Feeds:
Posts
Comments

Chủ đề : CHÈO

Tranh Bùi Suối Hoa

9a

Afternoon

 

Đi ra từ mộng

nghĩ đến em

gặp nhóm du học sinh

người việt

cho bọn họ biết- tôi

cũng người việt nam

bọn họ liền quây lại

 

thành vòng tròn

nêu một lô các câu hỏi

đặt tôi vào các tình huống- xem ra

đều

dở khóc dở cười

 

tỉ như: sau chiến tranh- việc chung

đụng

thể xác đàn bà với tôi có gặp trở ngại/ có bị ảnh hưởng

bởi chất độc da cam/ có hiểu mình nói

và muốn gì/ có thường mớ

và nói lảm nhảm

khi một mình

 

có hay gặp ác mộng/ thấy bị giết

tróc/ bị truy đuổi

trong tai có thường xuyên nghe bom rơi

đạn nổ/ có vướng tâm thần

 

trước các câu hỏi

như thế- chỉ còn biết nói- vâng

tôi lấy vợ nhiều lần/ hiện tại

thì sống độc thân

 

nói về tình yêu

chả biết sao gặp tuyền xui

rủi

dẫn tới thất bại

dù khi đấy đang đem lòng nghĩ/ tưởng

– ai đấy (!)

 

còn câu hỏi nữa- không hiểu

sao

bọn họ cứ lặp đi lặp lại- rằng

tôi có chắc chắn là đã giấn thân vào cuộc chiến (!)

 

điều đó khiến

chia tay bọn họ

tôi gọi gã bác sĩ chuyên về tâm lí

ngay lập tức

gã xếp đặt cuộc hẹn cho tôi

vào

buổi trưa sắp tới!

..

vương ngọc minh.

 

 

 

Tôi Đang nghĩ về Khoảng Ấu thời Không Ứa Nước Mắt

 

tặng nguyễn thị minh ngọc.

 

thời giờ

chúng ta không nhiều

chúng ta không Có thời giờ/ cuộc đời

chúng ta hãy nên nghĩ ra một vở kịch

Nghiêm túc cũng được

cà chớn cũng được (bởi kịch bao giờ bi

hài

cũng lẫn Trong đấy)

 

và đừng đóng bất kì vai nào

trong vở

Bởi thời gian- chả đợi ai

chúng ta nên Kín đáo thay đổi các bối cảnh xảy

diễn

nơi các đoạn thoại về sống

chết/ cơm áo gạo tiền

 

liên tục càng tốt

Buộc bọn đạo diễn ra sức cho tập

dợt

Ráo riết- không để hở khoảng khắc

nào/ hòng bọn họ kịp đi câu cá- okay

Tôi hy sinh

 

vào sắm một vai vừa phản diện

vừa Chính diện- yeah- chịu

đầu tắt mặt tối

diễn trực diện Với khoảng trống

trước hư vô

 

cười

khóc

với hết thảy

Các con gián trong bóng tối

 

Là người đàn ông tinh tường

mỗi một sự vật

Việc

đầy lãng mạn

Tôi dẹp bỏ mọi khoảng cách giữa thực

giả

 

dung hòa

để Có lúc nắm

giữ

hết thảy các vai diễn

thậm chí (thi thoảng!) đóng- cái bàn thấp

trên mặt bàn

là tấm lưng/ đặt lọ hoa hướng dương

tượng trưng Đời

 

để thiên hạ

ngắm

uống trà sữa- nóng- nghe nhạc tiền chiến

(họ tuyệt đối chả nghe nhạc bob marley!) quái

 

Thơ- thường tự mãn

Đến đây

mọi người khắc đã biết nội dung vở kịch

ai không biết

Nội dung vở kịch

tôi muốn tiết lộ một chút

 

– bản thân

tướng/ hình/ cử chỉ

Không hề suy xiểng (thay đổi!)

còn chữ từ lời mỗi lần

thốt

tuyệt đối không sửa chữa

 

khi rời vở kịch

tôi sống Hoàn toàn chẳng dính dáng nhà thờ

chùa/ miếu mạo

Thần- thánh

tượng (đế!)

Hoặc cái mẹ gì đấy- đơn thuần theo thời gian

 

rồi chết!

..

vương ngọc minh.

64

KIẾP TRẦN ĐÃ TRẢ BAO NHIÊU KHÓC CƯỜI

 

Chiều hoang chạm đến chân ngày
Heo may về ngõ lưng tay che buồn
Mắt vờ hé mộng chưa tuôn
Ngõ về đã quyện cơn buồn ngất say
Sầu đi sầu những hao gầy
Thoắt trông thôi đã như mây ngang trời
Tình đâu tình đã chạm môi
Khóc người khóc cạn riêng thôi đã tàn

Tuổi đeo mang những mộng vàng
Tài xanh tóc rẫy đa mang nửa đời
Cửa về lấp lối tả tơi
Tìm gì tìm đến một đời chưa xong
Buông thôi lòng cũng như lòng
Trải ra những trận say trong tỉnh ngoài
Hoá công đâu tiếc trần ai
Trao về tài sắc thì hoài đa đoan
Chàng Kim kia tiếc phụng loan
Cũng đành ngùi ngậm đưa tang nàng Kiều
Số thôi số lắm cô liêu
Dù không quay mặt bước liều cũng qua
Chiều nay chiều vẫn chiều tà
Gom vàng lá đổ cả ba thu về
Có đâu tiếc nỗi điên mê
Trả về một trận chán chê khóc cười …

Chiêu Anh Nguyễn
9-2016

10


1.Lối thoát

 

Tôi sẽ chỉ cho bạn về lối thoát bí mật
Tôi đã cất giấu trong mùa hè
Nơi khu vườn của ngoại tôi, dưới gốc cây trứng gà
Những mùa hè êm đềm mắt nhung trong những chậu cây thược dược đỏ
Và những buổi sáng sương rưng rưng
Tôi rất nhớ những câu chuyện của ông lão mù hát rong
đã bị lấp vào ở đó
Theo gót chàng Asin tôi thở
Có cô bé cười giữa chấp chới gươm đao
Bầu trời lúc ấy có nhiều sao lắm là sao
Một ngôi sao ước
Một ngôi sao mơ
Một ngôi sao sợ
Một ngôi sao hãi
Một ngôi sao rụng
Một ngôi sao rời
Một ngôi sao rong chơi
Một ngôi sao thích đọc thần thoại rồi vụt sáng cười ngô nghê đến lạ
Rồi mất hút dưới gốc cây trứng cá

Bầu trời hôm nay không sao
Tôi sẽ chỉ cho bạn về lối thoát bí mật
Tôi đã cất giấu trong mùa hè

 

2.Chạm vào bóng tối

Xin em đừng chạm vào
Lời của ánh trăng kia yếu đuối
Giấc mơ đã ngủ trên võng nhện
Dài một thế kỷ chênh vênh

Xin em đừng chạm vào
Đôi tai của lão nghệ sỹ mù
Đang nuốt trọn khúc âm dương
Từ lời sương mù đang lắng
Từ lời Hải Hạc sầu bi

Xin em đừng
Chạm vào ngõ ngách phân ly
Lời tôi khô như mái ngói
liệt từng lớp đau thương
Xin em
Chạm vào mắt nhung
Vuốt giùm nỗi buồn tôi lần cuối
Xin em chạm vào bóng tối
Để hát
Vài lời bồng bềnh từ mái tóc khô

Xin em chạm vào bóng tối
Hát tôi nghe
Về giấc mơ của loài hoa hiên rực vàng đầy ngõ
Tôi làm sao nghe được
Tôi làm sao nuốt được
Như lão nghệ sỹ mù kia?
Tôi nghe rổn rảng
Khúc âm dương vỡ trên mái ngói
Trăng vỡ trên mái ngói
Giấc mơ hoa hiên vỡ trên mái ngói
Tôi rổn rảng
Rơi
Trên thế kỷ dài dài mắc nhện

 

3.Sự im lặng

Người đang truy điệu sự im lặng
của thế giới tôi
một bông hoa đang khát
không thể cất lên tiếng nói
người có truy điệu thế giới tôi
nhớ leo lên từng bậc tam cấp
ngước nhìn thế giới tôi
trước khi sự im lặng ngã màu

Có điều gì đó đang truy điệu
sự im lặng đang truy điệu tôi
tôi đang truy điệu sự sợ hãi
trước khi sự sợ hãi ngã màu
như củ khoai tây vừa gọt trong nhà bếp

Sự im lặng đang chảy ra từ ô cửa nhỏ
sự im lặng chảy ra từ những cái chuồng có những song chắn nhỏ
tôi không cấm được nụ cười
tôi không cấm được nước mắt
sao người truy điệu sự im lặng của tôi?

 

4.Thi sỹ

Khi nỗi cô độc đã không còn thú vị
đêm nay
sự cuồng nhiệt không còn treo trên ngọn trăng lạnh buốt
đêm nhấm nháp nhau
đuổi từng nỗi buồn chạy trốn
gã thi sỹ thôi không làm thơ
gã thi sỹ thôi không mộng mơ
duỗi dài bàn tay từng níu vào chợ tình mê điếng
bàn tay tê điếng
gã thi sỹ thôi không làm biếng
duỗi/co, co/duỗi từng con chữ từng dùng tán gái
ngày thi sỹ vật vờ ngủ ngái

Khi nỗi cô độc đã không còn thú vị
đêm nay
sự cuồng nhiệt không còn treo trên ngọn trăng lạnh buốt
gã thi sỹ thôi không còn nhìn đời dưới ánh trăng nghiêng nghiêng
gã thích thú song hành cùng đêm tối

Khi đêm tan chảy vào vạt áo gã điên
gã nhầm tưởng hạt sương rơi vỡ
gã níu vào đêm
hỏi phiên chợ tình được bắt đầu từ bao giờ
nơi ấy bây giờ có nhiều ánh mắt trẻ thơ
ánh trăng thôi không còn nghiêng nghiêng
gã thích thú song hành cùng với đêm tối

Như chiều nay gã đã không còn chờ đợi ánh trăng nằm nghiêng nghiêng
gã song hành cùng với đêm tối

 

5.Niềm tin

Khi bạn nói với tôi về niềm tin
Có thể điều đó được phát ra bằng thứ thanh âm của chiếc lưỡi
Một chiếc lưỡi làm bằng lý thuyết dẻo như mủ cao su đã được nấu lại
Những niềm tin đàn hồi

Tôi cũng thường nói với tôi về niềm tin
Trên chiếc lưỡi cứng như tấm tôn cắt vào thân cây cao su
Và mỗi đêm chiếc lưỡi chảy
Từng giọt lý thuyết sền sệt như thứ mủ trắng chưa kịp đông lại
Từng niềm tin đông cứng

Có thể bạn từng cho tôi niềm tin
Bằng những thanh âm trên chiếc lưỡi thật mềm
Có thể một ngày chiếc lưỡi biến dạng thành chiếc xẻng
Xúc niềm tin tôi mai táng
Nên khi tôi nói được với bạn về niềm tin
Là lúc chiếc lưỡi của tôi sẽ được đào lên từ nấm mộ

 

 

Nguyễn Hoàng Anh Thư

hainua

5c38cff23a669186a083cac69a8fa69b

Không ai đấu tranh cho ta được!

 

 

“Aide-toi, le ciel t’aidera!”

 

 

            Vụ cá chết ở bốn tỉnh miền Trung tạo nên một không khí đấu tranh ở hải ngoại rất xôm tụ: Hô hào, biểu tình, hội thảo, và cả… lạc quyên, như thường lệ.

 

            Ở trong nước cũng vậy, cũng đấu tranh, biểu tình, đá đảo (chính quyền) và cả thắp nến cầu nguyện, dĩ nhiên là ở các nhà thờ. Có khi người ta hát lại bài hát cũ, nghe cũng đã lắm lần, từ khi chiến tranh Pháp-Việt mới bắt đầu, mãi đến nay, tình hình đất nước càng tệ hơn xưa: “Mẹ ơi! Đoái thương cho nước Việt Nam.”

 

Tôi cũng có hát câu ấy và cũng cầu nguyện Chúa Mẹ, khi tôi là học sinh tiểu học trường Tê-Rê-Xa.

 

Tôn giáo cũng không thể đứng ngoài chính trị được, khi đất nước LÂM NGUY. Phải nói lại cho rõ, nói thiệt, không phải ngoài miệng, tuyên truyền… rằng: “Đất nước lâm nguy”.

 

Dĩ nhiên, bên cạnh những hoạt động ấy, có chính nghĩa, và cũng không thiếu hậu ý. Bỏ qua chuyện đó đi.

 

 

Vài nhận xét của bản thân

            Tôi sinh ra và lớn lên ở Miền Trung. Các làng ven biển, từ Cửa Tùng Luật, cửa sông Bến Hải (Hai) cho đến Cầu Hai, Nước Ngọt, Lăng Cô, tôi đã đi khắp. Nhận xét chung, không chỉ là nghèo, mà phải nói thẳng ra rằng: Quá Nghèo.

 

            Nói chi xa, độc giả nghe qua vài bài hát của Phạm Duy hay Phạm Đình Chương cũng thấy rõ, tôi nhờ mấy ông nhạc sĩ đó, chứng minh nhận xét của tôi.

 

                        “Quê hương tôi nghèo lắm ai ơi!

                        Mùa Đông thiếu áo,

                        Mùa hè thiếu ăn!

(Tiếng Sông Hương, Phạm Đình Chương)

 

                        Có những ông già rách vai,

                        Cuốc đất bên đàn trẻ gầy,

                        Vui vì nồi cơm ngô đầy!

(Quê nghèo – Phạm Duy)

 

 

            Tại sao họ nghèo vậy?

            Rất đơn giản: Không có nguồn lợi, ngoại trừ cá biển, hay nói rõ hơn: Sống nhờ biển, không có biển thì chết.

 

            Hầu hết nghèo nên không có tiền đóng thuyền lớn để đánh cá ngoài khơi xa được. Thuyền nhỏ, đánh bắt cào lưới cá gần bờ, hoặc câu, cào nghêu sò, ốc, hến gần bờ.

 

            Nguồn lợi nầy chỉ có trong mùa hè, trời tốt, biển không động. Đến mùa gió bão, không đi biển được thì vay mượn mà sống qua ngày, chờ mùa sau kiếm được, sẽ trả nợ.

 

            Đi dọc bờ biển, độc giả chỉ gặp những ngôi nhà tranh nhỏ, xơ xác vì gió bão. Cơm gạo thiếu. Ngay những “ngày mùa”, nhiều khi cũng phải ăn độn (khoai lang – trồng ở các bãi cát bên cạnh biển), nói chi tới mùa đông, làm gì có cơm mà ăn.

 

            Từ những cái nghèo đó, nhiều làng có “truyền thống”.

 

“Truyền thống” làm con ở, đi ở đợ. Từ của Thuận An tới cửa Tư Hiền, dọc theo bờ biển, một bên là Biển Đông, một bên là Đầm Phú Thứ, nói chung, làng nào cũng có cho con gái lên ở đợ trên Huế. Làng Mỹ Lợi, gần cửa Tư Hiền, đất hơi cao, một thời, thời xưa kia, kinh tế phát triển: Trồng cau, nuôi tằm… Sau khi Tây đô hộ, nghe nuôi tằm chết dần, vì không cạnh tranh được với hàng Tây, hàng Ấn Độ. Nghề trồng cau cũng chết dần, vì người ta càng ngày càng “văn minh”, cau trầu trong các việc cưới hỏi cũng giảm dần, ít người ăn; người ta đặt trong sính lễ, cũng chỉ chiếu lệ.

 

Dọc theo bờ biển Quảng Trị, từ Cửa Tùng, qua các làng Cát Sơn, Thủy Bạn, tới Gia Độ, Tường Vân, vô tới Gia Đẳng, Chợ Cạn, Liên Chiểu, Đồng Bào, Phuơng Lang, Cổ Lụy, Mỹ Thủy… làng nào cũng như làng nào, nghèo “mạt rệp” (Nói như vậy, không phải để mà cười, để mà thương đấy!).

 

Làng Gia Đẳng, đầu Phá Tam Giang là làng “truyền thống” nhứt trong các làng biển, vì là làng nghèo nhứt trong các làng nghèo. Nhiều chị ở, con ở cho các nhà khá giả ở thị xã Quảng Trị, là từ “làng truyền thống” nầy mà ra!

 

Không có ai giàu sao?

Có chứ! Mà lại giàu to nữa. Đó làng Gia Đẳng, làng của gia đình Đại Tướng Việt Cộng Đoàn Khuê.

 

Nghề của cha mẹ ông Đại Tướng Đoàn Khuê, nói nôm na là nghề “đầu nậu”. Đó là nghề cho vay “cắt cổ”. Người nghèo càng ngặt thì cái thòng lọng của bố mẹ ông Đại Tướng Đoàn Khuê thắt vào cổ dân nhèo càng chặt. Nói gọn lại là “Càng ngặt thì càng chặt”.

 

Khi mùa mưa gió tới, biển động, không đánh bắt cá tôm sò ốc gì được, muốn khỏi chết đói, tới vay ở nhà bố mẹ ông Đại Tướng Đoàn Khuê.

 

Vay! Hẹn tới mùa biển êm, đánh cá được, sẽ trả.

Cách vay như thế, bây giờ ở Việt Nam gọi là vay nóng.

Vay nóng lời cao lắm. Vốn cọng với lời thành vốn, lải mẹ đẻ lải con. Trả không nỗi.

 

Đó là chưa kể tới khi có quan hôn tang tế.

 

Thành ra, bố mẹ ông Đại Tướng Đoàn Khuê, càng ngày càng giàu thêm, cho con lên học trường tỉnh, vô học ở Huế, lại mở thêm tiệm cầm đồ, giặt ủi… Thành ra, anh em ông Đoàn Khuê, tên thật là Trần Bá Khuê và ông em là Trần Bá Mại (Đoàn Mại), không i-tờ đâu. Có học đấy, nhưng chưa quá cấp hai (kể theo bây giờ).

 

Nói chung, những tác phẩm như Nằm Vạ (Bùi Hiển), Nhà Quê (Ngọc Giao), Nhà Nghèo (Tô Hoài), Sống Mòn (Nam Cao),… đều có nói tới cái nghèo nầy, của dân quê, và dân biển…

 

Nghèo quá, thường phải ở đợ!

Thời chiến tranh Đông Dương Lần thứ hai (1960-75). Lính Mỹ tới Việt Nam nhiều, quán ba mọc ra như nấm, quanh các căn cứ Mỹ. Cô nào không muốn ở đợ, thì đi bán Bar, làm đĩ Mỹ.

 

Thấy cảnh “các em” đi bán Bar, đi làm đĩ, nhạc sĩ  Trần Quang Lộc, quê ở Quảng Trị động lòng kêu gọi

 

Về Đây Nghe Em

 

Về đây nghe em, về đây nghe em
Về đây mặc áo the, đi guốc mộc
Kể chuyện tình bằng lời ca dao
Kể chuyện tình bằng hạt lúa mới

Kể chuyện tình bằng nồi ngô khoai
Và về đây nghe lại tiếng xưa
Để nhớ trong tiếng vỡ bờ

 

 

 

 

Bây giờ

            Trong vụ cá chết nầy, người ta thấy có hai thành phần dân chúng khác nhau.

 

            Một là nạn nhân, tức là “người dân biển”, kể suốt bốn tỉnh miền Trung là Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên. Họ là những người chịu tai họa trực tiếp, nghĩa là họ trực tiếp bị mất nguồn sống, nói cho rõ như thế, nói quyền lợi còn mơ hồ.

 

            Trước kia, dù sống dưới chế độ Cộng Sản Bắc Việt (Hà Tĩnh, Quảng bình) hay dưới chế độ Cộng Hòa Miền Nam, không chế độ nào cho họ đủ ăn hơn, đủ ăn thôi, không nói chi tới khá giả, giàu có. Dĩ nhiên, nghèo là không nói chi tới những người có chức có quyền, người ở địa phương họ, hay người do nhà cầm quyền cắt đặt tới.

 

            Bây giờ thì không những khổ, mà cùng khổ, là cái khổ đã tới đường cùng, là “bán vợ, đợ con”, một sự kiện đã có từ ngàn xưa, và đã đi vào tục ngữ.

 

            Trước cái cùng đó, liệu họ có thoát được không? Thoát bằng cách nào?

 

            Hai là từ “tha” nhân

            -Nhờ vào tiền bồi thường 500 triệu. Vô ích, 500 triệu đã không đủ làm cho họ qua khỏi cơn cùng cực. Ấy là chưa nói tới những “tiêu cực” trong số tiền ấy.

 

            -Nhờ vào trợ cấp của chính quyền Hà Nội. Buồn cười! Chuyện “tào lao”. “Mấy đời bánh đúc có xương, Mấy đời Cọng Sản mà thương dân nghèo.

 

            -Nhờ vào trợ cấp của hải ngoại! Chính phủ Hoa Kỳ, chính phủ các nước Tự Do. Muối bỏ biển. Không hiệu quả bao nhiêu!

 

            -Nhờ vào “Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại”.

Hội cứu trợ Thương Phế Binh, mỗi năm kiếm khoảng một triệu gởi về, cũng mới chỉ là “chút quà cho quê hương.”

 

            Vậy thì nhờ ai?

 

            Không thể nhờ ai hết, họ phải tự cứu lấy họ. Họ phải tìm đường biến, như người xưa đã nói: Cùng tắc biến.

 

            Họ phải tự đấu tranh cho họ, bằng nhiều phương cách, mà cách trước nhứt là Kết hợp, Đoàn Kết.

 

            Đoàn Kết, nghe hoài cũng chán, nhưng người ta phải làm, bằng cách, muốn tranh đấu giành quyền sống, họ phải tự động thành lập, tại mỗi ấp, mỗi xóm, mỗi khu… thành một “Tổ chức Nhạn Nhân Formosa”

 

            Đó là “hạ tầng cơ sở” của “Tổ Chức Nạn Nhân Formosa”

 

            Nhiều “Tổ” của xóm, ấp, tiến lên cấp xã là “Toán” hay “Đội”, lên cấp “huyện” là “Đoàn”, Tỉnh là cấp Liên Đoàn, toàn thể bốn Tỉnh là “Tổng Đoàn”.

 

            Trong một hệ thống tổ chức như vậy, họ có trưởng, phó, có bàn bạc, có “tham mưu”.

 

            Cán bộ!

            Bất cứ tổ chức nào cũng phải có cán bộ!

            Cán bộ từ đâu ra?

 

            -Kinh nghiệm của Công Đoàn Đoàn Kết của Ba Lan.

            Cán bộ từ trong công nhân mà ra. Ngay chính Chủ Tịch Công Đoàn Đoàn Kết, Lech Walesa gốc là thợ điện và gốc của Công Đoàn Đoàn Kết là những công nhân đóng tàu tại Gdansk.

 

            Nên lấy kinh nghiệm đấu tranh của Công Đoàn Đoàn Kết.

 

            Hoàn cảnh địa lý và lịch sử của Ba Lan với Liên xô (tên cũ), so với Việt Nam có nhiều điểm giống nhau.

 

            Một nước nhỏ bên cạnh một nước lớn, không bao giờ thoát khỏi hiểm họa bị nước lớn xâm lăng. Dân chúng Ba Lan phải luôn luôn  chống lại sự dòm ngó và xâm lăng của nước Nga (về sau là Liên Xô), cũng như dân chúng Việt Nam đối với Tầu vậy. Tầu phong kiến, Tầu Tưởng hay Tầu Cộng Sản, bất cứ lúc nào cũng vậy thôi!

 

            Khi Liên Xô chưa sụp đổ, họ dựng lên một chính phủ tay sai ở đây, do đại tướng Wojciech Jaruzelski cầm đầu.

 

Công Đoàn Đoàn Kết, với chính nghĩa và sức mạnh của chính họ, và của Nhà Thờ cộng thêm với sự hỗ trợ của người Ba Lan hải ngoại, và với sự ủng hộ của giáo Hoàng Jean Paul II (người Ba Lan) và Tổng Thống Mỹ Ronald Reagan, họ đứng lên tranh đấu và thành công. Chiến thắng đó, nói như báo chí thời bấy giờ là “một nhát dao đâm trúng trái tim của Thế Giới Cộng Sản, làm cho Liên Xô sụp đổ, kéo theo sự sụp đổ của các nước Đông Âu và Trung Á.

 

            Dân chúng Ba Lan không sợ Liên Xô.

            Dân chúng Việt Nam có sợ Tầu Cộng không?

 

            Chính quyền Ba Lan không sợ chính quyền Liên Xô!

            Chính quyền Cộng Sản Hà Nội có sợ Tầu Cộng không?

 

            Không sợ nên giành được độc lập. Đó là trường hợp Ba Lan.

            Vì sợ nên phải làm theo những gì Tầu Cộng yêu cầu, sai bảo. Có phải đó là tính chất của Chính Quyền Cộng Sản Hà Nội?

 

            Người Tầu không đáng sợ!

            Nhà văn Lỗ Tấn, người Tầu, nhận xét với người Tầu như sau: “Quỷ quyệt như hồ ly, tàn ác như sư tử, nhát gan như thỏ đế.”

Nhát gan như thỏ đế là đúng. Mấy chú Ba ở Chợ Lớn, xưa cũng như nay, có bao giờ, có ai cam đảm đâu!

 

Trong vụ Formosa, nếu có vài ba anh Tầu bị người Việt nổi giận giết chết thì toàn bộ Tầu ở Formosa chạy hết. Không cần yêu cầu, ra lệnh, Formosa cũng đóng cửa.

 

            -Với Việt Nam, kinh nghiệm từ Cách Mạng Tháng Tám.

            Trước “cách mạng Tháng Tám”, nông dân ta biết gì? Sở dĩ tôi nói nông dân vì hơn 80% người Việt Nam hồi bấy giờ sống bằng nghề nông.

 

            Trong môt truyện ngắn, tác giả truyện ngắn kể: Một anh nông dân đi với vợ mới cưới. Giữa đường gặp tên “lính lệ”, lính bồi lính bếp, kéo xe cho quan, ỷ thế vô ra dinh quan, chọc ghẹo vợ anh ta, vậy mà anh ta không dám chống đối, cúi mặt làm thinh.

 

            Vậy mà trong “Cách mạng Tháng Tám”, chính họ là thành phần đông đảo trong những người cầm gậy gộc, giáo mác đi “cướp chính quyền.”

 

            Cái gì thúc đẩy họ?

            Ai thúc đẩy họ.

 

            Không có cái gì hết. Vì dốt nát, vì thói quen, họ chịu sự bóc lột của giai cấp thống trị, bọn quan lại và bọn thực dân, như là một sự đương nhiên, bình thường. Tâm, “Cô Hàng Xén” trong truyện ngắn của Thạch Lam, buôn bán tần tảo, gian khổ để có tiền đóng sưu đóng thuế (thuế thân) cho chồng. Cô Tâm than đời sống vất vả, gian nan, nhưng không có ý tưởng nào về sự bóc lột, về giai cấp thống trị, về mất nước, về “độc lập”.

 

            Những “chị ở” cho gia đình tôi, quê ở làng Gia Đẳng, biết gì về đấu tranh, nhưng về sau, trong chiến tranh Việt – Pháp, có chị ấy là du kích, phục kích, đánh Tây rất gan dạ.

 

            Ai đã làm thay đổi quan điểm, cuộc đời của họ, cuộc đời của những người thuộc giai cấp vô sản?

 

            Chính là giai cấp tiểu tư sản.

            Giai cấp tiểu tư sản, có học hành nhiều hay ít, chính họ mới biết thế nào là Thực dân, thế nào là xâm lăng, thế nào là bóc lột, thế nào là “sưu cao thuế nặng”, thế nào là vong quốc, thế nào là độc lập.

 

            Từ hiểu biết đó, về thân phận của họ, về dân tộc Việt Nam, chính họ đã đứng lên, kêu gọi nông dân, thợ thuyền đứng lên, “cướp chính quyền” năm 1945.

 

            Lấy Huế làm ví dụ.

 

            Trước 1945, Huế có nhiều phong trào.

 

Một là “phong trào hướng đạo”, đặc biệt có “Tráng Đoàn Lam Sơn” gồm những người đã trưởng thành, tốt nghiệp đại học, cao đẳng, tú tài, trung học…

 

             Thưứ  đến là  “Phong trào Thanh niên Tiền phong”. Phong trào nầy khởi đầu từ trong Nam, phát triển ra tới Huế, và là “lực lượng chính” của Bộ Trưởng Thanh Niên Phan Anh, trong chính phủ Trần Trọng Kim. Phong trào nầy là lực lượng chính, họ về các làng quê quanh cố đô Huế, vận động nông dân, thanh niên lên Huế tham gia biểu tình, cướp chính quyên. Theo ông Lê Xuân Nhuận, một thanh niên đầy nhiệt huyết thời kỳ ấy nhận xét, thì Bộ Trưởng Phan Anh đã “dọn một mâm cổ cho Cộng Sản vào xơi.”

 

            Tài liệu Cộng Sản ca ngợi Tố Hữu, năm 1945, ông mới hai mươi tuổi, lãnh tụ Cộng Sản ở Huế, đã “lãnh đạo” cuộc biểu tình, cướp chính quyền ở Huế, đe dọa để vua Bảo Đại sợ mà thoái vị. Nói như thế, chỉ là “cướp công Cách Mạng” của thanh niên Huế đấy. (1)

 

            Phong trào Thanh Niên Quốc Anh!

 

            Ngay trước ngày “Việt Minh cướp chính quyền” ở Huế, Cao Phan (không rõ về sau ra sao!), và Đặng Văn Việt, người được báo chí Pháp gọi là “Con Hùm Xám đường số 4”, người chỉ huy trận đáng Cao Bắc Lạng, mở đầu cho các chiến thắng của lực lượng Việt Minh về sau, chính hai người nầy, đã “treo cờ Việt Minh” tại cửa Ngọ môn.

 

            Cũng chính ở Huế, kỳ thi tú tài (Bộ trưởng Giáo Dục Hoàng Xuân Hãn của chính phủ Trần Trọng Kim, cho ghép Tú Tài 1 và 2 thi chung, ngưòi Huế thường gọi “Tú Tài ân khoa”), kỳ 2, tháng 8 năm 1945, thí sinh Huế, đang thi, bèn bỏ thi, nộp giấy trắng, cùng hát bài xếp bút nghiên (Xếp bút nghiên theo việc đao cung), tình nguyện “đi Nam Bộ Kháng Chiến” vì Pháp lăm le trở lại xâm lăng nước ta.

 

            Cũng xin nhắc một điều. Sau trận Trân Châu Cảng, Nhật đem quân chiếm đóng nhiều nơi ở Đông Nam Á. Họ đến Việt Nam với chiêu bài “Đại Đông Á”. Cùng với Phong trào Duy Tân, Phong Trào Đông Du và châm ngôn “Châu Á của người Á Châu”, nhiều người Việt Nam, tôn giáo và đoàn thể… có khuynh hướng thân Nhật. Đó cũng là một ngọn lửa làm bùng lên phong trào Cách Mạng Việt Nam.

 

            Đấu tranh là phải có lý tưởng, có tổ chức, có cán bộ. Đây là vấn đề cần có sự phối hợp giữa những ngưòi là “Nạn Nhân Formosa” với đồng bào trong nước, cùng với sự hỗ trợ của người Việt hải ngoại cũng như sự hỗ trợ của Thế Giới Tự Do.

 

            Trong viễn tượng đó, lực lượng chính là “Nạn nhân Formosa”; lực lượng hỗ trợ tích cực là Thanh niên, Sinh viên, Học sinh ở trong nước. Và các đoàn thể thanh thiếu niên các tôn giáo như Gia Đình Phât Tử, Công Giáo, Tin Lành, Hòa Hảo… Ở hải ngoại, ai có muốn dấn thân thì hãy về! Xin hoan hô.

 

            Cũng có thể có người cho rằng thanh niên trong nước bây giờ đã bị chính quyền làm băng hoại tinh thần, mất ý chí, chỉ biết làm giàu, hưởng thụ.

 

            Nói như thế, không hẳn sai, nhưng không hoàn toàn đúng.

 

            Khi cai trị nước ta, Thực Dân Pháp cũng xử dụng nhiều phương cách, thủ đoạn để lèo lái mục tiêu đấu tranh, làm băng hoại ý chí, lý tưởng thanh niên Việt Nam thời bấy giờ.

 

            Hơn thế nữa, Thực dân Pháp còn đầu độc thanh niên và người Việt Nam hồi ấy bằng rượu và thuốc phiện. Hai thứ nầy, người dân được xử dụng tự do, không bị nghiêm cấm, không bị truy tố. Thực dân giữ độc quyền việc mua bán để thủ lợi.

 

            Thời kỳ ấy, nhà nào có bàn đèn thuốc phiện, mới là nhà sang. Người nào biết hút thuốc phiện mới là người sang trọng, giàu có. Ngay cả những nhà giáo dục cũng hút thuốc phiện, ca ngợi thuốc phiện là “Phi Yến Thu Lâm”, có nghĩa là “Phiện thú lắm”.

 

Hoàng Long Hải

v2 

Siêu quyền lực và bầu cử Tổng Thống Mỹ

 

Lữ Giang

 

 

 

Trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm nay có rất nhiều chuyện lạ đã xảy ra. Chúng tôi đã viết hai bài nói về những chuyện lạ đó. Bài thứ nhất là “Đảng cử đảng bầu” phổ biến ngày 14.4.2016 và bài thứ hai là “Hoa Kỳ và biến loạn bầu cử” ngày 11.8.2016. Những gì chúng tôi tiên đoán đang đúng. Chúng tôi xin nhắc lại những câu quan trọng chúng tôi đã trích dẫn làm chủ đề cho sự tiên đoán:

Trong một lá thư gởi cho một cộng tác viên của mình đề ngày 21.11.1933, Tổng Thống Franklin Roosevelt đã viết:

Sự thật của vấn đề, như bạn đã biết, là yếu tố tài chánh trong các trung tâm rộng lớn đã làm chủ chính quyền của nước Mỹ kể từ thời Andrew Jackson.”

 

Huy hiệu của Siêu Quyền Lực Bilderberg Group.

Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện Liên Bang Felix Frankfurter đã từng nói:

Những người thật sự cai trị ở Washington là vô hình, và thực thi quyền hành từ sau hậu trường.”

Trong cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ năm 2000, chương trình Agenda của Mỹ ngày 28.10.2000 đã mở một cuộc phỏng vấn bình luận gia và nhà văn nổi tiếng Gore Vidal về cuộc tranh cử giữa Gore và Bush. Câu hỏi được đặt ra như sau: “Có cái gì khác biệt giữa Gore và Bush?” Gore Vidal đã phán những câu nẩy lửa như sau:

Ồ, chúng ta nắm chắc hệ thống chính trị của nước Mỹ trong 50 năm gần đây. Chúng ta có bầu cử nhưng không có quan điểm chính trị. Chúng ta có một đảng chính trị – ĐẢNG CÔNG TY MỸ QUỐC, MỘT ĐẢNG VỀ TÀI SẢN (We have one political party – the party of corporate America, the property party) – và đảng đó có hai nhánh. Một nhánh được gọi là Dân Chủ, một nhánh được gọi là Cộng Hòa. Vậy, chính yếu là cùng một người vừa tài trợ cho Gore vừa tài trợ cho Bush….”

Chúng tôi xin ghi thêm: Trong cuốn “Tragedy and Hope”, ông Carrol Quigley, Giáo sư Georgetown University, cũng đã khẳng định:

Lý luận rằng hai đảng đại diện cho những tư tưởng và chinh sách đối nghịch, một có thể là của Cánh Hữu và một của Cánh Tả, chỉ là một tư tưởng điên rồ, chỉ các nhà tư tưởng hàn lâm và giáo điều chấp nhận mà thôi! Thay vì thế, HAI ĐẢNG CHỈ LÀ MỘT. Vì thế người Mỹ có thể ‘ném bỏ bọn bất lương’ trong bất cứ cuộc bầu cử nào, mà không đưa đến bất cứ những sự thay đổi sâu sắc hay bao quát nào về chánh sách”.

Trên đây là những nhận xét của các nhân vật có thẩm quyến ở Mỹ. Thực tế đã chứng minh những điều họ nói là đúng.

KHI SIÊU QUYỀN LỰC RA TAY

Chuyện không ngờ là có rất nhiều “người Việt đấu tranh” rất thích ông Donald Trump do “bắt đúng tần số”. Có người đã nói với chúng tôi rằng phải có một người như Donald Trump mới “trị” được Cộng Sản và Trung Quốc. Obama hay Haillary Clinton quá yếu! Họ vẫn tin tưởng “chống cộng” là mục tiêu hàng đầu của thế giới ngày nay, nằm trên cả kinh tế, an ninh, quốc phòng, khủng bố, môi trường…! Họ cũng như ông Donald Trump đã lầm tưởng rằng Tổng Thống Mỹ là “đấng toàn năng”, muốn làm gì trên đất nước này thì làm!

 

Một cuộc họp của Bilderberg Group

Website chính thức của nhóm Siêu Quyền Lực Bilderberg Group tiết lộ rằng từ 11 đến 14.6.2015, 140 đại diện cao cấp của nhóm thuộc 22 quốc gia đã họp tại khách sạn Interalpen-Hotel Tyrol ở Telfs-Buchen, Áo quốc, để bàn về những vấn đề của thế giới trong năm 2016, trong đó có những vấn đề chính sau đây: Các vấn đề kinh tế hiện tại, chiến lược Châu Âu, toàn cầu hóa, Hy lạp, Iran, Trung Đông, NATO, Nga, khủng bố, Anh quốc, Hoa Kỳ, bầu cử Hoa Kỳ.

Trong bản tin ngày 8.6.2015 của InfoWars có đầu đề “Bilderberg Backs Hillary For 2016 Presidency” (Bilderberg ủng hộ Hillary ứng cử Tổng Thống năm 2016), ký giả Steve Watson cho biết tại cuộc họp nói trên, có bà Jim Messina thuộc nhóm Messina Group, cố vấn của bà Hillary Clinton tham dự. Bà cũng là người đã đứng đầu trong cuộc vận động tranh cử cho Tổng Thống Obama 2012. Vào năm 2008, Bilderberg Group cũng đã từng bí mật gặp ông Obama và bà Hillary Clinton tại Bắc Virginia và đã chọn ông Obama làm tổng thống Hoa Kỳ.

Bản tin nói rằng bà Hillary Clinton phát xuất từ giới ưu tú của Bilderberg, còn ông Clinton đã từng tham dự hội nghị Bilderberg tại Đức năm 1991 trước khi làm Tổng Thống Mỹ, và ông ta đã trở lại tham gia hội nghị này năm 1999 tại Sintra, Bồ Đào Nha. Còn bà Clinton được nói đã tham dự hội nghị Bilderberg vào năm 2006 tại Ottawa, Canada.

Như vậy cả ông lẫn bà Clinton đều là thành viên ưu tú của tổ chức Siêu Quyền Lực Bilderberg Group.

BILDERBERS GROUP LÀ TỔ CHỨC NÀO?

Những người quen suy nghĩ và hành động theo cảm tính thường RẤT SỢ SỰ THẬT và nghe ai nói gì khác với điều mình muốn đểu cho là “đồ dỏm”. Nhưng với Bilderberg Group, không thể nói là “đồ dỏm” được.  Chỉ cần vào Google đánh chữ Bilderberg Group là thấy hàng trăm bài và tin tức nói về tổ chức Bilderberg Group. Sách viết về tổ chức này cũng quá nhiều.

Nhưng đây là một tổ chức bí mật, hoạt động theo kiểu “xã hội đen”, giống bang hội của Tàu, nên khó có nhà nghiên cứu nào dám nói là đã nắm vững cơ cấu và hoạt động của tổ chức này. Tất cả chỉ là những nỗ lực khám phá và tìm hiểu.

Nói một cách tổng quát, Bilderberg Group, hay hội nghị Bilderberg, hay các cuộc họp Bilderberg, hay Bilderberg Club là một hội nghị riêng tư hàng năm gồm từ 120 đến 150 thành viên thuộc giới tinh hoa chính trị Châu Âu và Bắc Mỹ, các chuyên gia từ các ngành công nghiệp, tài chính, học viện, và các phương tiện truyền thông, được thành lập từ năm 1954.

Theo Andrew Kakabadse, Giáo sư về Quản trị và Lãnh đạo, mục tiêu ban đầu của nhóm là thúc đẩy Chủ nghĩa Đại Tây Dương (Atlanticism), tức chủ nghĩa đề cao tầm quan trọng của sự hợp tác giữa Châu Âu, Hoa Kỳ và Canada về chính trị, kinh tế và các vấn đề quốc phòng, chủ trương tăng cường quan hệ Mỹ – Châu Âu và ngăn chặn một cuộc chiến tranh thế giới khác phát triển. Chủ đề của Tập đoàn Bilderberg là “tăng cường sự đồng thuận xung quanh thị trường tự do giữa các nước tư bản Tây phương và các lợi ích của họ trên khắp thế giới“.

 

Một số khuôn mặt của các lãnh đạo Bilderberg Group

Hội nghi Bilderberg thứ 64 năm nay họp từ 9 đến 12.6.2016 tại Dresden ở Đức với chi phí lên đến 35.638.750 USD vì phải huy động hàng nghìn cảnh sát, quân đội và mật vụ Đức đến bảo vệ an ninh. Đề tài thảo luận gồm 9 vấn đề, trong đó có vấn đề Trung Quốc và các chế tài trừng phạt cần thiết, vấn đề Trung Đông… Vấn đề yểm trợ cho người sẽ làm tân Tổng Thống Mỹ trong cuộc bầu cử 2016 cũng đã được bàn đến.

DỰNG KỊCH BẢN BẦU TỔNG THỐNG

Ông George W. Bush năm 2000, ông Barack Obama năm 2008 hay bà Hillary Clinton năm nay không phải là những chính trị gia xuất sắc hay nổi bật, nhưng sở dĩ họ được Siêu Quyền Lực chọn vì biết những người này sẵn sàng và có khả năng thi hành những kế hoạch và đường lối đã được vạch sẵn. Trường hợp bà Hillary còn yếu hơn, nên nếu bà gặp một đối thủ khá xuất sắc, bà có thể bị đánh bại. Vậy muốn bà Hillary tiến đến địa vị được chọn, cần phải có một kế hoạch có hiêu quả.

Qua các diễn biến của cuộc tranh cử vừa qua và đang diễn tiến, chúng ta thấy có hai kịch bản đã được dàn dựng:

1.- Kịch bản thứ nhất: dùng du đãng đường phố để loại tất cả các đối thủ của bà Hillary.

Các nhà phân tích đều biết Donald Trump là một người mang bệnh cuồng vĩ (grandiose delusions), luôn tự coi mình là người vượt trội lên trên tất cả mọi người, nhưng lại thiếu văn hóa và thiếu hiểu biết về chính trị, nên chỉ cần thổi lên là ông ta sẽ coi trời bằng vung. Quả đúng như vậy. Ông ta đã dám tuyên bố: “Nếu tôi đứng giữa Đại lộ thứ năm (Fifth Avenue) và bắn ai đó thì tôi cũng sẽ không mất bất kỳ lá phiếu cử tri nào, okay?”.

Khi được đẩy ra tranh cử, ông ta đã xử dụng tối đa ngôn ngữ đường phố để tấn công các chính trị gia nổi tiếng của đảng Cộng Hòa nên họ phải bỏ chạy vì không muốn “dây với hủi”. Những người như Ted Cruz, Thượng Nghị Sĩ bang Texas; Jim Gilmore, Thống Đốc Virginia; John Kasich, Thống Đốc Ohio; Rand Paul, Thượng Nghị Sĩ bang Kentucky; Marco Rubio, Thượng Nghị Sĩ bang Florida…, nếu được đảng Cộng Hòa cử làm ứng cử viên tổng thống, bà Hillary khó thắng họ được. Nhưng Donald Trump đã cho tất cả “đi chỗ khác chơi”!

2.- Kịch bản thứ hai: đẩy cây cho Donald Trump tự bắn vào chân mình rồi quỵ xuống.

Donald Trump chẳng biết gì về chính trị, luật pháp, an ninh, tình báo… nên múa gậy vườn hoang. Nhà phân tích chính trị Tracy Sefl đã nói: “Ông ta không xử dụng bất cứ chiến lược căn bản nào khi tranh cử, ông ta làm theo cách của ông ấy, ông ta cũng chẳng cần phòng thủ.” Vì thế, phe đối thủ đã cho nội gián xâm nhập vào và gài bẫy hay cố vấn cho ông ta tự bắn vào chân mình.

Bà Meredith McIver, người viết diễn văn cho bà Melania, vợ của Donald Trungp, lại lấy nguyên văn một vài đoạn trong bài diễn văn của bà Michelle Obama bỏ vào cho bà Melania đọc. Khi bị tố là đạo văn thì bà ta giải thích lòng vòng. Trong một bản tin ngày 22.6.2016 phổ biến trên Prntly.com, ký giả Connor Balough cho biết một người trong nhóm Clinton đã tiết lộ những tài liệu gây xôn xao dư luận, trong đó nói rằng họ đang kiểm soát một số nhóm ủng hộ Donald Trump trên facebook và đang dò thám các thành viên của Trump để thu thập thông tin. Trong khi đó, sáng ngày 19.8.2016, ông Paul Manafort, Chủ tịch Ban Vận động Tranh cử của Donald Trump đã phải từ chức vì bị điều tra vụ nhận tiền của cựu Tổng thống Ukraine Viktor Yanukovych! Nói một cách tổng quát, trong bộ tham mưu của Donald Trump, khó mà biết được ai là “địch” và ai là “ta”.

Kịch bản thứ hai được mở đầu bằng những tượng Donald Trump hoàn toàn khỏa thân mang tên “Hoàng đế không có tinh hoàn” do nhóm INDECLINE trình bày tại New York, San Francisco, Los Angeles, Cleveland và Seattle. Ginger, người thiết kế bức tượng, cho biết ông muốn tạo ra một “vẻ ngoài khó ưa” cho ông Trump. Nhóm này cũng đã tung ra video mô tả quá trình tạo ra các bức tượng trên. Đây là chuyện chưa hề xảy ra đối với các cuộc bầu tổng thống trước đây. Những màn tiếp theo sẽ được trình diễn trong giai đoạn tới.

Người ta ước lượng số tiền tranh cử bà Hillary thu được sẽ gấp 10 lần của ông Donald Trump. Họ huy động cả một hệ thống truyền thông to lớn để lèo lái dư luận một cách tinh vi.

NẾU BÀ HILLARY ĐẮC CỬ?

Luật Hoa Kỳ cho phép phê phán các ứng cử viên một cách dễ dãi mà không bị truy tố về mạ lỵ phỉ báng (defamation), vì thế khi ra tranh cử, các ứng cử viên đều phải chấp nhận trò “chọi đá đường rầy xe lửa” từ bốn phía. Điều đáng quan tâm là những người it am hiểu về luật pháp, kể cả những người có tiến sĩ nọ hay tiến sĩ kia, thường lầm tưởng mọi lời tố cáo đều là bằng chứng của sự vi phạm pháp luật (evidence) nên bám lấy nó, và cuối cùng sẽ thất vọng.

Một câu hỏi được nhiều người đặt ra: Bà Hillary sẽ đưa nước Mỹ đi về đâu nếu bà đắc cử tổng thống?

Khẩu hiệu của ông Obama khi ra tranh cử năm 2008 là “CHANGE” (thay đổi), nhưng sau 8 năm cầm quyền ông ta chỉ làm được đạo luật Obamacare thay đổi chế độ ý tế của nước Mỹ, còn hiệp ước TPP để ngăn chận sự bành trước mậu dịch của Trung Quốc cho đến nay vẫn chưa được nước nào phê chuẩn. Nước Mỹ theo chế độ tam quyền phân lập chứ không phải như ở Thổ Nhĩ Kỳ hay Philippines, Tổng Thống muốn bắt ai thì bắt, bắn ai thì bắn. Ngoài ra, Tổng Thống Mỹ còn phải thực hiện các kế hoạch do các tổ chức quyền lực đứng đàng sau đã vạch sẵn.

Đọc bản Cương Lĩnh của đảng Dân Chủ biểu quyết hôm 27.7.2016, chúng ta thấy vị tổng thống kế tiếp sẽ tiếp tục thực hiện những kế hoạch căn bản của nước Mỹ mà ông Obama chưa hoàn tất và xúc tiến các kế hoạch mới đã được hoạch định.

Hội nghi Bilderberg năm 2008 tại Westfields Marriott hotel ở Chantilly, Virginia, từ ngày 05 đến 08.6.2008, đã cử ông Obama làm Tổng Thống Mỹ và giao cho tiếp tục thi hành kế hoạch “Một Trung Đông Mới” (New Middle East) được Tổng Thống Bush cho công bố ngày 17.8.2006, và chuyển từ “chiến lược can thiệp bằng quân sự” (military intervention strategy) qua “chiến lược chiến tranh ủy nhiệm” (proxy war strategy) để có thể bán được nhiều vũ khí hơn.

 

Tài liệu cho biết cả ông Obama lẫn bà Hillary có đến gặp một số nhân vật trong hội nghị nói trên, nhưng không phải gặp tại hội nghị mà gặp sau đó ở Northern Virginia. Bà Hillary trong nhiệm kỳ tới cũng chỉ là người nối tiếp công tác của ông Obama.

Nước Mỹ đã có 44 đời Tổng Tống, nhưng chỉ có hai Tổng Thống không do Siêu Quyền Lực chỉ định, đó là Tổng Thống Abraham Lincoln (1861-1865) và Tổng Thống Kennedy (1961- 1963). Cả hai đều đã bị ám sát chết. Chỗ nào dành cho Donald Trump “chống cộng”?

Mạnh Tử bảo: “Nhất ẩm nhất trác giai do tiền định, vạn sự phận dĩ định”, có nghĩa là từ cái ăn cái uống đều do Trời định trước, mọi việc đều đã được số phận an bài. Nhưng trong các cuộc “bầu cử dân chủ” Tổng Thống ở Mỹ, “tiền định” không phải là ông Trời mà là Siêu Quyền Lực!

 

 

Lữ Giang.
Ngày 25.8.2016

sad

GÕ CỬA

 

tình nhân bỏ đi

nắng quay quắt nóng

cơn hừng hực vàng quái con đường 

38 độ

 

cánh cửa đóng lại

những gian dối đóng lại

mùa hè bay theo gót chân vội vàng

bụi bặm bay lên thành phố nắng 

 

kẹt giữa những cuồng ngông

rền vang âm thanh 

ta cô đơn trước cánh cửa lòng 

không còn rộng mở

 

tiếng rúc rích của gió

cũng không còn êm êm vuốt ve 

những trưa hè quấn quít

 

gõ mãi cánh cửa quá khứ

chỉ rơi xuống chân nổi buồn

người bỏ lại.

 

Âu Thị Phục An

48

Ở Thời Danh Giá.

 

đang câu

thúc

tôi- về ý niệm thơ- thì

từ ngăn kéo chật

chứa nắm tàn

tro

tôi men theo lộ cái

bước hình xoắn trôn ốc

 

đi lên dốc giữa một ngọn đồi

đầy cây thánh giá gãy

chắn lối

mùi hoa hồng thoảng

đậm đặc

nơi hơi thở ra của em (những

ẩn dụ

trong bài thơ này mỗi tôi/ em

biết- nhớ nhé!) và

 

tôi phải ghìm con chó thọt

còn ba chân

cho nó đứng hít hà

ngửi

nước đái chó cái dưới gốc cây thược dược

 

gió ném ngược lên tóc

nắm

nắm

tuyền u uẩn

hễ nom phía sau lưng em

một hồi

tôi muốn phạm tội- yeah

 

phải co cụm

đúng chất kẻ lưu vong (sách

vở!)

 

chiều qua

trên vạt áo phai

hai cái bóng chạy trối chết

nhịp đập của biển (là chỗ bọng đái!)

đến đêm lại thao thức

 

tháng/ năm cứ dồn

đuổi

đến trước miệng hố thẳm

thấy

phía dưới trơn

tuột- chẳng khác khúc ruột già

 

tôi đã cưỡng lại

đã trở lui

lúc ngang khu chợ âm phủ

ngó tấm bảng đề

mì ramen đang bán

3 gói/ 1 đô- la (do chữ ngâm quá lâu trong mồm

hay sao

lũ quạ réo ầm ĩ!) biên cương ở

 

tâm tưởng

hàng loạt dây nhợ giăng

mắc

chả biết sao lần ra chỗ đầu mối

em nói bài thơ tình này

đăng

anh kiếm áo giáp mặc- đi

tìm đường trên trời đi

 

ôi

chưa bao giờ chúng ta thôi

ăn tiết canh vịt bằng vại

uống bia làm bằng táo

 

việt gian việt cộng/ việt kiều

ba thứ gộp lại diệt tiêu nước nhà

hai câu- giở đọc

hết còn nghe tiếng rào rào của tiền

ném

 

Juda phải bán Jesus để ngài được kêu chúa* vì không thể đợi

lâu hơn nữa

em hỏi “mê cung đã mở

chăng (!) làm cách nào hòng trở nên thánh!”

 

tôi nhắm nửa mắt

dùng lưỡi

dò người cùng tần số với mình- ngay nền thơ

tự do hôm nay

nói cho biết

 

có ngóng cao cổ

cách mấy

cũng chỉ độc nghe chuỗi rè

ré!

..

 

 

vương ngọc minh.

*một ý của thơ lê minh chánh.

logo

KHOA TỬ VI VÀ BẦU CỬ TỔNG THỐNG HOA KỲ.

Tác giả: LÊ ANH.


 

Bài viết chủ yếu chia sẻ ý kiến về học thuật Tử Vi, nên không quan tâm đến các vấn đề khác… Bài viết có 2 phần. Phần kiểm số và Xem xét Ai thắng Ai vào Nhà trắng.

1

  • PHẦN KIỂM SỐ:

 

Kiểm lại sự khả tín của lá số Ông Trump sinh giờ Tỵ qua vài điểm đặc biệt sau:

( Ông Donald Trump:  Sinh ngày 15 tháng 5 năm Bính Tuất (1946)- giờ Tỵ ).
Lá số của Ông Trump được cách Nhật-Nguyệt cư Sửu, sinh ban ngày, với nhiều cát tinh đắc cách hổ trợ như Xương-Khúc, Lộc tồn, Hóa Khoa (tất cả đều bị Triệt/Tuần cản trờ) + Việt chiếu Mệnh/Khôi tọa Thân, Thiếu Âm trợ cho Nguyệt/Thiếu Dương trợ cho Nhật khi tuổi thành Thân. Cung an Thân (là cái ta hành động) lại hội Quyền-song Lộc (có điều kiện vì Lộc tồn bị Triệt). Cả hai Mệnh-Thân song Hỷ, vô sát tinh…thật là Mệnh quý hiền.

Vậy lục sát tinh nằm ở đâu ?

– Lục sát tinh phân đôi, chia nhau nhập vào cung Nô và cung Điền trạch. Cho nên, ta đã biết Ông Trump là một đại gia kinh doanh địa ốc và cũng đã trải qua nhiều lần khai phá sản… bởi cung Điền hội Đà la, Địa Kiếp, Hư-Phá, xung Linh tinh, ngô Triệt (Triệt phá Thiên La nhưng cũng đáng tiếc làm hư Tử Tướng) . Thế cung Điền là thế Tử-Tướng, một thế lớn, nhưng bị Triệt và lại nhập Mộ với Phá-Hư-Hao/ Đường phù-Quan phủ-Thái tuế (là chực chờ hầu tòa)… Vậy cung Điền trạch ắt có vấn đề…Từ đây, sự nghiệp gian nan, không bền và phải nhiều lần ra hầu tòa…là vì vậy.

Ngoài tài sản giàu có, Ông Trump còn tỏ ra có tài viết văn và làm Show truyền hình (do ảnh hưởng của Khoa, Xương-Khúc chiếu Mệnh tại vài thời điểm). Đây là 1 đặc điểm tài năng đa dạng của Ông Trump. Tuy vậy, không thấy Ông tỷ phú nào lại quá keo kiệt (?) như Ông Trump (Lá số có Lộc tồn tọa cung Quan, xung cung an Thân, chiếu cung Mệnh thì khác nào Lộc tồn tọa thủ Mệnh Thân), mà người có Lộc tồn thủ Mệnh thì thường rất bảo thủ tiền bạc hơn là thích chia sẻ, phát tán tài lộc đây là đặc điểm thứ hai.

(Giữa những người Mệnh có Lộc tồn và Mệnh có Địa Kiếp, cả hai giống nhau ở chỗ rất cẩn thận về tiền bạc nên dễ mang tiếng hà tiện, ích kỷ nhưng khác nhau ở thật tế tài lộc. Một người Mệnh nhập Không-Kiếp thì tiền bạc èo uột; thất thường. Nếu nghèo thấu xương thì tiền bạc lấy ở đâu mà hào phóng, rộng rải với ai …

Ở lá số Ông Trump, Lộc tồn chiếu Mệnh-Thân hội Nhật-Nguyệt  còn chủ về giàu có tiền bạc nhưng phải gian nan, vất vả…)

Đặc điểm độc đáo thứ ba toát lên từ bản tính của Ông Trump, là loại người ăn nói kỳ dị, hay nổ; dễ tạo nghiệp thù oán với người khác cũng như thích nói thẳng sự thật… đó là tập hợp các sao tọa và hội vào Mệnh như: Thiên hình, Y-Riêu, Phá toái, Trực phù, và trong khi đó, nếu cung Di giáp hợp Sát+Kình-Kỵ, Hỏa-Địa Không  thì cung Tật Ách (Liêm hóa Kỵ+Hóa Kỵ,…) cũng vừa xung lưu niên TH (2016) cư Dần vừa bị lưu Thái Tuế kích động (nên mọi người chỉ biết nhiều đến tật ách của Ông Trump trong năm nay).

Ngoài ra, đã còn có 2 biến cố đặc biệt xảy ra trong đời Ông Trump cũng làm dễ dàng cho việc kiểm số, đó là: thời điểm Cha chết năm 1999 và vấn đề Hôn Nhân.

 

*-Cha Mất Năm Kỷ Mão (1999):

Năm 1999 này thuộc Đại Hạn (45-54t) cư Tỵ và năm Kỷ nên Văn Khúc hóa Kỵ. Năm này Xương -Khúc không còn trợ sinh cho người Nhật-Nguyệt thủ Mệnh nữa mà Kỵ còn làm mờ Nhật (là người Cha).Vậy Cha Mẹ ắt có vấn đề.

Cả hai Đại hạn và Tiểu Hạn (1999) đều cùng hội chiếu vào Nhật-Nguyệt (đây là vấn đề nổi bật của Tiểu hạn). Năm này lưu Phụ Mẫu chuyển dịch đến cung Tuất gặp ngay tam Sát (Linh+Đàla, Địa Kiếp) và Xương-Kỵ hội trong trường hợp này chính là gặp đại tang người Cha vậy.

 

*- Vấn đề Hôn Nhân:

-Ông Trump cưới Vợ lần đầu năm Đinh Tỵ (1977-32t) cư Hợi, thuộc ĐH cư Mão. ĐH và TH tam hợp nhau nên hôn nhân dễ xảy ra đúng như sách vỡ và nghiệm chứng. Nhưng sau đó đã ly hôn vào năm 1991-46t, thuộc đầu ĐH (45-54t) cư Tỵ.

-Ông Trump cưới Vợ lần hai năm Quý Dậu (1993-48t), thuộc ĐH cư Tỵ và sau đó đã ly dị vào năm 1999-54t, tại cuối của ĐH cư Tỵ này.

Như vậy trong cùng một ĐH (45-54t) cư Tỵ đã có 2 lần ly hôn (Ly dị lần đầu năm 1991-46t với người Vợ đầu, và ly hôn lần sau năm 1999-54t với người Vợ thứ hai).  Sự khác nhau về phương diện lý số Tử vi trong cùng một ĐH chính là vai trò Đóng/Mở huyền ảo của Triệt/Tuần với lưu Thái Tuế năm Tân Mùi (1991).

-Ông Trump cưới Vợ lần thứ ba vào năm Ất Dậu (2005-60t) và hiện đang sống chung nhau hạnh phúc cho đến hiện nay…

Ông Trump Thân cư Thê nên hãy nhìn vào cung Thê cư Hợi thật đẹp với Thiên Đồng nhân hậu, vui vẻ tọa thủ hội cùng Quyền-Lộc và Khoa xung (bị Triệt) …thật là tuyệt đẹp và bề thế của giới thượng lưu. Nhưng có ai ngờ rằng đàng sau và bên ngoài chỉ là  hư Triệt và đầy sóng cồn đại hải!

 

Tóm tắt: lá số Giờ Tỵ bên trên là lá số Tử vi của Ông Trump.

2

 

 Kiểm lại sự khả tín của lá số Bà Clinton sinh giờ Thìn qua vài điểm đặc biệt sau:

( Bà Bill Clinton: Sinh ngày 13 tháng 9 năm Đinh Hợi (1947)- giờ Thìn ).

 

Lá số Bà Clinton thuộc cách cục “Cơ Nguyệt Đồng Lương” với Mệnh Thiên Cơ cư Ngọ hội nhiều cát tinh  như: Khoa, song Lộc, Văn Xương, Tả-Hữu, Linh tinh, Tướng-Ấn/Thai  -Cáo, ngộ Tuần.“Tuần lâm hỏa địa” nơi đây không phá hư cách cục của lá số (Bà Clinton Mệnh Thổ với tinh đẩu Thiên Cơ thủ Mệnh) mà lại hóa hay vì còn có tác dụng ít nhiều gây cản trở cho lũ sát tinh (Địa Không, Kình dương) bên cạnh từ cung Mùi và từ xung cung (Cự-Phi liêm-Hóa Kỵ). Nhưng Bà sẽ khốn khổ vì chúng khi Tuần bị/được Mở (khi Đại Hạn nhập xung cung-cung Tý…sẽ nói sau)

Vấn đề còn lại là sao Linh tọa Mệnh. Linh tinh (hỏa) là ác tinh nhưng ít khi hại người mạng hợp hành và không khắc chính tinh thủ Mệnh, nên nói chung: sao đắc địa này ít tác hại đến cách cục của lá số Bà Clinton vì những kếp hợp xấu của nó về sau này.

Với cách cục “Cơ Nguyệt Đồng Lương” hội nhiều cát tinh, Mệnh lại có Khoa tọa, song Lộc hội chiếu; vô sát tinh làm hư hại…thì quả thật đây cũng là số mệnh lớn quý hiếm.

Vậy lục sát tinh nằm ở đâu ?-

Lục Sát tinh (Kình-Đà/Linh-Hỏa/Không-Kiếp) là các sao làm hư cách cục của Mệnh hay Vận; chúng phá nát cuộc đời của con người và dìm họ xuống đáy bùn đen, kể cả cái chết thãm. Lục Sát tinh là 6 sao hắc ám mà mỗi sao là một con quỷ ác độc với sở trường chuyên biệt.Vậy mà Mệnh Thân của Bà Clinton né tránh được sự hội tụ của chúng ngoại trừ sao Linh tinh sáng (đã nói bên trên) và 2 sao Kình-Đà hội chiếu vào cung Tật Ách.

Cũng cần nói thêm về cung Tật Ách nơi đây hội tụ Kình-Đà+Hỏa tinh, cộng với bên cạnh còn có Cự-Kỵ-Phi liêm, Thiên không (phát tác bất chợt/bất ngờ). May là tập hợp 3 sao xấu (Kình-Hỏa khắc kỵ/chế hóa lẫn nhau) chỉ còn lại một Đà la (thâm trầm thủ đoạn, cản trở). Cung Tật Ách là phía bóng tối của con người. Bà Clinton đã bị nhiều tai tiếng không tốt như  đã  biết… cũng bởi vì đối Mệnh là tập hợp các sao Cự-Đà-Kỵ-Phi liêm (Phi liêm tượng là con gián. Đà+Phi liêm ẩn tàng mưu kế chơi bẩn trong bóng tối). Rõ ràng đây là cái ách tật của Bà và cũng là 1 đặc điểm nổi bật trong lá số giờ Thìn.

Đặc điểm độc đáo thứ hai toát lên từ cung cách điềm đạm đối xử với Phu quân.

Đàn bà nào không ghen. Với Bà Clinton, cung Tật Ách có Thiên Tướng thủ cung là chúa ghen tương, lại còn tọa chiếu Hỏa tinh (nóng như lửa cháy) – Kình+Kỵ (là đố kỵ, chống đối dữ dội…) cho thấy Bà cũng là loại ghen thứ dữ chứ nào khác với ai !. Nhưng Bà đã tỏ ra rất mềm mỏng, lịch sự (ít ra là ở bên ngoài, bên trong nội bộ gia đình mấy ai biết được sự thật vì Bà vốn dĩ khéo che dấu (Đà la chiếu Tật Ách)) với Ông Chồng hào hoa quá cỡ và Bà Clinton (lúc bấy giờ đang là Vợ của một Tổng Thống siêu cường) đã biết đặt lợi ích tương lai, phẩm giá trên tất cả…Phải chăng chỉ có nữ Mệnh với Thiên Cơ+Hóa Khoa (khôn ngoan, khéo léo và mưu lược) cư Ngọ (là cung Vua) nên phải biết ứng xử sao cho tốt đẹp mặt Chồng (Thái dương cư cung Phu chính là Ông cựu Tổng Thống Bill Clinton).

Đặc điểm thứ ba, đó là: để kiểm số Bà Clinton thì phải quan tâm đến thời kỳ Ông Bill Clinton làm Tổng Thống. Bà Clinton đương nhiên trở thành đệ nhất phu nhân Tổng thống Hoa Kỳ. Trong giai đoạn này, ĐH (42-51t) cư Tuất (lại là cung Quan-Quan là Chồng) của Bà quá tốt (Nhật-Nguyệt+Quyền-Lộc, Tướng Ấn, Thai-Cáo) + TH năm Quý Dậu (1993-47t) ứng với lưu Quan thế Tử-Phá cư Mùi. Nhưng tại cuối nhiệm kỳ II Tổng Thống của Ông Bill Clinton, Vận Hạn của Bà thuộc ĐH (52-61t) cư Hợi (ĐH tưởng xấu tệ hóa hay vì vô ác sát, lại giáp Lộc-Kỵ) và TH năm Tân Tỵ (2001-55t) cũng tại cung Mùi với nhiều cô độc, buồn phiền và bất mãn.

Bà trở thành Thượng Nghị Sĩ  2 nhiệm kỳ kể từ năm (2001) và có vinh dự được 1 tạp chí uy tín Forbes bình chọn là 1 trong 100 phụ nữ quyền lực nhất thế giới vào năm (2006-60t) cư Dần, là năm rất tốt với lá số giờ Thìn với Âm-Dương, Quyền-Lộc và đầy ơn phúc

Tóm tắt: lá số Giờ Thìn bên trên đích thực là lá số Tử vi của Bà Clinton.

 

Cả hai lá số Bà Clinton -Giờ Thìn và Ông Trump -Giờ Tỵ đã được kiểm chứng qua vài biến cố thật tế xảy ra trong đời sống của họ. Ngoài ra, còn có thể kiểm số bởi áp dụng “Thần Khê Định Số” qua hình tướng/tính tình để dự đoán hành vi…Cũng đã còn có nhiều cách khác nhau để kiểm chứng một lá số về giờ sinh…

   Bởi cách an sao trong khoa TửVi, yếu tố giờ sinh sẽ xác định nơi đến của cung an Mệnh-Thân và một số sao quan trọng như: Hỏa-Linh (quan trọng cho Tham tọa Mệnh), Không-Kiếp (quan trọng cho cách Sát Phá Tham với nhiều cát tinh) , Xương-Khúc (rất cần cho Mệnh Nhật-Nguyệt đồng cung), Thai-Cáo, Quang -Quý, và Đẩu quân . Cho nên: chỉ cần đơn giản xem xét 4 hung thần Không-Kiếp/Hỏa-Linh từ giờ sinh là có thể xác định phần lớn Mệnh số tốt-xấu/cao-thấp của các cách cục.

 

  • Xem Xét Ai Sẽ Vào Nhà Trắng ?

Để biết sự việc thành bại hay Ai thắng Ai, tất cần xem xét thêm ít nhất 3 việc:

*1/-Xem xét cách cục từ 2 lá số, đặc biệt so sánh qua Vận Hạn hiện tại của 2 lá số.

*2/-Xem xét câu Phú về bất hiển công danh vì Mệnh Nhật-Nguyệt tại Sửu Mùi.

*3/-Xem xét Ngày Bầu Cử 8/11/2016.

 

1/-Xem Xét Cách Cục:

Xem xét lá số Bà Clinton:

Mệnh-Thân đều nằm trên trục tam hợp Hỏa, cung an Mệnh có Cơ-Khoa tọa đế cung với Linh-Xương khắc tiết. Tuần là cái bức tường hay rào cản hạn chế giao tiếp trong ngoài…nên nhìn thoáng qua là thấy Bà cô đơn ghê gớm với tài năng và tham vọng của riêng Bà, mà cũng chẳng mấy ai thích tìm đến với Bà (vì Hỏa khí rất vượng).

Cung an Thân cư Dần với Đồng-Lương+Hóa Quyền lại bị Triệt ngăn cách trong ngoài.

Cung Dần là cung Mộc nhưng tàng hỏa khí (Bính). Cả hai cung Mệnh và cung an Thân đều nhiều khí hỏa…nên đây là vấn đề.

Lá số Nữ Mệnh mạng Thổ sinh Tháng 9 âl. Hỏa khí đã nhập Mộ, Thủy khí Quan đới, Kim vào Suy và Thổ tứ quý là Thổ vượng đắc lệnh nên rất cần lấy Mộc tiết khí thổ và Thủy nhuận đất. Kỵ gặp Hỏa sinh ra Thổ.

Từ đây: để Mệnh đắc dụng hay thành đạt vươn lên với đời thì Mệnh này cần Vòng Đại Hạn thuận lợi với các tinh đẩu thủ cung thích hợp.

Nghiệm chứng thật tế là: số này có Vòng ĐH thuận lợi khởi từ lúc ấu thơ tại phương Nam (hỏa), chuyển qua Tây phương (kim) rồi đi lên phương Bắc (thủy) cuối đời với các tinh đẩu thủ cung tương ứng.Vậy Mệnh này có nhiều thành đạt và cơ hội vươn lên với đời . Hãy xét nghiệm vài ĐH thì rõ thôi:

-ĐH (42-51t) cư Tuất tuy vào đất Thổ táo nhưng được tinh đẩu Thái Âm (thủy) đắc dụng. Đây chính là ĐH cộng với Tiểu hạn năm 1993/cung Mùi đã đưa Bà vào Nhà trắng.

-ĐH (52-61t) cư Hợi là vào vùng Thủy vượng. Tuy Liêm (Hỏa)-Tham (thủy) là 2 chính

tinh thủ cung khắc chế nhau (làm Bà thấy mệt mỏi lắm) nhưng Mộc khí sinh ở Hợi (Mộc

trường-sinh ở Hợi), Mộc tiết khí Thổ, Thủy nhuận đất, làm điều hòa ngũ hành bản Mệnh.

Bà đắc cử TNS tại năm 2001-55t, sau khi Ông Chồng chấm dứt nhiệm kỳ TT lần II.

-ĐH (62-71t) cư Tý là nơi Thủy cực vượng. Với tinh đẩu Cự môn (Thủy)+Hóa Kỵ (thủy) tọa thủ. Hành Thủy là dụng thần Tửvi của Mệnh số Bà Clinton. Đây chính là ĐH đắc ý nhất của Bà vậy.

Năm 2008-62t: Tuy thất cử TT, nhưng Bà làm Bộ Trưởng Ngoại Giao của chính quyền Obama.

(Sao HóaKỵ tốt/xấu hay lợi/hại tùy thuộc vào thổ ngơi và tinh đẩu tọa cùng.Vì vậy, Hóa Kỵ cũng ít tác hại với cung có tinh đẩu đồng hành và tọa nơi vượng Thủy như Tý, Hợi)

-Năm bầu cử 2016 rơi vào cung Thìn (khố Thủy)  với Thái dương (hỏa) thủ cung….là Bà có 1 Năm thuận lợi (là thế thời và môi trường sống như ý) nhưng có tinh đẩu không thích hợp (là ý chí tranh đấu bản thân và lòng người phù trợ nhiều khó khăn/thăng trầm). Tuy vậy, ĐH (10 năm) đã cực tốt + 1 Năm cũng tốt thì sá gì những phân chia thăng trầm của lòng người trong tranh cử  chính trị.

Xem xét lá số  Ông Trump:

Cung Mệnh nằm trên tam hợp Kim cục, Mệnh có Nhật-Nguyệt đồng cung cư Sửu (là đất ướt)

Cung an Thân nằm trên tam hợp Mộc cục với Thiên Đồng (thủy) cư Hợi (là nơi vượng Thủy). Chiếu về còn có Cự (thủy)-Cơ (mộc). Vậy cả 2 cung Mệnh-Thân  đều vượng Thủy. Với người Thổ mạng, Thổ Cục thì bản thân bị tiết khí thái quá…nên đây là vấn đề.

Lá số Nam Mệnh mạng Thổ sinh Tháng 5 âl. Hỏa khí Đế Vượng, Thủy khí vào Thai, nên hành Hỏa, Thổ quá nóng và quá khô. Vì vậy:  Hỷ Thủy và Kim sinh trợ, Kỵ Mộc trợ Hỏa và lại Kỵ Thổ khô táo.

Từ đây: để Mệnh đắc dụng hay thành đạt vươn lên với đời thì Mệnh này cần Vòng Đại Hạn thuận lợi với các tinh đẩu thủ cung thích hợp.

Trong thật tế: số này có Vòng ĐH nghịch chiều (là thế thời và môi trường sống gặp nhiều khó khăn/thăng trầm) khởi từ phương Bắc (thủy), chuyển qua Đông phương (mộc), rồi đi xuống phương Nam (hỏa) cuối đời. Tuy vậy, may nhờ các cung Đại Hạn có tinh đẩu thích hợp (là ý chí tranh đấu và lòng người phù trợ) nên số cũng có nhiều cơ hội vươn lên với đời… Hãy xét nghiệm vài ĐH thì rõ thôi:

-ĐH (45-54t) cư Tỵ là đất Hỏa nóng với Thiên Lương (mộc) thủ. Mộc- Hỏa bất lợi.

Năm Tân Mùi (1991-46t) cư Sửu với Nhật-Nguyệt oánh lộn nhau nên khai phá sản Trump Taj Mahal. Trong cùng ĐH này, Năm Nhâm Thân (1992-47t) cư Dần với Tham lang (thủy) thủ cung. Một Năm tuy được tinh đẩu nhưng đã có ĐH (10 năm) xấu kỵ nên cũng hỏng. Đã khai phá sản Trump Plaza Hotel. /

Năm Kỷ Mão (1999 -54t) cư Dậu: Cha ruột qua đời vì bệnh.

-ĐH (55-64t) cư Ngọ là đất Hỏa vượng với Thất Sát (kim) thủ. Đã khai phá sản Trump Hotel và Casino Resorts năm Giáp Thân (2004-59t). Cũng trong ĐH này, năm Kỷ Sửu (2009-64t) đã khai phá sản Trump Entertainment Resorts.

-ĐH (65-74t) cư Mùi là nơi khố Mộc, đất khô. ĐH vô chính diệu lấy Nhật-Nguyệt  làm nền, có Tuần là hố đen hãm cát tinh nên cũng bất lợi. Chiếu về là  Cự-Cơ (từ cung Phúc đức) và Thiên Đồng (từ cung Thê: rõ là chính Bà Vợ này đang cố gắng giúp ích cho Chồng).Tuy đây là một ĐH có khá hơn trước nhưng cũng là ĐH không thật sự là tốt.

-Năm bầu cử 2016 rơi vào cung Dần (mộc) tàng hỏa khí với Tham lang (thủy) thủ cung.

Năm này không phải là một năm tốt (vì cả cung và tinh đẩu đều là mộc sinh cho hỏa, là ẩn tàng dư khí). Ngoài ra, Hạn nhập cung Dần, là đất kim tuyệt, nên thế thời và môi trường sống lẫn lòng người đã không thuận lợi như đã thấy…

ĐH (10 năm) đã không tốt gặp 1 Năm cũng là xấu kỵ thì lấy gì mà tranh hơn với người.

(Với lá số Ông Trump, lưu Mệnh (năm 2016) cư Dần xung 2 Hóa Kỵ từ cung Tật Ách , với Tham gặp song Hao là sự kỳ cục, lập dị đáng ghét… cứ lập đi, lập lại hoài).

 

Vậy khi so sánh sự cao thấp của 2 lá số, đặc biệt qua Vận + Hạn hiện tại thì  kết quả khá rõ ràng. Bà Clinton với cách cục đẹp là: Vòng ĐH thuận chiều và đắc tinh đẩu thủ cung tương ứng (ngược lại là Ông Trump, với cách cục giá trị kém hơn). Tại Năm Bầu cử (2016), Bà Clinton đã có được một ĐH tối ưu, kể cả tại Năm bầu cử (tốt nhất trong đời) và có 1 Ngày Bầu cử  như ý… thì Ông Trump với ĐH VCD (đã là Vô chính diệu thì không thể nào ngang bằng với có chính diệu) và cũng có 1 Năm khá xấu  thì chuyện cách cục cao thấp đã rõ. Muốn thành đạt cực cao thì phải có kết hợp cực tốt giữa Mệnh và ĐH.

 

   (Trong Tử bình, bát tự của Ông Trump là: Bính Tuất- Giáp Ngọ-  Kỷ Mùi-  Kỷ Tỵ

 ĐV: Bính Thân/Đinh Dậu/Mậu Tuất/Kỷ Hợi/Canh Tý (57-66t)/Tân Sửu (67-76t)/Nhâm Dần …

Nguyệt lệnh Lộc Kiếp thấu Ấn tất Nhật nguyên vượng, Giáp Quan tinh tuy lộ nhưng vô căn (là Quan không có gốc, là vô duyên với Quan trường) và còn bị khí Hỏa Thổ toát lên áp bức phải tòng theo. Nếu nói dụng Quan, mà Quan thế cô lại không có phụ trợ, cách cục càng thấp, khó mà lấy Quý. Vậy chỉ có thể lấy Tài sinh Quan  mà không sợ Thực-Thương làm hại vì có Ấn, cũng không sợ Tỷ-Kiếp làm hung vì Trụ thấu chính Quan.

Vận Nhâm/Quý cuối đời không thể dùng; Vận Tỷ-Kiếp Trung niên, tuy không quá  tệ , cũng phải 2 lần khai phá sản tại cuối Vận.

Vận Thương Thực thì lấy Ấn chế Thương để hộ Quan làm dụng, nhưng Ông Trump hình như biết mình mà không biết Người (nên ngay cả những công thần, trưởng lão trong đảng CH  cũng không chấp nhận Ông và kể cả nhiều người uy tín chính trị bên ngoài nữa…) thì làm sao Ông tiến thân trên Quan lộ.?!

Cái ách nạn của Ông Trump chính là :

    Toàn Trụ toát khí Hỏa-Thổ, không chút Kim-Thủy thấu ra, lại là hóa thần vượng. Trụ có Giáp Quan nhưng bị hỏa đốt tiêu (khó làm Quan chức, làm ngành nghề khác thì thuận lợi hơn). Đây là số quý hiển hơn người, tiếc rằng Vận Hạn không thuần nên cuối đời lao đao giảm phúc, không như ý…       

  Hai  Đại Vận sau thời điểm lập Thân (37t) toàn khí hỏa thổ thấu xuất có dư, nên là Vận rất gian nan, cuối chu kỳ phải khai 2 lần phá sản. Kể từ Vận Canh Tý là Vận Hỷ Thương quan vươn lên được (gặp Thương xem Ấn, dụng Thương cần phải tĩnh), nhưng Canh chẽ Giáp Quan nên cũng khó xoay sở quan trường (Vận này còn thêm 2 lần phá sản nữa. Tại HK, khai phá sản chưa chắc đã nghèo đi mà các đại gia chỉ giảm giàu, giảm Tài Lộc).

“…Thương quan kiến Quan, tâm địa uốn khúc, quỷ quyệt đa trá, kiêu ngạo khinh người, thường thấy người trong thiên hạ không ai bằng mình, quý nhân kỵ sợ,…” UHTB.

   Vận Tân Sửu (67-76t) là Vận cuối đời, bắt buộc phải công khai múa kiếm…là Vận Hỷ nhưng lại là Vận Thực (Thực không thích Ấn, tối kỵ Kiêu) nên bản thân xung đột nặng nề với những người bảo trợ ngay trong đảng CH, và với cả những bậc trưởng lão trên chính trường HK. Năm 2016 là Bính Ấn và Năm Đinh Dậu (2017) là 1 loại Kiêu thần.Vận Thực -Hạn Kiêu (dù có hợp chi địa) thì cũng khó thể nói Hạn này là cực tốt cho số Ông Trump.

Vận Nhâm Dần (77-86t) là Vận tốt nhất ở đầu Vận, gặp Dụng thần, nhưng thời gian và con người ở thế giới khác rồi…). Rõ là: “Làm Chúa thì thừa nhưng làm Vua thì thiếu”.)

 

*2/-Xem xét câu Phú về bất hiển công danh vì Mệnh Nhật-Nguyệt tại Sửu Mùi.

Xã hội VN hay Trung hoa ngày xưa đào tạo phái nam ra làm Quan, tham chính đề cai trị nước và an dân, và chỉ duy nhất chiều hướng này, con đường  này mà thôi. Vì thế, cách nói “Bất hiền công danh” từ câu Phú Nôm có chủ ý xác nhận rằng: Người có Nhật-Nguyệt đồng cung tọa Mệnh thì khó  có thể là Vua hay là Quan tột đỉnh (Tể Tướng) hay là lãnh tụ chính trị số Một (Tổng Thống hay Thủ Tướng) như thời hiện đại ngày nay. Nào đã có mấy Vị Vua hay Chúa tể nào có số Mệnh với Nhật-Nguyệt đồng cung Sửu Mùi !.

Nói cách khác, Ông Trump có thể là đại gia thành công số 1 của ngành địa ốc; có thể mộng thành thủ lãnh của đảng phái chính trị hay của tập thể quần chúng nào đó nhưng không thể là người số Một của các con số 1 trong Quan trường hay làm chính trị.

Tại sao? – Tại vì Phú nói thế: Người có Nhật-Nguyệt đồng cung tọa Mệnh thì “chính không bằng chiếu”. Nghĩa là: số Mệnh không phải là thượng cách !.

Ngoài ra, Mệnh Nhật-Nguyệt đồng cung tranh huy, tự cách cục đã có khiếm khuyết (nên là cách kém nhất trong các cách Nhật hay Nguyệt thủ Mệnh) nên rất cần hội tụ cát tinh và các thế giáp tốt đẹp. Người Nhật-Nguyệt đồng cung thường có tiền Vận lao đao nhưng về hậu Vận lại có cơ hội mát mặt (đây là lý do vì sao Ông Trump chọn ra tranh cử tại ĐH Thiên Di dù tuổi Ông đã  thành lão rồi – nếu biết tự điều chỉnh bản tính của mình cho thích hợp hơn thì may ra … hùm chết để lại da, hồi ký người chết viết còn có tiếng).

Hãy nhìn vào thế đứng của Nhật-Nguyệt cư Sửu Mùi mà suy diễn ra thêm…Tóm gọn lại là: Mệnh này khó phát Quan (vì Lương-Khoa hãm Triệt); Tài VCD vì Âm-Dương mông lung (Cự-Cơ thiếu song Hao); Tình cảm Thê Nhi thay đổi nhiều lần (dù rằng cung Thê ở tứ duy có Quyền-Lộc, xung Khoa thì có số ít nhiều cũng nhờ Vợ). Cung Thê là chỗ dựa an toàn và ích lợi nhất (để vận động phái Nữ và di dân…) thì chẳng may mới ra quân ngày đầu đại hội đảng CH thì đã bị tỳ vết, kém hay (có lẽ cũng bởi vì phúc bạc).

Mệnh Nhật-Nguyệt đồng cung thì phải nhờ vào cung Di  nên có thể dự đoán được rằng: Ông Trump chưa chắc thắng phiếu được tại quê nhà NewYork, là ngay nơi Ông đang sinh sống, chỉ vì  đối với Nhật-Nguyệt thì “chính không bằng chiếu” Mệnh.

Cách cục sợ nhất là Mệnh-Thân vô ỷ (không chỗ dựa) mà cái Ta hành động của Ông Trump lại làm cho người khác thương thì ít và có nhiều thêm kẻ thù (đây cũng là Phúc bạc vì “chính không bằng chiếu” nên đầu óc Nhật-Nguyệt tranh tối tranh sáng).

Môi trường và hoàn cảnh thật tế là vậy!.

 

*3/-Xem xét Ngày Bầu Cử Nov/8/2016.

Ngày Bầu cử tại HK là ngày (dl) Nov/8/2016=(âl) ngày mùng 9/10/Bính Thân

Ngày này vô cùng quan trọng trong thật tế, vì đây là mức đến tranh nhau kết quả bầu cử là thành hay bại. Trong khoa Tử vi, nấc thang giá trị tính từ ĐH là quan trọng nhất, kế đến là TH (lưu Niên), giảm lần xuống Tháng, Ngày, Giờ. Toàn thể hệ thống giá trị được an định bởi âm dương, ngũ hành,và các tinh đẩu để từ đây phân ra tốt xấu. Có thể hiểu là:

Ngày/Giờ chỉ là một trong những hệ luận tất yếu của Tháng/Năm/ hay Đại hạn (10 năm).

Năm/Tháng/Ngày hoạnh phát #1 phải nằm trong một đại vận thích hợp, phải tương ứng với  Mệnh-Tài-Quan-Phúc và còn vài yếu tố khác nữa (mồ mả, phong thủy)

 

Trường hợp Bà Clinton:

  Ngày Bầu Cử nhập cung Dậu và liên hệ đến các cung Thìn /Tuất/và cung Mão (bị Triệt)

   [ Cung Dậulưu Nô/Điền, cung Thìn là Phu/lưu Mệnh, cung Tuất là Quan/lưu Di ]

Trong ngày Bầu cử, Bà Clinton mong chờ các nổ lực trong quá khứ chủ yếu đến từ :

-Cung Nô (là tầng lớp cử tri; từ những người cộng tác, thân hữu, và từ đảng DC,….)  +

-Cung Điền (là toàn bộ sức mạnh/khả năng của guồng máy và chính sách tranh cử ,…) +

-Cung Di và Quan (là những tác động ảnh hưởng đến từ môi trường bên ngoài chủ yếu là từ tài năng vận động (cung Quan) và từ người Chồng (Quan cũng là  Phu quân của Bà)…

 

Trường hợp Ông Trump:

   Ngày Bầu Cử nhập cung Dần và liên hệ đến các cung Hợi/Mão/và cung Thân. 

[ Cung Dần là lưu Mệnh/Phụ-Mẫu, cung Hợi là Thê/lưu Tử, cung Mão là Phúc/lưu Phụ-Mẫu, và cung Thân là Tật Ách/lưu Di ]

Trong ngày Bầu cử, Ông Trump hy vọng kết quả đến từ các nổ lực chủ yếu như:

-Cung Mệnh (là tài năng và sự lôi cuốn của cá nhân chính mình…) +

-Cung Phụ Mẫu (là guồng máy vận động của đảng CH với những người bảo trợ…) +

-Cung Tử và Thê (là sự lôi cuốn và tác động hổ trợ của ngườì Vợ và các Con, Cháu) +

-Cung Tật Ách (là sự lôi cuốn và tác động của lập trường và thông điệp của bản thân) +

-Cung Phúc đức (là ảnh hưởng của những tác động nhân quả trong quá khứ và hiện tại…)

 

*-Nhận Xét: Với góc nhìn của khoa Tử vi, sự huyền diệu đến mọi ngỏ ngách liên quan của ngày Bầu cử TT HoaKỳ từ 2 lá số trên đã được phơi bày… Hẳn nhiên, trong ngày Bầu cử, Bà Clinton có nhiều thuận lợi tốt hơn Ông Trump (phối hợp các tinh đẩu của từng lá số rồi so sánh thì rõ. Xin không được nêu ra đây).

Tại đây, người viết bài này muốn nhấn mạnh đến ý nghĩa xuất hiện từ cung Tật Ách và cung Phúc mà Ông Trump đang muộn màng cần đến.

 

-Cung Tật Ách lục hại cung an Thân cư Thê: Cung Mệnh và cung an Thân  là 2 cung riêng biệt nhưng tuy hai mà là một. Cung Mệnh và Tật Ách liên hệ nhau, cung nào đều có vai trò đó, nhưng cung Tật Ách còn là nơi mà dòng nghiệp quả chảy qua. Tính chất tiên thiên của Tật Ách chỉ là một biến số, cùng với nhiều biến số khác,  nằm trong một phương trình đời sống thành bại mà mỗi giai đoạn thời gian (thể hiện qua Vận hay Hạn) là kết quả có sự đóng góp hổ tương nhân sự. Cung Tật Ách (mang tính họa nạn nhiều hơn phước lành) ở thế hại cung an Thân (là cái Ta hành động) thì đây là khuynh hướng của 1 luồng nghiệp xấu đưa đẩy …mà Ông Trump đang thể hiện (Bà Vợ Melania đã bị văng miểng cũng chỉ vì ÔngTrump) Mệnh chủ là Ta nhưng biết tai biến thì còn ở trong TậtÁch

trump_clinton

-Cung Phúc ảnh hưởng đến tương lai :

Trường hợp của Ông Trump, cung Phúc ở thế lục hại sao Vua (Tử vi); sẽ quyết định gia hay giảm ảnh hưởng tốt/xấu hay thúc đẩy vô hình  quyết định bỏ phiếu của cử tri HK và những nỗ lực riêng của chiến dịch vận động tranh cử Tổng Thống HK.

 Cung Phúc là mặt gương đàng sau của Mệnh-Thân vì tam hợp Phúc (Di-Phúc-Thê) bao giờ cũng đối xứng/đối nghịch với Mệnh (Mệnh-Tài-Quan). Mối liên hệ của Mệnh-Phúc như hình vớì bóng. Nhìn cung Phúc có thể biết phần lớn mệnh số sang hèn, hung cát của một đời người

 Phúc cung như một lu nước. Nếu một người chỉ biết lợi dụng Phúc tốt của riêng mình mà thụ hưởng nhưng không biết tu bổ, bồi đắp thêm thì lu nước đến ngày nào đó sẽ cạn kiệt lợi ích…

  Những chỉ dấu Phúc bạc có thể đoán biết được phần nào qua cố gắng đương đầu với những thử thách trong đời sống….mà tai họa cứ dồn dập vương vấn lên người.

 Ông Trump đã cố gắng toàn diện, nhiều mặt mà mặt nào cũng gặp nhiều trở lực, không như ý. Ông Trump đã có tiền bạc, danh vọng hầu như ngất trời… nhưng chỉ có một điều mà Ông hình như chưa có, đó là Phúc dư hay dư Phúc đức!.

 Nếu quả thật Phúc của Ông Trump đã cạn thì tuổi thọ cũng tàn theo chỉ vài năm nữa thôi.

Bài viết này nhìn vấn đề thời sự qua Tử vi. Do bởi đây là diễn đàn đại chúng nên bài viết không thể đi sâu vào chi tiết học thuật mà cần dễ hiểu, và đơn giản. Phương pháp luận số cũng vì thế được xào nấu theo cung cách “Mì Ăn Liền”.  Khoa Tử vi chỉ chính xác tương đối và những tín hiệu tốt/xấu trên lá số Tử vi giống như đèn Xanh/đèn Đỏ của hệ thống đèn lưu thông (đây chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ). Khi Bạn lái Xe vượt đèn đỏ, nào ai dám chắc rằng Bạn sẽ gặp tai họa ngay tức thì (?!) ./.

Mong tất cả mọi người an lành và may mắn…

 

Lê Anh  (tháng 8/2016)

Đoàn Minh Đạo: Dòng Thơ Trí Tuệ

 

Trần Thu Miên

LuoiMua

Lưới Mưa (2016) là thi phẩm thứ hai sau khi ông cho ra đời Trầm Tích Biển (2015). Cả hai tập thơ đều phát xuất từ một dòng tâm thức tràn ngập chữ nghĩa của trí tuệ.  Việc giới thiệu thơ Đoàn Minh Đạo, với tôi, rất khó vì hai lý do. Thứ nhất vì ông thầy giáo của tôi thời trung học ở tu viện Châu Sơn, Đơn Đương, và, thứ hai vì chữ nghĩa cùng tư tưởng trong thơ ông ở một vị trí cao hơn khả năng ngôn ngữ thi ca của tôi, một người xa lìa Việt Nam đã hơn 4 thập niên.  Tuy nhiên, khi nhận được hai món quà văn nghệ của thầy mình tôi hãnh diện và rất vui. Trong bài giới thiệu ngắn này, tôi sẽ bàn về dòng thơ Đoàn Minh Đạo dựa trên thi phẩm Lưới Mưa (2016).

 

     Thi tập Lưới Mưa gồm 19 bài thơ không nằm trong các thể loại thơ quen thuộc từ hình thức, ngôn ngữ đến tư tưởng. Thơ ông không đi ngay vào trái tim người đọc dễ dàng, nhưng đòi hỏi người đọc sự suy tư trên từng dòng và từng con chữ.  Để kể lại một nơi chốn cũ đã tan nát vì bom đạn trong chiến tranh, ông không kể như Trịnh Công Sơn, “Đại bác đêm đêm dội về thành phố,” nhưng qua thơ ông ta vẫn cảm nghiệm được ẩn hiện lác đác trên dòng chữ cô đọng nét hoang tàn đổ vỡ và những nỗi khổ cùng cực của chiến tranh:

 

Những thân tàu bong tróc ống khói và cần trục gỉ sét

Giương những cánh tay kêu cứu mệt nhoài

Thành phố nát nhàu những con đường thống thuộc

(Lưới Mưa, tr. 9).

 

     Cũng trong bài Lưới Mưa, ông diễn tả sự nghèo đói cơ cực của một miền quê xưa (có lẽ Quảng Trị).  Dù tôi chưa đến nơi chốn này, nhưng đọc kỹ những dòng thơ ông viết, tôi đã hình dung và cảm nghiệm được sự đói rét nghèo nàn của người dân:

 

Dáo giác cơn rét luồn về đất Quảng

Ngập ngụa bùn mưa Cam Lộ

Xoay chiều chiếc áo tơi lá

(Lưới Mưa, tr. 10)

 

     Chiếc áo tơi, theo mẹ tôi kể khi tôi còn bé, là áo che mưa của dân nghèo được dệt bằng lá cỏ loại dùng lợp mái nhà.  Người Việt Nam sinh ra và lớn lên ở thành thị hay từ giữa thế kỷ 20 đến nay có lẽ chẳng ai nhìn thấy chiếc áo tơi bao giờ.  Trong vài câu thơ trên Đoàn Minh Đạo đã vẽ lại được hình ảnh lịch sử thời bóng văn minh cơ khí và thị trường chưa phát triển ở Việt Nam.

 

     Từ hình ảnh quê hương cũ ẩn hiện qua ngôn ngữ thi ca, ký ức ông vẫn còn đầy kỷ niệm để ôm giữ, để ôn lại, nhưng ông cũng biết rằng những thương nhớ có dầy đến đâu đôi khi chả còn là gì:

 

Hoài niệm trân châu đôi khi là bụi đất…

(Và),

Giữ cũng từng là buông bỏ em ơi

(Lưới Mưa, tr. 11)

 

     Một bài thơ tôi yêu thích trong thi tập Lưới Mơ là bài “Tưởng Niệm, tr. 12-15). Bài này, tôi nghĩ, Đoàn Minh Đạo nói về một biến cố lịch sử rất đau thương bi đát của dân Miền Nam, Việt Nam, đó là ngày 30 Tháng Tư, 1975.  Nhưng, không như vố số những bài thơ bài văn đã được viết về bi cố lịch sử này, ông dùng ngôn ngữ đầy ẩn dụ:

 

Tháng Tư

Bằng trí nhớ cánh hạc đập vào khoảng lặng

Bất chợt là vùng mây bão

Tâm bão vịnh giả định

Lửa dập thẳng vách trường sơn

Đêm hoả châu mù mờ tung trên thành phố

Chiến tranh cứ vinh danh sự rẻ rúng con người

(Tưởng Niệm, tr. 12)

 

Và hậu quả quốc nạn 30 Tháng Tư được ông diễn tả tinh tế:

 

Man rợ phun đầu độc một khoảng trống thơ

Bằng những công trường mù

Dằn đầu ngọn roi sắt sau lưng

Mặt nạ cứu tinh biến hình khuôn chiếm đoạt

(Tưởng Niệm, tr. 13)

 

     Bài thơ “Khi Tôi Trở Về” (tr. 37), theo tôi, là một vẫn nạn về đức tin tôn giáo và quyền lực thần linh. Độc giả tín đồ Công Giáo hay người có chút ít kiến thức về tôn giáo này sẽ nhận ra ngay một nghịch lý giữa đức tin, giáo điều tín lý và logic đời thường. Làm sao một người với khả năng tư duy và lý luận khoa học lại có thể uỷ quyền phán xét lương tâm mình cho một con người?

 

Khi tôi về giữa đời vùi dập

Thần linh lột hết hành trang…

…………………………….

Đích thị lời phán quyết trang trọng thật sự

Đích thị trên toà phán xét

Đích thị ngồi toà giải tội

Băn khoăn nỗi thụ tạo lại quá quyền năng….

(Khi Tôi Trở Về, 37)

 

     Từ tôn giáo sang tình yêu, Đoàn Minh Đạo làm thơ như đạo sư ban bài sấm giảng. Chẳng hạn như trong bài Lòng Hoa (tr. 21-23). Ông viết:

 

Chuyến xe băng đèo

Trên vai người sửng sốt nhập hồn thu (tr. 21 )

 

     Hai câu này làm tôi liên tưởng đến đoạn đường đèo Đà Lạt qua Trạm Hành xuống Đơn Dương dù có thể ông tả về một nơi chốn khác, nhưng chẳng sao cả. Và ông phán tiếp:

 

Thị trấn liêu xiêu cao ốc dựng đều kẽm núi

Con đường đổ lại dòng sông

Trú ẩn cửa mật ngôn

Mở ra vừng ơi dẫn lời cứu rỗi…(tr. 22)

 

     Những hình ảnh trên thì hơi lạ, khó tim thấy ở quê nhà hơn 40 năm trước, tuy nhiên ta vẫn hình dung ra đoạn đường núi đồi nào rất xa và cũng rất gần. Dường như, không, chắc chắn là con đường ven biển từ Los Angless lên vùng Cựu Kim Sơn. Ở giữa cảnh núi đồi lạ lẫm nhưng gần kề ấy ông nói nhỏ với người yêu:

 

Hãy nói bằng những lời chim chóc

Xa mãi tuổi thơ cây cỏ núi rừng

Em yêu đừng thả tôi lạc lõng bên đường (tr. 22)

 

Đẹp quá hình ảnh người tình ông trong ba câu thơ sau:

 

Thương mãi em về lại phố

Nắng còn vương vai áo lụa

Xôn xao hồn cỏ mây hồng (tr. 23)

 

     Ở nơi chốn xa lạ, ông vẫn níu giữ hình ảnh “vai áo lụa” của hiện tại, nhưng cũng là từ một quá khứ, xa, có lẽ rất xa.  Cách đây vài năm, thầy tôi gửi tôi đọc bài thơ Thiền của ông, tôi vội chuyển ngay đến Nhất Chi Vũ nhạc sĩ bạn tôi, và nghĩ thầm, thế nào NCV cũng soạn thành ca khúc.  Quả nhiên bài thơ “Thiền Và Chiêm Niệm” nguyên bản đã thành ca khúc với dòng nhạc ẩn ấp chút dân ca Việt Nam, và cũng, ngất ngư vài âm giai Jazz. Bài thơ có những lời thơ nghe như Thánh Vịnh Kinh Thánh:

 

Từ ngoại thành cẩm chướng

Từ tảng đá góc tường

Từ nỗi đời dao động

Từ vật vã mù sương……

(Và rồi:),

Từ phán tán chảy vào ngày vĩnh quyết

(Thiền và Chiêm Niệm, Nhạc Nhất Chi Vũ, Boston)

 

     Thơ trong Lưới Mơ đề cập tới những khía cạnh gần gũi cuộc đời, nhất là cuộc đời một người biệt xứ.  Dù thi từ của ông không là ngôn ngữ đời thường, nhưng người đọc chiêm niệm ra được những mất mát, băn khoăn, hoài nghi, ray rứt về cuộc sống ẩn hiện sau những ẩn dụ trên từng dòng thơ và từng con chữ của tác giả, và dĩ nhiên, cũng là của chúng ta.

 

     Sau cùng, thơ Đoàn Minh Đạo cũng mở ra cho chúng ta cánh cửa hy vọng để bước qua những hoài nghi quằn quại của kiếp người. Vì, cho dù ta có thắc mắc hoài nghi về thân phận làm người chẳng có gì tuyệt đối hoàn hảo:

 

Tại sao ta mãi lớn lên quặt quẹo

Tại sao ta cứ lượn lờ trong hẻm ám ảnh mù câm

(Đất Hưu Canh, tr. 72)

Nhưng ta vẫn phải:

Đánh thức những câu thơ say ngủ đêm qua

Tiếng kèn và đàn dây như thúc giục chúng ta

(Đất Hưu Canh, tr. 72)

 

(Vì):

Một ngày mới sẽ mở sang trang viên nàng ngập nắng

(Đất Hưu Canh, tr. 77)

 

     Trân trọng mời bạn đọc đi vào cõi thơ Đoàn Minh Đạo, một cõi tràn ngập ngôn ngữ ẩn dụ trên dòng trí tuệ.  Bạn có thể tìm thơ Đoàn Minh Đạo trên các trang nhà thi ca như: Gió O: http://gio-o.com,  và Phố Văn: http://phovanblog.blogspot.com.

 

Trần Thu Miên
Boston College, cuối hè 2016

ThienVaChiemNiem_1page

Xebanhmi2

 

 

“Có phải Em là người không bao giờ tôi gặp,

Mới là người tôi ấp ủ trong tim”

(Tôi tìm em, – Tạ Hữu Thiện)

 

Gởi Phạm Quang Chiểu, bạn tù

hlh

 

 

Tôi “rửa lon”, – chuẩn úy lên thiếu úy –  nhằm Tết Trung Thu, đành bấm bụng mà đãi mấy xếp bánh Trung Thu và uống Champagne.

 

Dĩ nhiên, ngoài mấy ông lớn, không có đám “đệ tử” của tôi, là mấy hạ sĩ quan, binh nhất, binh nhì làm chung phòng. “Đệ tử” cũng không ai dám lai vãng ở câu lạc bộ, khi thấy mấy ông lon lá đầy mình tập trung ở đó.

 

Tối đó, nhằm phiên “sĩ quan trực”, xuất hiên ở phòng trực xong, tôi xuống câu lạc bộ, uống càphê với “lính lác”, cùng trực với tôi.

 

Trời chạng vạng, Hạ Sĩ Đảnh tới. Anh chàng tài xế nầy là người thường lái xe đưa tôi đi công tác Saigon hay các đơn vị phụ cận Saigon. Tôi khoái đi với tài xế Đảnh, nhắm chừng, anh ta cũng khoái lái xe cho tôi đi. Có lẽ vì vui!

 

Chuyện vui thứ nhất là anh ta thường vượt đèn đỏ.

Saigon hồi ấy, cuối thập niên 1970, đèn đỏ không nhiều, nhưng ưa vượt đèn đỏ là cái tính nghịch ngợm của anh ta. Có lần tôi nói: “Coi chừng đụng xe có ngày!” Anh ta bảo, “Chuẩn úy yên tâm. Tài xế ngon lành mà!”

 

Cũng có lần bị “đệ tử của Cò Dung” (Cảnh Sát Công Lộ) thổi còi, Hạ Sĩ Đảnh dừng xe, xin lỗi: “Tôi phải đi “hỏa tốc”. Ông Trung Sĩ Cảnh sát Công lộ không chịu, đòi lập biên bản, không thì gọi Quân Cảnh tới.

 

Đảnh nói: “Ông Cò muốn chi cũng được, nhưng tui đi “hỏa tốc”, chậm một chút là “chết cả đám.”

 

Nói xong, Hạ Sĩ Đảnh lôi trong xe ra một cái phong bì nhà binh, màu rơm, ngoài đóng dấu “HỎA TỐC”, nói:

 

-“Tui không nói ông cò làm khó, ông coi nè, quả tình tui đi “hỏa tốc”, bắt tui chờ đây cũng được, nhưng làm ơn ký tên vô mặt sau bì thư nầy, để có trễ hạn, tụi có cớ trình với thượng cấp.”

 

Tưởng thiệt, Thầy Trung Sĩ Cảnh Sát nói: “Thôi anh đi đi, việc quân như… cứu hỏa mà.”

 

Xe chạy rồi, Hạ Sĩ Đảnh và tôi nhìn nhau cười.

 

Tôi hỏi:

 

-“Ông” xài cái mửng nầy bao lâu rồi!”

 

-“Ông Thiếu Úy Chương bày cho em đó. Ông ấy là “luật sư”  bị động viên. Gặp đèn đỏ, ông bực mình, ông bày mưu vượt đèn đỏ cho lẹ.”

 

Tôi cười:

-“Bác sĩ dạy người ta vệ sinh, nhưng bác sĩ ở dơ thấy mẹ! Luật sư thì bảo vệ luật, nhưng ưa làm chuyện phạm pháp. Buồn cười thật!”

 

Không ít lần tôi đi công tác ở Chợ Lớn, “ma chay” mà, nghĩa là vô tận nhà tử sĩ, vô hẽm quẹo hai ba lần mới tới, để rồi “Báo tin người tử trận cho thân nhân”. Thanh niên Ba Tàu có cái lạ, một là vô cùng nhát gan, chạy chọt khỏi đi lính hay làm “lính ma lính kiểng”. Còn tình nguyện thì đi thứ dữ: “Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Cọp Ba Đầu Rằn, v.v…  Tôi phải đến “gia đình tử sĩ” không ít lần, sau khi lo cho thân nhân đâu đó xong xuôi, mới an tâm, có dư chút thì giờ mà “nghịch ngợm”. Thầy trò tôi, “ham vui”!

 

Chợ Lớn không thiếu con gái Tầu, đẹp hay không, không cần biết, nhưng “lạ”. Nhìn là biết ngay “gái Tầu”.

 

Có hôm tôi hỏi Đảnh – Đảnh sinh đẻ ở Chợ Lớn, nhưng cha mẹ thì Tầu “rặc”. Ba Đảnh còn nói được chút ít tiếng Việt, còn mẹ anh ta thì “mù câm”, nói chuyện với người Việt, thường phải có “thông dịch viên”:

 

-“Muốn chọc mấy con nhỏ nầy thì nói sao mậy?”

-“Thì “ông” cứ nói “ngộ ái nị”. Đảnh trả lời!

-“Ngộ ái nị” là tôi yêu cô?” Tôi lại hỏi.

-“Đúng rồi!” Đảnh nói.

Tôi cười, nói:

-“Nó chưởi cho mà nghe!”

-“Không đâu – Tụi nó hiền lắm! Có đứa nó nhăn răng cười lại nữa. Ông cứ chọc đi cho vui.”

 

Nghe lời Đảnh, tôi diễn cái trò “Ngộ ái nị” nhiều lần; cũng vui. Mấy cô Tầu Chợ Lớn đang đi bên lề đường hẽm, bỗng thấy một sĩ quan ngồi trên xe Jeep, ngoái cổ ra nói vậy, họ ngạc nhiên. Thường cúi mặt tiếp tục đi, e thẹn; có cô trố mắt nhìn, ngạc nhiên; có cô cười tủm tỉm.

 

“Cầm dao lâu ngày đứt tay”. Mẹ tôi dạy như vậy, nên có hôm tôi bị “tổ trác”.

 

Đúng ra, tôi không nên nói câu ấy với cô nàng nầy. Trông qua, thấy hơi khác, không phải cách ăn mặc như gái Tầu Chợ Lớn, nhưng vì quen thói, tôi nói bừa: “Ngộ ái nị!”

 

-“Phải không đó! Tôi không phải Tầu đâu nhá.”

 

Tôi tái mặt, nói với Đảnh: “Dọt lẹ! mầy! Không phải Tầu.”

Hai chúng tôi lại cười ngất nga ngất ngưởng. Không lo. Cô ta đi bộ, chúng tôi đi xe, làm sao cô ta theo kịp mà chưởi chúng tôi.

 

 

&

 

 

Tối đó Đảnh cùng trực với tôi, anh tìm tôi ở câu lạc bộ. Đưa cho tôi ổ bánh mì nguội gói giấy báo, Đảnh nói:

 

-“Tui mua ổ bánh mì mừng ông thầy lên lon.

Tôi hỏi:

-“Uống càphê hay bia, tui đãi ông?

-“Một càphê đá”, Đảnh gọi vào bếp. Thấy tôi đang bẻ đôi ổ bánh mì, Đảnh nói:

-“Ông thầy ăn hết đi. Đừng bẻ cho em.”

-“Ngon không mầy?” Tôi hỏi.

-“Ngon lắm!”

 

Dù mới ăn cơm chiều ở nhà xong, tôi vẫn ăn hết ổ bánh mì thịt nguội. Tôi khen ngon.

 

Đảnh nói:

-“Thiếu úy biết xe bánh mì nầy không? Khi nào đói, ghé lại mua mà ăn!”

-“Ở đâu?” Tôi hỏi.

-“Ngã năm Chuồng chó” này nè! Xe nầy mới xuất hiện hơn tháng nay. Người ta mua đông lắm. Cô bán hàng cũng… đẹp. Ra trễ là hết hàng.” Đảnh ca tụng xe bánh mì.

-“Để tui ghé lại coi!” Tôi nói.

Đảnh chọc quê tôi:

-“Mua bánh mì chớ không phải nghía cô chủ đâu nhé! Tranh không lại đâu!”

-“Tui chưa vợ mà “ông”, hơn thua cũng phải lo kiếm vợ chớ!” Tôi vừa nói đùa vừa cười.

 

 

&

 

 

“Ngã Năm Chuống Chó” nằm ngay trên đường tôi đi/ về mỗi ngày. Bên kia ngã năm là “Trại Cẩu Cẩu”. Chúng tôi nói đùa như thế thay cho cái tên “Trại Quân Khuyển”; bên nầy là “Xe Bánh Mì Thịt Nguội”.

 

Cái xe thì cũ, chủ nhân thì mới. Để tiết kiệm, chắc người chủ mua lại cái xe của ai đó.

 

Khoảng 6 giờ chiều, trời mùa hè, còn sớm, cái xe bánh mì đã xuất hiện với hai hoặc ba người bán hàng: Một người đàn bà lớn tuổi, có lẽ là mẹ, – Tôi đoán đúng, sau nầy tôi nghe hai cô con gái cùng bán gọi bằng má. Dáng dấp của bà, trông có vẻ là một cô giáo hay công chức, thư ký, không phải là người lao động chân tay. Hai cô gái thì một cô là chị, 17 hay 18 tuổi, không đẹp, nhưng nhìn vào biết ngay là người phúc hậu, – giống mẹ – và cô em, 14 hay 15 tuổi gì đó. Tuổi nầy thì dành cho mấy anh sắp tốt nghiệp trung học hay mới vô đại học. Tuổi tôi thì phải “chọc” cô chị mới xứng đôi. “Nồi nào úp vung nấy”.

 

Ban đầu, chiều nào tôi cũng ghé mua bánh mì. Trên đường vô trại thì đem vô trại ăn. Trên dường về nhà thì mua về nhà, ai ăn thì ăn. Mua bánh mì là cái cớ để “ngó” cô chị. Trước khi cầm ổ bánh mì lên xe, bao giờ tôi cũng tần ngần, hay giả bộ tần ngần. Khi nào đông khách, cô chị mới không thấy cái vẻ “đi không đứt” của tôi. Khi vắng khách, dĩ nhiên cô ta thấy mà thấy rõ nữa. Tôi đóng kịch hay lắm, hồi còn đi học, văn nghệ hay lửa trại, thế nào cũng có màn kịch hài của tôi và bạn học.

 

Có lần tôi còn lục ví kiếm tiền, giả bộ “sĩ quan nghèo”. Bọn con gái mới lớn, hay thương người nghèo, như “Gia Huấn Ca”: “Thấy người đói rách thì thương.”

 

Sau lần tôi diễn trò “sĩ quan nghèo” đó, cô chị nói: “Từ nay, mỗi lần, Hạnh bớt cho thiếu úy một đồng một ổ.” Tôi mừng! Thế là cô ta “trung kế” của tôi. Sau đó, tôi tìm cách hỏi chuyện khi vắng khách. Mua hơi trễ thường vắng khách:

 

-“Hạnh có nghĩ tên Hạnh thì được hạnh phúc không?”

-“Sao lại không? Hạnh là tiếng trước của Hạnh Phúc mà!” Cô ta trả lời, với một sự tin tưởng mạnh mẽ, lộ trên mặt.

-“Xin lỗi!” Tôi nói. “Tên cô làm tôi nhớ cái chuyện ngắn “Hạnh” của Khái Hưng trong “Hai Buổi Chiều Vàng.”

 

Mặt cô ta xịu xuống. Có lẽ cô ta đã đọc truyện ngắn đó. Chương trình Việt Văn lớp Đệ Nhị phải học “Tự Lực Văn Đoàn””.

 

Thấy vậy, tôi nói, giọng hơi hốt hoảng:

-“Chết! Tui vô ý quá, xin cô đừng buồn. Nhưng cái truyện ngắn nó ám ảnh tôi dữ lắm, tôi thấy thương những người tên Hạnh. (Phần nầy tôi nói hơi chậm lại một chút, ít ra, cô ta phải nghe rõ mấy tiếng “Tôi thấy thương những người tên Hạnh). Xong, tôi lại rối rít xin lỗi một lần nữa, rồi vội vàng cầm ổ bánh mì lên xe dọt mất.

 

Làm như vậy là “đúng bài bản đấy”. Mình gây cho người ta một ấn tượng gì đó, rồi vội vàng xin lỗi mà dọt lẹ. Chắc chắn, người đó không thể không nghĩ về mình: Ghét, thương, giận, vui…

Cái gì cũng được, nhưng phải để lại một ấn tượng. Đó là “nghệ thuật cua gái”, nhiều nhà văn, nhà thơ hay dùng đòn phép nầy! “Nghệ thuật” nầy, tôi “học lóm” bên Pháp, khi tôi học luật bên ấy, do một số bạn bè qua Tây “truyền nghề” lại cho. Con gái Paris đẹp, dễ “cua”, nhưng phải có “nghệ thuật”. “Nghệ thuật” nầy có từ lâu đời của dân Paris chính hiệu.

 

Tối hôm sau, tôi lại ghé mua bánh mì!

Hạnh làm bánh mì cho tôi, sau khi chào tôi qua loa. Tôi đoán chừng trong lòng Hạnh cũng “đánh lô-tô” đấy. Vẻ bình tình bên ngoài, tố cáo những ngọn sóng trong lòng. “Đưa người ta không đưa sang sông, Sao có tiếng sóng ở trong lòng”. Thâm Tâm bảo có sông mới có sóng. Ở “Ngã Năm Chuồng Chó” nầy, làm gì có sông, nhưng chắc cũng có “sóng trong lòng” đó.

 

Tôi lại đóng kịch như các hôm trước, tay cầm ổ bánh mì, chân “rời rả” đi ra chỗ dựng xe. Bỗng tôi nghe Hạnh gọi tôi: “Thiếu úy!”  – Tôi dừng lại chờ đợi. Hạnh nói: “Thiếu úy muốn nói chuyện với Hạnh, mai mốt đến giờ nầy hay trễ hơn một chút.”

 

Bấy giờ tôi mới để ý thấy trước xe bánh mì không còn khách.

 

Tôi quay lại, nói, trầm tỉnh: “Thế nào rồi tôi cũng đi xa. Nếu Hạnh và tôi có nói gì đôi điều với nhau, cũng là một kỷ niệm.”

Hạnh nhìn tôi, hơi ngạc nhiên, vì câu tôi nói: “Tôi cũng đi xa”. Tôi cúi đầu chào Hạnh, miệng lí nhí: “Tối mai tôi lại ra mua bánh mì.”

 

 

&

 

 

Trong chiến tranh, gia đình nào cũng có nhiều điều lo lắng. “Em nghĩ tới một điều em không dám nghĩ, nghĩ tới một người đi giữa chiến tranh”. Tô Thùy Yên hay Trần Thiện Thanh nói vậy, hát vậy. Đối với những gia đình có người thân ngoài tiền tuyến, có bao giờ hết lo lắng.

 

Gia đình Hạnh là gia đình cố cựu, một “tiểu công chức” của đất Gia Định nầy. Thân phụ cô làm ở Ty Bưu Điện. Mẹ là cô giáo tiểu học. Nguồn gốc chắc cũng không phải là nghèo. Ngôi nhà họ đang ở, tuy là nhà cũ, ba gian, hái chái, lợp ngói âm dương, trong một khu vườn có trồng nhiều cau, bên cạnh đường Lê Quang Định cũ, là cái nét chung của những gia đình cố cựu khá giả nơi nầy.

 

Nếu không có chiến tranh, gia đình nầy có thể sống no ấm, êm đềm. Tuy nhiên, một phần vì xã hội phát triển, con cái cần phải tốt nghiệp đại học, nên chi tiêu gia đình tăng lên. Đó là điều vất vả thứ nhất cho cha mẹ.

 

Thứ hai, gia đình Hạnh lại chỉ có một con trai cả, tiếp sau là ba em gái, Hạnh là chị gái lớn nhứt. Anh của Hạnh, Luận, đang học Luật, bỗng nhiên tình nguyện nhập ngũ. Từ khi Luận vô quân trường, cho đến khi anh ra đơn vị đóng ở Bình Định, sợ con không đủ sống vì tiền lương nhỏ, ba má Hạnh phải lo “tiếp tế” cho con trai. Gánh nặng tài chánh, đã nặng, lại nặng thêm. Ba má Hạnh, nhất là bà mẹ, phải vất vả. “Xe Bánh Mì Thịt Nguội” nầy xuất hiện, là cái mục đích kiếm thêm tiền cho gia đình và cho cậu con trai đang ở ngoài chiến trường.

 

Ba Má Hạnh thương con trai, dĩ nhiên, vừa là con trai độc nhứt, lại vừa “đang ở lính”. Hạnh và các em Hạnh cũng rất thương Luận; anh trai mà! Đứa con gái nào lại chẳng muốn có một người anh trai, mà Luận thì vui tính, hay chọc ghẹo cho các em gái cười. Hạnh nói: “Anh ấy đi lính rồi, nhà trống trải lạ lùng. Nhiều khi đi học về, không thấy ảnh, muốn khóc luôn.”

 

Tôi hỏi: “Ở nhà ổng quậy dữ không?”

-“Cũng có, nhưng mà vui thôi. Đám bạn Hạnh, không cô nào không bị anh ta ghẹo. Ghẹo nhưng lịch sự lắm. Con nhỏ nào cũng nói “Ghét anh mầy ghê!” Nhưng ảnh đi rồi, con nào cũng hỏi thăm, hỏi hoài. Anh là người vui tính, đem nụ cười lại cho tụi nó mà!”

 

-“Bồ nhiều không?” Tôi lại hỏi.

-“Anh ấy mà yêu ai! mà ai chịu ảnh được, ngoài bọn em gái ảnh.”

-“Không yêu ai?” Tôi hỏi.

-“Hình như ảnh nghĩ ảnh sẽ đi lính, nên không muốn “dây dưa”.

-“Tại sao lại cứ nghĩ chuyện đi lính. Con trai độc nhứt. Cha mẹ già 60 tuổi, có điều kiện mà! Bộ ưa làm ông tướng chắc!” Tôi nói, như có vẻ cằn nhằn.

 

-“Đừng nói vậy” Hạnh nói – “Nghe được, ảnh buồn đó! Ba má Hạnh chưa tới 60 tuổi, mà ảnh thì hình như có cái máu “Nam Bộ Kháng Chiến”, ngày trước thì người ta hăng hái chống Tây, ngày nay thì hăng hái chống “ngoài kia xâm lăng” mình. Thiếu úy nhớ Lục Văn Tiên không?”

 

Tôi đọc: “Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha!” Rồi tôi nói tiếp: “Đúng rồi! “Lòng trần còn tơ vương khanh tướng” mà làm chi!”

 

 

&

 

 

Mấy hôm sau, lại trúng phiên trực. Ký tên vào sổ trực ở “Phòng Trực”xong, tôi lại xuống câu lạc bộ, tay cầm hai ổ bánh mì, một cho tôi và một cho Đảnh. Hạ Sĩ Đảnh thường trùng phiên trực với tôi.

 

Chúng tôi hai người cầm hai ổ bánh mì mà “ngoặm”, Đảnh hỏi:

-“Dính chưa?”

-“Dính gì mầy?” Tôi hỏi.

-“Cô bán bánh mì đó!” Đảnh trả lời.

Tôi cười:

“Thưa rằng đừng lấy làm chơi!” Con nhà đàng hoàng đó mậy! Không giởn mặt được đâu!”

-“Em có nói “ông thầy” giởn đâu. Cô ta con nhà đàng hoàng. Còn ông thầy bộ không là gì chắc? “Môn đang hộ đối” chớ gì nữa.” Đảnh nói.

-“Thôi! “Lỡ khi mình không về, thì thương người…” Tôi cũng bị ám ảnh bởi câu chuyện của Luận, do Hạnh kể lại nên trả lời bằng cách đọc câu thơ của Hữu Loan.

 

-“Ông nói cười không! Học luật bên Tây về, làm việc ở “Bộ Chỉ Huy”, làm sao ra tác chiến. Chữ “thọ” to tổ bố mà còn…”

 

Tôi không trả lời Đảnh!

Tốt nghiệp ở bên Tây, “Me” tôi bảo đừng về, về là bị gọi động viên. Ba tôi không nói gì cả. Về chưa bao lâu thì tôi nhận lệnh gọi, vào quân trường.

 

Máy IBM cũng lạ. Cũng như mọi người, tôi cứ nghĩ là tôi sẽ trình diện Nha Quân Pháp, hay ít ra cũng “Quân Cảnh”. Vậy mà tôi lại “đi Thiết Giáp”, học lái xe “tăng” M-41, Thiết vận xa M-113, V.100, học bắn đại bác, đại liên, đội hình tác chiến, di hành, hộ tống, lội nước…

 

Có lần Đảnh hỏi tôi: “Học đại học bên Tây, trường ốc to lớn đẹp đẽ, bộ không hơn chui vô xe học lái M-113 hay sao?”

 

Tôi cười:

-“Do mình thích hay không thích. Sinh viên mà học đại học bên Tây thì còn gì bằng. Còn như học lái xe “tăng”, cũng có cái vui lắm chớ. Ngồi trên M-113, lõ mắt ra mà tìm một nơi cho xe xuống nước mà không bị mắc lầy. Ra giữa sông lại hồi hộp, qua bên kia cầu Rạch Chiếc, tìm chỗ để lên cho gọn, cũng thú lắm chớ. Nó cho mình những cái cảm giác lo lắng, hồi hộp, căng thẳng…”

 

Đảnh cười:

-“Ông thầy đúng là người ưa cảm giác. Em thì nhắm làm liều cho xong, chớ có thú vị gì đâu!”

 

Tôi nói:

-“Ông” nói vậy là không đúng đâu. hồi học trung học, tui cãi với ông thầy khi ông nói: “Cầm dao giết người, người ta cũng thấy cái thi vị của nó”. Sau, học lên nữa, tui thấy ông thầy có lý. Ông “Tự vệ Việt Minh” thấy khoái khi cầm mã tấu chặt đầu một người mà anh ta cho là “Việt Gian”. Trong Thập Tự Chinh, người Tây cũng thích thú giết một người Hồi Giáo. Tụi “ba K” cũng thấy sướng khi đốt nhà người da đen.”

 

Tôi phải giải thích thêm cho Đảnh các ví dụ trên vì trình độ học vấn Đảnh không cao.

 

Nghe những chuyện lịch sử như tôi kể, Đảnh thích tôi lắm.

 

Tôi học tà tà, miễn xong thì thôi. Ra trường đậu trên trung bình, chọn đơn vị xong, lại có sứ vụ lệnh về trình diện Bộ Chỉ Huy, do một động cơ có “mùi nhang trầm thứ thiệt”. Ông Tướng Vùng quen thân với ba tôi, sợ tôi “Tổ Quốc Ghi Ơn” bèn gọi về “Đơn vị không tác chiến”.

 

Về đây, tôi “đụng” ngay một chuyện làm tôi hơi chột dạ. Hôm lên trình diện Đại Tá Tham Mưu Trưởng, ổng nói, rất từ tốn, như bản tính của ông vậy: “Mình ở đây, không tác chiến, không cần phải đeo “lon” ngụy trang chuẩn úy à!”

 

“Lon” ngụy trang là “lon” màu đen. “Lon” thông thường là màu đồng.

 

Trong hai năm phục vụ ở đơn vị không tác chiến, tôi cứ “lấn cấn” hoài. Ở đây, từ các ông sĩ quan già lon nhỏ cho đến các sĩ quan “lon” to, “lon” nhỏ, ông nào cũng phải ít ra hai năm ở “đơn vị tác chiến” mới về đây. Có ông “đánh đấm triền miên”, “thừa sống thiếu chết”, “sẹo đầy mình”. Vả lại, tôi còn trẻ, còn thanh niên, suốt ngày dạ, dạ, thưa, thưa mấy ông lớn… mệt lắm, vì ở đơn vị chỉ huy, ông lớn thì nhiều mà ông nhỏ thì ít. Quanh đi quẩn lại, lon lá như tôi, đếm chưa đủ năm đầu ngón tay.

 

Thế rồi một đơn vị mới, – cấp trung đoàn -, được thành lập, vùng hoạt động là quanh Saigon hoặc rộng hơn chút ít, không phải đi xa. Ông Thiếu Tá Trưởng Phòng Nhân Viên, biết tính tôi, hỏi: “Sao? Ưa ở đây hay ra Thủ Đức. Đơn vị đóng ở Thủ Đức đó!”

 

Tôi giấu Ba Me tôi, và tôi xin đi! Đơn vị đóng ở Thủ Đức, cũng đi đi về về Saigon, tuy ít về hơn. Ba Me tôi không hay biết gì cả.

 

 

&

 

 

Tôi ghé vào Xe Bánh Mì gặp Hạnh, nói: “Còn gặp Hạnh nhiều lần nữa, nhưng không phải mỗi ngày. Tôi lên Thủ Đức.”

 

Hạnh nói:

-“Anh Hai mấy lâu nay không về phép. Có anh, Hạnh nói chuyện cho vui. Nay anh lại đi rồi…”

-“Đành vậy! Biết sao! Tôi cũng như anh của Hạnh vậy, đàn ông con trai mà! Đâu chịu ở yên!”

-“Đàn ông con trai”! Tiếng ấy nghe sao mà buồn vậy, cứ bỏ đi xa hoài, hết người nầy đến người khác.

 

 

&

 

 

 

 

Tôi cứ tưởng đơn vị còn đóng ở Thủ Đức lâu. Công việc tà tà, hành quân tà tà, khỏe chán!

 

Ai ngờ!

Bỗng “Mùa Hè Đỏ Lửa”. Nhân “Ngày Quân Lực 19 tháng 6”, Tổng Thống ra lệnh, ba tháng phải chiếm lại “Cổ Thành Quảng Trị”. Toàn bộ đơn vị tôi chuyển ra Trung, tăng cường cho “Chiến Trường Trị/ Thiên”, xe lớn, xe nhỏ xuống Vũng Tầu, lên tầu thủy ra Đà Nẵng, từ Đà Nẵng ra Huế rồi chia nhỏ, yểm trợ cho các đơn vị Dù và Thủy Quân Lục Chiến đang tiến chiếm Cổ Thành. Vậy là không những hành quân “mút mùa Lệ Thủy” như các đơn vị bạn mà chiến trường thì mù mịt khói bụi, cát bay, núi lỡ…

 

Tôi triền miên theo đơn vị. Con đường thì không dài, chỉ 60 cây số từ Huế ra Quảng Trị mà xe tăng đi chậm dữ: từ 19 tháng 6 đến 16 tháng 9 mới tới nơi, cũng may, chưa tới ba tháng như Tổng Thống ra lệnh.

 

Dĩ nhiên, sau chiến công, tôi được ông Trung Tá đơn vị trưởng gọi lên. Ông bảo:

-“Cậu về phép, một tuần.”

Tôi cãi:

-“Em có xin phép đâu!”

-“Tôi biểu cậu đi phép thì cậu đi đi!” Ông Trung Tá hơi to tiếng.

 

Tôi làm thinh. Hiểu rồi. Ba Me hay bạn bè Ba Me “vận động” đây. Hôm sau, tôi thay bộ đồ nhà binh còn ngon lành, lên ban chỉ huy nhận giấy phép. Ba tháng hành quân liên tục, tìm được một bộ đồ ngon lành, không dễ đâu; khác với hồi còn ở Saigon.

 

Ông Đại Úy Chi Đoàn Trưởng Chỉ Huy Công Vụ nói với tôi: “Tôi xin máy bay rồi đấy! Tôi cho xe đưa thiếu úy đi Phú Bài, tới ban Chuyển Vận, đưa giấy phép ra là có máy bay.”

 

Về tới Saigon lúc gần nửa đêm, tôi nhờ xe quân sự, ra Saigon rồi đi taxi về nhà, “gặp Ba Me và các anh chị em”.

 

Nghỉ xã hơi hai ngày, tôi lấy xe hơi của ba tôi, về thăm bạn bè, lính lác ở đơn vị cũ.

 

Đang lái xe trên đường Lê Quang Định, qua khỏi Xóm Gà, tôi thấy một “cô nường” đang chạy xe PC bên đường. Cô gái có thân hình khá đẹp, eo ót rõ ràng. Qua khỏi cô ta, tôi nhìn lại. Té ra Hạnh. Đầu cô bịt khăn tang. Tôi tấp xe vô bên đường, mở cửa xe bước ra, chờ cô ta tới, kêu to: “Hạnh!”

 

Cô ta dừng lại, hai tay cầm ghi-đông, cúi đầu xuống rồi… khóc nức nở. Hạnh khóc giữa đường làm tôi hết sức bối rối. Chưa kịp hỏi cô ta để tang cho ai thì cô ta nói, cùng tiếng khóc: “Anh Hai em tử trận rồi.”

 

Tôi tưởng như trời sập! Thương Hạnh quá!

 

Hết sức xúc động, tôi để tay tôi trên bàn tay cô còn ở ghi-đông xe: “Chia buồn! Anh thành thật chia buồn. Cái điều mà mình lo, mình sợ, cuối cùng rồi cũng tới!”

 

Bỗng dưng tôi nhận ra một điều. Không như trước kia, cô ta xưng tên, bây giờ, cô ta xưng “em”. Còn tôi thì buột miệng xưng “anh”. Không biết cô ta có nhận ra điều đó không!

 

Tôi mời Hạnh vào cái quán sinh tố bên đường. Hai người uống hai ly. Muốn hỏi thăm mà không biết hỏi chuyện gì. Hỏi về anh Hai, sợ làm cô ta khóc, đành hỏi bâng quơ cha mẹ, thăm sức khỏe…  rồi cũng chẳng biết nói gì hơn, bối rối quá!

 

Tôi vốn là người, như me tôi nói: “Lanh mồm lanh miệng”, vậy mà tôi không biết hỏi hay nói cái gì. Chữ nghĩa, ý tưởng bỗng dưng trốn đâu mất biệt khỏi trí óc tôi. Hạnh cũng vậy, cô ta cũng không nói gì, ngoại trừ câu: “Anh Hai chết rồi, má em bỏ bán bánh mì, không cần việc ấy nữa.” Tôi biết, bán bánh mì là để kiếm thêm tiền cho con trai. Nay con trai qua đời rồi thì Má Hạnh dẹp xe bánh mì là đương nhiên. Nghĩ thì nghĩ vậy, mà nói thì không nói được.

 

Rồi tôi và Hạnh chia tay. Hạnh cho địa chỉ nhà, tôi đến thăm một lần. Không khí trong nhà buồn bã vì người con trai tử trận chưa lâu. Bàn thờ có hình Luận, có nhang đèn thắp sáng, nhưng sao mà âm u quá vậy?! Ba má Hạnh chào hỏi xong, để tôi và Hạnh ngồi nói chuyện với nhau.

 

Bây giờ thì buổi chuyện trò bớt buồn hơn, nhưng tôi cũng không dám đi xa hơn về tình cảm giữa tôi và Hạnh. Người ta đang buồn, sợ nói ra… lạc đề, đợi có dịp về phép nữa, bày tỏ mấy hồi, tôi nghĩ vậy. Rồi tôi kể vài chuyện đánh giặc, suýt chết ở ngoài Trung. Hạnh thì kể chuyện được bổ làm giáo sư ngay tại Gò Vấp, sau khi đậu tú tài.

 

Một tuần lễ ngắn ngủi trôi qua, chưa kịp thăm Hạnh lần thứ hai thì… hết phép. Tôi xin máy bay trở về đơn vị ngoài kia, hy vọng có kỳ nghỉ phép kế tiếp sẽ về Saigon, lại đến thăm Hạnh.

 

Mọi việc không như tôi hy vọng. Sau Hiệp Định Paris 73,  phía Cộng Sản vi phạm hiệp định liên tục, “lấn đất giành dân”. Tôi bị ông Trung Tá đơn vị trưởng gọi liên tục, đi theo ông, góp ý với ông, khi hai phe tranh cãi việc vi phạm hiệp định. Đến khi Cộng Sản Bắc Việt “tổn tấn công” vào đầu năm 1975, thì đơn vị tôi được lệnh rút, từ Diên Sanh, Quảng Trị về Thuận An, Thừa Thiên và “tan hàng” ở đó. Tôi theo đám tàn quân đi dần về Nam, rồi vô trại cải tạo. Cấp bậc trung úy, chức vụ: Chi Đoàn phó,  tương đương với 5 cuốn lịch tù.

 

&

Khi tôi đi tù về thì mọi sự … đều tan hoang. Ba tôi qua đời khi tôi mới vô tù được hai năm. Tôi không về chịu tang cha được. Me tôi và các anh chị em đều… vượt biên, định cư ở Mỹ.

 

Không đến nỗi đói khổ như các bạn tù khác, tôi sống tà tà và không có tương lai. Và dĩ nhiên, tôi tìm về nhà Hạnh ở Gò Vấp. Nhà đã đổi chủ, người mới là hai ông bà cán bộ Bắc Kỳ. Gia đình Hạnh nhờ một cơ may nào đó, di tản vào những ngày cuối cùng, khi miền Nam còn thoi thóp.

 

Tôi cũng như nhiều người, ra Sở Ngoại Vụ, lo việc “đi HO”. Điều buồn cười là bản thân tôi có “nhiều vé trống”. Điền tên ai vô bây giờ cho người ta đi cùng.

 

Bấy giờ thì tôi cũng đã già. Bên Tây về, tôi cũng đã quá tuổi 25. Bao nhiêu năm lính, bao nhiêu năm tù qua đi. “Sáu mươi năm cuộc đời”, tôi đã “xài” mất 40 năm. Hai mươi năm còn lại, đâu còn bao nhiêu, để “yêu ai”! Tình yêu chỉ là khi còn trẻ thôi, như khi tôi gặp Hạnh, mà vì chiến tranh, “Kỷ kiến hữu nhân hồi”, tôi cũng như Luận, anh của Hạnh, còn không nghĩ tới chuyện yêu nữa, huống chi bây giờ. Đôi khi chải tóc, tôi thấy có lắm sợi bạc rồi. Có thể vì đời tù gian khổ mà tóc mau bạc, mà cũng vì bốn mươi rồi còn gì!

 

Thế rồi một người bạn học, mà cũng là đồng ngũ, “đồng tù” nói với tôi: “Mầy lấy con Nhung đi. Chồng nó tử trận hồi 1974, để lại hai đứa con. Nhà nó nghèo, buôn bán tất tả nuôi con. Cứu ba mẹ con nó, còn hơn mầy xây cả chục cái chùa mầy à!”

 

Tôi ừ! Không chần chờ, không suy nghĩ, không vì Nhung đẹp hay xấu, không vì Nhung già hay trẻ. Tôi cho việc làm nầy còn hơn Me tôi đi chùa cả đời Me nữa.

 

Và rồi tôi dắt ba mẹ con lên máy bay đi Mỹ, tôi vui như mọi người, với một “gia đình nhỏ”. Gặp Me ở Mỹ, chắc Me tôi cũng… ngạc nhiên vì tôi có vợ và có… hai con. Riêng về tôi, ở một góc nhỏ nào đó trong trái tim tôi, vẫn là hình ảnh của Hạnh, một người tôi yêu nhưng chưa bao giờ nói với nhau tiếng “Yêu”!

 

Hoàng Long Hải

Bão

 

Cơn bão nghiêng đêm
Cây gãy cành bay lá
Ta nắm tay em
Cùng nhau qua đường cho khỏi ngã
Cơn bão tạnh lâu rồi
Hàng cây xanh thắm lại
Nhưng em đã xa xôi

Và cơn bão lòng ta thổi mãi.

(1957)

Tế Hanh

 

ConBaoNghiengDem

 

Nghe nhạc: Thơ Trần Trung Đạo, nhạc Võ Tá Hân – trình bày: Bảo Yến

Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười

 

19a

Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười

 

 

Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm Mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi

Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương

Tiếng Mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao vói
Biết đến bao giờ trông thấy nhau

Đừng khóc Mẹ ơi hãy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ
Đau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười

 

Trần Trung Đạo

 

 

 

17a

BÓNG MẸ

 

Tháng Bảy Mùa Vu Lan. Bóng Mẹ
trong hồn con lãng tử chưa về.
Đêm qua say đọc thơ vô kể
Vần điệu cài bóng hạc trời quê!

Lòng thương nhớ không thể đo đếm
Không thể đổi được tấm vé tàu xe!
Tôi đấm ngực trái tim tôi khóc
Bóng mẹ mong con đứng trước hè.

Tôi gọi phôn,Mẹ cười Mẹ khỏe
Tay chưn Phật độ vậy thôi mà.
Nghe tiếng Mẹ ấm lòng đất khách
Thấy sáng lừng trời phía quê xa!

Tôi đến chùa tọa thiền cầu nguyện
Trần gian vui trên ngực bông hồng.
Bóng Mẹ trong hồn tôi hiển hiện
Nụ cười hiền con mãi tây đông!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

DaDieu_Man

Ngụ ngôn con đà điểu

tặng G
con đà điểu rất tinh khôn
chui đầu vào cát để còn tồn sinh
nó quên sướng được phần mình
còn thân thuộc biết điêu linh cõi nào

con đà điểu rất mưu cao
mặc cho chim chích chào mào tanh banh
một mai ổ lót ngon lành
chân cao đà điểu xí phần công cao

rủi như tan nát phong trào
đầu chui dưới cát ai đào bới đâu
khôn lanh không mất công hầu
mặc ai lội trước đi sau tháo giày

cần gì phải cất cánh bay
gặp cuồng phong sẽ nát thây , điên à !
một đời rúc hưởng hương hoa
tựu trung khôn lỏi một đà điểu thôi

muốn làm đà điểu nhưng tôi
lỡ làm con cóc bên trời nghiến răng

Nguyễn Hàn Chung
13/8/16

Thơ Nam Dao

5c38cff23a669186a083cac69a8fa69b

Biển ngộ độc

 

 

Sóng lăn theo tay

cát lăn theo chân

người lăn theo lăn theo người

biển sụp

triều dâng bóng xế sóng bạc đầu

 

&

Sóng vỗ đêm đen

tóc trắng hơi men

mùa say lúy túy

biển ngộ  độc

hàng trăm hàng ngàn con cá chết  ngạt giạt vô  bờ

 

&

Sóng khóa trái tay

cát ngáng chéo chân

bóng tà chao nghiêng

cuộc tình lỡ dở

con dã tràng trên bờ

quên về xe cát

biển đông, ới  hỡi biển đông

 

&

Bãi biển trải dài

chẳng còn một ai

Lưới cá thả dài

nào đâu còn cá

ngư phủ vò đầu 

mắt tròn  bỡ ngỡ

biển đã vỡ

non nước rồi sẽ ra sao

chẳng  lẽ người  người  trơ  mắt  ngóng chiêm bao ?

 

Nam Dao

102456960242195754kg57bFVGc

Cận Cảnh Giấc Mộng.

 

nhắc tới thời kì cách mạng 

tháng tám 

chả khác nhắc tới bọn du côn 

du thủ du thực 

 

thời đó bố tôi đã chết 

rồi 

liền sống lại

tôi thì ngày/ tối trước nguyên dấu hỏi (?) to

 

mật thám tây hễ bắt việt minh 

là treo lơ lửng 

bọn việt gian thanh toán nhau 

tuyền mã tấu

 

vợ bé năm cam 

đứng hẳn trong mộng 

nhìn đồng hồ (ả kêu đổng!) chốc chốc báo

tôi hay- bọn sớm đầu tối đánh- di chuyển 

từ hàng ngũ cách mạng ra

nhiều vô kể (tụi ưa đánh đồng- mẹ 

vào quê hương/ xứ sở 

 

tụi ba xạo 

cạn đề tài 

nửa mùa- mua vui không đủ trống canh!)

 

tôi được chuyển sang công tác giật dây

các cơ sở 

nghe ba duẩn đọc báo cáo 

chính trị- tôi nói 

chả có cơ sở để giải thích tại sao- ta 

lại trước nguyên dấu hỏi (?) to

 

tụi du côn 

du thủ du thực hay khịt

khịt- mũi 

tưởng chúng khinh bỉ cách mạng 

nhưng đếch phải

 

tôi chả để bụng 

thuở ấy tranh giành địa bàn hoạt động 

giữa cách mạng với du côn

du thủ du thực chém xong hè nhau cướp của 

uống rượu

 

tôi đã sống với tình trạng 

luôn đột nhiên dậy cảm tưởng- mình đang trong 

lòng cách mạng 

từ cổ 

trở xuống bụng 

thành một cái ống rỗng- có lần bất thần nhìn 

chỉ thấy đen ngòm

 

vốn hay lo 

vớ vẩn

bất kể gì trên đời có tính động- từ bé 

vào thời kì cách mạng tháng tám 

đụng mặt ai tôi đều thủ thế

 

ôi cha 

cái thời bọn du côn 

du thủ

du thực- lộng hành 

hở chút trùm bao bố

thanh toán 

 

đéo biết trong cái ống 

rỗng 

đen ngòm- từ cổ trở xuống bụng 

chứa những ai (hồ!)

và nguyên dấu hỏi (?) to

trước mắt

mang ý nghĩa gì

(hay đấy chỉ như ba dòng chảy 

cách mạng!)

 

xin lỗi tôi chẳng giỏi giang 

ngồi 

giải thích bất kì chuyện gì có đầu 

có đũa (dẫu chỉ cất tiếng suỵt 

suỵt!) mãi đến nay 

 

nhắc tới thời kì cách mạng 

tháng tám

có thể nói- khi đó trong hàng ngũ du côn 

du thủ du thực 

cơ man kẻ đội lốt cách mạng 

 

vâng- tôi vẫn nghĩ- thời buổi

nào

chả lẫn lộn trắng/ đen

qua cái thời cách mạng tháng tám

đảng sản sinh một đám tuyền khốn nạn

mất dạy

 

lắm lúc- đối đế

tôi có nói sống không nổi thà chết quách

cho xong

 

yeah- có sống lại- tôi thề

vào tháng tám

tôi sẽ cứ tựa hư huyễn í!

..

vương ngọc minh. 

 

tumblr_nlmitmniTG1s8cusno1_500

CĂN NHÀ NẰM MƠ

 

Chúng ta sẽ cất nhà
Rất đơn sơ vật liệu
Kèo cột không đi tiểu
Lên trí tuệ con người
Anh cần chiếc giường đôi
Hai đứa mình cùng thở
Chia nhau nỗi xấu hổ
Mà ông bà cắn răng

Đất nước bốn ngàn năm
Rộng dài như văn hiến
Đêm anh đi thấy điếm
Lợp nhà cạnh gốc cây
Ngày thấy lũ con lai
Căng lều ngay xó chợ
Vợ chồng mướn nhà trọ
Yêu nhau như ngoại tình

Căn nhà mới tượng hình
Đã tan theo cơn đói
Anh dắt em lên núi
Không đủ giấy tờ về
Anh dắt em thăm quê
Định làm chàng Tô Vũ
Định làm một gã hề
Căn nhà không địa chỉ
Anh lợp hoài trong mê

Trời sinh anh yêu em
Mà không sinh hộ khẩu
Con chim có chỗ đậu
Con chó có nơi nằm
Anh và em lưu vong
Như người không quốc tịch
Đất nước giàu diện tích
Cho châu chấu cào cào
Nỡ đâu nghèo lý lịch
Với những người yêu nhau?
Bùi Chí Vinh

belanger109

Độc hành 1

 

Các dãy số lớn sụp đổ trong một khúc xương

những con bọ mang ánh trăng óng ánh chui vào

nở cánh hoa lẻ loi như ngôi đền vĩ đại

dòng sông đưa lời kinh về phía đông

song sóng bước lữ hành.

 

Mắt nàng đẹp long lanh dịu dàng nhóm lửa

giữa trái tim gần thoát tục của ta.

 

Độc hành 2

 

Xung quanh cây đèn là kinh nguyện

một mùa hoa tự hủy an nhiên

những bài ca chửa hoang vượt mặt

trong cái nồi tối sẫm hồng hoang.

 

Đại ngàn đi lắc lư êm dịu

trái tim tôi hư ảo chênh vênh

rung lên những bước thú hoang phiêu bạt

niềm đam mê ngắt đoạn đến vô cùng.

 

Lê Trinh

 

 

0xDE90412A0EE8223BB9F02B2B2914FB03

BÌNH MINH NÀO CHO ĐOÀN NGƯỜI PHẲNG NÃO

(trường ca)

Tác giả : Minh Vũ

KHÚC 1:


hãy theo ta

Lũ người ngu dốt

Bỏ vùng đất tăm tối

Đói ánh mặt trời

Hãy theo ta săn bắt vầng chân lý

Các ngươi sẽ no nê vì trái hạnh phúc

Bội mùa khát khao

Đến tận đời đời con cháu”

Từ khoang miệng của những tên đồ tể

Lũ mỹ ngôn đeo mặt nạ/xếp hàng

Với chiếc cọ kết tinh từ gian dối

Bọn họa sỹ trá hình say sưa vẽ/ tương lai

Bầy người dị bản

Cởi bỏ lớp áo may bằng chất vải phồn thực

Bất chấp cái chết

Bất chấp máu đổ

Dẫm đạp

Cấu cào nhau

Như bầy chó đói

Quyết dành giật một chỗ đứng

Trong khán trường

Muốn triệu chiếc đầu cúi/chân/khẩn

Nuốt chửng mọi lời phỉnh gạt

Như miếng bánh gato thơm phức!

“tự do và hòa bình

ở đâu?

ở đây!

ở chính đôi tay chúng tôi

những đôi tay nhân danh đấng khai sáng!

Hãy tung hô

Hãy tôn thờ

Người anh hùng kiệt xuất

Đưa đến cho các bạn

Thứ huyết tương  bình đẳng  vĩnh hằng!

Tôi nói: mọi người nghe rõ không!”

-“rõ !

Thưa đấng khai sáng

Thưa những bậc trí huệ siêu phàm

Mắt chúng tôi như được mở ra

Và mặt đất bấy nhiêu năm

Dày đặc loài cỏ dại

Hôm nay bỗng mọc lên những nụ hoa/thuần khiết như sữa mẹ

( Đọc tiếp…)

 

Muop

Giàn Mướp Quê Nhà-Giàn Bầu Xứ Xa

 

Trần Thu Miên
summer 2016 và anh N.Ng. P.

 

     Sáng nay lúc bình minh chưa kịp đến, tôi ra vườn sau ngồi một mình, lặng yên, nhìn đăm đăm vào những dây leo màu xanh uốn mình trên lưới thép của giàn bầu còn mới tinh. Đã hơn 40 năm rồi, tôi chưa từng đứng một mình, ngắm nhìn giàn mướp hay giàn bầu bên sân nhà như lúc này. Nhìn giàn bầu trước mắt, và chợt nhớ giàn mướp bên giếng nước quê nhà năm xưa.

 

     Năm tôi 12 tuổi, bố mẹ tôi gửi tôi vào tu viện Châu Sơn ở Đơn Dương học. Bên cạnh lý do đơn giản là làng tôi không có trường trung học, bố mẹ tôi còn muốn tôi học để trở thành một tu sĩ, và trên hết là một linh mục Công Giáo.  Việc này có lẽ cũng na ná như việc các chú bé theo đạo Phật được gửi lên chùa làm chú tiểu vừa giúp việc nhà chùa vừa học tu. Dù là một đứa bé mang tiếng phá phách trong làng từ việc dẫn trẻ chăn bò phá làng phá xóm đến đánh lộn với lũ trẻ làng bên cạnh thường xuyên, những đêm mới xa nhà, tôi đã chui đầu trong chăn khóc vì nhớ nhà.  Và chiều nào đứng ngoài sân đá banh, tôi cũng nhìn mông lung đoán xem nhà mình ở phương nào.

 1

    Sau ba tháng xa nhà, chúng tôi, học sinh nội trú của tu viện còn gọi là đệ tử, được cho về nhà nghỉ lễ Giáng Sinh rồi trở lại tu viện ăn Tết ta. Phương tiện di chuyển duy nhất thời ấy từ tu viện về làng tôi là xe Lam (Lambretta) 3 bánh. Nhà tôi nằm bên cạnh con lộ liên tỉnh chạy qua làng nên xe dừng ngay đầu ngõ. Vừa bước xuống xe, vai đeo túi quần áo, tôi nhìn thấy mẹ đang ngồi rửa rau bên giếng nước và chợt oà lên khóc. Mẹ nghe tiếng xe đầu ngõ ngẩng mặt thấy tôi về vội chạy ra đón. Đấy là thời chưa có phương tiện liên lạc thư từ hay điện thoại trong làng tôi nên việc tôi về nghỉ lễ coi như là việc bất ngờ.

     “Sao lại khóc, bị đuổi học phải không?” Mẹ hỏi vậy vì tôi đã từng bị đuổi học hai ba lần khi còn học trường làng.

     “Không! Con về nghỉ lễ Gáng Sinh.”

 

     Hình ảnh mẹ ngồi bên giếng nước và giàn mướp dây leo lá xanh, hoa lấm tấm vàng hôm ấy đã hằn sâu vào ký ức tôi, và sau này bỏ nhà đi xa, mỗi lần bất chợt nhớ nhà tôi vẫn nhìn thấy mẹ ngồi rửa rau bên giếng nước và giàn mướp hoa vàng trong trí nhớ mình dù đã cạn dần theo năm tháng tuổi đời. Tôi ghi lại cảm giác nhớ nhà trong câu thơ viết thuở mới bỏ nhà ra đi.

 

     Chiều nay con đứng ở ven đồi

     Nhìn khói nhà ai tựa mây trôi

     Ngỡ rằng quê mình là nơi ấy

     Mẹ nấu cơm chiều đang đợi con…..

 

     Tôi không nhớ là nhà tôi có giàn bầu. Nhưng giàn mướp thì luôn luôn được trồng  ngay bên bờ giếng. Gọi là giàn, nhưng chỉ là những cành cây khô được bố tôi mang về từ ven rừng dựng lên cho dây mướp leo.  Có lẽ bố tôi không làm giàn bầu vì mướp, hình như, có vị thơm và ngọt hơn bầu. Ngày bé khi nhà có việc gì quan trọng như họ hàng đến thăm, hay lễ lớn, bố thường hay bắt con gà ngoài vườn về làm tiệc. Và bộ lòng gà bé nhỏ được chị tôi hay mẹ tôi cẩn thận rửa cho sạch để nấu nồi canh mướp. Ôi! bát canh mướp nấu với lòng gà, thời tuổi thơ, sao ngọt ngào quá. Giả như tôi có sống vài trăm năm nữa, chẳng cách nào, tôi được ăn lại bát canh mướp nấu lòng gà ở quê nhà thời thơ dại.

 

2 

 

     Dù xuất thân từ ruộng đồng, nhưng tôi không thích và cũng chẳng có “khiếu” trồng hoa quả trong vườn. Lý do đơn giản: lười. Lúc tôi định cư ở Claremont, California, có lần sân nhà tôi hoa dại mọc đầy nên hàng xóm kiện lên thành phố. Khi tôi nhận được lá thư cảnh báo về việc để hoa dại mọc đầy vườn, tôi nóng tiết điên người cầm điện lên gọi vào toà hành chính thành phố “chửi đổng.” Bằng một giọng rất cao bồi, tôi hạch hỏi tại sao thành phố lại gửi tôi thư cảnh báo láo lếu thế? Vườn nhà tôi chứ đâu phải công viên. Người trả lời điện thoại chậm rãi giải thích.

     “Luật thành phố đòi hỏi cư dân phải giữ vườn tược trước nhà sạch sẽ. Sân nhà ông hoa dại mọc đầy và nhiều hàng xóm đã than phiền.”

     “Nhưng tôi là người yêu hoa cỏ dại.”

     “Tốt lắm, ông nên bán nhà dọn đi nơi khác.” Câu trả lời làm tôi ngậm miệng. 

 

     Rời Cali về lại Boston, chúng tôi ở căn nhà nhỏ ven đồi có vườn cỏ rộng.  Nhiều bạn bè cứ hỏi tôi vườn rộng sao mùa hè không trồng rau? Phải thú thật là tôi thuộc loại con nhà nông không biết trồng khoai. Có lần, trong buổi họp mặt trên sân gạch đỏ sau nhà, nơi thỉnh thoảng, vào mùa nắng ấm, những người bạn thân thiết của gia đình tôi vẫn họp nhau uống rượu ăn thịt nướng và đàn ca, anh N.Ng.P., một vị đàn anh của chúng tôi, nẩy ra ý nên trồng một giàn bầu trong sân để đến mùa ra trái hái nấu canh ăn cho bớt nhớ quê nhà. Tôi đã đáp lời anh không chút đắn đo.

     “Anh cứ làm bao nhiêu giàn cũng được. Vườn nhà tụi em chỉ có chim, thỏ, sóc và nai trên rừng vãng lai thường xuyên.”

      Tôi tưởng anh P. đùa, nhưng anh làm thiệt. Anh đã một mình ra xưởng gỗ mua những thanh gỗ thông loại dùng để kiến thiết nhà về dựng lên thành một cái giàn rất hiện đại và vững chãi.  Sau khi những thanh gỗ được đo, cắt cho vừa tầm, anh đóng xuống đất theo hai hàng ngăn nắp rồi giăng dây thép thành mạng lưới  cho dây bầu leo lên. Sau khi thiết kế xong giàn bầu rất công nghệ, anh mới khám ra rằng đất vườn nhà chúng tôi không thể trồng rau được vì lá thông và rễ thông lâu năm đã làm hại đất. Nghe anh nhận xét vậy, tôi cũng hơi buồn vì từ lúc anh cho biết ý làm giàn bầu tôi đã tưởng tưởng sẽ có những buổi chiều mùa hè ra ngồi uống rượu nhìn những đàn ong bướm bay vờn hút nhị khi giàn bầu đơm hoa. Nhưng anh P. không bỏ cuộc, anh đã quyết định trồng bầu vào một chậu cảnh loại lớn thay vì trồng xuống đất.  Anh lấy một chậu cảnh bằng nhựa, đổ đầy vào chậu loại đất đã được chế biến công nghệ để trồng hoa trong vườn chứ không phải đất tươi đào từ vườn. Hạt giống bầu được anh P. ươm tại nhà cho tới khi nẩy mầm rồi cẩn thận mang sang nhà chúng tôi trồng vào chậu để dễ lên.  Lần đầu bị thất bại. Không biết tại sao.  Tôi đổ tội cho những con nai đói bụng từ rừng ghé thăm vườn xơi hết ngọn bầu non của anh P.   Lần thứ hai mầm bầu trong chậu được bảo vệ bằng những thanh gỗ dư của cọc giàn bầu cắm xung quanh chậu để cả thỏ lẫn nai đều không thể đút cổ vào xơi đọt bầu non, ngọt.  Lần này thành công, và trong vài tuần, những dây bầu đã âm thầm leo lên giàn và ngọn dây bầu cứ tủa ra như những cánh tay mềm mại, nhưng vững chắc giơ lên lần mò tìm bám vào lưới thép.

 

 

     Sáng nay ra vườn, tôi đã thấy vài bông hoa bầu vừa nở. Lần đầu tôi mới để ý là hoa bàu màu trắng chứ không vàng như hoa mướp. Thấy hoa bầu nở vừa vui vừa bùi ngùi nhớ giàn mướp quê nhà. Biết đâu khi giàn bầu ra trái, tôi cũng sẽ được ăn bát canh bầu ngọt ngào do vợ mình nấu ở xứ người. Nghĩ vậy, tôi lẩm bẩm đọc câu ca dao học ngày thơ bé.

 

Đầu tôm nấu với ruột bầu,

Chồng chan, vợ húp, gật đầu khen ngon.

 

Trần Thu Miên

ThienDi

Tranh Nguyễn Trọng Khôi

 

THIÊN DI

 

 

cuộc thiên di đỏ
mặt trời cuốn qua vùng tóc biếc
chảy mặn tháp ngà
nụ hôn mật non xưa xa
đã khét tanh dưới tê điếng mặt trời
không thể lưu trữ cho em được gì
giọt mưa miên miết đỏ
ngày cựa mình chừng như rất khẽ
tháng bảy cạn kiệt
lời lá khô
rơi từ vực sâu.

cuộc thiên di đỏ
mặt trời đi qua vườn đêm
cứa những xót thương
tối không gió
tôi với căn ngực rỗng
sự đợi chờ là vô vọng
mãi đời sau.
những bóng đèn nê ông cúi đầu câm lặng
cơn mưa không thể ướt át mãi buổi chiều tháng bảy
dụ dỗ về một tia sáng lóe nở
giấc chiêm bao mồ côi 
hơi thở
như những đứa trẻ thành phố ngày loạn lạc
dắt díu nhau đi tìm ý nghĩa cuộc hành trình…

 

Phương Uy

 

 

Hiện Hữu

 

 

Khi nỗi đau cuối cùng cũng bốc hơi trước cơn giông

 anh còn gì cho sự quạnh hiu dần tới?

ở nơi chốn ngôi sao cực mới bùng cháy lần cuối

vệt sáng vút qua

 

có thể sống như thế nào sau sự xóa đi hay lãng quên đi kí ức

mùi hương của quá khứ có được phục hiện sau mỗi cơn mưa?

khi ngôn ngữ của anh đã bị nhiễm trùng như vệt lở loét trước sự di căn mới những giọt nước mắt xa lạ sẽ là khởi thủy cho những u buồn

có những ngày như vết dao

 

anh vượt qua những mùa đông bằng giấc mơ mùa hè

nơi con hồ ly ngửa mặt khóc

nơi vệt trăng xanh còn loang máu

tháng bảy nói với anh về những biến tấu

là những âm khúc dị dưỡng

 

có tiếng khóc nảy ra từ cuống họng

nước mắt cũng như nước biển đã không còn vị mặn

trước phút lâm chung của các tính từ

trầm mình và rơi về đất

trong sự vắng lặng của ngôn từ

của bầu trời và đại dương

anh thành hạt bụi

có một ngày chối từ sự hiện diện của mình

 

 Phương Uy

 

 

Tối

 

quán tưởng trầm luân những u mê đã từng

lời nguyện đêm đã tan trên đôi môi

chiếc bóng nói với tôi về sự non dại lần sau cuối

nụ hoa không trổ mầm bằng sự không thật

đừng cúi đầu

giọt nước mắt xanh không còn tan trên tay

con hồ ly cuộn mình góc tối

khi các yêu tinh đã đi ngủ

thì phù thuỷ tuyết sẽ phục chế quả táo độc dược

ngày ám tàn trên điếu thuốc dở dang

mùa hè khóc bằng những tiếng ve cũ kỹ

trận lo lắng cho mùa mưa đã bắt đầu trên những đám mây

 không còn người hát thánh ca để tiễn đưa những màu xanh bị bức tử

mùa mưa mới cũng không thể hồi sinh cho sắc lục diệp trên những tán khô đừng khóc

dẫu có đi qua những đêm mất ngủ không còn nhau

thì lời ủi an cũng chẳng thể làm xanh được ý nghĩ

mùi hương quá nồng đậm của sự thông cảm

cũng không làm khô được những dối lừa của thế kỉ hoại tử này

đừng tin vào bất cứ

 

trong sự lặng câm của những câu thơ

cơn mưa nói với tôi về mùa lũ cũ

 

Phương Uy

 

 

Ly

 

 

Như là màu nước ao hồ trong những đêm thanh

giấc ngủ đến và cuộn tròn

con tuần lộc non trong mù mù tuyết trắng

cô gái với đôi cánh bằng xương ở trên lưng

cuốn theo trốt lốc

 

Mùa hè đã đi qua trên những đôi mắt trong veo chứa hình hài hoa xa cúc

mùa hè đi qua những hoa hồng trong thung lũng

nơi những đồi cỏ xanh tươi chỉ còn trong trí nhớ cũ kỹ

 hạt mưa trong veo lạnh giá trước hiên nhà

nơi gió giật khan một ngày áp thấp dần qua

 

Giấc ngủ đến trong tiếng phong linh rơi bên hiên đá trắng

nơi cái chết của con ve sầu nhập xác gọi mùa

giấc ngủ bảo lưu cho những cơn mơ xa xưa

chập chùng ẩn hiện

 

như là sự hiến mình tàn dư của điếu thuốc được đốt lên đêm vắng

giấc ngủ vằn vèo tản mác rồi ám trên bàn tay

màu buồn lộng lẫy như ngày mưa em đi không lời từ giã

tôi cuộn tròn mình giữa những mây bay

khúc phục tang

để tang cho một cái chết

hay nhiều cái chết cũng như nhau

 những quặng sóng bạc màu

khóc bằng lời bọt nước

 những chàng ( hay nàng) tiên cá không hề được thông báo

 rằng cái chết sẽ thoát thai

từ những dối trá

lời nguyền thánh không báo trước tai ương

khi tiếng dương cầm được tấu lên

là phút giây vĩnh quyết

những ngày đại dương khóc bằng máu thay nước mắt

kết chung một cuộc xanh trong

 

đã qua những dụ ngôn

người rẽ lòng biển

đi sâu tìm sự sáng

sự khánh kiệt đến bằng nước mắt đỏ lửa

là tuyệt tận sinh linh

 

đã qua rồi câu chuyện về những tiếng gió hú qua vỏ ốc

ngày thả rớt theo kẻ tay

che dấu một cơn hèn mọn bất lực

câu tụng niệm cũng chỉ là lừa dối

bài kinh cầu an chỉ còn âm vang đớn hèn

khoảnh khắc mặt trời cúi mặt

 

trong buổi chiều phục tang cho những câu chuyện cổ tích

giấc mơ bật khóc xanh xao

gió giật âm âm lời bia mộ

con sóng xưa quằn một nỗi nghẹn ngào

 

Phương Uy

 

 

 

SeaWave

BIỂN TRỜI DẬY SÓNG

 

Kể từ đó biển Đông cuồng sóng dậy,
Bởi lòng tham chất ngất núi mây xa.
Trung Cộng muốn một mình thu bốn cõi,
Ngang ngược, ngông nghênh hành động gian tà.

Sống cạnh xứ Tầu chịu ngàn gian khổ,
Hán cuồng khống chế các nước chung quanh.
Di trú lùa dân lấn thêm đất biển
Quá tham tàn nên bất chấp chiến tranh.

Bãi cạn SCARBOROUG Tàu ngăn ngư phủ,
Cướp của ngư dân quyền đánh bắt mưu sinh.
Xây đảo nhân tạo khi đang tranh chấp
Chủ trương ba Không, xưng bá một mình!!

Năm Hai ngàn mười hai Tàu lấn Bãi Cạn
Bãi REED BANK kia thuộc đặc quyền Phi.
Phi tìm kiếm Gas, Tàu phù ngăn cản
Tàu vốn ngang tàng trong mọi hành vi.

Bãi đá không người lấp cho thành đảo,
Xây dựng phi trường, mở rộng sân bay.
Kẻo cả Dàn khoan, lập vùng Nhận Diện,
Chúng coi biển trời như của riêng tây!!

Cư xử hung tàn của nòi hiếu chiến,
Giả điếc đòi quyền toàn bộ Biển Đông
Bất chấp Cộng đồng thế giới phản đối,
Tàu, kẻ gây cho biển thấm máu hồng.

Phi, Nhật, Đài Loan thảy đều lên tiếng,
Sống giữa nhân loài cư xử gian manh.
Mẫu hạm hàng không của nhiều cường quốc
San bằng được không, vùng ” Nhận Diện Phi Hành”?

Ngày Mười Hai, Toà Trọng Tài tuyên phán:
Tàu Không Cơ Sở Pháp Lý để đòi.
Cái Đường Chín đoạn hàm hồ ngạo mạn
Chẳng đoạt được đâu thiên hạ, biển trời…

Hiếu chiến bạo tàn muốn xưng cường quốc,
Lại đi ngược  chiều tâm thức văn minh.
Bất trắc, vỡ tan ngay trong lòng Tàu Cộng
Ngày lụi tàn sóng dữ sẽ lên nhanh. ..
 

UYÊN THUÝ LÂM

 

 

LẮNG TIẾNG RỪNG XƯA

 

 

Rừng xưa vọng tiếng ngân vang,

Đây đây lời gió muôn vàn yêu thương

Lá xanh nhựa sống còn vương.

Lá vàng về cội mù sương cuối trời .

 

Người xưa còn nhớ chăng lời

Giang sơn  nghĩa lớn một đời nặng mang.

Mong manh cành đọng sương tan,

Chim đơn mỏi cánh, bạt ngàn dặm xa

 

Ngày xưa chốn cũ phồn hoa,

Người cao tiếng hát mây qua lưng trời.

Mùa xuân hoa nắng reo vui

Còn chờ sum họp bùi ngùi đầy vơi.

 

Chiều nghiêng nắng xế lưng đồi,

Xạc xào lá hát muôn lời từ ly.

Vạt rừng này bước chân đi,

Nửa đời người ở khắc ghi câu thề.

 

Suối nguồn qua mấy sơn khê,

Nhánh rong nhẹ vướng chân khe đá sầu.

Sơn thôn mưa nắng dãi dầu

Người còn mãi chốn giang đầu xa xăm.

 

Cuộc tình tưởng đã trăm năm,

Nào hay duyên phận  lạc lầm bến mê.

Ai đi sao mãi chưa về?

Biết chăng vàng dá chẳng hề phôi phai

 

UYÊN THÚY LÂM

Thuyen

HAI NỖI BUỒN

 

Mầy ở đó nỗi buồn đang lớn mãi

Biển u trầm sông núi phủ thương- tang

Máu ngư dân nhuộm hồng trên ngọn sóng

Vợ mất chồng, mẹ mất đất kêu oan.

 

Tao ở đây mãi thương về dị vãng

Tăng Nhơn Phú thuở thỏa chí tang bồng

Đêm truy kích đạn réo ngời chiến ải

Vượt Trường sôn say giữ dải non sông..

 

Mầy ở đó lặng căm trong ngục thất

Chiếc cùm đen in dáng mẹ gian nan

Soi bóng mầy quằn quại bên song sắt

Ngữa mặt nhìn cánh cửa khép tự do.

 

Tao ở đây lật từng trang chiến sử

Bản hùng ca sưởi ấm giấc quê người

Chăn chiếu lạ khoác mảnh đời lữ thứ

Nữa đời đau vong quốc hận chưa nguôi.

 

Mầy ở đó mặt mày đầy vết chém.

Giành cơm thừa, đống rác để ngày mai

Cho con thơ, đứa em còn nhỏ dại

Mãi thênh thang trên quê hương đọa đày.

 

Tao ở đây gặp dăm thằng lưu lạc

Người Trung Phi, kẻ Nam Á, Đông âu

Có nỗi buồn hơn bóng chiều sa mạc

Uống rượu sầu viến xứ nắm tay nhau.

 

Mầy với tao có cùng chung tổ quốc

Hùng vĩ đau thương tắm gội máu xương

Một lịch sử có chiều dài chém. giết

Chủ nghĩa vong nô nghịch lý dẫn đường.

 

Mầy đang đi giữa gọng kiềm bạo lực

Bên nỗi buồn của đất nước điêu linh

Còn tao đi dưới mảng trời băng giá

Gươm thiêng xưa tao giữ mãi bên mình.

 

 

Đỗ Vĩnh Khanh

 

 

XIN GỞI LẠI

 

 

Xin gởi lại cố hương từng nỗi nhớ

Tiếng ru hời của mẹ – tuổi thơ xưa

Em gái nhỏ nụ cười như hoa nở

Mãi trong tôi thương nhớ đến bơ phờ

 

Xin gởi lại vầng trăng treo đầu ngỏ

Dòng sông đêm bến nước sáng bao la

Con sáo nhỏ đậu bờ vai tuồi nhỏ

Chắc bay rồi từ buồi tiễn tôi xa

 

Xin gởi lại một vùng trời kỷ niệm

Sân trường xưa giấu tuổi chớm hoa niên

Trang sách cũ giấu bài thơ mực tím

Cánh phượng đầu thuở giấu hương tóc em

 

Xin gởi lại phố Quảng đầy hoa nắng

Núi Long Dầu tên quê hương thần thoại

Đường Quang Trung lối về thời hoang dại

Đuổi, bắt, tìm vướng tà áo em bay

 

Xin gởi lại con đường lên núi biếc

Đèo Prenn dốc đá lạnh sương mù

Nơi sơn nữ chờ bóng chiều buông xuống

Giọng sầu tình lay động núi thâm u

 

Xin gỡi lại bước chân chinh chiến cũ

Đạp non cao cỏ biếc lội sông dài

Vượt Dồng Tháp gió mùa thơm lúa chín

Tuồi hai mươi đâu nghĩ đến ngày mai

 

Xin gởi lại và xin làm dạ lữ

Hành trang thương đau chở nặng vai gầy

Mang dĩ vãng dọc đường trần dâu bể

Mẹ Việt Nam! Con mẹ đã lạc bầy.

 

 

Đỗ Vĩnh Khanh

 

VietNam

Sao Chưa Đưa Trung Cộng Ra Tòa.

 

Nhã Nam

 

 

Việt Nam và Phi Luật Tân cùng có chung  một cảnh ngộ, Trung Cộng đang cưởng chiếm vùng biển, đảo của hai nước trên biển Đông. Việt Nam cũng như Phi Luật Tân đã cùng nhau lên tiếng phản đối Trung Cộng về  việc xâm phạm chủ quyền đó.

Đối với Phi Luật Tân, Trung Cộng đã không có phản ứng mạnh mẻ nào nhưng với Việt Nam, được cho là bạn láng giềng, với 16 chữ vàng và 4 tốt đã thẳng tay đánh đắm tàu và giết ngư dân Việt Nam, cắt dây cáp, đưa giàn khoan Hoa Dương 981 vào vùng biển Việt Nam…..dù thế Phi Luật Tân vẫn đưa Trung Cộng ra Tòa Án Trọng Tài Thường Trực, Permanent Court of Arbitration, ( PCA)), còn Việt Nam thì không hay đến bao giờ ?

Phải chăng những lý do về kinh tế và quân sự đã khiến cho chế độ Hà Nội đã dè dặt lẫn lo âu khi phải đưa Trung Cộng ra tòa án quốc tế The Hague, Hòa Lan?

Trước đây trên video clip, khi những người dân đang biểu tình, đả đảo Trung Cộng xâm lược dưới tượng đài vua Lý Thái Tổ, thì tay cò mồi của chế độ, dư luận viên Trần Nhật Quang, biệt danh Quang lùn, đã oang oang la lớn phản đối những người biểu tình chống Trung cộng rằng: “ chống họ sẽ bị đánh kinh tế thì ta chết!” Có thực như Quang lùn nói không?

Hãy nhìn lại Miến Điến trước đây để so sánh với cộng sản Hà Nội. Khi Miến Điện dưới chế độ quân phiệt, đã bị thế giới lên án và cô lập bằng biện pháp cấm vận, kinh tế của Miến Điện bấy giờ lệ thuộc hoàn toàn vào Trung Cộng, thế nhưng khi tuyên bố thoát Trung, kinh tế Miến Điện đã không bị khủng hoảng mà còn đang dần vương lên với sự đầu tư ồ ạt của các nước tư bản , còn Việt Nam cộng sản, dù với chính sách kinh tế quái đản, nửa vời,“ kinh tế thị trường, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, cũng đã được hơn 100 nước vào đầu tư, trong đó Trung Cộng chỉ đứng hàng thứ chín, trong các nước quan trọng đầu tư vào Việt Nam. Như vậy yếu tố kinh tế không đến nổi ” ta sẽ chết ”, như Quang lùn đã nhận định.

Nếu yếu tố kinh tế không là điều để cộng sản Hà Nội chưa đưa Trung Cộng ra tòa, thì yếu tố quân sự chăng?

Trước đây, trên cộng đồng mạng, không ít thì nhiều, chúng ta đã đọc được một nhận định cho rằng, Trung Cộng sẽ đè bẹp Việt Nam trong 24 tiếng đồng hồ (?), nếu có chiến tranh xảy ra giữa hai nước. Phải chăng nhận định này đã dựa vào, Đặng Tiểu Bình đã ý thức được lý do thất bại của mình trong cuộc chiến dạy cho Việt Nam một bài học năm 1979 nên kể từ đó, Trung Cộng từng bước canh tân hóa quân đội và hiện đại hóa vũ khí của mình, và nếu chỉ căn cứ vào điều kiện hơn hẳn đó đối với Việt Nam để có nhận xét nêu trên thì nhận định này không thuyết phục lắm.

Thế kỷ 21, là thế kỷ của toàn cầu hóa kinh tế , nghĩa là Kinh tế của các quốc gia trên thế giới hiện nay đều có sự liên hệ mật thiết lẫn nhau về quyền lợi, và đã là quyền lợi thì không thể không gắn liền với chính trị và quân sự. Bởi thế không gì phải ngạc nhiên, khi nhìn lại các siêu cường, nhất là Hoa Kỳ và mới đây Nga Xô đang trổ dậy, đã giải quyết những xung đột cũng như những cuộc chiến của một nước hay của các nước  trên thế giới như , Ukraine, các nước ở Trung Đông v.v…. trong thời gian vừa qua đã cho thấy, quyền lợi kinh tế không thể tách rời ra khỏi chính trị và quân sự được.

Ai cũng biết Hoa Kỳ đang chuyển trục về biển Đông, Thái Bình Dương ,trong đó  hai nước Phi Luật Tân và Việt Nam có vị thế rất quan trọng, vì nằm trên  đường hàng hải chiến lược về kinh tế và quân sự của Đông Nam Á, do đó Hoa Kỳ không thể làm ngơ mà phải ngấm ngầm nhảy vào vòng chiến, trước sự ngang ngược của Trung Cộng đang cưởng chiếm hầu hết vùng biển Đông.

Trước thời gian chờ đợi sự phán quyết về đường lưỡi bò do Phi Luật Tân đưa Trung Cộng ra tòa án trọng tài quốc tế the Hague tại Hòa Lan, Hoa Kỳ  đã điều động ba khu trục hạm Stethem, Spruance và Momsen của hàng không mẫu hạm Ronald Reagan tuần tra thường xuyên tại Đông Nam Á , bảo là để bảo đảm an ninh hàng hải trong vòng 12 hải lý, nhưng thực chất để bảo vệ Phi Luật Tân, nếu sau khi có sự phán quyết của tòa bất lợi cho Trung Cộng, đã gián tiếp cho thấy, Hoa Kỳ sẳn sàng bảo vệ Phi Luật Tân thì chắc hẳn sẽ không làm ngơ với Việt Nam khi đưa Trung Cộng ra tòa. Điều này đã được nhắc nhở khéo léo qua lời tuyên bố của thượng nghị Mc.Cain, Việt Nam nên đưa Trung Cộng ra tòa án quốc tế về đường lưỡi bò của Trung Cộng.

Chắc có lẽ cộng sản Hà Nội cũng nhận thức được điều này, nhưng tại sao vẫn chưa đưa Trung Cộng ra tòa? Phải chăng, cơ chế độc tài toàn trị đương thời này mà Hà Nội đang thụ hưởng, đã buộc họ chẳng những không từ bỏ con đường làm tay sai và bán nước do Hồ Chí Minh thành lập từ năm 1954, với chủ nghĩa cộng sản tam vô, đặt nặng quyền lợi của đảng trên quyền lợi quốc gia, điều này đã được Nguyễn Phú Trọng lập lại qua lời tuyên bố mới đây, nghị quyết của đảng quan trọng hơn hiến pháp! được chứng thực bằng lời tuyên bố của Lê Duẩn rằng:” ta đánh đây là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc” hay bằng cải cách ruộng đất, bằng công hàm của Phạm Văn Đồng 1958, bằng hội nghị Thành Đô 1990 mà lại còn tiếp tục hèn hạ bán biển và bán Ải Nam Quan, phố kỳ Lừa, thác Bản Giốc…..Nhưng trong khi đó, lại tàn nhẫn một cách vô nhân đạo, cưởng bức để cướp đất, cướp nhà người dân và dùng quyền lực để áp bức người dân hầu dễ bề hối  lộ và tham nhũng.

Bản chất hèn với giặc, ác với dân này đã dấy lên lòng công phẩn và hận thù của người dân khắp nơi trong cả nước và đã được thể hiện qua những cuộc xuống đường để đòi hỏi công lý, đòi hỏi nhân quyền hoặc chống Trung Cộng xâm lăng hay phản đối Formosa…..đều bị ngăn chận, hăm dọa và đàn áp một cách thô bạo để giải tán, nếu không, sợ trở thành vết dầu loang sẽ đưa  đến mùa xuân Á Rập trên đất nước Việt Nam thì  sẽ mất hết cả chì lẫn chài.

Để tránh trình trạng đó, chính quyền Hà Nội sao không phản tỉnh để quay về với quốc gia, dân tộc, hãy làm lơ hoặc ngầm ủng hộ để cho cuộc biểu tình tự phát đang diễn ra của người dân, chủ yếu là giới trẻ, được bộc phát khắp nơi trong cả nước, hoan hô thắng lợi của Phi Luật Tân và đồng thời kêu gọi chính quyền Việt Nam đưa Trung Cộng ra tòa, nhân cơ hội đó, thể theo nguyện vọng của toàn dân, Việt Nam tuyên bố giải thể chế độ cộng sản để theo thể chế tự do, dân chủ, thì lúc đó người dân chẳng những sẽ mở rộng vòng tay đón người chạy lại mà còn vinh danh tên tuổi để đi vào lịch sử. Nếu được vậy, người dân trong nước sẽ cùng với người Việt khắp nơi trên thế giới chung sức nhau để xây dựng lại cơ đồ Việt nam, trong đó sẽ biến Sài gòn thành Hòn Kim Cương Viễn Đông, chứ không là Hòn Ngọc Viễn Đông của Đinh La Thăng đã quá lỗi thời.

PHÂN ƯU

PhanUu

Tiểu sử Dương Nghiễm Mậu:

 

Dương Nghiễm Mậu tên thật là Phí Ích Nghiễm, sinh ngày 19 tháng 11 năm 1936 tại làng Mậu Hòa, huyện Đan Phượng, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội).
Năm 12 tuổi, ông ra sống và học ở Hà Nội đến bậc trung học. Sau đó, ông bắt đầu viết đoản văn, tùy bút cho phụ trương văn nghệ học sinh của các báo chuyên nghiệp.
Năm 1954, ông vào Nam. Từ 1957, ông bắt viết nhiều đoản văn, truyện ngắn, truyện dài. Năm 1962, ông chủ trương tạp chí Văn nghệ với Lý Hoàng Phong, đồng thời viết cho các báo Sáng tạo, Thế kỷ, Tia sáng, Văn, Văn học, Bách khoa, Giao điểm, Chính văn, Sóng thần, Giữ thơm quê mẹ… Ngoài ra, ông còn chủ trương nhà xuất bản Văn Xã.
Năm 1966, ông nhập ngũ, đến năm sau thì được bổ nhiệm làm phóng viên quân đội Việt Nam Cộng hòa đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Năm 1966 ông được trao giải Văn học Nghê thuật Toàn quốc VNCH với tác phẩm Gia Tài Người Mẹ.
Từ năm 1977, ông chuyển sang ngành vẽ tranh sơn mài..

TÁC PHẨM:

Đêm Tóc Rối (Truyện dài, Thời Mới, 1965)
Đêm (Tập truyện ngắn. Giao Điểm, 1965)
Gia Tài Người Mẹ (Truyện dài. Văn Nghệ, 1964; Văn Xã tái bản 1966)
Tuổi Nước Độc (Truyện dài, Văn, 1966)
Phấn Đấu (Truyện dài, Văn, 1966)
Cũng Đành (Tập truyện ngắn, Văn Nghệ, 1963; Văn Xã tái bản 1966)
Đôi Mắt Trên Trời (Tập truyện ngắn. Giao Điểm, 1966)
Sợi Tóc Tìm Thấy (Tập truyện ngắn, 1966)
Nhan Sắc (Tập truyện ngắn. An Tiêm, 1966; Văn Xã tái bản 1969)
Kinh Cầu Nguyện (Tập truyện ngắn. Văn Xã, 1967)
Ngày Lạ Mặt (Truyện dài, Giao Điểm, 1968)
Gào Thét (Truyện dài, Văn Uyển, 1969)
Địa Ngục Có Thật (Bút ký, Văn Xã 1969)
Tiếng Sáo Người Em Út (Tập truyện ngắn, 196?)
Quê Người (Tập truyện ngắn,Văn Xã, 1970)
Con Sâu (Truyện dài, Văn, 1971)
Trong Hoang Vu (Tập truyện ngắn, Tân Văn, 1971)
Cái Chết Của… (Tập truyện ngắn, Văn Xã, 1971)
Sống Đã Chết (Truyện dài, Giao Điểm, 1972)
Tên Bất Lực (Tập truyện ngắn, Văn Học, 1972)
Lênh Đênh Qua Cửa Thần Phù (Tập truyện ngắn, Văn Mới, 2009)
Trời Cao Đất Dày (Tập truyện ngắn, Văn Mới, 2009)

Nhà văn Dương Nghiễm Mậu qua đời, hưởng thọ 81 tuổi

 

August 2, 2016

DuongNghiem Mậu

Nhà văn Dương Nghiễm Mậu. (Hình: RFA)

SÀI GÒN (NV) – Nhà văn Dương Nghiễm Mậu, một trong các tác giả nổi tiếng nhất miền Nam Việt Nam, vừa qua đời lúc 8 giờ 35 phút tối Thứ Ba, 2 Tháng Tám, tại Sài Gòn, hưởng thọ 81 tuổi, nhà báo Phí Ích Bành, em ruột của nhà văn xác nhận với nhật báo Người Việt.

Theo Wikipedia, nhà văn Dương Nghiễm Mậu tên thật là Phí Ích Nghiễm, sinh ngày 19 Tháng Mười Một, 1936 tại làng Mậu Hòa, huyện Ðan Phượng, phủ Hoài Ðức, tỉnh Hà Ðông (nay thuộc Hà Nội).

Ngoài tên Dương Nghiễm Mậu, ông còn một bút hiệu khác là Hương Việt Hương.

Năm 12 tuổi, ông ra sống và học ở Hà Nội đến bậc trung học. Sau đó, ông bắt đầu viết đoản văn, tùy bút cho phụ trương văn nghệ học sinh của các báo chuyên nghiệp.

Năm 1954, ông di cư vào Nam.

Từ năm 1957, ông bắt đầu viết nhiều đoản văn, truyện ngắn, truyện dài.

Năm 1962, ông chủ trương tạp chí Văn Nghệ với Lý Hoàng Phong, đồng thời viết cho các báo Sáng Tạo, Thế Kỷ, Tia Sáng, Văn, Văn Học, Bách Khoa, Giao Ðiểm, Chính Văn, Sóng Thần, Giữ Thơm Quê Mẹ… Ngoài ra, ông còn chủ trương nhà xuất bản Văn Xã.

Năm 1966, ông nhập ngũ, một năm sau, ông làm phóng viên quân đội Việt Nam Cộng Hòa đến ngày 30 Tháng Tư, 1975, thì bị đi tù cải tạo.

Từ năm 1977, ông chuyển sang vẽ tranh sơn mài.

Theo thống kê chưa đầy đủ, tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu có một số truyện ngắn như Cũng Ðành (tác phẩm đầu tay, năm 1963), Ðêm, Ðôi Mắt Trên Trời, Sợi Tóc Tìm Thấy, Nhan Sắc, Kinh Cầu Nguyện, Ðịa Ngục Có Thật, Ngã Ðạn, Quê Người, Trong Hoang Vu, Tên Bất Lực… và các truyện dài như Gia Tài Người Mẹ, Ðêm Tóc Rối, Tuổi Nước Ðộc, Phấn Ðấu, Gào Thét, Ngày Lạ Mặt, Con Sâu, Sống Ðã Chết… (Ð.D.)

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI

Văn Nghệ Boston nhận được một thi phẩm mới của tác giả Phạm Cao Hoàng

ĐẤT CÒN THƠM MÃI MÙI HƯƠNG

DatConThom
Sách in đẹp. Bìa của Đinh Cường, minh họa của Đinh Cường, Trương Vũ, Ng Trọng Khôi và Đinh Trường Chinh do nhà Thư Quán Bản Thảo ấn hành.

Với 100 trang thơ nói lên tất cả sự chân thành, tình cảm, kỷ niệm của tác giả đối với những miền đất thân yêu từ quê nhà qua tới hải ngoại. Đọc lời bạt do Nguyễn Xuân Thiệp viết đã giới thiệu đầy đủ nội dung thi phẩm ĐẤT CÒN THƠM MÃI MÙI HƯƠNG:

 “…Đọc thơ Phạm Cao Hoàng, ta thấy tâm hồn anh đầy nhân hậu, bao dung và độ lượng, luôn mở rộng đón nhận những âm vang của đất trời. Ở Phạm Cao Hoàng, không có sự ganh ghét, thù hận hay ra vẻ trí thức triết lý với đời. Thơ anh trong sáng , tự nhiên, bình dị; nhẹ nhàng đi vào hồn người. Đọc thơ Phạm Cao Hoàng ta tìm được niềm an ủi trong tình yêu, gia đình, bạn bè, quê hương đất nước và cuộc sống chung quanh mình.”

Nguyễn Xuân Thiệp

 

Văn Nghệ Boston xin trân trọng giới thiệu đến anh chị em văn nghệ và độc giả.

 

 

THỨC DẬY ĐI – nhạc: Nguyễn Trọng Khôi, thơ: Trần Trung Đạo –

tác giả hòa âm và trình bày:

 

ThucDayDi_1page

 

THỨC DẬY ĐI

Mặt trời mới mọc bên kia biển
Hay lửa phương đông báo hiệu mùa
Thức dậy đi em giờ đã điểm
Mẹ khóc lâu rồi em biết chưa?

Thức dậy đi hỡi rừng núi cũ
Nghe tiếng nghìn xưa vọng trở về
Ai đứng trông ai mùa lá đổ
Mà lòng thao thức mấy đêm khuya

Ai khóc đêm nay ngoài ải Bắc
Phải hồn sương phụ ngóng phương xa
Hay tiếng Phi Khanh trào nước mắt
Về đi, lấy máu trả thù cha

Thức dậy đi hồn thiêng sông núi
Gió Nam Quan xô sóng Bạch Đằng
Nửa đêm không bóng người bên suối
Sao tiếng gươm mài vang dưới trăng

Thức dậy đi hỡi lòng vô lượng
Ngại ngùng chi đau khổ điêu linh
Dù cho nước vẫn còn nhơ đục
Nhớ giữ cho nhau một chút tình

Thức dậy đi đồi cao dốc sỏi
Đất đá mòn theo mỗi vết chân
Gã tù lặng đứng nhìn mưa đổ
Đâu biết xuân qua chỉ một lần

Thức dậy đi màu nâu của đất
Màu xanh trong ánh mắt của em
Bao nhiêu năm ngồi nghe nhau khóc
Đã đủ chưa máu chảy ruột mềm?

Thức dậy đi từng trang lịch sử
Những chuyện buồn vui lẫn tủi hờn
Như mắt mẹ nghìn đêm không ngủ
Thương đám con khờ chưa lớn khôn.

Trần Trung Đạo

MỘ KHÚC – ca khúc Nguyễn Trọng Khôi, thơ Huy Tưởng

tác giả hòa âm và trình bày:

 

du

DỤ NGÔN

 

dại khôn khôn dại

 ngạn ngục thiên đàng

 những đứa trẻ đã lâu chưa kịp lớn

có hiểu lúc nào nên giữ nên buông?

 ngày qua hai buổi

 nắng đi hai lòng

những con đường không kịp lối

 hầm hập trời xanh không mây

 tháng Tư đổ dung nham nắng

 em cầm trên tay

vò nước cam lồ thời xa lắc

ngát hương đến lúc này

 gió níu giọt dương cầm đã lắng

 vọng về từ cao xanh

người không còn bóng

chỉ còn nỗi buồn lang thang

 tháng Tư gió đi hoang

kí ức ruổi rong cát trắng

biển còn rộng đến lúc này?

 hay là em hay là tôi hay là xa vắng?

gió níu lời dương cầm nhập thể

trầm hương xanh xao đêm

ngõ tối lối về sâu hút

vũng buồn có dày thêm?

 ừ dại khôn khôn dại

trăm năm một chấm mơ hồ

tràn trên vách trắng

là bóng trăng lô xô

ừ dại khôn khôn dại

ngạn ngục thiên đàng

đứa trẻ trong tôi chưa kịp lớn

 em đã vội vàng sang ngang.

 

 Phương Uy

 

 

TRIỀN RÊU CÒN XANH

 

đã hỏi giữa hư không

ngày câu hỏi hương tàn

 bàn lạnh nhập kinh siêu độ

khi nào vãng sanh?

 

đã hỏi giữa đêm đen

nơi nào mình trú ngụ

lộng dây tỳ bà đứt đoạn

 yêu tinh khóc giữa mù trăng

 

đã hỏi trúc tre đầu ngõ

đâu tiếng gió đại ngàn

 ngày về nơi mù xa đó

mồ côi một trận lang thang

 

cầu vồng bâng khuâng mộ gió

 âm u lặng ngát lưng đồi

mình về có ngang qua đó

triền rêu còn xanh một tôi

 

 Phương Uy

 

RỜI

 

Sáu

 rạc rài chổng bốn vó

chó bốn vỏng

ngất ngư lưng nạc

mỡ

những thứ nhiều mỡ

là thường ngấy

ngán

 

chán

 

 lục lọi trong những đống rác

tìm từ xa thăm thẳm

thum thủm

con đàn bà vu cáo

cao vú ( một kiểu nói lái vừa hóng hớt, không bản quyền)

có khi to không là cao

 

tám

 

sở trường của những loạn ngôn

 hoang tưởng

 sự ảo tưởng thường quá trớn

 không có tay thắng

không có cục canh cho bánh xe dừng lại đúng chổ

quá đà

 

bát

 

 y bát truyền chân không phải lúc nào cũng chân

 thật giả khó phân

 hà huống tốt xấu

lộn xộn

 lộn lèo lẻo

những xàm ngôn không căn cứ

giai thoại là gán ghép

ưng thì nói ( lại không thể không nói lái oi thì…)

dựng thành lịch sử không lịch sự

cái cục gạch

dây cột quần

định chửi mẹ nó

mà thôi

xác chết già không đáng .

 

 Phương Uy

 

THẤT LẠC XANH

 

những khúc hát đi lạc rồi

ngày phong ba phủ kín lối

 đã quá chiều sương rồi

 tôi sao còn đợi?

 

là đôi mắt đã nặng rồi

mình về sao thấy lối

là mỏi chân rồi

giày xưa bỏ quên bàn chân

 

Giọt trăng thuỷ tinh đã vỡ rồi

âm xưa còn ngân

mình về đêm sâu thăm thẳm

giọt trăng buốt xuống trần

 

kí ức xanh ngút ngàn rồi

con hồ ly úp mặt vào tay mà khóc

đêm không còn là đêm

chỉ còn thăm thẳm mưa xanh

 

là phiến gió vừa rớt lạnh

thềm rêu một chiều dĩ vãng

là những đứt khúc tình xa

môi non như quên mặt người

 

 Phương Uy

Ab2

thời biểu chủ nhật

 

 

 

buổi sáng:

7 giờ

thức dậy trong cơn ngủ

đánh răng nỗi buồn

rửa mặt niềm hân hoan

 

8 giờ

điểm tâm quá khứ

uống chút bâng khuâng nóng không đường

đọc ánh mặt trời trong gió

cười khan một mình

 

9 giờ

hút bụi trí nhớ

lau dọn trái tim (tuần rồi quên mua dầu gội đầu)

viết tên mình lên tờ lịch cạnh bàn computer (sợ lúc cần lại quên!)

thở dùm ai đó một lúc (mỗi ngày phải làm một điều thiện)

 

 

10 giờ

duyệt xét lại tài nguyên địa cầu

trong ngân hàng vũ trụ

trả lời email cho những người ngoài hành tinh

mở cửa đón tay đưa thư đến từ kiếp trước

cùng lúc nghe một tấu khúc câm của Paganini

và vẽ trong trí tưởng bức tranh về mùa xuân trên những vòm lá cao

mùa xuân màu đen lấp lánh những tia nắng màu rượu đỏ

trong suốt một cách gần gũi mà diệu vợi

 

 

10 giờ 35

xóa bức tranh mùa xuân màu đen trong trí tưởng

tô chân dung mình trên bìa lá nắng

 

 

11 giờ

chào hỏi bầy chim quen tới thăm trước sân nhà

ngắt vài đọt đinh lăng sẽ làm rau trong bữa ăn trưa

chợt nghĩ ra phải chép lại giấc mơ đã bên ngoài trí nhớ

giấc mơ của đêm qua hay của đêm nay chẳng biết

 

 

11 giờ 30

bấm nút chiếc nồi điện

nghe từng hạt gạo trở mình đổ mồ hôi

nhắm đến bầy bụi đang vần vũ từ vạt nắng phía khe rèm cửa sổ

như có ai gọi tên mình ở một nơi nào đó

rất xa

 

12 giờ

tiếng con chim lên giây cót báo cho biết đã về đậu trên cành mai chiếu thuỷ nhà hàng xóm

nắng miên man

dường như sẽ đủ nắng cho cả buổi chiều nay

 

 

12 giờ 15

bày biện lên bàn

ruộng vườn sông biển núi rừng

nắng làm rung rinh những cọng đinh lăng

tự nhắc mình bao điều đã không sao nhớ được

món chính trong bữa ăn trưa là những bản tin tồi tệ về con người và đất nước Việt Nam

còn lởn vởn trong đầu

 

 

13 giờ 15

con chim lên giây cót đậu trên cành mai chiếu thuỷ nhà hàng xóm báo cho biết nó bỏ đi

nó bỏ đi muộn hơn hôm qua 10 phút

rửa chén bát và nỗi muộn phiền

 

 

13 giờ 30

ra sân tìm con chuồn chuồn kim và con chuồn chuồn ớt đã gặp hôm qua

chỉ thấy cây hồng sa mạc vừa nở một đóa đìu hiu

và cây mãng cầu dai đã mất đi một quả

cái quả vừa chín tới

thầm chúc cậu học trò nào hôm nay được một bữa ngon

và gợi nhớ thời mình leo rào nhà người ăn trộm ổi

bình mực tím mồng tơi dốc ngược trên túi áo sơ mi cộc tay trắng tinh thời tuổi nhỏ

 

 

14 giờ 10

trở lại bàn làm việc

những con chữ chơi trò trốn tìm

cấu thành những mật ngữ nằm bên kia mặt giấy

nằm bên trong màn hình computer

 

 

15 giờ 5

nhắn tin cho mèo con

“buổi đọc sách của em và T.T ở cà phê Trung Nguyên thế nào?”

 

 

15 giờ 10

bầy chim ở khoảng trời trên trường thuỷ điện bay giật lùi

có những gói quà vuột khỏi tay người nhận

quay về nằm trên bàn người gửi

và có những gói quà mất tích, những cuốn sách mất tích

email của Fred Turner nói anh đã gửi cho tôi những cuốn sách của anh từ rất lâu

những cuốn sách không bao giờ tới tay người nhận

và cũng không bao giờ trở lại với người gửi

 

 

15 giờ 30 mèo con điện thoại

“anh Cún ăn trưa ngoan không nhớ em không?

em ăn trưa với T.T nhớ anh

buổi đọc sách thành công

anh Cún đọc Linda Le chưa?”

“uh, em ăn ngoan, nhớ mèo con lắm lắm

khi nào đọc xong Trên Đường, anh sẽ đọc Vu Khống

hôm nay Hội An nắng đẹp vô cùng

anh đang định rủ anh Sương đi cà phê Bờ Kè

em muốn đi thì bay ngay vào đây”

 

 

15 giờ 45

gọi điện thoại Phạm Phú Sương

 

 

16 giờ

nắng rực úa bên kia sông Thu Bồn

mặt nước lấp loá ánh ngũ sắc ánh xanh ánh bạc

như tàng trữ những điều bí ẩn của một thế giới khác

ánh tím ánh vàng

khoảng tối và sáng

mọi thứ ánh màu trộn lại của một tương lai chưa biết

một màu chân không

là màu của tàng thức khuất mặt

tất cả biến thành một giấc mơ không màu

 

 

17 giờ 30

một con chim lẻ loi bay về hướng Cô Lâu

nơi thượng nguồn của dòng sông vô định

tôi vừa ngồi

thức

và mơ thấy mình biến thành một ngọn cỏ

mọc ngược trên vách một tháp Chàm ở thánh địa Mỹ Sơn

 

 

17 giờ 45

giọt nắng chiều cuối cùng đã tắt thở trong ly beer cạn

 

 

Trần Nghi Hoàng

 

(Khởi viết ở Hội An tháng 2, 2011 – Ngày 10 tháng 7, 2016)

 

 

 

 

 

 

TinhChuaTinhNguoi

TÌNH CHÚA, TÌNH NGƯỜI

 

Văn Nghệ Boston vừa nhận được tập Thánh Ca của tác giả Nguyễn Quang Hưng

Bao gồm 49 bài Thánh Ca trình bày khuôn khổ 8.5 x 11 inch.
Lời tựa của Linh Mục Peter Nguyễn Hùng Cường M.M. và bài chia sẻ của Linh Mục Nguyễn Mộng Huỳnh, và nhạc sĩ Nhất Chi Vũ, Boston.

“…..Có những nhạc sĩ mà sáng tác của họ được biết đến nhiều hơn là chính con người của họ. Nguyễn Quang Hưng là một trong những trường hợp như thế. Rất nhiều người biết bài Thương Tiến Gia-vê, Rất nhiều ca đoàn, trong nước và hải ngoại hát Thượng Tiến Gia-vê. Nhưng có mấy ai biết tác giả là ai. Nguyễn Quang Hưng đã viết tác phẩm này ở tuổi đôi mươi như lời kinh tín thác dâng lên Thiên Chúa Ba Ngôi; khi đất nước đang ở những ngày đầu bước vào bóng tối khổ đau giữa bao hoang mang, chán chường và lo lắng….”

Linh mục Nguyễn Hùng Cường
Maryknoll, New York

Văn Nghệ Boston xin giới thiệu đến quý anh chị em văn nghệ và độc giả

 

 

 

Tiểu Sử Nguyễn Quang Hưng

Nguyễn Quang Hưng sanh ngày 10 tháng 9 năm 1955 . Tên Thánh Đa Minh
– Từ năm 1968-1975 Theo học tại các tiểu chủng viện Á Thánh Phụng và Tê-rê-xa, giáo phận Long Xuyên. Nghĩa tử của linh mục Antôn, kênh I, Tân Hiệp, Kiên Giang.
– Bắt đầu sáng tác năm 17 tuổi, từng là ca trưởng nhiều ca đoàn trong nước cũng như hải ngoại.
– Anh xa quê hương năm 1981 và định cư tại Hoa Kỳ.
– Mặc dù bận bịu với công việc, anh vẫn sinh hoạt với các ca đoàn ở những tiểu bang anh từng sống: California, Connecticut và Georgia.
– Anh được Chúa gọi về ngày 28 tháng 5 năm 2012 tại Atlanta, bang Georgia, USA.

– Bài Thánh ca nổi tiếng của Nguyễn Quang Hưng: Thượng Tiến Gia-vê thuộc thể loại Dâng Lễ được viết năm Nguyễn Quang Hưng ở tuổi đôi mươi.

 

Nghe và download mp3 nhạc Thánh ca Thượng Tiến Gia-vê:
ca đoàn Hồng Ân

http://picosong.com/tVhV


Video clip Ca đoàn Junior Mông Triệu:

 

 

Encore: C:Music EncoredangleThuongTi

 

 

VOTE2016

Chữ/nghĩa trong tranh cử tổng thống Hoa Kỳ

 

  • Trần Hữu Thục

You campaign in poetry. You govern in prose.

(Mario Cuomo)

 

 

            Trước khi các cuộc vận động tranh cử tổng thống 2016 bắt đầu, dư luận hầu như chỉ chú ý đến Hillary Clinton (Dân chủ) và Jeb Bush hay Marco Rubio (Cộng Hòa), chắn mẫm đó là những ứng cử viên thuộc loại “đảng cử dân bầu”, establishment candidates. Nhưng rồi, rất đột ngột, bên Cộng Hoà, Donald Trump xuất hiện và bằng những cú ra đòn liên tiếp, đầy hiệu quả, ông ta lần lượt đánh bại 14 địch thủ, chiếm ngôi đầu bảng. Và cũng đột ngột không kém, bên Dân Chủ, Bernie Sanders, tưởng chỉ là một nhân vật “đệm” cho Hillary, càng về sau càng nổi lên như diều gặp gió, đe dọa làm lung lay giấc mơ làm ứng cử viên nguyên đệ nhất phu nhân. Bây giờ, ván bài đã xong. Hillary và Trump đã trở thành các ứng cử viên chính thức của hai đảng. Sanders, tuy thua, nhưng chắc chắn ảnh hưởng của cuộc cách mạng chính trị (political revolution) mà ông đề xướng sẽ để lại một dấu ấn sâu đậm trong chính trường Hoa Kỳ.

Có thể nói, cuộc tranh cử tổng thống ở Hoa Kỳ lần này tập trung vào ba nhân vật nổi bật: Hillary (để khỏi lẫn lộn với Bill Clinton, tôi dùng Hillary để chỉ Hillary Clinton), Sanders, và Trump. Ba khuôn mặt, ba cách ứng xử, ba quan điểm.Trong lúc Hillary là một chính trị gia chuyên nghiệp, hiện diện trên chính trường cả mấy thập niên, nhất cử nhất động của bà ai cũng hiểu rõ, thì Sanders và Trump là hai khuôn mặt mới toanh. Họ nhập vào cuộc đua như những kẻ “ngoại đạo”. Trump là một đại gia, xuất hiện với một cá tính mạnh mẽ khác thường; Sanders là một chính trị gia lý tưởng, xuất hiện như một tư tưởng gia cấp tiến.

Một bà. Hai ông.

Hillary thận trọng, cân nhắc, chuẩn bị, nghiêm túc.

Sanders sôi nổi, nhiệt tình, lý tưởng, hăm hở, say mê.

Trump bộc trực, bày tỏ, xông xáo, tràn đầy cá tính.

 

            Chữ và người

 

            Vận động tranh cử, ở một xứ sở được tự do diễn đạt như Hoa Kỳ, là một cuộc chạy đua sử dụng chữ. Một cuộc đấu lời/đấuchữ/đấu nghĩa. Word matters! Chữ đóng vai trò quan trọng.“Chữ,” nói như N. A. Berdyaev, “có một quyền năng lớn lao trên đời sống chúng ta, đó là một quyền năng huyền bí. Chúng ta bị chữ quyến rũ và với một mức độ đáng kể, chúng ta sống trong vương quốc của chúng. Chữ hành động, giống như những quyền năng độc lập, và độc lập với chính nội dung của chúng.”[1] Chữ không phản ảnh hiện thực, nhưng lại có tác động vô cùng to lớn vào hiện thực. Nó làm biến dạng, thay đổi hay thậm chí tạo ra hiện thực. Một lý thuyết hay có thể chuyển đổi khuôn mặt xã hội và nếp sống hàng ngày. Một cuốn sách, một bản tuyên ngôn, đôi khi một câu khẩu hiệu có thể huy động người ta lao vào chỗ chết.

Trong một cuộc thăm dò dư luận về trợ cấp xã hội do National Opinion Research Center thực hiện năm 2006, khi được hỏi tiền trợ cấp xã hội là để“assistance to the poor” (giúp đỡ cho người nghèo), 65% người được thăm dò trả lời là chính phủ đã chi ra “too little” (quá ít). Nhưng nếu thay nhóm từ “assistance to the poor” bằng “welfare” thì 45% trả lời là nhà nước đã chi ra “too much” (quá nhiều). Mặc dầu “assistance to the poor” và “welfare” đều có nghĩa là giúp đỡ cho người có lợi tức thấp. Mới đây ở Việt Nam, chỉ vì dùng từ “tan xác” (thay vì máy bay rơi, hay máy bay bị tai nạn) trong một cuộc thăm dò ý kiến độc giả để mô tả chiếc máy bay Casa 212 bị tai nạn, mà nhà báo Mai Phan Lợi bị mất việc, bị điều tra và bị báo nhà nước tố cáo, lên án dữ dội. Cũng thế Việt Cộng thì khác Cộng Sản; tù nhân lương tâm, bất đồng chính kiến thì khác phản động. Vân vân.

Trong vận động tranh cử, quy cho đối thủ bằng một từ hay một nhóm từ ngắn gọn, cụ thể, tính cách tiêu cực và dễ nhớ, có thể biến chữ thành hiện thực, khiến cho cá nhân đó bị dính liền với chữ y như thể là một sinh mệnh. Chữ đột nhiên trở thành nhân cách, bản sắc, thói quen hay quan điểm của người đó. Marco Rubio, ứng cử viên của đảng Cộng Hòa, là một tay trẻ tuổi hùng biện, nhưng cách ăn nói lập đi lập lại của ông trong khi đi vận động tranh cử khiến cho ông bị gọi là “robotic” (máy móc). Rubio Robot trở thành một cách nói ẩn dụ, ám chỉ Rubio. Trong một lần tranh luận tại New Hampshire tháng 2/2016, Marco Rubio (đang có điểm thăm dò dư luận rất cao, ngang ngửa với Trump) cố gắng thoát khỏi cái nhãn hiệu quái ác này. Nhưng trong khi cố thoát, ông lập đi lập lại đến bốn lần câu “He knows exactly what he’s doing.” Nắm cơ hội này, Chris Christie, một ứng cử viên khác, chể giễu ngay: “Thấy chưa, đó chỉ là một phát biểu 30-giây-học-thuộc-lòng” (the memorized 30-second speech). Chỉ trong vòng ít phút sau, đoạn video quây lại lời nói lập đi lập lại đó lan truyền khắp mạng lưới điện toán hình ảnh của một Rubio “the memorized 30-second speech”! Nhóm từ này trở thành biệt danh mới của Rubio! Và với biệt danh này, Rubio bị thua phiếu một cách thảm hại tại cuộc bầu cử sơ bộ đảng Cộng Hòa diễn ra vài ngày sau đó tại tiểu bang New Hampshire. Quả là một cách chụp mũ vô cùng hiệu quả!

Nhưng chính Trump mới là bậc thầy trong nghệ thuật chụp mũ. Ông gọi các đối thủ, đôi khi khá tùy hứng, bằng những tên khác nhau: chế giễu dáng người nhỏ nhắn, thấp của Rubio là small Rubio; chế giễu cái tật hay uống nước của Rubio khi đi vận động sweat Rubio. Chể giễu đối thủ nặng ký Hillary về việc bà này bỏ phiếu ủng hộ cuộc xâm lăng Iraq (rồi sau đó, xin lỗi) hay sử dụng email cá nhân (rồi sau đó xin lỗi) là crooked Hillary (Hillary lươn lẹo). Chế giễu cung cách vận động từ tốn, đơn điệu của Jeb Bush bằng low-energy Jeb, hoặc chế giễu số tiền quyên góp khá nhiều của Jeb là “puppet of the donors” (con bù nhìn của những người tài trợ). Trong một lần tranh luận, Trump gọi Cruz là “Lying Ted” (Ted dối trá). Trong thực tế, không hẳn Cruz dối trá, nhưng cách nói của ông ta có cái gì ít đáng tin trong lúc Trump thì nghe có vẻ thành thật. Rõ ràng là Trump cường điệu hóa, nhưng ông ta dường như tin những điều ông ta nói và nói thẳng ra những gì mình nghĩ. Rốt cuộc, hóa ra, cách chụp mũ của Trump có hiệu quả: Ted Cruz trông có vẻ dối trá thật! Tóm lại, có thể nói, chụp mũ là một đòn tu từ độc hiểm, một cách đặt tên tuy đơn sơ, khôi hài và thậm chí hạ cấp nhưng có một hiệu quả đáng kể. Các đối thủ của Trump trong đảng Cộng Hòa dường như bất lực, không tìm ra được cách đối phó, ngoài những phản ứng khá thụ động hay im lặng chịu trận.

            Nói chung, cách sử dụng ngôn ngữ của Trump giản dị nhưng sắc bén hơn các đối thủ. Ông nói ngắn, gọn, trực tiếp, khẳng định, dứt khoát. Theo cuộc nghiên cứu về ngôn ngữ của các ứng cử viên tổng thống năm nay,[2] thì trong cách chọn chữ, Sanders là nhất, trình độ trên học sinh lớp 10, chỉ thua Reagan chút ít. Kế đó là Rubio, tiếp theo là Hillary và Cruz. Trump xếp hạng chót, tương đương trình độ lớp 7. Về văn phạm, Rubio cao nhất, trung bình ở lớp 7; Hillary, Sanders và Cruz thấp hơn nhiều. Còn Trump vẫn ở hạng chót. Về từ vựng, phong phú và thay đổi nhiều nhất từ diễn văn này đến diễn văn khác là Hillary. Là một chính trị gia chuyên nghiệp, Hillary hiểu rõ sự khác nhau giữa các loại khán giả đến nghe, nên thay đổi cho hợp sở thích và quan điểm của mỗi loại người. Trump vẫn ở hạng chót, với một số lượng từ vựng giới hạn. Tuy thế, do tính cách dễ hiểu và trực tiếp, cách nói của ông dễ dàng truyền đạt đến nhiều thành phần khác nhau trong cùng một lúc.Vả lại, là người có xu hướng chống lại cơ chế quyền lực hiện đương, từ chính phủ ở Washington cho đến bộ máy điều khiển hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa, Trump xuất hiện như một khuôn mặt mới lạ, không giống cung cách đơn điệu của các chính trị gia chuyên nghiệp và do đó, dễ lôi cuốn quần chúng, nhất là những người da trắng quá chán nản với những bế tắc chính trị thường diễn ra trong chính trường Hoa Kỳ.

Tất nhiên, các chính trị gia và giới học giả đánh giá thấp Trump. Ít ra là lúc đầu. Lý do rất đơn giản: họ cho rằng thái độ thận trọng và sử dụng ngôn ngữ thích hợp trong cung cách ứng xử với quần chúng là tiêu chuẩn phổ biến, được mọi người chấp nhận.Tiêu chuẩn đó không hẳn lúc nào cũng hay, cũng đúng và cũng gây nên hiệu quả mong muốn nhưng rõ ràng là một cách ứng xửđầy ưu thế, nhất   với những người nổi tiếng.Vô hình trung, điều này tạo thành một trục văn hóa quyền lực bao gồm giới trí thức, ngành truyền thông và ngành giải trí (academia/media/entertainment Axis). Chữ/nghĩa của Trump là một nghịch đảo đối với trục văn hóa đó. Thay vì “phải đạo” (political correctness = PC), ông ta ăn nói bừa phứa theo kiểu “chống-phải đạo” (anti-PC); thay vì lời nói phải trước sau như một (nhất dĩ quán chi = nhất quán)để tạo sự tin cậy, Trump là phi-nhất quán. Nhiều lần, Trump flip-flop một cách hồn nhiên, thậm chí, như một thủ thuật. Hôm nay nói thế này, mai nói thế khác và mốt lại nói khác nữa.Tất nhiên, đây là khuyết điểm. Nhưng ông tìm cách khai thác nó như một lợi điểm. Trước khi ông ta đến nói chuyện trong một cuộc tập họp quần chúng nào đó, thường thì khán giả và báo chí không đoán biết ông ta sẽ nói những gì, sẽ sỉ nhục hay xúc phạm những ai và sỉ nhục, xúc phạm kiểu nào. Điều này khêu gợi trí tưởng tượng và sự tò mò của quần chúng, nhất là đối với giới truyền thông, luôn luôn cần tin giật gân. Chả thế mà, so với các đối thủ, Trump tiêu rất ít tiền để quảng cáo, nhưng lại hưởng được sự chú ý tối đa của nghành truyền thông đến nỗi giới kinh tế gia ước tính trị giá đến cả hai tỷ đô la nếu phải thuê bao trực tiếp.

Bảng phân tích sau đây cho ta một cái nhìn về cách ăn nói biểu lộ tính cách con người như thế nào:[3]

 1

 

Theo thứ tự con số từ cao đến thấp, người có vẻ nói láo nhiều nhất là Cruz (+ .88), kế đến là Rubio (-.10), rồi Hillary (-.46), Sanders (-.65) vàít nói láo nhất – có nghĩa làthành thật nhất – là Trump (-.97).

Cruz trông ra vẻ“giáo sư” nhất (+0.89) kế đến là Sanders (+0.74) rồi Hillary (+0.24).Trump là người ít có vẻ “giáo sư nhất” (-1.78).

Cũng theo thang điểm trên, người ăn nói ít đàn bà nhất (hay có tính cách đàn ông nhất) là Sanders (- 3.18).Trong lúc đó, người ăn nói có vẻ đàn bà nhất lại là Trump (+ 4.24) rồi sau đó mới đến Hillary (+ 1.14). Nói khác đi, Hillary ít có vẻ đàn bà hơn Trump. Trump “đàn bà” vì hay đề cập đến “cái tôi” của mình: tôi giàu, tôi giỏi, tôi đúng. Ông sử dụng cách nói nhắm vào cảm tính người nghe (xây bức tường ở biên giới Mexico-Mỹ, cấm người Hồi giáo nhập cư), hay nói kiểu xách mé, xuy tì cá nhân, chẳng hạn chế giễu tật hay uống nước của Rubio. Nói chung,  ngôn ngữ của Trump có tính sỉ nhục và kỳ thị. Những nhà nghiên cứu cho đó là thứ ngôn ngữ gây xúc động (emotionally-charged language), tuy khó nghe, nhưng lại khiến cho Trump có vẻ thành thật (hơn các ứng cử viên khác).[4]Trong lúc đó, Hillary thường dùng những từ nghe kêu (big words), nặng tính suy tư và kế hoạch hơn là gây xúc động, chẳng hạn như chính phủ, gia đình, kinh nghiệm, thành tích, y tế, tiền nong, trợ cấp, vân vân. Nghe không có gì mới, nếu không muốn nói là “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”!

Ăn nói có vẻ là một người thất vọng nhất là Cruz (+1.16), kếđó là Trump (+.23) và ít thất vọng nhất (lạc quan nhất) là Rubio.

Người ăn nói có vẻ “tổng thống” nhất là Hillary (+1.99) kếđó là Sanders (+.92) vàít “tổng thống” nhất là Trump (-3.17).

Tóm lại, Trump thường chiếm cái “ít nhất” và “nhiều nhất”.

 

Văn và thơ

 

Hillary là người vất vả nhất trong cuộc vận động tranh sự đề cử của mình vì sự nổi lên bất ngờ của Sanders. Sanders đề ra một cuộc cách mạng, gọi là cách mạng chính trị (political revolution) dựa vào quần chúng: tố cáo giới tài phiệt, đòi tăng lương tối thiểu, đòi miễn phí cho sinh viên đại học. Để chống lại một Hillary sành sõi và là ứng cử viên con cưng của đảng, được sự hỗ trợ dồi dào về tiền bạc của giới giàu có, Sanders đưa ra hình ảnh của một Hillary nhận tiền tài trợ của Wall Street và chỉ phục vụ quyền lợi cho giới tài phiệt. Để lôi kéo thế hệ trẻ, thế hệ millennials (Millennial Generation = những người trẻ tuổi ra đời trong khoảng trước và sau năm 2000), Sanders hô hào học đại học miễn phí. Để lôi kéo giai cấp công nhân, Sanders đòi hỏi tăng lương tối thiểu lên 15 đô la/giờ và đề ra chính sách y tế toàn dân, ai cũng được bảo hiểm sức khỏe không tốn tiền. Tóm lại, Sanders xuất hiện như một niềm hy vọng, một hình ảnh mới mẻ và sáng lạn của tương lai. Ngay lập tức, ông thu hút một cách mạnh mẽ giới trẻ. Trong lúc những cuộc nói chuyện của Hillary chỉ có chừng vài trăm người tham dự, cao lắm là 1000, hầu hết là giới già, những cuộc tập họp của Sanders thường rất hoành tráng, rất sôi nổi với sự tham dự cuồng nhiệt khác thường của hàng chục ngàn người. Điều đó đưa đến chỗ Sanders thắng Hillary ở rất nhiều tiểu bang, có nơi thắng rất đậm. Có lúc, trước phong trào ủng hộ Sanders của giới trẻ, tưởng chừng như lịch sử được lập lại: một Hillary nguyên đệ nhất phu nhân và thượng nghị sĩ nổi danh hoàn vũ thua một Obama da màu vô danh tiểu tốt một cách cay đắng 8 năm trước đây.

Để chống lại Sanders, Hillary làm gì?

Bà ta sử dụng một ý tưởng khá lạ: campaign-in-poetry, govern-in-prose. Ý tưởng này xuất phát từ một thành ngữ dân gian, you campaign in poetry, you govern in prose” (vận đồng bằng thơ, cai trị bằng văn) đã được Mario Cuomo, vốn là thị trưởng New York, biến thành một ẩn dụ chính trị dùng làm tiêu đề tranh cử. Quái! Văn thơ thì dính líu gì đến vận động tranh cử tổng thống? Hillary chẳng phải là nhà văn và Sanders cũng chẳng phải là nhà thơ. Hãy nghe Hillary giải thích: “Như quý vị biết, ta có thể nói tất cả mọi sự ta muốn nói trong khi tranh cử, nhưng một khi bầu cử xong rồi, chúng ta phải cùng nhau làm việc để giải quyết vấn nạn mà đất nước đang gặp phải.” Với một người từng trải trong chính trường, Hillary biết rõ biến những lời hứa hẹn thành hiện thực là một điều rất khó. Khi chưa nắm quyền, người ta có thể hứa hẹn đủ điều, nhưng khi nắm quyền rồi, thực tế không cho phép thực hiện được. Cho nên, bà không hứa hẹn. Bà không muổn chỉ “hô khẩu hiệu” hay “tranh cãi tu từ” mà chỉ muốn đưa ra kế hoạch, muốn giải quyết vấn đề bằng kinh nghiệm và kiến thức.

Thì ra thế! Với Hillary, những chính sách Sanders đề ra trong cuộc tranh cử chỉ là những bài thơ. Thơ thì tùy hứng, tùy thích, muốn gì nói nấy, không cần quan tâm tới chỗ có thực hiện được hay không. Nghĩa là những hứa hẹn vu vơ. Còn bà, bà chỉ quan tâm đến việc thực hiện những gì có thể thực hiện được. Liệu có làm được thì mới đề ra, liệu không làm được thì …thôi. Chẳng thế mà, các bài diễn văn của Hillary nặng về các sáng kiến vàchính sách, nhưng nhẹ về ước mơ. Trong một lần tranh luận, được hỏi về ưu tiên hàng đầu là gì, bà liệt kê một lô các điều cần làm, từ sử dụng điện mặt trời cho đến hạ giá thuốc hay chăm sóc gia đình, vân vân. Theo bà, phe cấp tiến đi tìm vần thơ, trong lúc bà là một người đam mê những điều cần làm để đưa ra quốc hội thông qua, nghĩa làbàchỉmuốn viết văn, thứ văn xuôi, văn tả thực. Hillary cho rằng Sanders hình như tin tưởng rằng ông ta có thể hoàn thành chương trình của ông như một chiếc đũa thần, vung chiếc đũa lên là…mọi chuyện thay đổi, là cách mạng hoàn thành. Đây cũng chính là điều mà bà cáo buộc ứng cử viên trẻ tuổi da đen Obama trước đây. “Lý thuyết không đủ, một tổng thống phải thực tế,” Hillary phát biểu. Bà không quan tâm đến những ý tưởng nghe rất hay trên giấy tờ nhưng không bao giờ thực hiện được. Hillary gọi Sanders là ứng cử viên một-vấn-đề (one-issue candidate); hơn thế nữa, ứng cử viên tưởng tượng (imaginary candidate).

Trong lúc đó, Sanderstập trung, chuyên tâm quãng diễn thế giới quan và viễn kiến của mình, không cần biết đến những trở ngại. Hình ảnh một Sanders tóc tai nhàu nhò, bạc phơ, dáng dấp nghệ sĩ, ăn nói hùng hồn, nhiệt tình trước hàng chục ngàn thanh thiếu niên ngời ngời sức sống, là một bài thơ lớn, đủ sức đánh bạt một Hillary đệ-nhất-phu-nhân-thượng-nghị-sĩ-bộ-trưởng-ngoại-giao.Điều quan trọng không phải là tài hùng biện, nghệ thuật tranh cãi của ông, mà là niềm cảm hứng và sự say mê của những người trẻ đang khát khao sự thay đổi. Thành thử, các luận cứ thực tế mà Hillary nêu ra không dễ dàng đánh đổ được cơn lốc Sanders. Giới trẻ vẫn tìm đến Sanders. Như trước đây giới trẻ tìm đến với Obama, chỉ vì họ tin rằng “Yes, we can.” Họ mơ mộng. Họ thích được vuốt ve bởi niềm hy vọng hơn là những trở ngại trong thực tế.

Dường như dần dần, Hillary đã nhận ra điều đó. Trong những lần vận động về sau, Hillary có thêm vào một ít chất “thơ”: cũng đòi tăng lương tối thiểu lên 12, rồi 15; cũng phê phán giới tài phiệt, phê phán Wall Street…Báo chí gọi là bà bị Sanders đẩy dần sang “tả” (tả khuynh). Và rốt cuộc, bà cũng thắng. Hú hồn! Thực ra, cái cách làm thơ của Hillary chỉ là thứ thơ gượng, chẳng gây nên tác dụng gì đáng kể. Chẳng qua, ngọn lửa Sanders cũng chỉ là lửa rơm. Ông khoái trá với giới trẻ mà quên mất giới già, khoái người da trắng mà quên mất người da màu, khoái mặt nổi mà quên mất bề chìm. Người ta thà ăn cơm nguội mà yên tâm hơn ăn cơm mới, biết đâu đau bụng!  Viết văn dở còn hơn làm thơ hay.

 

 

 

 2

Thực ra, Hillary chẳng hề viết văn.

Còn Sanders thì chẳng muốn làm thơ. Thậm chí, ông quên luôn cả người làm thơ cho mình. Do một tình cờ trong khi đi lục tìm hồ sơ của Sanders tại Burlington tháng 6 năm 2015,  một thông tín viên của tờ Guardian Anh, tìm thấy một bài thơ viết tay có tựa đề là Burlington Snow (Tuyết Burlington).Tác giả là một nhà thơ tên tuổi Hoa Kỳ, Allen Ginsberg.[5] Ginsberg là người Mỹ gốc Do Thái, cũng như Sanders. Bài thơ được viết vào một ngày tuyết phủ tháng 2 năm 1986, khi nhà thơ đến thăm Burlington và thăm người thị trưởng 4 nhiệm kỳ của thành phố này là Sanders. Tuy không hề nhắc đến tên Sanders nhưng rõ ràng là bài thơ được cảm hứng bởi – và gián tiếp ca ngợi – người thị trưởng xã hội chủ nghĩa này. Được phổ biến rộng rãi trên mạng lưới trong thời gian Sanders đi vận động tranh cử, bài thơ đã tăng thêm niềm cảm hứng cho những người yêu thơ và các người ủng hộ Sanders.[6]

Bài thơ tìm thấy quả là một tình cờ lý thú trong cuộc tranh cử năm nay.

 

 3

 

 

                        Socialist snow on the streets

                        Socialist talk in the Maverick bookstore

                        Socialist kids sucking socialist lollipops

                         Socialist poetry in socialist mouths

                         —aren’t the birds frozen socialists?

                        Aren’t the snowclouds blocking the airfield

                        Social Democratic Appearances?

                        Isn’t the socialist sky owned by

                         the socialist sun?

                        Earth itself socialist, forests, rivers, lakes

                        furry mountains, socialist salt

                        in oceans?

                        Isn’t this poem socialist? It doesn’t

                        belong to me anymore.

                        (Tạm dịc: Tuyết xã hội chủ nghĩa trên đường

                        Chuyện trò xã hội chủ nghĩa trong tiệm sách Maverick

                        Những đứa bé xã hội chủ nghĩa mút kẹo xã hội chủ nghĩa

                        Thơ xã hội chủ nghĩa trong những cái miệng xã hội chủ nghĩa         

  • phải chăng những con chim cũng là những nhà xã hội chủ nghĩa lạnh cóng?

Phải chăng những đám tuyết xã hội chủ nghĩa phủ kín phi trường cũng là Những Diện Mạo Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa?

Phải chăng bầu trời xã hội chủ nghĩa cũng được sở hữu bởi mặt trời xã hội chủ nghĩa?

Đất đai chính nó cũng là xã hội chủ nghĩa, rồi rừng, rồi sông, rồi hồ ao, núi rừng rậm rạp, và cả muối trong đại dương cũng xã hội chủ nghĩa

                        Và ngay cả bài thơ này cũng xã hội chủ nghĩa? Nó chẳng còn thuộc về tôi nữa rồi)

            Bài thơ không có gỉ đặc sắc, nhưngtạo khá nhiều ấn tượng vì sự lập đi lập lại nhóm từ “xã hội chủ nghĩa”. Nó không nói đến hình ảnh một thiên đường hay một xã hội hoàn chỉnh, hạnh phúc mà chỉ đưa ra những hình ảnh đầy ước mơ của một xã hội, nơi mà mọi sự vật đều nhuốm màu xã hội chủ nghĩa, từ tuyết trên đường phố cho đến bầu trời, chim chóc, mặt trời…Và kể cả chính bài thơ. Isn’t this poem socialist? It doesn’t belong to me anymore. À, thì ra, xã hội chủ nghĩa có nghĩa là phi-cá nhân! Bài thơ mang hơi hướm của một khôi hài ý nhị.

            Rất nhiều lần, nhìn Sanders hùng hồn thuyết trình về cuộc cách mạng chính trị của ông trước hàng chục ngàn thanh niên sinh viên học sinh lứa tuổi millennials, tôi không khỏi nhớ lại niềm say mê của thế hệ chúng tôi ở Việt Nam thời thập niên 1960. Một số bạn tôi say mê lý tưởng Cộng Sản và tham gia hoạt động. Riêng tôi và nhiều bạn bè khác thì không thích Cộng Sản, nhưng hầu như ai cũng ước mơ một cuộc cách mạng xã hội: bình đẳng, dân tộc, giải phóng, không còn áp bức, bất công, không có kẻ giàu người nghèo…Thực tế cho thấy, trong cả thế kỷ qua, tất cả chỉ là những ước mơ. Cái gọi là xã hội chủ nghĩa chỉ đưa đất nước vào chỗ lạc hậu, áp bức, chiến tranh, nghèo đói. Những tưởng các kinh nghiệm cay đắng từ các nước Cộng Sản   chủ nghĩa xã hộitrôi hẳn vào lãng quên của lịch sử, ấy thế mà ở nước Hoa Kỳđại tư bản vào thế kỷ 21 này, vẫn còn một Sanders hùng hồn hô hào cách mạng xã hội chủ nghĩa và lôi kéo hàng trăm ngàn thanh thiếu niên vào cuộc.Chẳng lẽ ông muốn biến Hoa Kỳ thành một Trung Cộng, Việt Nam? Hay Bắc Hàn, Cu Ba?

Đúng là ông Sanders làm…thơ!

            Nói thơ và văn, nhưng chẳng có bài văn nào cũng chẳng có bài thơ nào. Chỉ là một cái nắp đầy thơ để che đậy một hiện thực văn xuôi xương xóc!

 

 5

                                                                         *

Người và chữ

 

Sau những ồn ào náo nhiệt đua tranh của những người muốn thử sức, bây giờ chỉ còn Trump đối diện với Hillary. Một ông/một bà. Hai ứng cử viên và hai bộ máy tranh cử bắt đầu vận hành. Bây giờ thì không còn văn. Cũng chẳng còn thơ. Mà là một cuộc đấu loại hoành tráng kéo dài đến tháng 11. Chính sách thì đã có. Chiêu bài cũng đã có. Chiêu thức nào sẽ được sử dụng? Những vết đen nào trong tiểu sử cá nhân sẽ bị đem ra soi mói, mổ xẻ? Biến động xảy ra, tạo ảnh hưởng lên cuộc đua?

Riêng tôi, tôi quan tâm đến chữ/nghĩa. Nên để kết luận bài viết, tôi chọn ra một số lời/chữ điển hình mà Trump và Hillary phát biểu trong nhiều dịp khác nhau.

Trump:

  • My life has been about winning. My life has not been about losing.” (Đời tôi chỉ toàn là thành công. Đời tôi không hề thất bại)
  • Part of the beauty of me is that I am very rich.” (Một phần trong cái đẹp ở tôi là tôi rất giàu)
  • We can’t continue to allow China to rape our country” (Chúng ta không thể cho phép Tàu cứ mãi hiếp dâm đất nước chúng ta)
  • With the proper woman you don’t need Viagra” (Với người phụ nữ thích hợp thì bạn không cần đến Viagra)
  • I will build a great wall – and nobody builds walls better than me, believe me – and I’ll build them very inexpensively. I will build a great, great wall on our southern border, and I will make Mexico pay for that wall. Mark my words.” (Tôi sẽ xây một bức tường lớn – tin tôi đi, chẳng ai xây tường giỏi hơn tôi đâu – và tôi sẽ xây chúng giá rất rẻ. Tôi sẽ xây một bức tường lớn, thật lớn trên biên giới phía nam nước ta, và tôi sẽ buộc Mexico phải trả tiền xây tường. Hãy nhớ lời tôi nói.)
  • It’s freezing and snowing in New York – we need global warming!” (Ở New York, trời quá lạnh và tuyết nhiều – chúng ta cần ấm nóng toàn cầu!)
  • I’ve said if Ivanka weren’t my daughter, perhaps I’d be dating her.” (Tôi đã nói là nếu Ivanka mà không phải là con gái tôi, có lẽ tôi sẽ hẹn hò với nàng)

 6

 

 Hillary:

  • Like it or not, women are always subject to criticism if they show too much feeling in public.” (Dù thích hay không, phụ nữ luôn luôn dễ bị phê bình nếu họ bày tỏ quá nhiều xúc cảm giữa chốn công cộng)
  • I have a million ideas. The country can’t afford them all.” (Tôi có cả triệu ý tưởng. (Nhưng) đất nước không thể dung chứa tất cả chúng)
  • The difference between a politician and a statesman is that a politician thinks about the next election while the statesman think about the next generation.” (Sự khác nhau giữa một chính trị gia và một chính khách là chính trị gia thì suy nghĩ về cuộc bầu cử sắp tới trong khi chính khách thì suy nghĩ về thế hệ sắp tới)
  • I think that you can disagree with people and debate over their positions with issues without engaging in the politics of personal destruction.” (Tôi cho rằng bạn có thể không đồng ý với người khác và tranh cãi về các vấn đề họ nêu ra mà không mưu đồ phá hoại cá nhân)
  • If I want to knock a story off the front page, I just change my hairstyle.” (Nếu tôi muốn lấy đi một câu chuyện ra khỏi trang bìa, tôi chỉ cần thay kiểu tóc)
  • Women are the largest untapped reservoir of talent in the world. (Phụ nữ là hồ chứa tài năng lớn nhất chưa khai thác hết của thế giới)
  • Human rights are women’s rights, and women’s rights are human rights.” (Quyền con người là quyền phụ nữ và quyền phụ nữ là quyền con người)
  • I think that if you live long enough, you realize that so much of what happens in life is out of your control, but how you respond to it is in your control. That’s what I try to remember.” (Tôi cho rằng nếu bạn sống đủ lâu, bạn sẽ nhận ra rằng bạn không thể kiểm soát hết rất nhiều điều xảy ra trong cuộc đời của bạn, nhưng bạn có thể kiểm soát được cách mà bạn đối phó với chúng. Đó là điều mà tôi cố nhớ)

Trump: lạ chữ, lạ nghĩa.

Hillary: quen chữ, quen nghĩa. So so!

Người sao chữ vậy! Phải chăng?

 

*

 

 

Cứ bốn năm một lần, người Mỹ lại lấy dao  kéo ra tự giải phẫu chính mình. Khác với tinh thần tốt khoe xấu che thường thấy, Mỹ lại tốt khoe, xấu cũng khoe. Vận động tranh cử y như thể là cái dịp để các ứng cửviên tố cáo chính đất nước mình. Nước Mỹ rốt cuộc, qua tranh cử, là một con bệnh kinh niên. Cái mã ngoài nào là giàu có, văn minh, tân tiến, hùng mạnh, nhân quyền, tự do, dân chủ, vân vân và vân vân, qua miệng của các ứng cử viên, là một đất nước đầy dẫy những điều tiêu cực: bất công, giết người, khoảng cách biệt lớn lao giữa giàu-nghèo, tham nhũng, kinh tế suy thoái, người giàu thìtrốn thuế, kẻ lợi tức thấp lại đóng thuế nhiều…Sự hiện diện của Sanders với hàng trăm ngàn sinh viên học sinh ủng hộ cũng như sự hiện diện của Trump với những chính sách mới lạ, khác thường, cực đoan, cho thấy nước Mỹđang đối diện với những vấn nạn lớn lao. Y như thể nước Mỹ này là một cái gì đang hư hỏng, tan rã. Nó cần một cuộc “cách mạng”: political revolution (Sanders). Nó mất đi tính cách vĩ đại vốn có, nên phải “make America great again” (Trump). Các tầng lớp nhân dân bị ngăn cách, không được hưởng thụ quyền lời đồng đều, cần phải phá vỡ các rào cản: break down all barriers (Hillary).

Ấy thế mà, cái nước Mỹ đó, mới đây, lại vẫn được Putin, con người Nga kiêu ngạo ấy, thừa nhận: Mỹ vẫn là siêu cường.

Cái gì làm Mỹ trở thành một siêu cường? Có lẽ vì nó biết giải phẫu chính mình.

Nó biết mình là một con bệnh. Luôn luôn có bệnh. Nhà nước là một con bệnh. Đảng phái là một con bệnh. Không ai là hào quang của ai. Không ai là anh hùng của ai. Không ai là sự nghiệp của ai. Không ai là thần thánh của ai. Không ai phải nợ ai. Không ai phải biết ơn ai. Không có cái gì làđúng, sai vĩnh viễn.

Vâng, Mỹ là siêu cường.

Một siêu cường bệnh hoạn!

 

 

Trần Hữu Thục

(6/2016)

[1]Words  and Reality in Societal Life, Nikolai Alexandrovich Berdyaev (1874-1948).

  Xem: http://www.berdyaev.com/berdiaev/berd_lib/1915_206.html

[2]Tracking the language of public figures/Kayla N. Jordan and James W. Pennebaker, University of Texas at Austin.

Xem: https://wordwatchers.wordpress.com/

[3] Bđd

[4]Donald Trump’s language could win him the presidency, Daily Mail, Jun 25, 2016
  Xem: http://www.dailymail.co.uk/sciencetech/article-3502925/Donald-Trump-s-language-win-presidency-Candidates-use-emotional-words-votes-times-crisis.html

[5]Allen Ginsberg (1926-1997), thủ lãnh của phong trào Thế hệ Beat (Beat Generation) Hoa Kỳ, tác gia bài thơ nổi tiếng “Howl” (Tiếng tru).

[6]Allen Ginsberg’s Handwritten Poem For Bernie Sanders, “Burlington Snow” (1986), trang mạng Openculture.

   Xem: http://www.openculture.com/2015/07/allen-ginsbergs-handwritten-poem-for-bernie-sanders-burlington-snow-1986.html

CatLuoi

“Quyền lịch sử” của Trung Cộng trên Biển Đông là quyền gì?

 

Trong vài ngày qua từ các trang mạng xã hội, diễn đàn, cho đến các tầng lớp, thế hệ Việt Nam trong cũng như ngoài nước, một luồng sóng cảm tình dành cho Philippines tràn ngập, nhiều hơn cả khi quốc gia này bị cơn bão Yolanda càn quét cách đây ba năm. Đây là một tình cảm rất tự nhiên giữa những người cùng số phận nhỏ nhoi nhưng phải đương đầu với một Trung Cộng to lớn và đầy tham vọng.

 

Ủng hộ Philippines không có nghĩa ủng hộ chủ quyền của Phi trên các đảo Philippines đòi hỏi mà là ủng hộ một nước dân chủ nhưng sức yếu chống lại một Trung Cộng bá quyền bành trướng.

 

Phán quyết của Tòa án Trọng tài Thường trực (Permanent Court of Arbitration, PCA) không có nghĩa sẽ làm ngưng tranh chấp và phần thắng chỉ thuộc về  Philippines vì rất nhiều quốc gia trong vùng có quyền lợi trực tiếp nhưng chưa chọn cách giải quyết tranh chấp qua phương pháp trọng tài.

 

Ý nghĩa quan trọng trong phán quyết là quốc tế hóa được cuộc tranh chấp, tạo khả năng mặc cả đa phương giữa các bên liên hệ trước một hội nghị hay trước tổ chức trọng tài quốc tế, giới hạn chiếc bẫy “thảo luận song phương” chỉ nhằm “câu giờ” của Trung Cộng.

 

Với những quốc gia chủ trương quốc tế hóa Biển Đông, chiến thắng của Philippines mở ra cánh cửa đàm phán xa hơn về quyền lợi và trách nhiệm một cách bình đẳng giữa các nước trong vùng.

 

Với các cường quốc Mỹ, Nhật, chiến thắng của Philippines giúp cho họ thêm lý do quốc tế để can thiệp cụ thể và tích cực hơn trong tranh chấp.

 

Một cái tát của PCA chỉ nhắm vào mặt Trung Cộng thôi, đó là việc phủ nhận quan điểm “quyền lịch sử”, lý luận cốt tủy mà Trung Cộng dùng để biện hộ cho “đường lưỡi bò” trên Biển Đông.

 

Như chúng ta đều biết, trong hầu hết các văn bản, tuyên bố, phát biểu, các lãnh đạo Trung Cộng luôn nhắc tới nhắc lui câu “quyền lịch sử của Trung Quốc” để cho rằng 90% của Biển Đông vốn thuộc về Trung Quốc không phải hôm nay mà từ hai ngàn năm trước.

 

Nhưng tòa phán: Toà nhận thấy dù trong lịch sử, những người đi biển, ngư dân từ Trung Quốc và các nước khác đã sử dụng các đảo tại Biển Đông nhưng không có bất kỳ bằng chứng nào cho thấy về mặt lịch sử Trung Quốc đã chỉ một mình thực hiện việc kiểm soát vùng nước này cũng như tài nguyên tại đây. Vì vậy, Toà kết luận không có cơ sở pháp lý để Trung Quốc yêu sách quyền lịch sử đối với tài nguyên tại các vùng biển phía bên trong “đường 9 đoạn“.

 

Đặng Tiểu Bình và “quyền lịch sử”

 

Vào thập niên 1960, Đặng Tiểu Bình là trưởng phái đoàn đại diện Trung Cộng trong đàm phán với Liên Xô về chủ quyền của các đảo Trân Bảo, Ẩn Long và Hắc Hạt Tử trong khu vực sông Ussuri. Khi có phiên họp, phái đoàn họ Đặng không chỉ mang theo giấy tờ tài liệu mà còn chở theo nhiều toa xe lửa chứa đầy sách vở và đồ vật để chứng minh “quyền lịch sử” của Trung Quốc trên các đảo này.

 

Trung Quốc vốn là một nước đông dân, diện tích rộng, có nền văn minh phát triển sớm, có chiều dài lịch sử mấy ngàn năm, do đó, việc tổ tiên họ đã từng đến, từng đi đánh cá, từng đặt chân một đôi ngày, từng mô tả trong văn chương thơ phú về các hòn đảo đó thì cũng không có gì là đáng ngạc nhiên. Những tài liệu phía Đặng Tiểu Bình đưa ra hay vật dụng họ góp nhặt được dù bao nhiêu cũng không thuyết phục Liên Xô hay chứng minh những đảo đó thuộc chủ quyền của Trung Quốc.  Dĩ nhiên hai đàn anh CS không đưa tranh chấp ra PCA như ngày nay.

 

Sau hơn 20 năm vừa đánh vừa đàm, một hiệp ước biên giới Liên Xô – Hoa đã được ký kết lần đầu vào tháng 10 năm 1991, lần nữa vào tháng 10 năm 2004 với Nga và lần cuối cùng vào tháng 7, 2008 cũng với Nga. Cả Trung Cộng lẫn Nga đều biết, lý do chính của xung đột trước đây không phải là lãnh thổ mà là sự tranh chấp quyền lực của hai nước cộng sản đàn anh trong phong trào cộng sản quốc tế. Khi Liên Xô sắp sụp đổ, chủ quyền trên các đảo vốn không chứng tỏ một tiềm năng kinh tế nào không còn là yếu tố quan trọng để giằng co, tranh chấp nữa. Cái gọi là “quyền lịch sử” không đóng vai trò gì trong hiệp ước biên giới giữa Liên Xô và sau đó là Nga với Trung Cộng.

 

Tân Hoa Xã giải thích “quyền lịch sử

 

Theo báo Time, hôm 12 tháng 7 vừa qua, các đài truyền hình Trung Cộng cho chiếu một số tranh hoạt họa của Tân Hoa Xã như là cách để giải thích cái gọi là “quyền lịch sử” của Trung Cộng trên Biển Đông.

 

Một trong số tranh hoạt họa là mẫu đối thoại ngắn giữa ba con thú đại diện cho ba thành phần trong vụ kiện. Một con cáo đại diện cho PCA, một con khỉ tí hon đại diện cho Philippines và con Panda dễ thương đại diện cho Trung Cộng. Con Panda trả lời câu hỏi tại sao Trung Cộng có “quyền lịch sử”, bởi vì “chúng tôi đã giong buồm và đánh cá trên biển Nam Trung Hoa ngay cả trước khi Chúa Jesus ra đời”.

 

Việc cho rằng người dân Trung Hoa đã từng “giong buồm và đánh cá” nên Biển Đông thuộc Trung Cộng nghe phi lý đến mức buồn cười; tuy nhiên, đây lại là lý luận chiến lược mà Trung Cộng áp dụng trong đàm phán biên giới từ ngày lập quốc CS năm 1949 tới nay.

 

“Quyền lịch sử”  dưới mắt  Hitler và các lãnh đạo Trung Cộng

 

Đối với quốc tế, “quyền lịch sử” của Trung Cộng đúng như PCA phán quyết không có giá trị gì nhưng với không ít dân Trung Cộng bị tuyên truyền tẩy não, đó lại là quyền “thiêng liêng, bất khả xâm phạm”.

 

Quan điểm cực đoan Đại Hán này là sản phẩm của bộ máy tuyên truyền bắt đầu từ thời Đặng Tiểu Bình và nâng lên thành “Giấc Mơ Trung Quốc” dưới thời Tập Cận Bình.  Họ Đặng và nay họ Tập cho rằng Trung Cộng không chủ trương xâm lược quốc gia nào hay dân tộc nào mà chỉ thu hồi lãnh thổ và lãnh hải vốn thuộc Trung Quốc.

 

Lý luận ngụy biện và điên cuồng này là bản sao quan điểm của Hitler đã dùng để khai mào cho Thế chiến Thứ Hai khi y cho rằng Đức chỉ nhằm “phục hồi những lãnh thổ vốn thuộc về Đức nhiều thế kỷ”.

 

Tương tự, khẩu hiệu “100 năm sỉ nhục” được các lãnh đạo Trung Cộng dùng làm củi để đun lò lửa dân tộc cực đoan tại Trung Cộng cũng không khác gì lời lẽ Hitler đã viết về hiệp ước Versailles trong Mein Kampf: “Mỗi điểm của hiệp ước đã ghi sâu vào ý thức và con tim của dân tộc Đức và đốt cháy họ cho đến khi tâm hồn của sáu chục triệu dân bùng lên ngọn lửa công phẩn và nhục nhã”.

 

 

Như vừa viết ở trên, ngay cả việc người dân Trung Hoa hai ngàn năm trước đã thật sự có giong buồm trên Biển Đông, có ghé Hoàng Sa, Trường Sa vài hôm để bắt yến, tức cảnh sinh tình hạ bút vài câu thơ và được đời sau ghi chép lại cũng không thể cho rằng Hoàng Sa, Trường Sa thuộc quyền lịch sử của Trung Cộng.

 

Lịch sử thế giới để lại vô số tài liệu của các nhà thám hiểm, thăm dò, kể cả dấu tích của đoàn viễn chinh lừng danh Viking do Leif Erikson chỉ huy từng khám phá ra Bắc Mỹ vào thế kỷ 11 trước Christopher Columbus vào thế kỷ 15, nhưng không tổ chức quốc tế nào căn cứ vào các tài liệu lưu trữ để cho rằng chủ quyền biển đảo của một quốc gia phát xuất từ người đã thăm dò, thám hiểm hay khám phá ra vùng đất đó.

 

Một lãnh thổ, đất hay đảo, của một quốc gia phải là lãnh thổ được phát hiện, chiếm hữu, điều hành trong hòa bình, có tính pháp lý, đơn vị hành chánh chính thức, được ghi lại trong bản đồ của quốc gia đó và được quốc tế công nhận chứ không phải cưỡng chiếm bằng võ lực như Trung Cộng đã làm đối với Philippines và Việt Nam.

 

Tập Cận Bình, kẻ nuôi cọp đang lo cọp sẽ ăn thịt mình, do đó, không lạ gì trong thời gian ngắn tới đây, y vẫn sẽ tuyên bố hung hăng kể cả những hành động gây hấn với các nước láng giềng để xoa dịu lò lửa cực đoan Đại Hán tại lục địa nhưng chính y cũng biết gió đã đổi chiều.

 

“Quyền lịch sử” của Trung Cộng về chủ quyền trên Biển Đông thực chất chỉ là quyền ăn cướp.

 

Trần Trung Đạo

ca

Không Đánh Người Chạy Lại

 

Nhã Nam

 

 

Ngày 30 tháng 6, bộ trưởng chủ nhiệm văn phòng chính phủ Mai Tiến Dũng trong cuộc họp báo đã đọc bản thông báo chung, cho biết , nhà máy thép Formosa đã nhận lỗi trước người dân Việt Nam, ngoài 500 triệu đô la, còn đưa ra 5 cam kết về bồi thường, hổ trợ, nên chính phủ có chính sách thể hiện lòng nhân của chế độ qua khoan hồng, độ lượng, đánh kẻ chạy đi chứ không đánh người chạy lại, mà không truy tố v.v…..

Theo bản tuyên bố trên, Mai Tiến Dũng có nhắc đến lòng nhân của chế độ (không là lòng nhân của dân tộc) đối với Formosa, theo tôi hơi muộn, vì lòng nhân này đã được thể hiện ra sớm trước đây rồi :

Vào ngày 12 tháng 06 năm 2008 phó chủ tịch tỉnh Hà Tỉnh Võ Kim Cự đã ký giấy cho thuê khu đất với giá rẻ mạt để thành lập nhà máy thép Formosa của Đài loan, trong đó có cổ phần của trung cộng, rồi thay vì thời hạn 50 năm, đã ưu ái cho phép đến 70 năm và sau đó, thứ trưởng tài nguyên – môi trường còn cho phép đặt ống thải ngầm dưới đáy biển để xã chất thải vô tội vạ. Đây là nguyên nhân chính cho tai họa của hôm nay.

Ba tháng trước đó, ai cũng biết, chất thải của Formosa đã gây lên thảm họa, cá chết trắng bờ  từ bờ biển Hà Tỉnh,Quảng Bình, quảng Trị và cho đến Thừa Thiên, Huế, thế nhưng vì lòng nhân của chế độ, để gián tiếp chạy tội dùm cho Formosa, họ đã đưa lên những luận điệu rẻ tiền để cho thấy, tác nhân tạo ra môi trường biển bị ô nhiễm không do Formosa, qua ý kiến của tiến sĩ Nguyễn Tác An, cá  chết ở biển Việt Nam là do già yếu (!), là do người dân đại, tiểu tiện nhiều xuống biển,  và nhất là trong cuộc họp báo, thứ trưởng tài nguyên – môi trường Vũ Tuấn Nhân đã tuyên bố, là do thủy triều đỏ…..và để minh chứng môi trường biển bị ô nhiễm không phải là điều đáng lo âu qua việc, phó chủ tịch Hà Tỉnh Đặng Ngọc Sơn cùng một số nhân viên của tỉnh đã bày ra trò hề ấu trỉ, xuống tắm biển và ăn cá biển tại chỗ để chứng tỏ cho người dân thấy tắm biển và ăn cá biển tại đó vẫn còn an toàn.

Trước luận điệu bao che cùng với trò hề ấu trỉ, tắm biển và ăn cá biển vô liêm sỉ đó đã khiến người dân phẩn nộ. Sự phẩn nộ này được người dân, đa số là giới trẻ thể hiện qua, đã cùng nhau xuống đường khắp nơi, nhất là tại các thành phố Hà Nội, Sài Gòn và Đà Nẵng trong những ngày của ba tuần lễ đầu tháng năm, đòi hỏi các giới chức thẩm quyền liên hệ phải cho biết rõ ràng và minh bạch, tác nhân nào là nguyên nhân đã gây ra thảm họa , cá chết trắng bờ này.

Thì lại một lần nữa, chính quyền lại tỏ lòng khoan dung của chế độ cho Formosa, bằng cách dùng lực lượng côn đồ công an: còn đảng, còn mình, đã thẳng tay đàn áp, bắt bớ và đánh đập một cách thô bạo mà không cần biết đến đến già, trẻ,lớn  bé gì cả.

Thảm họa của ô nhiễm môi trường biển của bốn tỉnh miền Trung, chỉ đơn cử một vài điển hình, ai cũng biết, thiệt hại rất lớn, trước mắt cũng như  lâu dài:

  • Hàng triệu ngư dân tại bốn tỉnh miền Trung đang gặp khó khăn về cuộc sống

vì mất nghề đang sinh sống và không biết khi nào mới trở lại được nghề cha truyền, con nối của mình

  • Về ngành du lịch.
  • Rất lớn về ngành xuất cảng thủy sản.
  • Môi trường biển, nếu được làm sạch ,và để được phục hồi lại như cũ,phải

cần thời gian ít nhất là 50 năm.

Với thiệt hại trầm trọng như vậy, đúng ra cộng sản Hà nội phải ra lệnh tạm ngưng hoạt động của nhà máy, điều tra nguyên nhân tạo ra biến cố ô nhiểm để từ đó thẩm định thiệt hại về cuộc sống của hàng triệu người dân trong bốn tỉnh miền Trung và môi trường ,và nếu vi phạm sẽ đưa ra tòa. Thế nhưng, cộng sản Hà Nội lại dễ dàng chấp nhận, sẽ không truy tố, khi nhận 500 triệu đô la, thay vì hàng chục tỉ ( 19) tỉ đô la, như BP đã bồi thường cho vụ chảy dầu trên vịnh Mễ Tây Cơ năm 2008 trước đây, cùng với 5 cam kết.

Qua sự quyết định trên, chúng ta thấy, cộng sản Hà Nội đã không vì quyền lợi của tổ quốc, của dân tộc, mà chỉ vì quyền lợi của phe nhóm của họ mà thôi. Nếu tình trạng này kéo dài, đất nước sẽ đi về đâu?

Để đấu tranh chấm dứt tình trạng trên,người dân trong nước ( người Việt hải ngoại), đa số là giới trẻ , (như trong lần phát biểu với giới trẻ của tổng thống Obama trước đây, ông nói, giới trẻ việt Nam chiếm 70% dân số nên tương lai, vận mệnh của đất nước nằm trong tay các bạn), trong nhiều năm qua trước đây, các bạn đã cùng với người dân dấn thân để lên tiếng đòi hỏi thay đổi cơ chế độc đảng toàn trị bằng cơ chế đa nguyên, đa đảng nhưng không quan tâm nhiều đến thay thế chế độ, dưới nhiều hình thức khác nhau: bằng thỉnh nguyện thư, bằng báo chí lề trái, bằng xuống đường ôn hòa,bất bạo động v.v….. Nhưng các bạn đã nhận được gì ở chế độ ? Chẳng những không lắng tai nghe, chế độ Hà Nội đã đàn áp tàn bạo, trù dập, bắt bớ, bỏ tù……..Do đó, lúc này các bạn có nghĩ, thời điểm đã đúng chưa để tiến thêm một bước, như câu nói của Yersin trước đây: cộng sản không thể thay đổi, chỉ thay thế ?

Một số hình ảnh trong buổi sinh hoạt:

 

ThuMoi

Picture 248

Picture 248

BÃO VỀ

 

 

Dọn dẹp tang thương một buổi sáng
Mưa giông về phố
Đêm kinh hoàng in vết
Bức tranh dang dở
Môi buồn phủ lấp
lệ thù
Bước xuống bậc tam cấp là con đường trải kẽm gai
Nhuộm tràm
Bàn tay chặn những hân hoan
Bàn chân bước những bàn chân uất nghẹn
Một buổi sáng rã rời thèm lời nói từ môi người tha thiết
Không phải tiếng của loài dã thú
Hô những câu vang vang tanh mùi phủ dụ
Tanh mùi chết chóc
Lạc giữa thành phố từng bầy côn trùng láo liên thèm khát
Từng bàn tay kiệt quệ
Từng trái tim đập nhịp đau thương
Sáng dọn dẹp nỗi buồn
Của mấy ngàn năm gộp lại
Của giống nòi cắn xé giống nòi
Bức tranh căng những dấu đinh tươi máu
Cậu trẻ gục bên đường ôm khẩu hiệu tự do
Một ngày tiên liệu bão về …

 
Chiêu Anh Nguyễn
10-07-2016

HoaVang

HOA VÀNG TRƯỚC MẶT

 

 

Xin được nhặt những tình sầu trên gió

Thả bay đi cho ngào ngọt bay về

Chút mây hồng theo mãi bóng trăng khuya

Tìm ánh sáng thiên đường kia muôn sắc

 

Là thi sĩ nhiều khi cũng trầm mặc

Lúc tim đau máu lệ vẫn vui cười

Yêu trần gian và yêu cả đất trời

Cho bóng tối sớm lui về quá khứ

 

Em có thấy những ân tình ẩn dụ

Chốn tử sinh năm tháng nặng duyên hờ

Ta cần gì trong câu hát lời thơ

Mong con chữ mang ân dài nghiã rộng

 

Viết cho em những ưu tư rất mỏng

Cuộc đời này đầy thao thức trở trăn

Chốn nhân gian bàng bạc ước mơ thầm

Những ngày mới có hoa vàng trước mặt.

 

 

 

Hoa Văn

 

 

 

 

CHÀO CUỘC ĐỜI

 

 

Sáng nay thức dậy chào hoa bướm

Chào mặt trời lên chào một ngày

Đông tới hay Thu buồn vẫn đó

Lá bâng khuâng thức ngủ còn say

 

Chim vẫn hót nghe vàng mặt đá

Lửa bình minh rực sáng đường đi

Thơ chưa cạn ý từ trong vắt

Lòng nhủ lòng ôm giọt nắng chia

 

Năm tháng qua đi hằn dấu mặt

Trái tim xanh vọng tiếng ngàn đời

Tình vẫn đẹp giữa lòng nhân ái

Bên tiếng ca vang cát bụi phơi

 

Sáng nay thức dậy chào hoa bướm

Chào mặt trời cao chào cuộc đời

Tình cũng trăm năm tròn nỗi nhớ

Bình minh về vẫy gọi niềm vui.

 

 

 

Hoa Văn

 

 

 

 

THU VỀ BƯỚC MỎI

 

 

Đời có biết bao nhiêu là dấu hỏi

Trên đường đi mòn mỏi với thời gian

Lữ khách ơi! vàng đá cũng phai tàn

Đi đi mãi Thu về chân bước mỏi

 

Chiều xuống núi kể lể gì mây khói

Gió đong đưa cho lá rụng qua bờ

Người tìm gì trong tiếng nhạc lời thơ

Nắng chẳng còn lâu mưa sầu ngập lối

 

Lữ khách cùng ta đường đời lầy lội

Tự xa xưa và mãi mãi sau này

Hạnh phúc nào cho nét đẹp trên tay

Hãy giữ trọn đừng rơi vào bất hạnh

 

Mỗi bước đi dù hoa tàn nguyệt lạnh

Nụ cười hồng chất ngất bóng yêu thương

Người và ta thôi nhớ những đoạn trường

Dẫu đời sống chỉ toàn là dấu hỏi????

 


Hoa Văn

 

 

 

TÌNH YÊU LÀ BẤT TẬN

 

 

Cuộc rong chơi nghe chừng gần tới đích

Chốn văn chương mấy thuở lá hoa vàng

Nỗi buồn nào cũng có nắng hân hoan

Và vui nào cũng bay vào cửa gió

 

Là thi nhân tâm hồn thường bỏ ngỏ

Ý thơ ngoan có lúc cũng cạn cùng

Ngọn đèn khuya  chữ lệ cũng rưng rưng

Nụ cười nhỏ vẫn thơm nồng bóng nghĩa

 

Lối yêu thương bước đi tình thấm thía

Gọi tên em lòng hoang phế ngại ngần

Bóng chiều nghiêng bên dòng mực phân vân

Trên trang giấy cũng ân cần gạn lọc

 

Hoa Văn

Me2

KHU VƯỜN THƠ ẤU

 

Con trở lại thăm khu vườn thơ ấu

Thuở mẹ còn… sàng gạo dưới vầng trăng

Con khát sữa ngồi khóc bên bờ giậu

Mẹ mỉm cười sương rụng trắng vườn khuya

 

Con còn nhớ dưới hàng cau lá thấp

Cây đào nghiêng, giàn mướp, giậu mồng tơi

Con theo mẹ nhặt rau, gôm quả chin

Lưng mẹ còng vóc hạc nắng chiều soi

 

Con lớn lên theo tiếng chày giã gạo

Bên giọng hò xứ Quảng mẹ à ơi!

Bên trang vở ê- a màu mực tím

Tuổi thơ con chập chững bước vào đời

 

Rồi binh lửa lan tràn qua làng Bưởi

Khoác chinh y con vội vã lên đường

Chiều cuối Hạ mẹ bỏ làng di tản

Hàng cau xanh cháy đỏ lệ mẹ tuông!

 

Hai mươi năm trên bước đường luân lạc

Quảng đường dài con giấu một niềm tin…

Trong tâm tưởng con giấu từng nỗi nhớ

Bóng mẹ hiền con giấu giữa buồng tim.

 

Trong đáy mắt con chứa niềm u uẩn

Cánh tay gầy con hái nụ đau thương

Môi khô cằn con gọi tên đất nước

Hồn thơ con chuyên chở bóng cố hương.

 

Con trở lại khu vườn tìm dấu tích

Mẹ chẳng còn… quét lá cuối sân xưa

Chỉ còn lại giây trầu, mồng tơi úa

Giữa nắng vàng con ngỡ đúng trong mưa.

 

 

Đỗ Vĩnh Khanh

 

 

 

 

 

TÂM SỰ NGƯỜI LÍNH GIÀ

 

 

Mầy ỏ lại bên dòng u uất sử

Tao cúi đầu từ tạ mẹ ra đi

Đêm hãi hùng mắt lệ nhòa sương biển…

Biển trùng trùng sóng hát khúc biệt ly

 

Mầy ở đó ngày dài hơn thế kỷ

Đếm đau thương trên mỗi ngón tay gầy

Trong ngục tối cắn vành môi rớm máu

Hô muôn năm một chủ nghĩa…đọa dày!

 

Tao lạc dấu đường biên cương vời vợi

Gió sông hồ lạnh lạnh thổi xa xa

Mãi khoắc khoải một quê hương bỏ lại

Núi đồi mây nơi có nắng mưa sa.

 

Mầy thường nhắc bước chân thời ly loạn

Đạp non cao, cỏ biếc giữ sông hồ

Áo trận sờn vai, đôi giày vẹt gót

Tắm sương trời cùng đắp áo poncho.

 

Rồi một chiều nơi chiến trường Núi Đất

Mầy bị thương lúc tin mất sơn hà

Tao cõng mầy xiêu xiêu trời trở bấc

Máu của mầy nhuộm đỏ mảnh tàn y

 

Vào y viện xem mầy không quyền sống

Vết thương mầy máu chảy đỏ đường quê

Vợ mày xé chiếc áo dài ngày cưới

Băng cho mầy nước mắt chảy dầm dề

 

Bốn mươi năm tao quen đời thua thiêt

Dĩ vãng kia cứ mãi quắt quay về

Câu ca cũ ru mầy giấc hôn mê

Ngôn ngữ mù lòa, dòng thơ man rợ.

 

 

 

Đỗ Vĩnh Khanh

TRANH TRONG NGÀY

 

Cheo1

CHÈOsơn dầu trên canvas 43″ x 51″ – Bùi Suối Hoa

Suy nghĩ bên đèn đỏ ở Nara

NhatBan

 

 

 

Hai tuần trước trên đường từ cố đô Nara về lại Kyoto, chiếc xe bus du lịch dừng trước đèn đỏ của một ngã tư. Một toán học sinh Nhật khoảng lớp sáu hay lớp bảy băng qua đường. Nhật Bản đang vào mùa hè và học sinh còn nghỉ học nhưng các em hình như đang trở về từ một sinh hoạt tập thể nên đều mặc đồng phục áo trắng quần xanh.

 

Đèn bắt đầu chớp. Ba em cuối cùng trong toán cố vượt theo bạn dù tiếng chuông trên trụ đèn đã báo sắp hết giờ dành cho người đi bộ. Dĩ nhiên xe bus tiếp tục dừng để các em đi qua hết. Ba em cuối cùng băng nhanh qua đường nhưng thay vì chạy theo cùng các bạn, các em dừng lại, sắp hàng ngang nghiêm chỉnh hướng về phía xe bus và cúi gập người xuống để xin lỗi và cám ơn anh tài xế.

 

Nhìn học sinh Nhật, người viết chợt nhớ thế hệ mình ngày xưa. Học trò miền Nam được dạy không chỉ cúi đầu thôi mà còn vòng tay để chào, cám ơn hay xin lỗi các bậc trưởng thượng. Trên đường, khi gặp một đám tang đi qua, chúng tôi được dạy phải đứng nghiêm trang và dở mũ xuống nếu đội mũ, cúi đầu kính tiễn biệt người quá cố cho đến khi xe tang qua hẳn mới tiếp tục đi. Khi thầy hay cô vào lớp, chúng tôi được dạy cả lớp phải đứng dậy chào và chờ cho đến khi thầy hay cô ngồi xuống, chúng tôi mới được ngồi. Khi có người lớn tuổi đến nhà, chúng tôi được dạy phải vòng tay cúi chào thưa theo đúng thứ bậc so với cha hay so với mẹ. Dù đang đi đâu, khi nghe tiếng Quốc Ca cất lên, từ một trại lính hay một công sở nào đó, chúng tôi được dạy phải đứng lại nghiêm chỉnh để chào cho đến khi bài Quốc Ca chấm dứt. Mỗi sáng thứ Hai trên bảng đen trong lớp học bao giờ cũng bắt đầu bằng một câu châm ngôn đầu tuần thắm đậm tình dân tộc như “uống nước nhớ nguồn”, “ăn trái nhớ kẻ trồng cây” hay tương tự và chúng tôi được dạy phải dành vài phút đầu tuần để học về ý nghĩa của câu châm ngôn đó. Trong giờ Công Dân Giáo Dục, chúng tôi được dạy trung thành với tổ quốc Việt Nam chứ không phải với riêng một đảng phái nào. Trên tường của trường Trần Quý Cáp ở Hội An nơi người viết học và hầu hết trường trung học, tiểu học ở miền Nam đều có hàng chữ chạy dài “Ngày nay học tập, ngày mai giúp đời”. Và rất nhiều lễ nghi, phép tắc đạo lý đáng quý, đáng giữ gìn khác.

 

Hôm trước, Nguyễn Hồng Quốc, một bạn học lớp đệ Tam (lớp 10) ở Trung Học Trần Quý Cáp kể lại trên Facebook “Qua Trần trung Đạo mình có được thông tin về thầy Phan đình Trừng sau 44 năm không gặp , thầy dạy sử và công dân mình thời trung học đệ nhị cấp ,thầy có giọng nói hùng hồn đầy tự tin nghe thầy giảng bài thật thú vị … năm đệ Tam vào giờ công dân thầy kêu mình lên dò bài , thầy đặt trên bàn lá Quốc kỳ thầy bắt mình tay phải đặt lên lá cờ, tay trái đặt lên ngực đọc lời tuyên thệ “Tôi là công dân VNCH nguyện tuyệt đối trung thành với Tổ quốc Xin thề. Xin thề” Mình đọc thật to và dõng dạt được thầy cho 20 điểm trên 20 … Thấm thoát đã 44 năm rồi từ một đứa học trò hồn nhiên vô tư ngày nào giờ đây tóc đã hoa râm“.

 

Câu chuyện rất bình thường của 44 năm trước nhưng kể lại cho các thế hệ hôm nay nghe giống như chuyện cổ tích.

 

Miền Nam phải chịu đựng chiến tranh và tàn phá nhưng vẫn cố gắng hết sức để duy trì và phát huy các giá trị nhân bản trong chừng mực còn phát huy được. Từ những hố hầm bom đạn, bông hoa tự do dân chủ vẫn cố nở ra, vẫn cố vươn lên. Nhựa nguyên nuôi dưỡng thân cây non đó là Hiến pháp VNCH.

 

Hiến pháp VNCH do chủ tịch Quốc hội Lập hiến Phan Khắc Sửu ký ngày 18 tháng 3 năm 1967 ghi rõ: “Ý thức rằng sau bao năm ngoại thuộc, kế đến lãnh thổ qua phân, độc tài và chiến tranh, dân tộc Việt Nam phải lãnh lấy sứ mạng lịch sử, tiếp nối ý chí tự cường, đồng thời đón nhận những tư tưởng tiến bộ để thiết lập một chánh thể cộng hoà của dân, do dân và vì dân, nhằm mục đích đoàn kết dân tộc, thống nhất lãnh thổ, bảo đảm Độc lập Tự do Dân chủ trong công bằng, bác ái cho các thế hệ hiện tại và mai sau.”

 

Những yếu tố nào làm cho người Nhật ngày nay đươc nhân loại khắp năm châu kính nể?

 

Câu trả lời dễ dàng và nhanh chóng mà ai cũng có thể đáp là nhờ nền tảng văn hóa Nhật. Thật ra câu trả lời đó chỉ đúng một phần. Nền văn hóa của một đất nước chỉ xứng đáng được kính trọng khi nền văn hóa đó không chỉ là kết tụ giá trị văn hóa riêng của dân tộc mà còn phải phù hợp với giá trị văn minh chung của thời đại.

 

Không ai phủ nhận Đức là quốc gia có nền văn hóa cao nhất tại Châu Âu. Trước năm 1945, Đức là một trong ba quốc gia được nhiều giải Nobel nhất. Bao nhiêu triết gia, khoa học gia, văn sĩ, thi sĩ nổi tiếng thế giới đã sinh ra ở Đức. Nhưng chế độ Quốc Xã Hitler do chính nhân dân Đức bầu lên lại là một trong vài kẻ giết người tàn bạo nhất trong lịch sử loài người và chà đạp lên mọi giá trị văn minh của nhân loại.

 

Nhật Bản trước năm 1945 cũng vậy. Nhật Bản có giá trị văn hóa cao, một dân tộc có kỹ luật nghiêm khắc nhưng không phải là một nước văn minh nhân bản. Bước chân của đạo quân Nhật đi qua cũng để lại những điêu tàn, thảm khốc từ Mãn Châu, sang Triều Tiên, xuống Mã Lai, Singapore, Việt Nam không khác gì vó ngựa của đạo quân Mông Cổ đi qua trong nhiều trăm năm trước. Cơ quan mật vụ Nhật tại Singapore tàn sát khoảng 50 ngàn người dân Singapore một cách không phân biệt. Chính sách đồng hóa thay tên đổi họ đối với Triều Tiên là một bằng chứng tội ác khó quên. Nạn đói tại Việt Nam năm 1945 với hàng triệu đồng bào miền Bắc chết thảm thương một phần là do chính sách ác độc tịch thu thóc để nuôi ngựa của quân đội Nhật.

 

Do đó, câu trả lời chính xác, chính hiến pháp dân chủ 1946 đã làm cho nước Nhật hoàn toàn thay đổi, giúp cho người Nhật biết kính trọng con người, không chỉ riêng con người Nhật như trước đây, và tôn trọng luật pháp mà chính họ đặt ra.

 

Phần nhập đề của Hiến Pháp 1946 khẳng định chính phủ do dân và vì dân của Nhật Bản sẽ hợp tác hòa bình với tất cả các quốc gia trên thế giới trong ánh sáng tự do dân chủ, đặt chủ quyền của nhân dân làm căn bản cho hiến pháp và kính trọng sâu sắc của Nhât về quyền của con người được sống trong tự do và không sợ hãi. Tóm lại, cơ chế chính trị thời đại chuyên chở trong Hiến Pháp Nhật 1946 hội nhập hài hòa với văn hóa Nhật và làm cho dân tộc Nhật khác đi trong nhãn quan thế giới.

 

Việt Nam cần thay đổi gì?

 

Con thuyền Việt Nam đang phải chở một cơ chế chính trị độc tài, lạc hậu về mọi mặt so với đà tiến của văn minh nhân loại, một nền giáo dục hủy diệt mọi khả năng sáng tạo, một xã hội tham nhũng thối nát trong đó giới lãnh đạo thờ ơ trước đòi hỏi bức thiết của nhân dân và nhân dân không có niềm tin nơi giới lãnh đạo.

 

Việt Nam cần thay đổi. Ai cũng có thể đồng ý như vậy, nhưng thay đổi gì trước? Đổi mới kinh tế? Cải cách giáo dục? Chống tham nhũng? Nới lỏng chính trị? Không. Một mảnh ván, một lớp sơn không làm chiếc thuyền chạy nhanh hơn.

 

Như người viết đã viết trong bài trước, những hiện tượng bất nhân, độc ác giữa người và người đang thấy tại Việt Nam chỉ là quả chứ không phải là cây và do đó hái dăm trái thối hay thậm chí hái hết trái trên cây đi nữa sang mùa khác chúng sẽ được sinh ra. Tội ác sẽ không bao giờ xóa được khi các nguyên nhân gây ra tội ác vẫn còn tồn tại.

 

Và nguyên nhân chính của mọi thảm trạng trên đất nước ngày nay là cơ chế độc tài CS. Do đó, thay đổi mà Việt Nam cần là thay đổi cơ chế CS đang thống trị Việt Nam bằng một chế độ tự do dân chủ làm tiền đề cho công cuộc phục hưng toàn diện Việt Nam.

 

Trần Trung Đạo

 

NguyenHue.jpg

 

KHOẢNG TRỜI XÁM

 

 Trương Đình Phượng

 

Trời u ám, mây như tấm màn xám bọc lấy khoảng không gian, gió vần vũ, xác lá vàng rơi ngập đường. Nguyễn Du ngồi bên ấm trà nóng, mắt mơ màng nhìn vào cõi thinh không. Hình ảnh những phận người trong cõi trần gió bụi lần lượt lướt qua tâm trí Du.

Cuộc đời Du trải qua bao thăng trầm biến thiên, nay đã ngán ngẩm bả phù danh. Du chỉ muốn an nhiên tự tại thả hồn vào mây trời trăng nước, nhưng lòng Du cứ luôn đau đáu về số phận những kẻ thấp cổ bé họng trong cõi nhân thế này.

Du nâng chén trà uống một ngụm, vị trà sen thơm ngát lan tỏa, xông lên mũi làm tâm trí Du khoan khoái. Du như bồng bềnh trong cõi hư huyễn.

Du đang miên man trôi trong giấc mơ thì tiếng người nô bộc bất ngờ vang lên bên cạnh:

-Dạ bẩm ông.

Du giật mình choàng tỉnh quay lại hỏi khẽ:

-Có chuyện gì vậy?

Nô bộc đáp:

-Dạ thưa nhà cái Xoan cho người sang nhờ ông viết giúp bài văn tế ạ.

-Nhà Xoan ai vừa chết vậy?

-Dạ bẩm chồng thị đi tìm trầm trong rừng bị ngã xuống vực mà chết.

Toàn thân Du rúng động. Nhà cái Xoan hoàn cảnh bần hàn, Trần Chung  chồng thị trước đây cũng là một tay học trò có tiếng nhưng vì đường công danh trắc trở đành gác việc bút nghiên, lao vào dòng đời kiếm miếng cơm manh áo.

Cha Trần Chung đã chết vì bị triều đình xử chém trong một vụ án văn. Nhà hắn còn mẹ già hơn tám mươi tuổi, một vợ và ba đứa con nhỏ.

Hai mắt Du rơm rớm lệ, khẽ nói:

-Ngươi vào mài mực rồi đưa giấy bút ra đây cho ta.

Người nô bộc đưa giấy bút ra. Du chấm mực viết một mạch xong bài văn tế , trao cho người nô bộc nói:

-Ngươi đưa sang cho nhà Xoan, à nhớ mưa ít đồ hương vàng  thay ta sang thắp cho Trần Chung vài nén nhang nhé.

Người nô bộc dạ khẽ rồi cúi mình chào Du. Còn lại một mình Du lại chìm vào suy tưởng. Trên ngọn cau đầu hồi tiếng con cú rúc lên từng nhịp  buồn thảm. Dưới mảnh sân rêu con chó co ro thu mình trong ổ rơm, ư ử rên vì lạnh. Du bất giác thở dài….

Mấy tháng nay Nguyễn Huệ đem quân ra thăng Long với danh nghĩa phò Lê diệt Trịnh. Kẻ sỹ khắp nơi tìm đến đầu quân cho Huệ. Khản bảo Du:

-Chú có tài sao không theo Huệ cống hiến vì dân vì nước.

Du lơ đãng nhìn đám mây cháy cuối trời khẽ nói:

-Ai cũng bảo Huệ là tay dũng tướng tài năng xuất chúng, có tấm lòng quảng đại, tài trí hơn người riêng em lại nghĩ khác.

Khản hỏi:

-Ý chú thế nào?

Du đáp:

-Anh chờ rồi sẽ thấy.

Dứt lời quay đi, im lặng. Khản lắc đầu, rời gót.

Đêm thu không khí êm như nhung. Du ngồi dưới ngọn đèn dầu lạc, tâm trí để cả vào ngòi bút, mỗi chữ như tút từ gan ruột, nước mắt Du lặng lẽ rơi.

Người nô bộc mỗi lần mở hé cửa ra nhìn thấy Du đang say sưa đưa bút, lắc đầu, đóng cửa lại.  Du buông bút. Cho tay vào miệng, nghiến chặt. Năm đầu ngón tay bật máu. Du lẩm bẩm:

-Thế sự đa đoan, ta biết làm gì. Dòng sông đục ngầu ta chỉ là con cá nhỏ biết phương nào mà bơi về đây.

Sáng sớm mưa như trút. Du ngồi bên mái hiên ngắm mưa rơi. Lòng ngổn ngang trăm mối.

Thời gian này Du vẫn để tâm nghe tin tức ngoài Thăng Long. Huệ đã tiêu diệt bọn phản loạn và trao lại quyền bính cho vua Lê. Tuy nhiên đó chỉ là vẻ bề ngoài. Thực sự Huệ vẫn nắm toàn bộ quyền chính  trong tay. Hôm qua Khản lại sang. Khản nói:

-Chú nói đúng, Huệ là tên khốn nạn. Hắn thừa nước đục thả câu, lần này hắn đem quân ra Hà Bắc thực chất là muốn chiếm đoạt giang san của nhà Lê chứ đâu phải có bụng tốt giúp dẹp phản loạn. Anh tính tập hợp kẻ sỹ kéo quân ra Bắc sống mái với Huệ một phen. Chú có ý kiến gì chăng?

Du nói:

-Anh đừng nên vọng động. Thời thế bây giờ đang hỗn loạn như canh hẹ. Nhà Lê cũng chả tốt đẹp gì. Cứ để cho Huệ và vua  Lê đấu đá với nhau.

Khản nói:

-Thiên hạ nói chú là kẻ bạc nhược thật chả sai. Anh đã nhìn lầm chú.

Du nhìn theo dáng Khản lắc đầu. Khản cũng như mọi người vĩnh viễn không hiểu được tâm can của Du.

Mưa mỗi lúc một dữ dằn. Du tựa đầu lên tay, chập chờn đi vào giấc ngủ.

Thăng Long thành. Đêm mùa xuân.  Du ngồi bên bàn, ngọn đèn dầu lạc khi mờ khi tỏ. Tiếng đàn nguyệt cầm như từng sợi tơ xuyên vào tâm hồn Du.

Mọi âm thanh cuộc sống lúc này dường như không còn tồn tại, chỉ có người con gái mảnh mai ngồi trước Du từng ngón tay thon mềm đang lướt trên những cung đàn ma mị.

Khuôn mặt người đẹp sầu như cánh hoa chiều muộn. Du lặng lẽ quan sát, lòng như không uống rượu mà say.

Trời khuya dần. Ngoài phố lác đác bước chân của những kẻ lang bạt. Du bước lại mở hé khung cửa sổ. Ánh trăng nhờn nhợt chiếu vào gian lầu nhỏ, không khí khăm khẳm.

Người đẹp đã dừng đàn, đang lặng lẽ nhìn Du. Du nói, âm thanh như vẳng về từ cõi xa xăm nào đó:

-Mai ta đi rồi, chả  nhẽ  nàng không có gì muốn nói cùng ta sao?

Bàn tay người đẹp khẽ vòng qua tấm thân gió bụi của Du, một cảm giác dịu dàng ấm áp. Tâm hồn Du chao đảo. Gió xuân như chiếc lưỡi tình nhân lả lướt trên khuôn mặt rám mùi dâu bể. Du cầm lấy bàn tay bé nhỏ của người đẹp.

-Lần này chia tay không biết có còn ngày gặp lại, nàng hãy vì ta mà sống cho thật tốt nhé.

Người đẹp tựa đầu vào vai Du, giọng oanh đượm nỗi thê lệ:

-Chàng không thể nán lại cùng thiếp thêm dù chỉ một ngày thôi sao?

-Đời kẻ nam nhi lấy gian nan làm thuyền, lấy đường xa gió bụi làm nhà, lấy khát vọng thay trời đổi đất làm chí hướng, nàng hiểu không?

-Thiếp hiểu. Những ngày qua ở bên nhau những tâm sự của chàng khiến thiếp thêm hổ thẹn bởi mình chỉ là gái giang hồ, phận liễu bồ mềm yếu không thể cùng chàng xông pha gió bụi cùng tạo nên nghiệp lớn.

Du thở dài:

-Trai thời loạn da ngựa bọc thây, gái thời loạn lênh đênh bể khổ. Thật đúng lắm thay!

Du quay lại, hai bàn tay đặt lên bờ vai thon của người đẹp. Hai đôi mắt nhìn nhau vừa đắm đuối thiết tha vừa trăm mối tơ vò.Người đẹp khẽ tựa vào ngực Du từng lời nói như bàn tay mượt mà xoa dịu trái tim Du:

-Chàng hãy ôm thiếp cho thật chặt có được không? Sao đêm nay thiếp thấy thân thể thiếp lạnh lẽo quá. Hãy sưởi ấm tâm hồn kẻ hèn mọn này trong những giây phút sau cùng để mai này hai ngả biệt ly mỗi khi mưa khóc sương hờn thiếp nhớ về đấng trượng phu để cõi lòng cô độc tìm thấy sự ấm áp.

Du ôm chặt người đẹp. Gió đêm lẻn qua khung cửa sổ đùa giỡn ngọn đèn dầu lạc chập chờn chực tắt.

Bên ngoài tất cả đã chìm vào sự im lặng muôn đời của đêm khuya. Du khép cửa sổ lại, dìu người đẹp đến bên giường….

Trái tim hai người tăng nhịp theo từng cung bậc cảm xúc. Du nói:

-Ta và nàng chỉ là hai kẻ lưu lãng giang hồ gặp gỡ nhau là duyên phận ly biệt cũng là duyên phận, xin nàng hãy nhận của Du này một lạy gọi là sự cảm tạ nàng bấy nay đã cho ta nương náu chốn này.

Người đẹp giơ tay ngăn cản:

-Đừng chàng đừng làm thế.

Tiếng dế buồn thảm thả vào màn đêm thăm thẳm. Bàn tay Du lần theo từng cúc áo của người đẹp…Hơi thở của người đẹp dồn dập.

-Không, ta không thể…

Du vùng đứng dậy. Chạy lại mở tung cửa sổ. Ngoài trời đang mưa. Từng giọt nước thi nhau bắn vào thân thể Du. Khuôn mặt Du ướt đẫm. Du thấy lòng mình ngập tràn sự thống khổ. Du yêu nàng nhưng Du không thể…

Người đẹp gài lại áo, lặng lẽ ngồi xuống bàn, những giọt lệ âm thầm rơi. Họ cứ như thế kẻ ngồi người đứng, mà trong tâm hồn đang từng cơn bão giông vần vũ…

Du tỉnh dậy chiều đã buông đầy mảnh sân gạch. Người nô bộc đặt ấm trà trước mặt Du nói khẽ:

-Dạ mời ông dùng trà.

Du quay lại nhìn người nô bộc cười, nụ cười của người bạn dành cho người bạn.

Du nói:

-Ngươi vào thu xếp hành trang, mai chúng ta lên kinh.

Đã gần bảy năm trôi qua, kể từ độ Du rời Thăng Long, bao nhiêu mong nhớ Du cất giữ dưới đáy lòng. Lần này quân Tây Sơn kéo ra Bắc , lòng Du bỗng trào dâng niềm lo lắng cho người con gái năm xưa. Du từng nghe người ta nói về Huệ. Huệ là tay kiêu hùng, sức vóc như mãnh hổ, trí tuệ hơn người nhưng Huệ lại là tay thô lậu trong lối hành xử với đàn bà. Những kẻ đi theo Huệ bảo rằng Huệ là kẻ háo sắc, thấy gái đẹp như chim ưng thấy gà con. Đã có biết bao nhiêu dân nữ bị chứng dâm cuồng của Huệ làm cho “nát liễu tan đào”. Huệ có thói quen mỗi lần hành lạc thường bắt người đàn bà cởi trần truồng nằm dưới nền đất rồi Huệ lấy rượu đổ khắp thân mình, Huệ lại vạch miệng đổ rượu cho đến khi  đối phương say ngất ngư, lúc bấy giờ Huệ cởi hết áo quần đứng nhìn con mồi cười sảng khoái…

Mỗi lần Huệ hành lạc kéo dài cả tiếng đồng hồ, thõa mãn Huệ nằm lăn ra ngủ.Huệ ngủ thường hay ngáy.Tiếng nói của Huệ như chuông vỡ , cái uy khiến kẻ khác run sợ. Nhưng tiếng ngáy của Huệ lại ri rí như tiếng cú rúc trong đêm trường tăm tối.

Những thôn nữ sau khi đã bị Huệ chiếm đoạt sự trong trắng sẽ bị tiệt luôn đường sống, những kẻ dưới trướng Huệ lôi con mồi ra một nơi kín đáo bóp cổ cho đến chết rồi cắt nhỏ ra từng phần đào đất chôn chặt, sau đó san phẳng, người ngoài nhìn vào không thể phát hiện ra chỗ đó vừa bị đào xới.

Thủ đoạn đó của Huệ được bọn hạ nhân giấu nhẻm như mèo giấu cứt lại thêm những hành vi “ tự vẽ mặt anh hùng” của Huệ càng khiến nhân dân bốn cõi nhìn Huệ như một vị thánh sống. Trong quân của Huệ có tay Trương Thoại làm người chăm voi cho Huệ vốn là bạn tri giao của Du, thi thoảng hai người vẫn biên thư thăm hỏi nhau. Qua lời kể của Thoại, Du nắm bắt khá rõ về con người của Huệ.

Thoại còn tiết lộ với Du, không chỉ là kẻ dâm ô mà Huệ còn là tay khát máu. Năm 1777 Huệ đem quân đánh thành Gia Định nhân dân trong thành nguyện trung thành với chúa Nguyễn nhất quyết thà chết không đầu hàng. Huệ điên tiết ra lệnh cho quân lính chôn sống hai mươi hộ dân tổng cộng hơn một trăm nhân mạng hòng đe dọa dân chúng trong thành. Sự việc này lịch sử không hề nhắc đến!

Những điều ấy Du giữ kín trong lòng. Du biết Huệ là kẻ có tài kinh bang tế thế nhưng bản thân Huệ xuất thân hèn kém, giống như con cú phút chốc biến thành phượng hoàng từ kẻ tay trắng bỗng đâu quyền hành đầy tay, dĩ nhiên những thói xấu tiềm ẩn lâu ngày sẽ theo đà mà bộc lộ.

Ngày mai Du sẽ trở lại Thăng Long, ngoài mục đích gặp lại người con gái năm xưa Du còn muốn xem sự tình ngoài đó hiện nay thế nào.

Ăn cơm chiều xong Du cho người sang mời Khản. Nghe bảo Du có chuyện quan trọng về Thăng Long cần bàn, Khản không kịp thay đồ tất tả đi theo người nhà Du.

-Chuyến này em định cùng anh ra Thăng Long xem xem sự tình ngoài đó thế nào. Theo ý em chỉ cần hai anh em mình đi là đủ, chớ nên mang theo  người hầu  lỡ có sự việc gì xảy ra thêm rối.

Khản nhấp ngụm trà, nói:

-Chú nói cũng phải. Hiện nay Huệ như thế nào chúng ta chưa nắm rõ tốt nhất chớ nên đánh rắn động cỏ.

Du đáp:

-Tính anh cương trực hay hành động nóng vội, lần này anh phải thật bình tĩnh có chuyện gì cũng từ từ tính toán.

Khản cười ha hả:

-Chú cứ làm như anh là trẻ mục đồng không bằng. Rứa nhé để anh về thu xếp, chú ngủ sớm đi, mai anh em mình lên đường.

Khản ra về. Du cầm mãi chén trà trên tay, nhìn vào bóng tối. Từ phía dòng Lam vẳng lên điệu “giặm kể” buồn da diết. Du buột miệng thốt:

-Mai ta lại phải rời mảnh đất thân thương này rồi!

Làn gió lạnh phớt qua sân. Tiếng dế ngoài thềm xoi xói…
!

Thăng Long thành qua cơn binh biến phờ phạc như người phụ nữ bị hiếp dâm. Những ngôi nhà kiến trúc cầu kỳ nay cửa lủng ngói nát. Nét mặt dân chúng người nào người nấy lấm la lấm lét như tù mới được tha.

Du và Khản ghé vào quán nước bên đường. Du hỏi bà cụ chủ quán:

-Nghe nói từ khi Nguyễn Huệ đem quân ra dẹp loạn đời sống dân chúng ổn định lên nhiều phải không cụ?

Bà cụ nhìn quanh dò xét hạ giọng nói:

-Hình như hai bác là người Nghệ?

Khản đáp:

-Đúng vậy.

Bà cụ nói:

-Chả giấu gì các bác từ khi Huệ ra đây làm bao nhiêu việc thất đức khiến nhân dân oán hận nhưng quân Huệ như beo như cọp nên dân chúng ai cũng sợ chả dám lên tiếng. Vua Lê thì ngu hèn Huệ nói gì cũng nghe. Trăm quan có mắt như mù.

Du liếc mắt ra hiệu với Khản, lấy tiền trả tiền nước chào bà cụ rồi hai anh em vội vã đi tìm nhà trọ. Chiều buông nhanh, thành Thăng Long run rẩy như người mới ốm dậy.

Đêm. Kinh thành Thăng Long tĩnh lặng. Có vẻ như qua cơn binh biến sự nhiệt náo của vùng đất này đã bị bóp nghẹt thay vào đó là sự đìu hiu, hoang phế.

Chỉ có nơi nhà thổ không khí mua hoa bán nguyệt vẫn diễn ra rôm rả như thường. Thời đại nào cũng vậy, chuyện nhục dục luôn là món ăn khoái khẩu của loài người. Cái nghèo khổ, túng quẩn hay cuộc sống luôn bị cái chết rình rập không khiến người ta quan tâm bằng nhục cảm thể xác.

Du và Khản chậm rãi tiến về phía khu phố “Bình Khang”. Mấy năm nay Thăng Long thành kỹ viện thi nhọc mọc. Mỗi kỹ viện ra sau càng được xây dựng kỳ công hơn, từ lối trạm trổ tinh vi đến lối trang trí lòe loẹt với mục đích chèo kéo khách làng chơi.

Hai bên đường những cô gái trạc tuổi đôi mươi ăn mặc hở hang, uốn éo chào mời. Khản nắm chặt tay, nghiến giọng:

-Hủ bại quá đi mất, nhà Lê đến thời mạt vận rồi. Ngay giữa chốn kinh thành mà ô uế thế này thử hỏi sao mà dân không loạn nước không nhơ.

Du nói khẽ:

-Anh bình tĩnh, hãy nhớ chúng ta đi chuyến này tránh được rắc rối từng nào hay chừng đó.

Khản vẫn còn hậm hực:

-Thật sự ta đã thờ nhầm chúa.

Hai người thận trọng đi đến Tĩnh Nguyệt Lầu. Du muốn rẽ qua thăm người năm cũ. Lần này ra Bắc theo chủ ý của Du nên Khản hoàn toàn chấp nhận nghe theo chỉ đạo của Du.

Hai người lấy phong thái đạo mạo bước vào, ngay lập tức năm sáu cô nàng môi hồng má thắm chạy lại xun xoe:

-Ôi hai vị đại quan nhân, lâu quá mới thấy hai vị ghé chơi, khiến tụi em nhớ quá giời.

-Ấy ấy, mày tham vừa thôi chứ, để vị này cho tao.

Thôi thì trăm câu ngàn câu ong ve . Khản cau mày khó chịu. Du day day áo Khản. Khẽ cười nói:

-Xin các nàng cho hỏi hiện nay nàng Nguyệt Cầm có còn ở đây nữa chăng?

Mấy cô nàng liếc mắt nhìn Du lại nhìn Khản. Một cô nói:

-Không ngờ hai vị cũng là tay trăng gió không phải dạng vừa. Nguyệt Cầm cô nương hiện tại vẫn là “món đồ quý” ở chốn này, tuy nhiên hôm nay hai vị đến muộn mất rồi. Đêm nay Nguyệt Cầm cô nương đang bận tiếp một vị khách vô cùng quan trọng, một vị anh hùng uy vũ bốn phương.

Một ý nghĩ chạy nhanh qua đầu Du, lẽ nào kẻ đó là Huệ chăng.

Ngay lập tức Du nắm tay Khản chạy nhanh lên lầu, mấy cô ả không ngăn kịp la oai oái. Đã gần mười năm nhưng Du vẫn còn nhớ rõ căn phòng năm xưa. Cẩn trọng hai người tiến sát lại. Phía trong tiếng một người đàn ông, giọng như sấm rền:

-Nàng hãy chiều ta đêm nay, đảm bảo rồi đây ta sẽ trao cho nàng cuộc sống phú quý đầy đủ.

Tiếng người đàn bà run rẩy, van vỉ:

-Xin ngài hãy tha cho thiếp, nếu Ngọc Hân công nương mà biết thì cái mạng hèn của tiện thiếp có khác gì con sâu con kiến, chết không đất dung.

Cộp tiếng chén dằn xuống mặt bàn:

-Khốn nạn, ả là cái quái gì, ngay cả chuyện làm cho đàn ông sướng khoái ả cũng chả biết, thì mang danh công chúa thật uổng quá.

Du ghé mắt nhìn qua khe cửa. Một gã đàn ông uy phong lẫm liệt đang ngồi rót rượu uống như voi, đích xác là Huệ.

Người đàn bà vẻ đẹp chim sa cá lặn tay ôm chiếc đàn Nguyệt ngồi co rúm dáng điệu sợ sệt. Người đó chính là ý trung nhân trong mộng của Du.

Huệ đứng dậy tiến về phía người đẹp. Bàn tay thô bạo chộp lấy bờ vai nàng. Nàng run lên:

-Ngài say quá rồi, ngài về nghỉ ngơi đi mai tiện thiếp xin hầu đàn tiếp.

-Ta chưa bao giờ sayrượu, nàng nên biết Huệ này chỉ say một thứ mà thôi, đó là giang san Đại Việt này. Từ khi ta sinh ra trên cõi đời này đến nay thiên hạ luôn nhìn Huệ này bằng ánh mắt khinh thường, ngay cả anh em của ta cũng xem nhẹ ta, ta thề phải làm nên nghiệp lớn cho chúng nhân mở mắt mà nhìn Huệ này đầy ngưỡng mộ.          Nhưng đêm nay, ha ha, ta mới phát hiện ra ta còn say một thứ nữa, đó chính là sắc đẹp có một không hai của nàng.

Người đẹp hoảng hốt đứng dậy, thoát khỏi bàn tay của Huệ. Huệ lao đến như con hổ khát mồi.

-Nàng đừng cố cưỡng, hãy ngoan ngoãn chiều ta, thuận ta thì sống nhược bằng nghịch ta thì chỉ có nước chết mà thôi.

Sự dồn ép của Huệ đẩy người đẹp lui dần đến sát chân tường. Nàng nhìn Huệ đầy căm hận. Huệ cười sảng khoái:

-Ta nói rồi,cái gì mà Huệ này muốn nhất quyết dành cho bằng được.

Bên ngoài hai bàn tay Du nắm chặt tưởng chừng gãy từng khớp xương, toàn thân Du run lên vì phẫn uất, Khản đứng bên bầu máu cũng sôi lên sùng sục. Khản cảm thấy tởm lởm thay cho một kẻ được thiên hạ tôn xưng là đấng anh hùng đội trời đạp đất.

Hai bàn tay thô của Huệ ôm chầm lấy người đẹp, sự quẫy đạp của nàng thành vô dụng dưới sức mạnh beo cọp của Huệ. Huệ nắm tóc nàng kéo lê lại giường, vật nàng xuống, Huệ chộp lấy bình rượu trên bàn, đổ vào miệng nàng:

-Uống đi, uống với ta nào, say rồi hành lạc mới thống khoái.

Du nghiến răng nghiến lợi nói thầm “Qủa đúng như lời đồn của thiên hạ, hắn là một tay bệnh hoạn”.

Khản đưa tay sờ thanh gươm bên hông, bụng bảo dạ:

-Đêm nay ta thề băm vằm tên khốn nạn này, bây giờ ta mới hiểu vì sao hắn lại dựng Lê Chiêu Thống lên làm vua. Hắn muốn cho một kẻ nhu nhược hèn yếu hờ hững ngồi ngôi cao để dễ bề thay triều đổi ngôi khi cần, không ngờ mưu kế của ngươi thâm độc đến vậy.

Bên trong người đẹp đã bị Huệ nhồi rượu say khướt, tấm áo trên mình nàng đã bị Huệ xé rách lộ ra bầu ngực căng đầy. Hai hàm răng Du cắn vào nhau bật cả máu.

Khản đưa chân đá văng hai cánh cửa, nhảy vào phòng, chỉa mũi gươm vào Huệ thét lên:

-Hồ Thơm, ngươi là tên chó chết.Một kẻ dâm loàn, tàn bạo như ngươi không xứng đáng được muôn dân ca ngợi.

Huệ quay lại, hai mắt đỏ ngầu, hai con tròng vằn lên từng tia máu:

-Mi là ai?

Khản dõng dạc:

-Ta là Nguyễn Khản.

Huệ cười ngạo mạn:

-Thì ra là con cò hen Ngàn Hống.

Khản lao về phía Huệ quyết tâm một đường kiếm lấy mạng Huệ, Huệ lách người rút nhanh thanh gươm bên mình, vung lên gạt kiếm Khản.

Xoay tay đâm thốc vào ngực Khản, máu phún ra, Khản gục xuống, máu trào ra như suối.

Đúng lúc đó rượu cũng vừa ngấm sâu vào nội tạng Huệ, Huệ gục luôn xuống bàn, ngáy ri rí. Du liều thân lao vào phòng, nhìn nhanh ý trung nhân rồi mau chóng xốc lấy Khản tẩu thoát.

Lịch sử ghi chép rằng “Bấy giờ có cựu tham tụng Nguyễn Khản ở Nghệ An ra khuyên Đoan Vương “nên sai tướng đóng giữ kinh thành. Còn chúa thì rước  xa giá vua Lê đi Sơn Tây, không chế miền thượng du để toan tính việc cử sự sau này. Vả lại ở bãi Tự Nhiên (Thường Tín, HàĐông) kíp thả cầu phao để chặn thủy sư của giặc. Hai bên bờ sông đóng đồn quân theo lối “vẩy sộp” để đề phòng có sự xô xát xung đột. Lại xin chiêu dụ bọn giặc thủy như Trương Dao và Ba Bá, ban thêm quan tước cho chúng, khiến chúng chặn đánh phía sau quân Thủy Tây Sơn. Huệ và Chỉnh đã nêu danh nghĩa phò Lê, nhưng khi vào kinh thành không gặp được Lê hoàng thì tiến hay lùi cũng đều bất lợi. Một khi giặc mỏi mệt, hết lương ăn, tình thế tất không ở lâu được. Bấy giờ ta kíp viết thư phi báo cho các hào mục Thanh Hóa và Nghệ An khiến họ chận đánh đường về của Tây Sơn thì dù không bắt được Huệ, Chỉnh, chúng cũng bị thiệt hại nặng. Chứ nếu giao chiến với chúng thì kiêu binh (của ta) quyết không thể dùng được. Nếu thua một trận hết sạch như chùi, việc nước tất hỏng mất “. Chúa toan nghe theo mưu chước của Khản, nhưng các quân họp lại, làm ầm lên, cho rằng Khản đưa giặc đến, rồi chực giết Khản.

Nguyễn Khản  phải xin đi Sơn Tây, Hưng Hóa chiêu dụ nghĩa sĩ, được một tuần quân ứng mộ khá đông ông giao cho em là tri phủ Nguyễn Trứ điều khiển tại Mỹ Lương. Ông được lệnh chúa triệu hồi, vừa về thì bị cảm bệnh, ông qua đời ngày 17/9Â.L.  (1786)”

Cái chết của Khản là do chính tay Huệ giết lịch sử đã không ghi chép lại.

Du trở lại quê nhà. Sau khi an táng anh xong, hai năm sau Du về  ở tại quê vợ Quỳnh Côi, Thái Bình , và sống một cuộc sống khép kín.

Ngày qua ngày Du giam mình trong nhà, không đi đâu, đêm đêm Du chong đèn tận khuya mài mực viết nên những bài thơ gan ruột, nỗi nhớ thương người con gái năm xưa luôn hiện về dày xéo tâm hồn Du.

Có hôm người nô bộc bưng bữa sáng vào phòng cho Du, Du hỏi:

-Bên ngoài trời trong hay xám?

Người nô bộc nói:

-Dạ trời quang đẹp lắm ạ.

Du xua tay bảo người nô bộc đi ra, thở dài tự nhủ:

-Trời quang đẹp sao? Nhưng sao xã hội vẫn còn tăm tối ?

Bao giờ thì đời sáng đây?

Năm 1802 Nguyễn Ánh tiêu diệt nhà Tây Sơn lập nên triều Nguyễn  sau nhiều lần thoái thác Du chấp nhận ra làm quan,  trải qua nhiều vị trí khác nhau, được cử đi xứ nhà Thanh, tuy nhiên trong thâm tâm Du không hề muốn vướng bận cân đai áo mũ. Lòng Du lúc nào cũng đau đáu nhớ về người con gái năm xưa. Kể từ sau đêm đó Du hoàn toàn bặt tin tức của nàng. Du tự nhủ, có lẽ nào đêm đó sau khi  chê hoa chán nguyệt Huệ đã thủ tiêu nàng?

Du bị bệnh dịch chết ngày mồng 10 tháng 8 âm lịch (16 tháng 9 năm Canh Thìn (1820) lúc 54 tuổi.

Nghe nói trước lúc trút hơi thở cuối cùng Du hỏi người nhà:

-Chân tay ta lạnh chưa?

Người nhà đáp:

-Dạ sắp lạnh rồi.

Du lại hỏi:

-Hôm nay trời ra sao?

Người nhà đáp:

-Dạ trời quang đẹp ạ.

Du bảo mở cửa ra, bên ngoài lá bắt đầu rơi, mưa lác đác. Du thở dài:

-Cuối cùng trời vẫn xám!

Du nhắm mắt, nét mặt dường như vẫn còn đượm nỗi đau đời !

 

Trương Đình Phượng

 

NgoiBuon2

SAO ANH CHỌN SỰ CHIA LÌA

 

Hãy ở lại cùng em đi anh
Cuộc đời này rộng lớn
Anh bỏ đi rồi
Bơ vơ, bơ vơ
Em.

Cơn gió nào quật tung cánh cửa em cẩu thả khép hờ
Chờ anh mỗi đêm về sau bao nhớ nhung tuyệt vọng
Gió xô lệch trái tim em cóng lạnh
Ở lại cùng em đi anh.

Rồi ngày lại nắng xanh
Em sẽ kể anh nghe những chuyện từ xa lơ xa lắc
Những câu chuyện làm em mau nước mắt
Anh cười thắt thẻo đau.

Em sẽ lại mặc váy hoa
Sẽ đi tất nhiều màu
Sẽ là em đểnh đoảng như anh từng biết
Quê mùa như anh từng biết
Xin anh nương náu cuộc đời
Xin anh đừng bỏ em.

Sao anh không ở lại
Em sẽ cùng anh yêu cuộc đời này hơn trước ngày em đến
Cõi người giờ mênh mông thế
Nhỏ nhoi em bè bạn với chênh vênh.

Bướng bỉnh ơi sao không nghe em
Anh chọn sự chia lìa trong đau đớn
Anh bỏ em ở lại
Xé lòng em quăng quật chốn vô thường.
Nguyễn Hồng

 

 

VuongNgocMinh

minh họa Vương Ngọc Minh

 

Tôi ngồi U Mê Trời/ sáng.

 

với khái niệm- đồ chơi

giơ hai tay minh con

gratulations các

ngài thơ chính là sự

 

mát rượi từ vòm ngực

em ở đó khởi lên

và chảy nhiều ý nghĩ

vị lai khứ hồi- sự

 

trở lui nhưng đừng suồng

sã úp chữ chật mặt

trời vào tiệc khoan hồng

thánh/ và do đó ở

 

sự tư riêng mang ẩn

dưới nỗi lòng- minh con

gratulations các

ngài thơ luôn lộ một

 

khoảng cách giữa minh mẫn

với vô minh thứ tình

cảm mầu nhiệm chả ăn

thua gì có nẩy nòi

 

thì minh sẽ dành cho

các ngài tháng năm dài

hoan hỉ ròng rã hòng

các thi hữu kiệm thu

 

lời ăn lỗ chịu có

dặm thêm hơi thở mang

mác hòng tiếp nối câu

chuyện thừa kế tiên nhân

 

anh sản nghiệp rất tư

tình (vô tình) đã phạt

ngang một cách dứt khoát

congratulations

 

minh sẽ giấu hết các

đường nhăn mặt nạ hình

nhân (là rác- không thể

khác!) sự thật thì “giết

 

lầm hơn bỏ sót” đấy

lúc hồ chí minh đi

vào hang pác- bó đã

tuyên bố thẳng thừng vào

 

mặt chu văn tấn một

người tày gian manh hai

mắt hồ chí minh trợn

ngược sau trở thành châm

 

ngôn ta nói “gìn vàng

giữ ngọc cho hay” đấy

câu của nguyễn du một

lần nữa minh congra

 

tulations các ngài

thơ cứ mỗi giờ đều

hóng tiếng quẫy đập của

thi hữu tợ cánh của

 

đại bàng đập tôi không

nỡ giết một bài thơ

song thất (cặp bảy) cũng

chỉ phải hối hả đi

 

nhận diện cái bãi quê

mà cái bãi quê ấy

đích thị là thân thể

em không sai một tị!

..

vương ngọc minh.

 

 

Đọc thơ lê khiêm trung.

 

 

“ông khiêm!” tôi mở mắt ra

a! chốn này..

ngoài hồ tây nắng đã tắt hẳn

tiếng con điếm vừa kêu

váng lên

 

cơ hồ

ùa cả vào tâm tưởng

lời của nó chảy êm- tợ điệu

“ầu ơ!” ông ru cháu

tràn khắp sàn phòng

lan tận chỗ đang nằm

 

tôi lồm cồm

ngó đồng hồ

thấy nguyên rừng bông- tím và

thời gian

là con vạc lượn thực thấp

gần sát mặt nước hồ tây

 

tại sao lại hồ tây? tôi

không hiểu sao

đứng lên

cầm đầu ngọn cây chổi

cong

dài độ sải tay

khuấy cho nước hồ thành màu

 

chừng một giờ

sau

tôi lẫn mặt hồ tây

yên tĩnh- tợ lá sậm

chỉ nước có phần đậm thêm

 

tôi ngã xuống

lăn vòng

vòng

căn phòng với trạng thái gần như nửa mê

nửa tĩnh

 

con người ở việt nam bây giờ cứng đờ

nặng trĩu

u tối

huống chi tôi “chưa chi mối

mọt

gặm nhắm thân thế..”

lúc tự nhủ thế

thì cảm thấy bằng lòng với các thứ đang nắm trong tay

 

“thơ” tôi nói “mình sinh trưởng ở sài gòn

nên bỏ qua

tất thảy thôi!”

 

chẳng mơ hồ gì cả “anh minh!”

khi đấy

nhà thơ đinh thị như thuý gọi tôi

cô ưa gọi thẳng tên tục

“cá đã tụ sát đáy hồ tây”

 

cô nói “chả câu được con nào!”

tôi très ra

chỗ gần đỉnh cây sồi

chăm chú nhìn

nguyễn du

 

loài rùa còn rôm rả

như người

hai con ngươi

đột nhiên lọt tròng

bò dưới mặt đường

i hệt hai con gián

 

“ông khiêm!”

..

vương ngọc minh.

July4th

MongManh

 

Truyện ngắn của Nguyễn Hồng

 

Mặt hồ phẳng và trong. Ly ngỡ mình có thể chạm đáy khi giơ tay khuơ khuơ vào mặt nước. Anh từ phía mũi thuyền hét thất thanh rồi lao về phía nàng. Ly. Đừng. cẩn thận ngã. Tiếng hét đột ngột của anh làm Ly giật mình rồi rụt tay vào như một phản xạ. Nhưng nhanh như cắt, Ly thấy từ đáy hồ đám rong rêu dềnh dàng, đong đưa dịu dàng như đang chào đón nàng. Nàng cười thích thú. Và luyến tiếc tạm biệt. Anh kéo nàng vào lòng. Vỗ về. Ngốc ạ. Hồ này có cá dữ đấy. Ngửi thấy mùi hơi người nó kéo xuống luôn. Nàng rúc nách anh. Yên ổn. Bậy nào. Đâu có đáng sợ đến vậy chứ. Đám rong rêu từ đáy hồ đang nhảy múa trong đầu nàng. Nàng nhắm mắt. Nụ cười vẫn chưa tan. Nàng thì thầm. Anh. Em thấy cả một lễ hội ở dưới đấy. Một bữa tiệc lộng lẫy. Có cả nhạc. Hoa. Và nến trắng. Có cả anh. Và em. Anh hôn vào trán nàng. Dịu dàng.Ngủ chút xíu đi em. Khoảng 30 phút nữa mới tới nơi. Mùi rượu phả ra từ anh thơm và ấm nồng. Gió hồ nhẹ đưa đẩy. Cả một quãng dài đi ô tô trước khi chuyển xuống thuyền làm nàng thấm mệt. Nàng níu anh chặt hơn. Và ngủ.

Theo kế hoạch anh sẽ đưa nàng xuống biển. Ông bác sĩ già trễ kính xuống cánh mũi chăm chăm nhìn anh. Nửa thấu hiểu, chia sẻ, nửa như là mệnh lệnh. Tĩnh dưỡng là quan trọng nhất nhưng phải có không gian. Sự khoáng đạt và trong lành của biển rất tốt cho người bệnh trong quá trình phục hồi cả thể chất lẫn tinh thần. Lời khuyên của bác sĩ bây giờ với anh là phao cứu sinh. Anh bấu víu và làm theo tất cả. Vì nàng.  Nàng cũng đã rất hồ hởi cho chuyến đi. “Không biết em có sức để trụ lại với sóng không nữa, anh. Hôm qua quậy ở hồ bơi một chốc em đã thấy mệt. Nhưng em thích. Lâu lắm rồi chúng mình lại hò hẹn”. Tiếng nàng nhẹ như hơi thở. Anh nghe. Rồi thút thít đau. Sự ân hận dày vò và hiện hữu. Nếu không giữ được bình tĩnh anh sẽ lại buột miệng. “anh xin lỗi”. Nhưng anh đã kịp giữ lại. Lời xin lỗi của anh bây giờ với nàng đã không cần thiết nữa nhưng anh sợ sẽ là nguồn cơn cho nàng trở bệnh.  Nàng  sẽ lại hồi tưởng và lần dò cái nguyên cớ anh phải nói lời xin lỗi nàng. Anh cố gắng xua đuổi nhưng sự dày vò cứ lởn vởn trong đầu như một áp lực. Ngày anh tạm biệt nàng bên chân cầu thang cạnh bờ rào phủ kín giống hồng leo của Pháp. Anh nhìn sâu vào mắt nàng. Mùi thơm da thịt nàng. Mùi hương hoa hồng quyện sương sớm làm anh chộn rộn và thành khẩn. Chờ anh nhé, anh đi rồi anh sẽ về. Nàng im lặng gật đầu. Mắt nàng ngân ngấn nước. Tin tưởng và chờ đợi. Tờ giấy đăng ký kết hôn còn chưa kịp khô mực.

Nàng chưa hình dung được về mình của chuỗi ngày không có anh nhưng nàng biết chắc chắn mình phải sống.  Ngôi nhà ngập tràn hình ảnh anh. Căn phòng ngập ngụa hơi thở anh.  Mùi đàn ông anh để lại đêm đêm dỗ dành nàng. Nàng sống nhiều hơn bằng trí tưởng tượng. Sự lặng lẽ của nàng làm mọi người ái ngại. Lẫn với sự thương xót. Và tiếc nuối. Sơn bảo. Sao không chờ người ta về rồi lại đăng ký kết hôn. Ba năm đâu có ngắn. Đâu có gì là chắc chắn. Nàng xoay xoay tách cà phê, chả thèm nhìn vào Sơn. Bậy nào. Sơn chỉ được cái lo bò trắng răng. Kệ tớ. Tớ ổn. Nàng không nói thì Sơn cũng biết nàng đang ổn. Mắt nàng lấp lánh hạnh phúc khi kể về anh với Sơn. Sơn nghe. Và hầu hết là im lặng. Đôi lúc Sơn có cảm giác nàng đang độc thoại. Hai đứa thân nhau từ nhỏ, 12 năm chung lớp. Lên đại học cứ tưởng sẽ không phải chung nữa như lời Sơn dấm dẳng trong nhật ký để lại nhưng rồi vẫn chung. Kỳ quặc. Có lúc Sơn cáu bẳn. Ly. Bà là yêu quái kiếp trước xuống đây hành hạ tui. Ly làm chi nên tội đâu Sơn nói vậy. ừ nhỉ. Ly có làm chi nên tội. Nhưng cứ là Ly gần gũi, thân thiết như hơi thở thế mà hồn vía Ly để cả nơi khác làm Sơn tủi thân. Nhớ đêm lửa trại trước khi chia tay, Sơn trộm rượu ba uống lấy uống để chỉ mong có dũng khí nói với Ly rằng Sơn thương Ly lắm lắm nhưng rồi Sơn say. Ly cuống quýt gọi mọi người đưa Sơn vào phòng y tế. Rồi cuống cuồng gọi cho ba mẹ Sơn. Sơn lại bị ba mẹ mắng. Bị Ly rủa là khùng.  Tập tành chi mấy thứ đó hả Sơn. Sơn cũng chỉ kịp níu tay Ly lại và nói. Ly à…. ly à….tại Sơn bị đau bụng, cứ tưởng uống rượu vô cho nó sát trùng. Thế thôi. Sơn đâu dám mở lời. Cho đến tận bây giờ Sơn vẫn bên Ly thế. Đôi lúc say xỉn Sơn tự trách mình sao không thể nói lời yêu với Ly, biết đâu sẽ khác. Nhưng Sơn lại tự trả lời rằng biết đâu nói ra Ly lại ngại ngùng, lại lúng túng, lại không thể là bạn nữa. Ánh mắt Ly đâu có dành cho Sơn. Nên thôi. Sơn bằng lòng để được là bạn đồng hành của Ly mỗi ngày.

Đôi lúc anh thấy khó chịu với cách Sơn nhìn Ly, chăm sóc Ly và lo lắng cho Ly. Anh giận dỗi. Ly ngăn. Bậy nào, anh. Sơn là bùa hộ mệnh của em đấy. Có cho kẹo Sơn cũng chả thèm yêu em. Bạn gái Sơn có mà đầy, chỉ là hắn ta chưa chịu duyệt thôi.  Dần dần qua tiếp xúc anh thấy Sơn cũng dễ gần. Quan trọng là Ly giữ khoảng cách và nguyên tắc của một người bạn. Đôi ba lần đi chơi, đi ăn Sơn có dẫn bạn gái theo. Anh thấy tin tưởng và cũng coi Sơn là bạn. Ly chỉ mong có thế. Nàng tự hào. Anh thấy chưa. Sơn ổn mà. Đã là bạn em thì ai cũng phải ổn. Anh yêu nàng hơn từ những phút hồn nhiên trẻ con như thế. Yêu như thể không có người đàn bà nào có thể kéo anh ra khỏi nàng. Nhưng mùi oải hương xứ lạnh ma mị và quyến rũ. Người đàn bà xứ tuyết nồng nàn gấp gáp làm anh thỏa mãn. Sau mỗi cuộc yêu, anh nhớ nàng. Khuôn mặt trẻ thơ và giọt nước mắt sắp rơi trước lúc chia tay ám ảnh anh. Anh chậc lưỡi. Rồi anh sẽ về. Rồi anh sẽ là anh của nàng như cũ. Xa thế  nàng làm sao biết được. Những phút giây anh ngập trong rượu mạnh và đàn bà là những phút giây anh nhớ nàng, thèm khát nàng. Bản thân anh không kiềm chế được, không tin được.Tình yêu anh dành cho nàng vẫn thế. Nguyên vẹn.

Khoảng cách nửa vòng trái đất mỏng tang qua một cái clic chuột. Nàng hồ hởi mở mail uống từng dòng yêu thương anh trao gửi mỗi ngày. Nhưng lần này không là hương hoa hồng leo giống pháp. Không là những nụ hôn như muốn cháy màn hình, không là nồng nàn yêu thương muốn xóa nhòa thời gian và khoảng cách. Là mùi oải hương tang tóc và cay độc. Những bức hình thơm mùi da thịt đàn ông đàn bà. Nàng lặng phắc bất động. Tim nàng muôn vàn kim châm. Toàn thân nàng lạnh cóng và tê liệt. Nàng ghẹt thở. Đông cứng. Nàng không biết vì sao nàng tỉnh dậy được trên tấm ga giường trắng nồng nặc mùi thuốc sát trùng. Bốn bức tường trắng tinh hoang lạnh. Một bình hoa hồng cắm cẩu thả. Và Sơn. Nàng không nói gì. Chỉ mở to mắt nhìn Sơn. Giọt nước mắt cứ ngấn ngấn trên mi không rơi được.

Sơn đau đớn nhìn Ly câm lặng mỗi ngày. Đau đớn hơn mỗi ngày Sơn nảy sinh ý định thay nàng nhắn tin yêu thương với anh. Đơn giản là Sơn muốn mọi việc không rối tinh lên trước khi Ly khỏi bệnh. Trong lúc bế Ly trên tay mềm oặt và thiếu sức sống Sơn chỉ muốn đấm vào mặt người đàn ông Ly lựa chọn. Sự căm phẫn trào lên trong mắt Sơn thành những tia lửa. Sơn nghĩ mình có thể băm vằm người đàn ông này. Tiếng còi xe cấp cứu hú rát phố. Sơn kìm lòng tất tả lo cho Ly.

Tin nhắn của người đàn ông từ bên kia bán cầu dày dần lên. Lẫn với sự trách móc, giận hờn, yêu thương là sự hoảng loạn thực sự. Anh làm sao biết được người đàn bà đó kiếm địa chỉ của Ly vào lúc nào. Làm sao biết được Ly có những bức hình mà đến chết anh cũng phải giấu. Sơn biết làm gì khi Ly đang ngơ ngác sống, ngơ ngác khóc cười với ngày 3 mũi tiêm và vô vàn thuốc uống. Bác sỹ chuẩn đoán Ly bị chấn động tâm lý mạnh dẫn đến tổn thương một phần não bộ. Sơn giằng xé dữ dội. Chừng ấy thời gian bên Ly, chăm sóc Ly Sơn nhận ra tình yêu Ly dành cho anh là thật. Thứ tình yêu giản đơn và tinh khiết. Sơn biết làm gì hơn ngoài lời nhắn anh hãy chăm sóc cho Ly thật tốt.Và Sơn đi.

Anh giấu tâm trạng cầu cứu một sự tha thứ từ Ly trên suốt hành trình bay. Vì anh biết chừng ấy thời gian của biến cố đủ để Ly lắng lại và bình tĩnh đón nhận. Một phần, qua những nhắn nhủ từ Sơn, anh biết Sơn đã cố gắng thật nhiều để bao biện cho anh. Lẫn với sự nể trọng anh thầm cảm ơn Sơn. Ly đón nhận từ anh ánh mắt khẩn khoản của một con thú bị thương đang dồn đến đường cùng. Ly bằng lòng như là an phận. Miễn là anh trở về. Miễn là Ly vẫn còn có anh. Vòng tay anh vẫn ấm mềm và dịu dàng thế. Hơn ai hết Ly biết Ly đã rất nhớ anh. Ly đợi chờ anh. Nụ cười Ly yếu ớt và mỏng manh như ánh ngày sắp tắt khi anh quỳ gối nói lời xin lỗi. Không sao rồi anh, anh về là ổn rồi. Ly không khóc. Ly thấy lòng mình đang tãi ra, giằng xé, va đập và có lúc là trống rỗng đến vô cùng.

Và mỗi ngày anh lại cầu hôn nàng

Và mỗi ngày anh lại chăm sóc nàng.

Ly bình thản đón nhận. Với anh đấy là một may mắn. Anh thấy hạnh phúc hơn khi mỗi ngày trôi qua lại được thấy Ly như đang an nhiên, bình lặng. Nàng hay cười một mình hơn. Và ánh mắt thì xa xăm, diệu vợi. Anh tin vào khả năng chuộc lỗi của mình hay tin vào sự yếu đuối bản năng của Ly? Anh không rõ. Nhưng anh thấy nhẹ nhõm. Anh làm sao biết được trong đầu Ly thi thoảng hình ảnh bình hoa hồng cắm cẩu thả lại xuất hiện. Nó cứ đi trở lại và lẫn cả vào giấc mơ  của nàng. Nhẹ nhàng và bình yên.

Kế hoạch đi biển đã định. Nàng đã rất háo hức và chờ đợi nhưng rồi nàng bảo thôi không muốn đến biển nữa. Nàng biết Sơn đang có chuyến công tác ở vùng ấy vào thời điểm ấy. Anh chiều nàng. Anh hứa sẽ làm tất cả vì nàng.

Khách sạn quay mặt về phía hồ. Đứng từ ban công nhìn xuống mặt hồ phẳng và trong tận đáy. Thi thoảng có những cơn gió nhẹ chạm mặt hồ rồi tan. Lòng nàng lao xao sóng.  Ánh trăng từ phía đồi phả xuống lấp lánh muôn ánh vàng. Anh bận bịu một vài cuộc điện thoại nhưng mắt anh luôn dõi theo nàng. Nàng bận bịu suy nghĩ về những con sóng cứ gợn lên mỗi lúc một dày trong tâm trí nàng. Những con sóng xô đuổi nhau dồn dập. Nàng tựa vào lan can thở dốc. Tách trà hoa cúc tỏa thứ hương dịu ngọt. Bất giác nàng muốn được anh ôm thật chặt. Nàng muốn nói với anh rằng nàng đã rất yêu anh. Nàng muốn anh kết thúc cuộc điện thoại sớm hơn và ôm nàng, hôn nàng. Nàng nhắm mắt xua đuổi mọi suy nghĩ. Hình ảnh những bông hồng gai nhảy múa kiêu hãnh trong đầu nàng. Nàng lẩm bẩm. Đúng là đồ khùng. Khùng thật. Mắc mớ chi phải thế, nhỉ. Mải mê suy nghĩ, nàng quên mất nói lời yêu anh.

Quay đầu là bờ. Mẹ bảo với nàng vậy. Bạn bè bảo với nàng vậy. Kể cả Sơn. Sơn hết dỗ dành rồi nghiêm khắc. Anh ấy yêu Ly đấy. Đừng giận nữa. Đàn ông mà. Và Sơn, biết đâu cũng sẽ thế. Cả nàng nữa. Nàng cũng đã ra sức bao biện. Miễn là anh trở về. Miễn lại được ôm anh. Hôn anh. Miễn lại được đắm chì trong hơi thở anh. Mùi rượu lẫn mùi đàn ông của anh đã làm Ly mê đắm đến nghẹt thở. Rồi Ly và anh sẽ có những đứa con. Những đứa con sẽ rất đẹp xinh vì giống cả anh và Ly.

Nhưng.

Ánh trăng non mỏng mảnh rải tấm thảm vàng liêu trai và ma mị. Mùi hương hoa hồng dẫn dụ. Nàng rón rén theo. Nàng rụt rè chạm tay vào mặt hồ. Đám rong rêu từ phía đáy hồ nhảy múa và rủ rê nàng. Có cả nhạc. Nến trắng. và hoa hồng. ơ kìa.    Có cả Sơn. Đúng là Sơn. Sơn làm gì ở đây. Nàng đã từ chối đến biển chỉ vì nghĩ rằng Sơn cũng ở đó. Nàng sẽ không toàn tâm với anh khi nghĩ Sơn đang ngay cạnh mình, đang cô đơn bên lề hạnh phúc của nàng.  Chỉ nghĩ đến đó thôi nàng đã không chịu nổi và nằng nặc đòi anh thay đổi kế hoạch. Nàng trốn tránh Sơn ở vùng đất xa lạ này. Cớ sao Sơn lại kiếm tìm nàng. Cớ sao vậy Sơn. Sơn. Sơn là yêu quái kiếp trước xuống đây hành hạ Ly. Sơn có làm chi nên tội đâu mà Ly nói vậy. ừ nhỉ. Sơn có làm chi nên tội. Nhưng cứ là Sơn gần gũi, thân thiết như hơi thở thế mà Ly không tài nào chạm tới được. Ly thấy có lỗi. Ly xin lỗi Sơn.

Không. Ly không có lỗi. Ly. Tỉnh dậy đi. Ly.

Người ta vớt được xác Ly phía bên kia bờ hồ. Một đám tang lặng lẽ và không nước mắt. Đáng đời con đàn bà phản trắc. Đàn bà phản bội chồng thì chỉ có kết cục đó thôi. Nghe đâu là chết vì đi theo tiếng gọi của tình yêu đấy. Gớm nhỉ, lãng đãng chả khác gì phim ăn liền.

Những vòng hoa xếp ngay ngắn cứ đầy lên che lấp mộ nàng, lặng lẽ tỏa thứ hương thơm kỳ quặc. Có người bảo đó là mùi hoa oải hương đấy. Có người bảo, không,  đó đích thị là hương hoa hồng. Loại hoa hồng dây leo giống Pháp.

Nguyễn Hồng