như thúc đẩy, hắn đi vào trong nhà Nguyện mỗi khi không có ai xung quanh, nhúng dương vật trong chậu nước thánh và coi như đã thanh tẩy. Đây là nghi thức thoát khỏi những ấm ức trong đêm tối.

Ở đó có những thằng con trai rất hoang nghịch trông giống như hoàng tử Moorish* mặt bôi đen với nét phong trần đặc biệt, một cổ xe hoàng gia và một thân hình tuyệt đẹp, quá mềm mại không xương cốt đã nhận ra, mảnh khảnh và bóng láng như tượng đồng đen.

Đấy là thằng con trai bất trị, hỗn loạn chống lại cái tục lệ xưa cũ đã phủ lên trên cái áo choàng bên ngoài. Hắn thường ngủ truồng, và; khoát áo ngủ làm hắn ngột ngạt, cong cứng khó chịu. Vì vậy mà đêm nào cũng quấn vào như những thằng bạn học khác và rồi hắn kín đáo hất tung ra khỏi người, thò tay xuống dưới cho tới khi ngủ thiếp không quần không áo.

Hằng đêm ở dòng Tên xưa cũ này như vây quanh lấy hắn, rình rập, canh chừng không để một thằng nào lén lút qua giường của hắn, hoặc thủ dâm hoặc nói thì thầm trong bóng đêm bên giường kế cạnh. Mỗi khi đến với giường ngủ là trở nên kẻ bất tuân, hắn chậm rãi và  hết sức thận trọng lật tung áo phủ ngoài và nhìn trân vào thân hình trần truồng của hắn. Nếu như có một thằng nào báo thức hắn, quở trách hắn: ‘tao đến để thấy; nếu mầy ngủ không có áo khoát lần nữa!’ Nhưng; nếu thằng đó không đánh thức hắn thì đồng ý cho hắn liếc mắt vào thân hình thằng trai trẻ đang ngủ. Thời không có chi phải quở.

Có một lần trong lúc học về cơ thể con người khi đó hắn đứng trên bục giảng cùng với cha dòng và một thằng trai giả gái đội tóc vàng ngồi ở cuối làm cho hắn giật mình; có một cái gì nhô ra dưới áo dòng của vị linh mục làm cho cả lớp thấy rõ ràng.

Thầy dòng hỏi thằng con trai đội tóc vàng: ‘Có bao nhiêu xương nơi cơ thể người đàn ông?

Thằng con trai giả gái trả lời hết sức nhu mì: ‘Hai trăm linh tám’.

Tiếng của thằng học trò khác từ phiá cuối lớp: ‘Nhưng cha Dobo có tới hai trăm lẻ chín’.

Chốc lác sau khi xẩy ra chuyện bất ngờ đó cả lớp học đưa đi dạo quanh vườn cây sinh thái thực vật. Mười đứa trong bọn chúng lạc đường về. Trong số đó có cả thằng con trai mảnh khảnh tóc vàng. Người ta tìm thấy bọn chúng trong rừng, xa một khoảng từ nơi những thầy dòng và xa cả trường nội trú. Họ ngồi xuống nghỉ chân và đặc vấn đề về sự cố xẩy ra. Họ bắt đầu ăn dâu, táo. Sao lại có chuyện đó, không một ai biết; nhưng sau đó thằng con trai giả gái tóc vàng ném ra giữa bãi cỏ, không quần không áo, đưa cái bụng ra và chín thằng khác bước qua khỏi hắn, chuyển hắn đi mà coi hắn như con đĩ, một cách dã man. Qua khám nghiệm hậu môn của hắn có dấu vết của sự đòi hỏi dục xác; trong khi khám xét thấy xướt da giữa hai đôi chân của thằng con trai đó, tất cả thịt da nhủn xuống như thân thể đàn bà. Bọn chúng nhổ nước bọt vào tay và chà xát lên dương vật của mỗi đứa. Thằng giả gái đội tóc vàng hét lên, vừa đá, vừa khóc, nhưng cả đám dằn hắn lại và xử sự cho tới khi bọn chúng thỏa mãn  ./.

 

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. cuối 5/2017).

 

Anais Nin: (1903-1977) Người Mỹ gốc Cuba. Một thời sống ở Pháp , Tây Ban Nha và sau cùng ở Mỹ cho tới ngày qua đời.

Henry Miller: (1891-1980) Người Mỹ Sống ở Pháp một thời gian dài. Trở về Mỹ và chết ở Big Sur.USA.

Ghi thêm: Điạ danh và chứng tích trong truyện cho rõ ý tác giả muốn miêu tả nơi vùng đất hoang sơ ở Ba Tây (Trung Nam Mỹ).

* Inca: Vùng đất liên hệ với những bộ lạc Da Đỏ nơi đã bị thống trị bởi Peru mãi tới khi Tây Ban Nha chinh phục và làm thuộc điạ.

* Vicũna: Giống hươu Ở Nam Mỹ, mình thon dài lông mịn như len, tìm thấy ở rặng Andes. Có tên gọi là Lama vicugna.

* Moorish: Nhóm người Tây Ban Nha xâm lược và chiếm đóng được phong như hoàng tử ở tk.thứ 8.

ĐỌC THÊM: Những truyện dịch sau đây:

– Cụm Hoa Cúc Sao của Octavio Paz (Văn thi sĩ Mễ Tây Cơ (Bản Anh ngữ)

– Người Khách Lạ của Albert Camus (Nhà văn Pháp (Bản Anh ngữ).

– Đứa con hoang Trở về của André Gide (Nhà văn Pháp (Bản Anh/Pháp ngữ).

– Mallorca/Ma-Yô-Ca của Anais Nin. (Nhà Văn Mỹ (Bản Anh ngữ)

– Lời Sám Hối của người đàn bà ở đền Kiyomizu (Nhà văn Nhật Bản Akutagawa Ryùnosuke. (Bản Anh ngữ)

– Trẻ Đồng Hoang của Charles Baudelair (Nhà Thơ/văn Pháp (Bản Anh/Pháp ngữ).

– Con Đĩ Khả Kính của Jean-Paul Sartre (Nhà văn Pháp (Bản Anh / Pháp ngữ)).

– Ngàn Cánh Hạc của Yasunari Kawabata (Nhà văn Nhật Bản (Bản Anh ngữ) )

– Thiền truyện/Tuyết Trắng của Yuko Akita (Nhà văn Thiền Nhật Bản (Bản Anh ngữ)

Những truyện ghi trên của võcôngliêm chuyển dịch hiện có ở một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo đ/chỉ đã ghi.

TRANH VẼ:  Portrait of Anais Nin’ Khổ: 12” X 16”.Trên giấy cứng. Acrylics+Mixed+House-paint..
Vcl.

AnaisNin


 

 

 

 

DSCN4590_2

bất chợt giọng nói của ngày

 

ý tưởng hiện khởi con chữ hóa thân

với hàm ý chỉ là bọt bóng mơ hồ bay ngược về trời

lũ chim sẻ nâu không cần biết về những thể nghiệm

tiếng hót ban mai như lời hứa tinh khôi trên vòm lá

hạnh phúc từ cỏ khô được kết dính dưới những mái nhà dọc phố

 

người lướt ngược chiều qua nhau lung linh hư ảo

bầu trời mở ra trong mắt ánh sáng chảy tràn xuống bước chân

những hình dung từ cơn mộng mị tự nó giải thoát khỏi cái bóng

bầy kiến quán tính vội vã nào hay cúc dại đã nở hoa

cát bụi của ngày hôm qua vẫn mặc nhiên tôn tại trước điều bí mật của thời gian

 

xin cứ tự nhiên tiên đoán

bao tiếng chuông ngân mang linh hồn chiếc lá tuyệt vọng tan nhanh vào đất

gió không hề biết vuốt ve những câu thơ mù lòa đậm sắc màu ước lệ

thành phố đã nói rằng mùa thu dường như đang về đâu đó

có thể nào chúng ta đã đánh mất sự tồn lưu ký ức

bất chợt giọng nói của ngày nhắc nhớ trong tiêm  thức

tôi và em đừng ngốc nghếch trước niềm tin tình yêu thật sự luôn vĩnh cửu 

 

Khaly Chàm

 7/2017

 

 

 

hild2

Cái chết của một người nhặt rác

 

 

Gương mặt của em không hắt chút ánh sáng cuối đường

Dù cơn mê làm nỗi đau nghỉ ngơi đôi chút

Trước khi về với cái chết dưới chân.

 

Đôi mắt em hai đóa hoa dần khép lại

Những kỷ niệm lưu vong

Những tháng năm ném đầy trái đắng

Của lầm than, cô độc, u buồn

Đôi tay gầy còn rớm máu đỏ tươi

Đôi tay chưa từng gặt được một vài quả ngọt.

 

Dưới chân cầu đen ngòm thành phố

Không thầy tu, bác sĩ, người thân

Chỉ vài người số phận như em

Lã chã tuôn dòng nước mắt đưa đường.

 

Xin đặt lên em hoa của bốn mùa

Xin hãy khắc lời ca lên bia mộ:

“Nơi yên nghỉ của một người nhặt rác

Người đã tỏa sáng trên con đường đang chết”.

 

Lê trinh

37da5b4deee8d21b9cb26179ca01219f

Về dân chủ.

 

quả thực

tôi không còn biết phải xử lí như nào

với giấc ngủ tối nay- khi có quá nhiều thông tin về cái chết của nhà đấu tranh

dân chủ cho nhân dân trung quốc- lưu hiểu ba

được loan tải đánh vào đầu

(giấc ngủ ngày còn okay) nhưng chỉ giấc đêm

nội đêm nay

 

mặc dù mỗi đêm

vừa nằm xuống tôi đều nghe tiếng chân phụ nữ

về

đòi

lấy xác tôi cho bằng được

 

phải nói không biết bao lần tôi đã cố hình dung

xem khuôn mặt

người phụ nữ ấy là ai? nhưng chịu

giờ lại phải hình dung cách xử lí giấc ngủ đêm nay- như nào

(với quá nhiều thông tin về cái chết nhà tranh đấu dân chủ cho nhân dân trung hoa

lưu hiểu ba- đánh vào đầu!)

 

tôi muốn nói

– ở đây

phụ nữ họ thích nghi giỏi lắm

lấy tấm chồng/ bất kể người nước nào

theo về quê chồng khuôn mặt họ đổi khác ngay

để thích nghi và sống cực tốt

 

không giống đàn ông- nhất là đàn ông

như tôi

sống xứ người mấy mươi năm vẫn chả bao giờ thích nghi nổi

luôn ạch đụi!)

 

một điều làm tôi thắc mắc

dẫn đến nghi ngờ- rằng- giữa tiếng chân bước về

mỗi đêm

của người phụ nữ đòi lấy xác tôi cho bằng được

với cái chết nhà đấu tranh dân chủ cho nhân dân trung hoa- lưu hiểu ba

người phụ nữ ấy thì chắc còn trinh tiết/ chứ không? tại sao lại biết rõ giờ

giấc

tôi nằm xuống

 

còn cái chết của lưu hiểu ba

với khá nhiều thông tin đánh vào đầu tôi- quả

rõ ràng là cách ông chết do bị dồn cùng đường/ bị tù tội

vướng bệnh tật

 

cứ thế tôi thả cho trí tưởng lang thang

một cách vô định

nhưng rốt cùng thì sao? chắc chắm giờ đây mỗi đêm tôi lại bật dậy thắp nhang

cầu khấn/ tôi cầu khấn giời ạ (ít nhất

năm sáu lần

cũng có thể suốt cả đêm

đêm!)

 

chính vì thế- ya

tôi không còn biết xử lí với giấc ngủ đêm nay

như nào- là vậy!

..

Vương ngọc minh.

thơ Lê Anh

NHO

TÌNH NHỚ

 

Em có bao giờ nhìn lưng biển

Nghe xa từng nỗi nhớ về nhau

Thời gian đủ làm thành ly biệt

Mỗi đêm dài như mỗi đêm thâu

 

Ai còn đây vẫn tình chết lịm

Màu tang lòng đã tím mùa yêu

Ta vẫn chờ cho dù đây đó

Hoàng hôn lên thành phố mấy chiều

 

Chuyến tàu qua cũng từng năm tháng

Góc đời xưa sao khuất bóng tìm

Nhìn theo mắt…nhìn quen sương xuống

Bến ga chìm trong phố đêm im

 

Ta thấy buồn thời gian héo đợi

Tình phân kỳ từ  cuối ra đi

Mịt mù nhau bóng chim tăm cá

Nửa hồn đau mòn mỏi chia ly

 

Trách chi nhau đã giờ biền biệt

Những yêu thương ướt một đời ta

Tóc xanh có lần mềm da thịt

Tình em nghe se sắt gần xa

 

Nhìn chân mây như nhìn lưng biển

Sóng đời cao chùng chập bạc đầu

Ta ôm nhớ về em nhòa nhạt

Chắc không còn được gặp nhau đâu!.

 

Lê Anh.

 

 

 

 

Như Chiều Mưa Vội.

 

Tôi cùng em về

Con đường bụi nhớ

Những dấu chân che

Dưới lá đêm hè

 

Nhưng mưa nhạt nhòa

Xóa ướt chân qua

Tôi buồn tiếc mất

Hương huyền ngày xưa

 

Hôm bên phố cũ

Bóng đổ lưng trời

Dấu chân hò hẹn

Lấp đầy lá rơi

 

Tôi ôm nỗi nhớ

Em ở đâu rồi

Tôi còn đây đợi

Chiều vẫn mau trôi

 

Em ở đâu nơi 

hay phiêu bạt đời

Như chiều mưa vội

Làm ướt tình tôi

 

Chiều mưa thấm đất

Mang cả tình tôi

Xuôi về cuối trời

Con đường vắng người                               

Giờ đọng mưa rơi.

 

 

Lê Anh.

 

co-gai-ly-son-1452271504

với trăng

                  

cùng hồ đình nghiêm, hành trang

 

 

 

gọi một vầng trăng cổ sơ

lắng nghe thiên thủ đôi tờ nguyệt thơm

biết vì đâu mây vang lừng

tà huy rúng động mầu ngưng pháp thiều

ngồi lặng với chùm phong rêu

dát vào thính thị mùa khêu gợi cùng

diễn trần vun vút không trung

chờ phiên lãng thuỵ gối đồng xuân tươi

tờ mộng nguyên thẩm thấu cười

lóng xương trừ bị còn hơi thở nồng

búng rạng ngời chữ không không

khoanh tay ghì ấm chút lòng khoa nghi

 

 

hoàng xuân sơn

16 juillet 2017

Thế giới phản ứng sau cái chết của Lưu Hiểu Ba

 

13/07/2017
nguồn: VOA

5Người dân Hồng Kông biểu tình trước Văn phòng Liên lạc Trung Quốc tại Hồng Kông, bày tỏ lòng thương tiếc nhà tranh đấu Trung Quốc Lưu Hiểu Ba qua đời, ngày 13/7/2017.

 

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Rex Tillerson hôm thứ Năm 13/7 lên tiếng về cái chết của nhà tranh đấu cho nhân quyền Trung Quốc Lưu Hiểu Ba.

“Hôm nay tôi cùng với người dân ở Trung Quốc và trên khắp thế giới để tang Khôi nguyên giải Nobel hòa bình năm 2010 Lưu Hiểu Ba. Ông qua đời trong khi đang thọ án tù lâu năm chỉ vì đã lên tiếng thúc đẩy cải cách dân chủ một cách ôn hòa. Ông Lưu đã cống hiến trọn đời mình ra tranh đấu để đất nước và nhân loại được tốt đẹp hơn, theo đuổi công lý và tự do.”

Ngoại Trưởng Tillerson nói thêm:

“Tôi xin gửi lời chia buồn sâu sắc đến bà Lưu Hà, vợ ông Lưu Hiểu Ba, và tất cả những người thân yêu của ông. Tôi kêu gọi nhà nước Trung Quốc hãy phóng thích bà Lưu Hà khỏi tình trạng bị quản thúc tại gia, và cho phép bà ra nước ngoài, theo nguyện vọng.

Người đứng đầu Ủy ban Nobel ở Na Uy nói chính quyền Trung Quốc phải “chịu trách nhiệm nặng nề” về cái chết của khôi nguyên Giải Nobel Hòa Bình Lưu Hiểu Ba.

Bà Berit Reiss-Anderssen nói:

“Chúng tôi quan ngại sâu sắc về việc ông Lưu Hiểu Ba không được thuyên chuyển đến một cơ sở y tế nơi ông có thể được điều trị đúng mức trước khi căn bệnh trở nặng không cứu chữa được. Chính phủ Trung Quốc phải chịu trách nhiệm nặng nề về cái chết quá sớm của ông Lưu.”

Ông Lưu, một học giả Trung Quốc sau này trở thành một nhà bất đồng chính kiến, tranh đấu cho dân chủ, qua đời ở tuổi 61, vì bệnh ung thư gan.

Các nhóm bênh vực nhân quyền nhanh chóng lên tiếng ca ngợi những thành tựu và di sản của ông Lưu trong khi kêu gọi cộng đồng quốc tế điều tra cái chết của các nhà hoạt động dân chủ trong thời gian bị cầm tù, và kêu gọi Trung Quốc ngưng đàn áp các nhà hoạt động.

Bà Sophie Richardson, Giám đốc đặc trách Trung Quốc của Tổ chức Human Rights Watch nói:

“Ngay giữa lúc căn bệnh của Lưu Hiểu Ba trở nặng, chính phủ Trung Quốc vẫn tiếp tục cách ly ông với gia đình, đồng thời không cho ông được tự do chọn cách điều trị. Sự kiêu ngạo, sự độc ác, và sự cố chấp của nhà nước Trung Quốc thật sự gây sốc, nhưng sự nghiệp tranh đấu của ông Lưu cho một nước Trung Quốc tôn trọng nhân quyền và dân chủ sẽ tiếp tục.”

Người đứng đầu Tổ chức Nhân quyền LHQ, Hoàng Thân Zeid bin Ra’ad Zeid al-Hussein, bày tỏ “nỗi đau buồn sâu sắc” trước cái chết của ông Lưu Hiểu Ba, nói rằng phong trào nhân quyền đã mất đi một “nhà vô địch kiên định.”

Ông Salil Shetty, Tổng thư ký của Tổ chức Ân xá Quốc tế nói ông Lưu Hiểu Ba đã để lại một di sản vô tận cho Trung Quốc và cho cả thế giới.

 

Lưu Hiểu Ba, người bất đồng trực ngôn

 

4Người biểu tình ở Hong Kong khóc thương ông Lưu Hiểu Ba, 13/7/2017

 

Ông Lưu Hiểu Ba, nhà tranh đấu cho nhân quyền Trung Quốc bị bỏ tù, vừa qua đời trong một bệnh viện Trung Quốc sau một thời gian chống chọi với bệnh ung thư. Nhà văn đồng thời là nhà hoạt động 61 tuổi, đã được trao giải Nobel Hoà bình năm 2010 vì “đấu tranh lâu dài và bất bạo động cho các quyền làm người cơ bản ở Trung Quốc”. Ngay cả những ngày cận kề cái chết, ông vẫn là đối tượng của nhiều tranh luận. Phóng viên Natalie Liu của đài VOA ở Washington cho biết thêm thông tin.

Ông Lưu Hiểu Ba, 61 tuổi, qua đời tại một bệnh viện ở Thẩm Dương, nơi ông được chuyển đến từ nhà tù để được điều trị ung thư giai đoạn cuối. Những ngày cuối cùng của ông gắn liền với một cuộc tranh cãi trong công chúng về việc Bắc Kinh từ chối yêu cầu của gia đình ông, xin phép đưa ông sang Hoa Kỳ hoặc Đức để được chăm sóc.

Từ lâu, ông Lưu đã nổi danh là một nhà bất đồng chính kiến trực ngôn. Là một giảng viên đại học và nhà văn nổi tiếng về phê bình văn hoá Trung Quốc truyền thống, sự nghiệp đầy hứa hẹn của ông đã rẽ sang một bước ngoặt lớn khi ông tham gia cuộc biểu tình quy mô do sinh viên dẫn đầu tại quảng trường Thiên An Môn vào năm 1989.

Sau cuộc đàn áp dữ dội của quân đội, trong sự cố được gọi là vụ thảm sát Thiên An Môn, ông bị quy là thành phần tội phạm “bàn tay đen” và bị bỏ tù.

Sau khi được phóng thích năm 1991, ông tiếp tục kêu gọi cải cách chính trị.

Ông Lưu Hiểu Ba nói:

“Nếu có tiến bộ gì về xã hội và chính trị yso6 Trung Quốc trong 20 năm qua, tất cả là nhờ các công dân đã thúc đẩy sự thay đổi. Rốt cuộc, thay đổi sẽ xảy ra khi mà các vấn đề vẫn tồn tại và có đủ những người quan tâm”.

Năm 2008, ông Lưu và các nhà bất đồng chính kiến khác đã công bố một văn kiện có tên Hiến chương 08. Văn kiện kêu gọi chấm dứt chế độ độc đảng của Trung Quốc và thành lập một nước cộng hòa dân chủ mới.

Ông Lưu Hiểu Ba nói:

“Đối với những người trong sô chúng ta trong phong trào chống đối dưới các chế độ độc tài, một phần công việc của chúng tôi là phải đối mặt với cảnh sát, và đi tù. Như vậy, một nhà bất đồng chính kiến không chỉ cần học cách chống lại áp bức, mà còn phải đối phó với các cuộc trấn áp, và bị cầm tù”.

Ông Lưu bị kết án 11 năm tù hồi năm 2009. Một năm sau, tên tuổi của ông được toàn thế giới biết đến.

Chủ tịch Ủy ban Nobel Na Uy Thorbjorn Jagland:

“Ủy ban Nobel Na Uy đã quyết định trao giải Nobel Hoà bình năm 2010 cho ông Lưu Hiểu Ba vì đã đấu tranh lâu dài và bất bạo động vì nhân quyền cơ bản ở Trung Quốc”.

Giải thưởng ghi nhận vai trò của nhiều người Trung Quốc ở trong lẫn ngoài Trung Quốc trong việc xác lập nhân quyền phổ quát.

Ông Lưu Hiểu Ba nói:

“Nhà cầm quyền có quyền lực trong tay, họ có thể bắt giữ người, chúng ta không có quyền lực như vậy, nhưng chúng ta có thể nói chúng ta không ủng hộ điều này, chúng ta chống đối điều này”.

Khi ông Lưu qua đời, ông còn 3 năm nữa nữa mới mãn hạn tù. Người vợ chung sống với ông trong 21 năm, bà Lưu Hà, đề cập tới cuộc đời của hai vợ chồng trong một bài thơ:

“Ta thích vẽ cây, vì sao vậy?
Vì thích hình ảnh cây đứng thẳng
Người nói sống mà đứng thẳng hẳn rất mệt mỏi
Ta trả lời đúng thế
Nhưng ta vẫn phải như vậy”

 

Khôi nguyên Nobel Hòa Bình Lưu Hiểu Ba qua đời

LuuHieuBa

nguồn: VOA

Nhà hoạt động chính trị người Trung Quốc, nhà văn, Khôi nguyên Nobel Hòa Bình, Lưu Hiểu Ba, qua đời tại một bệnh viện thuộc thành phố Thẩm Dương, Trung Quốc, hưởng thọ 61 tuổi. Sở Tư Pháp thành phố Thẩm Dương ra thông báo chính thức cho biết.

Ông Lưu Hiểu Ba qua đời do căn bệnh ung thư gan, vốn được phát hiện vào tháng Năm, và được công khai hồi tháng Sáu.

Được biết đến với chiến dịch trường kỳ đấu tranh cho tự do, dân chủ của Trung Quốc, nhiều người coi ông Lưu là bậc anh hùng, trong khi ông lại là cái gai trong mắt chính quyền Bắc Kinh.

Trong suốt thời gian dài, ông đối mặt với sự sách nhiễu, quản thúc và giam cầm từ phía đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 2010, ông Lưu Hiểu Ba được trao tặng giải Nobel Hòa Bình, trở thành người Trung Quốc trong nước đầu tiên nhận giải thưởng danh giá này, đồng thời cũng là một trong ba người nhận giải trong lúc bị giam giữ, sau ông Carl von Ossietzky quốc tịch Đức (1935) và bà Aung San Suu Kyi người Myanmar (1991).

Lưu Hiểu Ba sinh tại Trường Xuân, Cát Lâm, năm 1955 trong một gia đình trí thức. Ông phải trải qua những năm tháng đầy biến động của nước Trung Hoa hiện đại.

Khi phong trào đấu tranh dân chủ Thiên An Môn nổ ra vào năm 1989, ông đang là học giả thỉnh giảng tại đại học Columbia, New York. Ông Lưu sau đó trở về quê hương, tham gia phong trào vốn bị đàn áp dã man bởi chính quyền Cộng sản Trung Quốc.

Ông Lưu và những nhà hoạt động khác được ghi nhận là đã có công trong việc hạn chế bớt qui mô của cuộc tàn sát bằng cách thương lượng với các binh lính có vũ trang, mở một đường thoát trong hòa bình cho hàng ngàn sinh viên đang có mặt tại Thiên An Môn.

Ông Lưu sau đó bị bắt với tội danh “đứng đằng sau giật dây phong trào Thiên An Môn.” Mặc dù không phải chịu án hình sự và được phép đi ra nước ngoài, ông Lưu bị đuổi khỏi trường đồng thời bị quản thúc tại gia nếu vẫn tiếp tục sống trong nước. Ông Lưu Hiểu Ba được chính phủ Úc cấp quy chế tị nạn, nhưng ông từ chối.

1a

Ảnh Reuters

Sau sự kiện Thiên An Môn, ông Lưu bị giam tổng cộng ba lần, nhưng vẫn tiếp tục tranh đấu cho những cải cách chính trị. Kể từ năm 1999 đến 2008, ông dành toàn bộ thời gian của mình cho việc viết văn, cũng như giúp thành lập Trung tâm Văn bút Độc lập trung Quốc, một diễn đàn cho phép các nhà văn, nhà báo tự do bày tỏ chính kiến của mình. Ông Lưu từng ba lần được bầu làm chủ tịch của tổ chức này.

Năm 2008, Lưu Hiểu Ba giúp soạn thảo “Hiến Chương 08”, kêu gọi cho nhân quyền, tự do bầu cử. Hiến chương này được cho lưu hành vào đúng ngày 10 tháng 12, ngày Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, cũng như kỷ niệm 60 năm ngày phát hành Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền.

Ngay trước khi Hiến chương 08 được phát tán, Lưu Hiểu Ba bị bắt với tội danh nghi ngờ khích động lật đổ quyền lực nhà nước, chịu án 11 năm tù. Tháng 10 năm 2010, ông được trao tặng giải Nobel Hòa Bình. Tại lễ trao giải, Hội đồng Nobel của Na Uy đã đặt một chiếc ghế trống trên sân khấu thay mặt cho Lưu Hiểu Ba, do ông không được phép tham dự.

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã chỉ trích bản án mà Trung Quốc dành cho Lưu Hiểu Ba, cho rằng việc kết án những tiếng nói chính trị ôn hòa đã vi phạm những quyền con người cơ bản được quốc tế công nhận.

Liên minh Châu Âu, Đức, Pháp và nhiều nước khác cũng đồng thời bày tỏ mối quan ngại tương tự. Nhiều tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế, cùng với cựu Tổng thống Nam Phi Nelson Madela và 15 khôi nguyên Nobel Hòa bình khác, cũng đã lên tiếng yêu cầu Bắc Kinh trả tự do cho Lưu Hiểu Ba.

Năm 2009, lãnh tụ tinh thần lưu vong của Tây tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma, một khôi nguyên Nobel Hòa bình, cho rằng việc tù đày một người chỉ đơn giản thực hành quyền tự do biểu đạt đã đi ngược lại hoàn toàn các công ước quốc tế về quyền con người.

Ông Lưu Hiểu Ba vẫn bị giam trong tù khi tình hình sức khoẻ có những chuyển biến xấu, và chỉ được đưa vào bệnh viện vài tuần trước khi ông qua đời. Gia đình ông nhiều lần lên tiếng yêu cầu chính quyền Trung Quốc cho phép đưa ông sang Mỹ hoặc Đức để chữa trị căn bệnh ung thư gan, tuy nhiên đều bị từ chối.

Khôi nguyên Nobel Hòa bình Lưu Hiểu Ba qua đời ở tuổi 61.

(Bài viết được chuyển ngữ từ bản Anh Ngữ của ban Quan Thoại, VOA)

 

 

 

Giới Thiệu E-Book:

 

BiaThoQuynh

THƠ QUỲNH

 

Văn Nghệ Boston vừa nhận được một e-book THƠ QUỲNH tác giả Hoàng Xuân Sơn.
Xin giới thiệu cùng quý anh chị em văn nghệ và độc giả.

Anh chị em có thể download tập thơ – file PDF này qua đường link:

Thơ-Quỳnh-HXS-final

 

Xin cám ơn nhà thơ Hoàng Xuận Sơn .  Chúc anh chị em một ngày bình an

VĂN NGHỆ BOSTON

 

 

 

pho-mua-dong

CÕI TÀN PHAI

 

Thôi nhé em yêu! Chiều đã tắt!
Nắng tàn phai rụng dưới chân ngày.
Thương nhớ một đời như sương khói
Hoa mộng đầu nở trắng hai tay!

Anh không thể níu mùa xanh lại
Tóc huyền xưa mắt biếc môi hồng
Nghe tiếng gió: “Mình yêu nhau mãi”
Vòng tay ôm: Một bóng chiều không!

Sương tuyết thời gian đùn cỏ mộ
Đưa nhau về trong cõi tàn phai.
Trên đỉnh thu sầu màu trăng vỡ
Đường nhân gian lạnh buốt đêm dài!

Người yêu hỡi! Trăng vàng suối ngọc
Cát mịn màng…sóng vỗ biển dâu.
Khoảnh khắc tình nồng thơm muôn thuở
Lời trăm năm vọng mãi nghìn thu!

 

Trần Thoại Nguyên

July4th

VoDe2

VỌNG ÂM BUỒN

 

Mưa phương nào tôi che người phương ấy

Chiều dần tàn trên mái ngói rêu xanh

Bầy quạ nhỏ đưa đêm về ái ngại

Lời chia tay,

muốn nói…

cũng không đành!

 

Tôi lơ đãng trao người cây Thánh Giá

Người đa mang từ buổi ấy lên đường

Nghe sóng vỗ trong lòng con ốc nhỏ

Và quanh tôi-

muôn thuở,

vọng âm buồn-

 

Khi không thể chia cùng nhau khổ nạn

Thắp cho người ngọn nến cháy rưng rưng

Từng giọt nến rơi vào đêm tan nát

Mái hiên khuya-

gió tạt…

buốt căn phần-

 

 

TÔN NỮ THU DUNG

 

ĐÊM CHỜ QUỲNH HÉ NỤ

 

Em đừng cởi áo vô minh

Thiền sư,

Thi sĩ

bất bình… hạ sơn

trong cuộc lữ cô đơn

Xin

muôn lượng kiếp

hoá thân tìm người

Sát na ấy,

ngỡ suốt đời

Đăm đăm diện bích

triệu lời vô ngôn

Em đừng xé bỏ càn khôn

Ngàn lau trắng vẫn cội nguồn băn khoăn

Em đừng vội nhé,

Quỳnh hương…

 

 

Thiền sư cởi áo che quỳnh

Nghe trong khuya khoắt…

trở mình,

hạt sương


TÔN NỮ THU DUNG

BXP

tranh Bùi Xuân Phái

 

Kể Em Nghe

 

 

Em chở tôi đi ngang phố Phan Đình Phùng

Em bảo

Hà Nội bây giờ chỉ có phố này là đẹp nhất

Còn bóng hai hàng cây xanh 

Nơi tôi sống 

Tôi đã tự hào hơn Hà Nội 

Thành phố trầm mặc nỗi buồn 

Vẫn thỉnh thoảng ác mộng về cơn điên bệnh tật

Về những năm tháng chiến tranh 

Hàng cây xanh 

Mỗi sớm mù sương 

Cờ ô đại nội 

Mùa hè phượng đỏ ối 

Áo trắng vẫn hiền lành dưới bóng xanh ươm

Hà Nội em

Bây giờ tôi đến 

Câu hát xưa bất chợt mênh mang  

“Cây cơm nguội vàng cây bàng lá đỏ…”

Bây giờ nơi nao?

 

Hà Nội của em

Nơi tôi đến 

Hồ Gươm xanh đậm hơn 

Giữa buổi chiều mùa hạ 

Người vẫn yêu đời đùa vui phố xá 

Ngồi bên gốc me xanh 

Tôi không quen 

Mùi nước rất tanh 

Đưa tay bụm mũi 

Như thể kẻ nhà quê quá xa lạ với phố phường 

Tưởng tượng mùi cốm làng Vòng 

Tưởng tượng mái ngói thơm 

Đang ở nơi nào đó 

Xa xăm 

 

Hà Nội của em 

Hà Nội trong tưởng tượng của tôi

Vẫn đẹp

Giữa lưng chừng bài hát 

Hà Nội bây giờ 

Là rác

Là khói bụi

Là trơ trụi

Là cao ốc

Là kẹt xe

Là 

Người 

Người 

Người 

Đông nghẹt 

Mưu sinh và chờ chết 

Hà Nội vẫn còn đó

Nhiều người bạn của tôi

Đáng yêu và hiền lành 

Cụ già ngồi đọc tờ báo cũ 

Em bé cầm trên tay chiếc bánh cam ngọt lịm 

Những chiếc xe đạp chở bốn mùa hoa dạo bán 

Thành phố vẫn thơ

Dưới làn bụi mờ

Dưới những con đường trơ trọi 

 

Tôi ghé vào quán bún ốc

Người nhạt

Giữa phố xá thênh thang 

 

 

 

Nguyễn Hoàng Anh Thư

7

THỪA THÃI CĂNG LÒNG.

 

 

1)

tôi

nhập vào em

đêm tháng ba

phù sinh trẩy hội

đóm

hoan ca

bủa vây trùng khiếp

đời

khô mộng

lầm lũi giang hồ

ta

dắt ta.

 

 

 

2)

buồn

rớt từ cây

xuống cội già

lưu vong

nên

mọi thứ ra ma

nghĩ

không phương chước

suy

không tới

nên

cứ người dưng

tưởng

ruột rà.

 

 

 

3)

mộng

đã đi hoang

chửa thấy về

một đời

bóng

ngả miết về quê

thóp thoi

ray rứt cầu ao

thừa thãi căng lòng

nhớ

ủ ê…

 

 

Chu Thụy Nguyên

 

 

 

 

CHÂN THẤP CHÂN CAO BÓNG GIỠN HÌNH.

 

 

1)

Có khi. Là mầm trong giấc kén.

Là tơ. Dệt mỏi giấc bình minh

Chỗ ngồi. Buông bỏ chân hoang bước

Là tôi. Xiêm áo tưởng rập rình.

 

 

2)

Là tôi. Bỉ ngạn chiều thê thiết

Cuộn chảy. Mơ hồ ngợ dáng em

Lên đồi. Khóc lớn cùng mây gió

Là lúc. Trăng mờ tôi thảo nguyên

 

 

3)

Viết nữa. Cùng mây tôi nhập trăng

Nhăng nhăng. Cuội cuội mộng sang đàng

Kìa cô. Em nhỏ son hồng gót

Biết đã. Bao giờ nợ chiếu chăn ?

 

 

4)

Lắm lúc. Vay đời chung rượu lạt

Là duyên. Hay nợ thật không màng

Lục bình. Phơi cạn nguồn cơn khát

Đối ẩm. Lâu rồi tiệc cũng tan

 

 

5)

Là tôi. Vin kiếp chênh vênh ấy

Là một ? Là hai ? Bóng giỡn hình

Lưng chừng. Hiu hẩm ai đồ họa ?

Méo xệch. Nhìn ta chẳng giống mình…

 

 

Chu Thụy Nguyên.

 

56

LÝ LỊCH : TÔI

 

tôi con sâu khát vú cỏ 
mùa xuân
một đời hoang núm nhớ
tái ngắt dòng sông tư tưởng
bạc môi ru ngày giọt máu thay màu

tôi trứng nắng những mùa không sinh nở
tuyển dụng nỗi buồn
khâu biển bơ vơ

tôi 
chong mắt đêm cào rách nụ hồn
chờ bình yên mọc từ mầm sương hoại tử
ban mai
xơ xác sầu cánh kiến

 

THUỞ TA VỀ LAU BÓNG THỜI GIAN 

(cho N…)

 

ta lau mặt trời
cho tuổi em thơm mãi hai mươi
trên luống thời gian
mái tóc em ngan ngát mùi đồng nội

ta lau mặt trăng
cho hồn em xanh ngắt miền sông huyền thoại
tháng sáu buồn du dương
thoai thoải dốc tình em 
ta nhặt lá thiết tha

đời cốm 
giòn tan như ngực trẻ
ta lăn vào em
viên sỏi tím thiên đường

 

VIỄN TRÌNH 7

 

tôi lẻn vào căn nhà yên tĩnh của đêm
ăn cắp giấc mơ của lá
vượt qua hàng rào gió
bắt gặp cơn mưa đi tuần

đứng trú dưới mái ngực hi vọng
lặng nhìn nụ hôn năm tháng ướt nhòe
người đàn ông của những lời hứa
lướt bàn tay xám qua miền tương lai tôi
làm đổ gãy những mầm non bình yên mới chớm.

 

 

Trương Đình Phượng

Giới Thiệu Sách Mới

NgMinhNuu2

Tập truyện ký:

THƯƠNG QUÁ SAIGON NGÀY TRỞ LẠI

 

Văn Nghệ Boston vừa nhận được tập truyện ký của tác giả Nguyễn Minh Nữu do nhà Văn Nghệ ấn hành năm 2017.
Sách có tựa đề: Thương Quá Saigon Ngày Trở Lại  là tập truyện ký trình bày những kỷ niệm của tác giả với những người bạn và khung cảnh xưa, tập trung hầu hết là Sài Gòn trải dài 264 trang.
Bìa sách trình bày trang nhã với tranh sơn dầu của Trương Vũ, phụ bản Đinh Cường, Đinh Trường Chinh.

Chân thành cám ơn tác giả Nguyễn Minh Nữu và xin được giới thiệu đến quý anh em văn nghệ cùng độc giả.

 

Văn Nghệ Boston.

Perform Solo

tranh Võ Công Liêm

 

GIỮA CHIM VÀ NGƯỜI

 

con chim quái cất cổ hót

tôi . một thời rất đảo điên

giữa trời sa mạc vô hình

hoang vu gió

mây ngàn hú

một mùa giông

bão tới tắp

xô ngã đời

theo cát bụi

con chim quái cất cổ hót

em . bỡ ngỡ một đông tàn

mà dòng đời thì phôi pha

dưới hiên trăng theo mây hứng

một đời thừa bạt gió mưa

con chim quái cất cổ hót

xin một lần

với dã thú

trên ngọn đêm

với đa đa

đưa em vào mộng ảo chơi vơi đêm trăng sao chờ đợi

để thấy mình là đá buốt chiều sương ướt gió leo cành

con đường rám nắng da đen cánh cửa ngập ngừng vỗ cánh

cho mắt môi em sân quạnh trăng đầy huyền hoặc mưa dâu

những hạt nắng khua đêm nghe vọng từ thiên nha tuổi nhỏ

đêm bò vào vũng sâu dưới trăng khỏa thân tinh khiết trắng

trên nhánh sông trôi những cụm hoa là mây trời lãng đãng

điệu kèn rít dã man trong ngăn kéo hộp đêm ngập khói cười

dìu em lên sàn nhảy ngọn đèn lấp lánh mắt môi ngọn lửa thèm

ôi . ‘mái tây hiên nguyệt gác chênh chênh’* đường đời ai có hay?

 

con chim quái

cất cổ hát

 

giữa đêm về

một âm vang ./.

 

VÕ CÔNG LIÊM
(ca.ab.yyc. 10/6/2017)

* Dựa ý thơ: Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu.  

 

 

 

thơ Lê Anh

Hani-Mazhar

THƯƠNG VỀ CỐ QUẬN

 

 

 

Cố quận nằm bên liên tỉnh lộ

Người đi xa cố quận lâu rồi

Như sông chia nhánh thành hai ngã

Một ngã đường mơ, một ngã đời

 

Người đi bỏ lại sầu non nước

Cố quận nằm trơ dấu đạn cày

Ngày qua bóng đổ che bờ bạc

Hương khói cơm chiều lạnh lẽo bay

 

Cố quận thương về hiu hắt quá

Một ngày sao lại kiếp bèo thôi

Chiến tranh im hẳn từ dạo ấy

Còn vẫn chút gì vương vấn nơi

 

Nhìn nhau thoảng hoặc nhìn nhau biết

Chút lửa trong tim đủ ngậm ngùi

Cố quận riêng gì ơn xưa cũ

Chập chờn bến mộng nỗi buồn vui

 

Quán gió chân cầu bên cố quận

Còn ai đây nhớ chuyện thế nhân

Ly rượu khơi tình anh lính chiến

Nghe hoài năm tháng lúc dừng quân

 

Khói quyện mây chiều từng vết nhạt

Nhà ai cơm tối vắng người ngồi

Những kẻ ngày qua còn đâu đó

Chờ nhau làm ấm những lẻ loi

 

Cố quận chiều nay tàn nắng rụng

Bóng chìm trơ dấu bụi thời gian

Người đi lâu lắm từ xa thẳm

Biết kiếp duyên nào nhắn thế gian.

 

         

Lê Anh.

 

 

 

 

LỜI CHÀO TẠM BIỆT

 

 

 

Khi thời gian đứng lại

Có nhiều điều khó thể nói

Không phải là tất cả đều chấm hết

Không bởi vì tôi đang khóc…

Cứ mỗi lần thời gian qua mau

Tốt hơn là nói lời chào tạm biệt

Vì mỗi trái tim lớn đều có nỗi buồn ở lại

Những gì tồn đọng

Đều làm đau buốt ngày mai

Và ước muốn hiện về như một giấc mơ

 

Quá khứ không là tương lai

Nhưng con ngưới cần hiện tại

Mỗi kỷ niệm làm đẹp thêm sức sống

Như hoa quả cuối mùa

đều mang hương thơm nhiều cách đến cho đời

 

Tôi không đang khóc

Không bởi vì thời gian vốn vô thường

mà vì đâu đó còn vương sức sống

như giọt nắng chiều trên đầu ngọn lá non

Tốt hơn là nói lời chào tạm biệt…

 

 

Lê Anh.

 

SÁCH MỚI

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI:

Văn Nghệ Boston vừa nhận được sách mới:

Bánh Mì Ai Cập, Cá Việt Nam
KHÁT VỌNG CON NGƯỜI

BanhMi_Ca

 

Sách bao gồm 75 bài chính luận và tâm bút của tác giả TRẦN TRUNG ĐẠO

Do nhà Cổ Loa ấn hành năm 2017

Khổ sách 6 x 9 inch dày 617 trang, trình bày trang nhã

Văn Nghệ Boston xin giới thiệu đến quý anh chị em văn nghệ cùng quý độc giả trong và ngoài nước

————————————————————————————————————————————-

Giới thiệu tác  phẩm

 

BÁNH MÌ AI CẬP, CÁ VIỆT NAM, KHÁT VỌNG CON NGƯỜI

 

Tác giả: Trần Trung Đạo

1

 

Gồm 75 Chính Luận và Tâm Bút, dày 630 trang của Trần Trung Đạo tập trung vào bốn chủ đề:

  1. KINH NGHIỆM THẾ GIỚI: 23 bài về kinh nghiệm Liên Xô, Đông Âu, Phần Lan, Tây Tạng, Nhật Bản, Singapore, Miến Điện, Nam Hàn, Bắc Hàn, Mông Cổ, Latvia, Lithuania, Estonia, Campuchia, Trung Cộng, Ai Cập, Cu Ba, Hoa Kỳ v.v..

 

  1. LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ: 28 bài về kỹ thuật tuyên truyền, phản tuyên truyền, để thắng được Trung Cộng, chủ nghĩa dân túy, quan hệ Mỹ-Trung, nguồn gốc của bịnh sợ, bịnh lười, bịnh nghiện, đất, biển, đảo, rừng, cây, cá, chim và cơ chế cs v.v..

 

  1. TÌNH DÂN TỘC: 14 bài về nỗi đau Việt Nam, nỗi nhớ Sài Gòn, tình yêu nước, tổ quốc, niềm tin vào lịch sử, mất mát tuổi hai mươi, một ngôi đền có tên Việt Nam, Việt Nam có một thời thừa máu, đừng mệt mỏi, hãy làm một giọt nước v.v…

 

  1. TÌNH NGƯỜI: 10 bài về hạnh ngộ đầu năm, tình mẹ, tình bạn, tình người, mùa xuân, mùa thu, sông, biển, tâm sự của tử tù v.v..

 

Tựa: Gs Nguyễn Ngọc Bích (Phát biểu tại DC và Dallas)
Bạt: Ts Bạch Xuân Phẻ
Biên tập: Trần Trung Tín
Thiết kế bìa: Uyên Nguyên
Trình bày nội dung: Đặng Hoàng Lân – Trần Nghi Hạ
Nhạc Nguyễn Trọng Khôi – Phan Ni Tấn
Cổ Loa xuất bản lần thứ nhất tại Boston, Hoa Kỳ
Tác giả giữ bản quyền
Copyright @ 2017 Trần Trung Đạo
All rights reserved.

2

 

MỤC LỤC

  1. KINH NGHIỆM THẾ GIỚI

 

  • Suy Nghĩ Bên Đèn Đỏ Ở Nara
  • Latvia, Sức Mạnh Của Niềm Tin
  • Hiểm Họa Trung Cộng Và Bài Học Latvia
  • Ngày Cuối Cùng Cùng Của Chế Độ Cs Liên Xô
  • EstoniaVà Cách Mạng Hát Hùng Ca
  • Hiểm Họa Trung Cộng Và Bài Học “Phần Lan Hóa” (Finlandization)
  • Hiểm Họa Trung Cộng Và Bài Học Tây Tạng
  • Lý Quang DiệuVà Chính Sách Ngăn Ngừa Cs Tại Singapore
  • Chuyện Từ Vùng Biên Giới Bắc-Nam Hàn
  • Kim Jong-Un Thử Bom Nguyên Tử Và Phản Ứng Của Tập Cận Bình
  • Springsteen Và Barack Obama, Hai Cánh Én Tự Do
  • “Dân Cần Minh Bạch” Qua Kinh Nghiệm Mông Cổ
  • Tham Vọng Và Nỗi Lo Của Tập Cận Bình
  • Đảng 50 Xu Tại Trung Cộng
  • Viện Khổng Tử, Cơ Quan Tuyên Truyền Và Tình Báo Trung Cộng
  • Tại Sao Thảm Đỏ Đối Với Các Lãnh Đạo Cs Thường Là Một Vấn Đề Quan Trọng?
  • Trò Hề “Phát Biểu Trước Quốc Hội” Của Tập Cận Bình
  • Tập Cận BìnhChủ Trương Độc Chiếm Biển Đông
  • Bài Học Tranh Chấp Biên Giới Giữa Trung Cộng Và Bắc Hàn
  • LeninVà Chính Sách “Tuyên Truyền Tượng Đài”
  • Nguồn Gốc Cộng Sản Của Ngày Quốc Tế Phụ Nữ 8 Tháng 3
  • Sáu Lý Do Giúp Chế Độ Cs Tồn Tại
  • Bài Học “Thoát Nga” Của Lithuania

 

  1. LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

 

  • Trung Cộng Không Đáng Sợ
  • Để Thắng Được Trung Cộng
  • “Quyền Lịch Sử” Của Trung Cộng Trên Biển Đông Là Quyền Gì?
  • Mao Và Chiến Dịch Tiến Chiếm Hoàng Sa 1974
  • Mao Và “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam”
  • Lãnh Đạo Csvn Trong Quan Hệ Mỹ-Trung
  • Mười Lý Do Nhân Dân Việt Nam Không Chào Đón Tập Cận Bình
  • Nhìn Lại Chiến Tranh Việt Nam
  • Tháng Tư: Gọi Tên Cuộc Chiến
  • Đừng Tưới Nước Lên Gốc Cây Rã Mục
  • Qua Cái Chết Của Ông Lê Hiếu Đằng, Nghĩ Về Chọn Lựa Của Hôm Nay
  • Kỹ Thuật Tuyên Truyền “Người Thật Chuyện Giả” Dưới Chế Độ Cs
  • Đất, Biển, Đảo, Rừng, Cây, Cá, Chim Và Cơ Chế Cs
  • Tìm Đâu Ra Minh Bạch?
  • Tôn Nữ Thị Ninh, Đại Biểu Xuất Sắc Của “Trí Thức Xã Hội Chủ Nghĩa”
  • Bệnh Sợ Dưới Chế Độ Cộng Sản
  • Đoàn Xe Tang Trên Đường Phố Hội An
  • Ai Sợ Ai?
  • Lãnh Tụ Và Thời Đại
  • Tượng Đài Cs, Một Gia Tài Không Ai Muốn Nhận
  • Việt Nam Không Phải Là Miến Điện
  • Nhìn Sang Miến Điện, Nhìn Lại Việt Nam Đang Thiếu Ai?
  • Fidel CastroChết, Nên Vui Hay Buồn?
  • Chủ Nghĩa Dân Túy Mỹ Và Donald Trump
  • Bệnh Nghiện Rượu Dưới Chế Độ Cộng Sản
  • Bệnh Lười Dưới Chế Độ Cs
  • Bánh Mì Ai Cập, Cá Việt Nam, Khát Vọng Con Người
  • Tổng Thống Trump Và “Chính Sách Một Trung Quốc”

 

III. TÌNH TỰ DÂN TỘC

 

  • Niềm Đau Madrid, Nỗi Nhớ Sài Gòn
  • Không Gì Thiêng Liêng Hơn Tổ Quốc
  • “Thay Đổi Nhận Thức, Thay Đổi Tương Lai”
  • Hãy Làm Một Giọt Nước
  • Nỗi Đau Sẽ Không Dứt Nếu Không Biết Tại Sao Đau
  • Đừng Để Lại Một Ngôi Đền
  • Phải Chăng Lòng Yêu Nước Đã Tới Hồi Mệt Mỏi?
  • Hãy Vững Tin Vào Lịch Sử
  • Món Nợ Tuổi Hai Mươi
  • Những Ngày Tháng Tới
  • Tiếng Hát Lộc Vàng
  • Bối Cảnh Việt Nam Qua Phim The Shawshank Redemption
  • Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Ai Sẽ Nói Thay Em?
  • Việt Nam, Một Thời Thừa Máu.

 

  1. TÌNH NGƯỜI

 

  • Hạnh Ngộ Đầu Năm
  • Thì Thầm Với Mùa Thu
  • Tình Bạn
  • Tình Người Như Mùa Xuân
  • Lễ Thọ Giới Của Một Tử Tù
  • Hai Tử Tù Và Tình Mẹ
  • Sự Im Lặng Của Biển
  • Nguyện Ước Rất Là Thơ Của Mẹ
  • Tâm Sự Với Mùa Xuân
  • Bắt Đầu Từ Đó

 

 

Tác phẩm  BÁNH MÌ AI CẬP, CÁ VIỆT NAM, KHÁT VỌNG CON NGƯỜI cũng được xem như là Chính Luận Trần Trung Đạo II. Chính Luận Trần Trung Đạo I, dày 600 trang, đã được xuất bản vào tháng 7, 2015. Để nhận một hay cả hai tác phẩm, xin liên lạc Nhà Xuất Bản Cổ Loa theo địa chỉ email: nhaxuatbancoloa@gmail.com

 

 

Nữ Thi Sĩ Minh Đức Hoài Trinh qua đời

1

Nữ Thi Sĩ Minh Đức Hoài Trinh vừa thất lộc tại miền Nam California, Hoa Kỳ.

Thọ 87 tuổi.

Tác giả 2 bài thơ, được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc “Kiếp nào có yêu nhau “và “Đừng Bỏ Em Một Mình” vừa từ giã thế gian ngày thứ Sáu ngày 9 tháng 6 năm 2017 tại Huntington Beach -California.

Đôi dòng tiểu sử thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh.

Minh Đức Hoài Trinh tên thật là Võ Thị Hoài Trinh, bà thường lấy các bút hiệu là Hoàng Trúc, Nguyễn Vinh, Bằng Cử. Bà sinh ngày 15 tháng 10 năm 1930 tại Huế, sống ở Pháp từ năm 1953 đến 1964. Sau đó bà đến định cư tại quận Cam, Hoa Kỳ từ năm 1982.
Tên tuổi của Minh Đức Hoài Trinh không ai trong giới văn học không biết. Bà sinh tại Huế, con quan Tổng Đốc Võ Chuẩn, Ông Nội bà là Võ Liêm, Thượng Thư Bộ Lễ của triều đình. Năm 1945 Bà tham gia phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp, sau đó Bà biết sự lợi dụng của phong trào nên bà bỏ về Huế tiếp tục học. Năm 1964 bà đi du học tại Pháp về ngành báo chí và Hán văn tại trường ngôn ngữ Đông Phương La Sorbonne, Paris đến năm 1967 bà ra trường và làm phóng viên cho đài truyền hình Pháp ORTF, lúc đó bà đi làm phóng sự nhiều nơi sôi động nhất như: Algerie và chiến trường Việt Nam. . . Năm 1972 bà được cử theo dõi và tường thuật cuộc hòa đàm Paris. 1973 Bà sang Trung Đông theo dõi cuộc chiến Do Thái, một thời gian sau bà trở về Việt Nam giảng dạy khoa báo chí tại Viện Đại Học Vạn Hạnh năm 1974-1975.
Sau biến cố 1975 bà trở lại Paris cho xuất bản tạp chí “Hồn Việt Nam” và trở lại cộng tác với đài phát thanh ORTF với chương trình Việt ngữ để tranh đấu cho những nhà cầm bút, những văn nghệ sĩ Việt Nam bị cộng sản cầm tù. Bà đứng ra thành lập Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và vận động để được công nhân hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế tại Rio de Janeiro, Ba Tây vào năm 1979.
Bà đã dùng ngòi bút và khả năng của mình thường xuyên tranh đấu cho các văn nghệ sĩ bị cộng sản giam cầm phải được trả tự do, ngoài những bài báo, bà còn sáng tác hơn 25 tác phẩm giá trị, trong đó có truyện ngắn, thơ…
Nhà Văn Nguyễn Quang đã thực hiện 1 tập sách rất công phu khá đầy đủ những tài liệu, bài vở và hình ảnh với tiêu đề: “Văn Nghiệp Và Cuộc Đời Minh Đức Hoài Trinh.” Nhà Văn Nguyễn Quang có đoạn viết: “Sau khi đọc quyển sách nầy người ta tự hỏi làm sao Minh Đức Hoài Trinh một con người nhỏ bé lại có thể hoàn thành trên nhiều lãnh vực trong thời gian đen tối nhất của lịch sử Việt Nam. . .Bà đã đi trên khắp 5 lục địa, bà đã vào những vùng chiến tranh lửa đạn. . .” Những đóng góp của bà với một cuốn sách nhỏ nầy chắc chắn không diễn tả hết được những gì bà đã làm cho quê hương cho nền văn học Việt Nam.

 


Các tác phẩm của bà đã xuất bản gồm có:
Lang Thang (1960), Thư Sinh (1962), Bơ Vơ (1964), Hắn (1964), Mơ (1964), Thiên Nga (1965), Hai Gốc Cây (1966), Sám Hối (1967), Tử Địa (1973), Trà Thất (1974), Bài Thơ Cho Ai (1974), Dòng Mưa Trích Lịch (Thanh Long Bruxelles, 1976), Bài Thơ Cho Quê Hương (Nguyễn Quang Paris 1976), This Side The Other Side (Occidental Press USA 1980), Bên Ni Bên Tê (truyện dài, Nguyễn Quang USA, 1985), Niệm Thư 1 (tái bản 1987), Biển Nghiệp (Nguyễn Quang USA, 1990).

 

Thơ HHiếu

noiloan

Lý Lịch nổi loạn

chúng tôi không là cách mạng chẳng là triết gia
chỉ là đám trẻ nhẹ dạ
chưa lấy được ngón cái ra khỏi cửa miệng
đã vội bôn ba
trong những chiếc giày
của người lớn
.
chúng tôi không là hậu quả cũng chẳng là nguyên ủy
chỉ là những sinh vật đang hoại tử
bị rơi vào giữa sự cố
và bị lũ người cầm trên tay lắm lá số tử vi
kiềng vào cổ
một lý lịch quái gỡ
của một dạng sinh vật
biết nói tiếng người
.
chúng tôi chẳng là thắng cảnh không là di tích
chỉ là những chướng ngại vật
chưa đủ lớn để thui thành than
đã vội trổ lá giương cành
cản trở sự phát triển
của đô thị mới
.
chúng tôi chưa là lăng tẩm của điển tích
chỉ là bức phù điêu bỏ dở
chưa chạm nổi được một mộ sử
đã tự nhang khói
trong những chiếc lư đồng
của người chết
.
chúng tôi không bầy đàn
chỉ dăm chai bia
cũng đủ viết lại vài trang
thời sự cũ rích, thủa nhà in chưa biết đánh bóng hình ảnh và
màu mè chữ nghĩa
.
chúng tôi chẳng bè lũ
chỉ là dăm hình nhân cổ quái của một trò múa rối nghèo nàn
vừa đủ khuyến mãi một câu chuyện
thất tán huyền thoại, thủa nhà xuất bản chưa hề tái bản lắm
trò đùa quái quỉ.
.
chúng tôi cũng chả màng thời cuộc
chỉ vui miệng nhắc lại dăm trang văn học sử
mà hội nhà văn thành phố đã tiện tay làm mồi châm lửa tẩu thuốc phiện
không bút mực nào có thể tả xiết
nên chẳng cần bàn viết
các thứ được đặt để trên bàn nhậu
nhậu bây giờ là thói quen của hậu hiện đại
khi mọi cảm giác đang bị chai đít
như thuyết darwin
khi mọi cảm giác đã bị cải cách
như thuyết karl marx
khi mọi đời sống đều bị quy hoạch
như thuyết cộng sản ba đình.
.
chúng tôi đám côn trùng rộng cánh
quẩn quanh bay
đời sống là một khoảng trời bần tiện lý tưởng, ngoại trừ
ngọn đèn thiêu thân ở cuối đường hầm
lao vào nó
chúng tôi tìm thấy nơi đó
những đá tảng ngoài không gian
.
chúng tôi tự thân là những diêm sinh hạt nhân muộn màng
cụm lửa khổng lồ từ môi trường biến thái
phún thạch của cuồng nộ
sức nóng của bất mãn
độ bung của sự nhẫn nhục bị nén ép tận cùng
đáy địa ngục
dĩ nhiên, sẽ thiêu đốt chúng tôi trước
nhưng chắc chắn, chúng
những thứ dễ bắt lửa bức xúc
cũng sẽ cháy rụi
.
càng đi gần hết con đường
chúng tôi càng thấy nhiều chúng-tôi
không nằm theo thứ tự hàng lối như các mộ bia trong nghĩa trang
lại vất vưởng hỗn loạn theo nhu cầu mưu sinh
lũ chúng tôi nằm chồng lên nhau
một lớp lịch sử hổn mang úng nước.

HHiếu

1

tranh Hoàng Hồng Cẩm

KHI ÔNG HỌA SĨ THẤT TÌNH

(thơ cũ đề mới)

 

  1. cắt băng phòng triển lãm này
    em xem họa phẩm tôi đầy bóng ai ?
    xin lỗi, em thầm đoán sai
    vì người mẫu chẳng giống ai hai lòng
  2. ngón tay nhúng cốc bia vàng
    vẽ em lên một góc bàn quạnh hiu
    lòng ta chỉ có bấy nhiêu
    mà nghe trĩu nặng trăm chiều nhớ nhung
  3. máu em đỏ thắm hay hồng
    ta pha màu chẳng vừa lòng em đâu
    gắng hòa một chút hơi nhau
    cho hồn họa phẩm ngàn sau sống còn
  4. đêm đêm ngồi vẽ một mình
    thương cho sơn cọ thật tình hiểu ta
    còn em, huyền hoặc dáng ma
    sống trong nét cọ mà xa ngàn trùng
  5. chân dung em vẽ xong rồi
    cả phòng vẽ bỗng sáng ngời ánh trăng
    lòng vừa rụng nỗi băn khoăn
    em còn hay mất, lạ quen, cũng thừa
  6. chín năm em ngủ khỏa thân
    đường cong nét lượn nhập tâm, thuộc lòng
    vậy mà vẽ mãi không xong
    cái man dại ngát trong vòng tay xưa
  7. em chưa chết đã là ma
    ta chưa chết đã thành nhà quàn em
    chong đèn bôi xóa suốt đêm
    tranh đời ta, một màu đen lạnh lùng
  8. lót màu đã mấy tuần nay
    bức tranh định vẽ loay hoay chưa thành
    hình như ích kỷ để dành
    dáng em lồng với hồn mình thiên thu
  9. phóng tay định vẽ tranh xuân
    phác ra vài nét, lạ lùng : vẫn em
    chắc sơn cọ có trái tim
    hay là em sống trong tiềm thức tôi
  10. ta là họa sĩ hạng tồi
    cứ cho màu sắc nhiều lời như thơ
    hồn ta thất lạc cõi nào
    khi em trừu tượng từ giờ trở đi
  11. cầm dao định chặt ngón tay
    may ra bỏ tật cả ngày vẽ em
    bàn tay đâu có tượng hình
    trái tim mới đáng chịu hình phạt thôi

 

Luân Hoán.
(Mời Em Lên Ngựa)

 

 

KHI ÔNG THI SĨ THẤT TÌNH

1.

khi ông thi sĩ thất tình
hồn thơ xác chữ lình bình khắp nơi
lấp lánh nắng treo trên người
mưa dán râu tóc đổ xuôi xuôi chiều

hai tay quờ quạng khẳng khiu
đứng ngồi hương rượu phiêu phiêu bềnh bồng
người chung quanh có như không
ngoài ông và ả ông yêu lừ đừ

ả thanh thoát dáng tiểu thư
tâm hồn nhan sắc y như Phật bà
thánh thiện hơn Mẹ chánh tòa
trên cao bát ngát mùi hoa tuyệt vời

còn ông ngang ngửa ghế ngồi
thi tiên thi thánh trên đời lâu nay
vũ trụ trong lòng bàn tay
vo tròn hạt nhỏ vãi bay mù trời

đạp mây ông vác tình đời
vừa than vừa dạy nên chơi thế nào
dẫu trầm lặng hay kêu gào
ông thoát không khỏi lòng hao hụt tình

ông thành một bậc thánh linh
thơ cho đời, buồn cho mình… lai rai
ít nhiều cũng chạm cái chai
hương nồng vị đắng sầu phai nhạt tình

2.

rất may, khi ngó lại mình
làm thơ vớ vẩn tôi hình như chưa
thành danh thi sĩ thượng thừa
thất tình bất chợt chỉ vừa vừa đau

ngớ ngẩn một vài bữa đầu
lơ viết bậy bạ, đi đâu đi hoài
từ xấu trai thành được trai
mùi hương vóc dáng của ai đậm dần

tôi thành bức tượng toàn thân
và yên phận giữ ngôi phần mộ riêng
mươi năm sau nếu có duyên
sẽ đem ra viết thành thiên chuyện lòng

tình yêu như một cây bông
nở đi nở lại hoa nồng nàn hương
bấy giờ càng thấm nỗi buồn
dù khi ngồi viết như tuồng dửng dưng

tôi thất tình lạ vô cùng
nhờ chưa chính thức ông trùm làm thơ

 

Luân Hoán
7.20 sáng 06.6.2017

dem

tranh Đinh Cường

 

Hành trình cuối cùng

 

 

Thế là cây bàng trước ngõ đã nguyên màu rực rỡ

Một màu vàng như phủ kín vòm cây

Mới đó lác đác vài chiếc lá

Ào ào cơn mưa vàng mới đây

Rồi đây chỉ còn những cành khẳng khiu trơ trụi

Mùa thu đã chết rồi

Ta cũng chết theo luôn

Con thuyền chở ta xuôi theo dòng chảy

Một con sông dài nhiều bến sang ngang

Ta thường lỡ bước những lần đón đợi

Và hôm nay lại là một chuyến đi xa

Trên trời có một cánh chim tung vòng lượn

Cất tiếng kêu tìm tổ gọi bầy

Nơi ta đến có tên Bến Lạ

Không tổ, không bầy chỉ một cô đơn.

Trong số khách tiễn tôi co mời riêng hai nghệ nhân cho một bài hát.

Bài Biệt Ly

Bởi lần này đích thực là Ly Biệt

Một chuyến đi không có cuộc trở về.

Với cây đàn trùng dây lạc phím người chồng đệm cho giọng hát đã khê của một ca nương đã xế chiều.

Bài hát là nhịp điệu cho sự xê dịch của con thuyền

Cho sự dừng lại của một không gian là sự chết

Và cũng là giây phút lưu luyến cuối cùng với cuộc đời.

.

 

Phan Vũ

Không gian cũ

2.6.2017