Feeds:
Posts
Comments

VoDe2

VỌNG ÂM BUỒN

 

Mưa phương nào tôi che người phương ấy

Chiều dần tàn trên mái ngói rêu xanh

Bầy quạ nhỏ đưa đêm về ái ngại

Lời chia tay,

muốn nói…

cũng không đành!

 

Tôi lơ đãng trao người cây Thánh Giá

Người đa mang từ buổi ấy lên đường

Nghe sóng vỗ trong lòng con ốc nhỏ

Và quanh tôi-

muôn thuở,

vọng âm buồn-

 

Khi không thể chia cùng nhau khổ nạn

Thắp cho người ngọn nến cháy rưng rưng

Từng giọt nến rơi vào đêm tan nát

Mái hiên khuya-

gió tạt…

buốt căn phần-

 

 

TÔN NỮ THU DUNG

 

ĐÊM CHỜ QUỲNH HÉ NỤ

 

Em đừng cởi áo vô minh

Thiền sư,

Thi sĩ

bất bình… hạ sơn

trong cuộc lữ cô đơn

Xin

muôn lượng kiếp

hoá thân tìm người

Sát na ấy,

ngỡ suốt đời

Đăm đăm diện bích

triệu lời vô ngôn

Em đừng xé bỏ càn khôn

Ngàn lau trắng vẫn cội nguồn băn khoăn

Em đừng vội nhé,

Quỳnh hương…

 

 

Thiền sư cởi áo che quỳnh

Nghe trong khuya khoắt…

trở mình,

hạt sương


TÔN NỮ THU DUNG

BXP

tranh Bùi Xuân Phái

 

Kể Em Nghe

 

 

Em chở tôi đi ngang phố Phan Đình Phùng

Em bảo

Hà Nội bây giờ chỉ có phố này là đẹp nhất

Còn bóng hai hàng cây xanh 

Nơi tôi sống 

Tôi đã tự hào hơn Hà Nội 

Thành phố trầm mặc nỗi buồn 

Vẫn thỉnh thoảng ác mộng về cơn điên bệnh tật

Về những năm tháng chiến tranh 

Hàng cây xanh 

Mỗi sớm mù sương 

Cờ ô đại nội 

Mùa hè phượng đỏ ối 

Áo trắng vẫn hiền lành dưới bóng xanh ươm

Hà Nội em

Bây giờ tôi đến 

Câu hát xưa bất chợt mênh mang  

“Cây cơm nguội vàng cây bàng lá đỏ…”

Bây giờ nơi nao?

 

Hà Nội của em

Nơi tôi đến 

Hồ Gươm xanh đậm hơn 

Giữa buổi chiều mùa hạ 

Người vẫn yêu đời đùa vui phố xá 

Ngồi bên gốc me xanh 

Tôi không quen 

Mùi nước rất tanh 

Đưa tay bụm mũi 

Như thể kẻ nhà quê quá xa lạ với phố phường 

Tưởng tượng mùi cốm làng Vòng 

Tưởng tượng mái ngói thơm 

Đang ở nơi nào đó 

Xa xăm 

 

Hà Nội của em 

Hà Nội trong tưởng tượng của tôi

Vẫn đẹp

Giữa lưng chừng bài hát 

Hà Nội bây giờ 

Là rác

Là khói bụi

Là trơ trụi

Là cao ốc

Là kẹt xe

Là 

Người 

Người 

Người 

Đông nghẹt 

Mưu sinh và chờ chết 

Hà Nội vẫn còn đó

Nhiều người bạn của tôi

Đáng yêu và hiền lành 

Cụ già ngồi đọc tờ báo cũ 

Em bé cầm trên tay chiếc bánh cam ngọt lịm 

Những chiếc xe đạp chở bốn mùa hoa dạo bán 

Thành phố vẫn thơ

Dưới làn bụi mờ

Dưới những con đường trơ trọi 

 

Tôi ghé vào quán bún ốc

Người nhạt

Giữa phố xá thênh thang 

 

 

 

Nguyễn Hoàng Anh Thư

7

THỪA THÃI CĂNG LÒNG.

 

 

1)

tôi

nhập vào em

đêm tháng ba

phù sinh trẩy hội

đóm

hoan ca

bủa vây trùng khiếp

đời

khô mộng

lầm lũi giang hồ

ta

dắt ta.

 

 

 

2)

buồn

rớt từ cây

xuống cội già

lưu vong

nên

mọi thứ ra ma

nghĩ

không phương chước

suy

không tới

nên

cứ người dưng

tưởng

ruột rà.

 

 

 

3)

mộng

đã đi hoang

chửa thấy về

một đời

bóng

ngả miết về quê

thóp thoi

ray rứt cầu ao

thừa thãi căng lòng

nhớ

ủ ê…

 

 

Chu Thụy Nguyên

 

 

 

 

CHÂN THẤP CHÂN CAO BÓNG GIỠN HÌNH.

 

 

1)

Có khi. Là mầm trong giấc kén.

Là tơ. Dệt mỏi giấc bình minh

Chỗ ngồi. Buông bỏ chân hoang bước

Là tôi. Xiêm áo tưởng rập rình.

 

 

2)

Là tôi. Bỉ ngạn chiều thê thiết

Cuộn chảy. Mơ hồ ngợ dáng em

Lên đồi. Khóc lớn cùng mây gió

Là lúc. Trăng mờ tôi thảo nguyên

 

 

3)

Viết nữa. Cùng mây tôi nhập trăng

Nhăng nhăng. Cuội cuội mộng sang đàng

Kìa cô. Em nhỏ son hồng gót

Biết đã. Bao giờ nợ chiếu chăn ?

 

 

4)

Lắm lúc. Vay đời chung rượu lạt

Là duyên. Hay nợ thật không màng

Lục bình. Phơi cạn nguồn cơn khát

Đối ẩm. Lâu rồi tiệc cũng tan

 

 

5)

Là tôi. Vin kiếp chênh vênh ấy

Là một ? Là hai ? Bóng giỡn hình

Lưng chừng. Hiu hẩm ai đồ họa ?

Méo xệch. Nhìn ta chẳng giống mình…

 

 

Chu Thụy Nguyên.

 

56

LÝ LỊCH : TÔI

 

tôi con sâu khát vú cỏ 
mùa xuân
một đời hoang núm nhớ
tái ngắt dòng sông tư tưởng
bạc môi ru ngày giọt máu thay màu

tôi trứng nắng những mùa không sinh nở
tuyển dụng nỗi buồn
khâu biển bơ vơ

tôi 
chong mắt đêm cào rách nụ hồn
chờ bình yên mọc từ mầm sương hoại tử
ban mai
xơ xác sầu cánh kiến

 

THUỞ TA VỀ LAU BÓNG THỜI GIAN 

(cho N…)

 

ta lau mặt trời
cho tuổi em thơm mãi hai mươi
trên luống thời gian
mái tóc em ngan ngát mùi đồng nội

ta lau mặt trăng
cho hồn em xanh ngắt miền sông huyền thoại
tháng sáu buồn du dương
thoai thoải dốc tình em 
ta nhặt lá thiết tha

đời cốm 
giòn tan như ngực trẻ
ta lăn vào em
viên sỏi tím thiên đường

 

VIỄN TRÌNH 7

 

tôi lẻn vào căn nhà yên tĩnh của đêm
ăn cắp giấc mơ của lá
vượt qua hàng rào gió
bắt gặp cơn mưa đi tuần

đứng trú dưới mái ngực hi vọng
lặng nhìn nụ hôn năm tháng ướt nhòe
người đàn ông của những lời hứa
lướt bàn tay xám qua miền tương lai tôi
làm đổ gãy những mầm non bình yên mới chớm.

 

 

Trương Đình Phượng

Giới Thiệu Sách Mới

NgMinhNuu2

Tập truyện ký:

THƯƠNG QUÁ SAIGON NGÀY TRỞ LẠI

 

Văn Nghệ Boston vừa nhận được tập truyện ký của tác giả Nguyễn Minh Nữu do nhà Văn Nghệ ấn hành năm 2017.
Sách có tựa đề: Thương Quá Saigon Ngày Trở Lại  là tập truyện ký trình bày những kỷ niệm của tác giả với những người bạn và khung cảnh xưa, tập trung hầu hết là Sài Gòn trải dài 264 trang.
Bìa sách trình bày trang nhã với tranh sơn dầu của Trương Vũ, phụ bản Đinh Cường, Đinh Trường Chinh.

Chân thành cám ơn tác giả Nguyễn Minh Nữu và xin được giới thiệu đến quý anh em văn nghệ cùng độc giả.

 

Văn Nghệ Boston.

Perform Solo

tranh Võ Công Liêm

 

GIỮA CHIM VÀ NGƯỜI

 

con chim quái cất cổ hót

tôi . một thời rất đảo điên

giữa trời sa mạc vô hình

hoang vu gió

mây ngàn hú

một mùa giông

bão tới tắp

xô ngã đời

theo cát bụi

con chim quái cất cổ hót

em . bỡ ngỡ một đông tàn

mà dòng đời thì phôi pha

dưới hiên trăng theo mây hứng

một đời thừa bạt gió mưa

con chim quái cất cổ hót

xin một lần

với dã thú

trên ngọn đêm

với đa đa

đưa em vào mộng ảo chơi vơi đêm trăng sao chờ đợi

để thấy mình là đá buốt chiều sương ướt gió leo cành

con đường rám nắng da đen cánh cửa ngập ngừng vỗ cánh

cho mắt môi em sân quạnh trăng đầy huyền hoặc mưa dâu

những hạt nắng khua đêm nghe vọng từ thiên nha tuổi nhỏ

đêm bò vào vũng sâu dưới trăng khỏa thân tinh khiết trắng

trên nhánh sông trôi những cụm hoa là mây trời lãng đãng

điệu kèn rít dã man trong ngăn kéo hộp đêm ngập khói cười

dìu em lên sàn nhảy ngọn đèn lấp lánh mắt môi ngọn lửa thèm

ôi . ‘mái tây hiên nguyệt gác chênh chênh’* đường đời ai có hay?

 

con chim quái

cất cổ hát

 

giữa đêm về

một âm vang ./.

 

VÕ CÔNG LIÊM
(ca.ab.yyc. 10/6/2017)

* Dựa ý thơ: Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu.  

 

 

 

thơ Lê Anh

Hani-Mazhar

THƯƠNG VỀ CỐ QUẬN

 

 

 

Cố quận nằm bên liên tỉnh lộ

Người đi xa cố quận lâu rồi

Như sông chia nhánh thành hai ngã

Một ngã đường mơ, một ngã đời

 

Người đi bỏ lại sầu non nước

Cố quận nằm trơ dấu đạn cày

Ngày qua bóng đổ che bờ bạc

Hương khói cơm chiều lạnh lẽo bay

 

Cố quận thương về hiu hắt quá

Một ngày sao lại kiếp bèo thôi

Chiến tranh im hẳn từ dạo ấy

Còn vẫn chút gì vương vấn nơi

 

Nhìn nhau thoảng hoặc nhìn nhau biết

Chút lửa trong tim đủ ngậm ngùi

Cố quận riêng gì ơn xưa cũ

Chập chờn bến mộng nỗi buồn vui

 

Quán gió chân cầu bên cố quận

Còn ai đây nhớ chuyện thế nhân

Ly rượu khơi tình anh lính chiến

Nghe hoài năm tháng lúc dừng quân

 

Khói quyện mây chiều từng vết nhạt

Nhà ai cơm tối vắng người ngồi

Những kẻ ngày qua còn đâu đó

Chờ nhau làm ấm những lẻ loi

 

Cố quận chiều nay tàn nắng rụng

Bóng chìm trơ dấu bụi thời gian

Người đi lâu lắm từ xa thẳm

Biết kiếp duyên nào nhắn thế gian.

 

         

Lê Anh.

 

 

 

 

LỜI CHÀO TẠM BIỆT

 

 

 

Khi thời gian đứng lại

Có nhiều điều khó thể nói

Không phải là tất cả đều chấm hết

Không bởi vì tôi đang khóc…

Cứ mỗi lần thời gian qua mau

Tốt hơn là nói lời chào tạm biệt

Vì mỗi trái tim lớn đều có nỗi buồn ở lại

Những gì tồn đọng

Đều làm đau buốt ngày mai

Và ước muốn hiện về như một giấc mơ

 

Quá khứ không là tương lai

Nhưng con ngưới cần hiện tại

Mỗi kỷ niệm làm đẹp thêm sức sống

Như hoa quả cuối mùa

đều mang hương thơm nhiều cách đến cho đời

 

Tôi không đang khóc

Không bởi vì thời gian vốn vô thường

mà vì đâu đó còn vương sức sống

như giọt nắng chiều trên đầu ngọn lá non

Tốt hơn là nói lời chào tạm biệt…

 

 

Lê Anh.

 

SÁCH MỚI

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI:

Văn Nghệ Boston vừa nhận được sách mới:

Bánh Mì Ai Cập, Cá Việt Nam
KHÁT VỌNG CON NGƯỜI

BanhMi_Ca

 

Sách bao gồm 75 bài chính luận và tâm bút của tác giả TRẦN TRUNG ĐẠO

Do nhà Cổ Loa ấn hành năm 2017

Khổ sách 6 x 9 inch dày 617 trang, trình bày trang nhã

Văn Nghệ Boston xin giới thiệu đến quý anh chị em văn nghệ cùng quý độc giả trong và ngoài nước

————————————————————————————————————————————-

Giới thiệu tác  phẩm

 

BÁNH MÌ AI CẬP, CÁ VIỆT NAM, KHÁT VỌNG CON NGƯỜI

 

Tác giả: Trần Trung Đạo

1

 

Gồm 75 Chính Luận và Tâm Bút, dày 630 trang của Trần Trung Đạo tập trung vào bốn chủ đề:

  1. KINH NGHIỆM THẾ GIỚI: 23 bài về kinh nghiệm Liên Xô, Đông Âu, Phần Lan, Tây Tạng, Nhật Bản, Singapore, Miến Điện, Nam Hàn, Bắc Hàn, Mông Cổ, Latvia, Lithuania, Estonia, Campuchia, Trung Cộng, Ai Cập, Cu Ba, Hoa Kỳ v.v..

 

  1. LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ: 28 bài về kỹ thuật tuyên truyền, phản tuyên truyền, để thắng được Trung Cộng, chủ nghĩa dân túy, quan hệ Mỹ-Trung, nguồn gốc của bịnh sợ, bịnh lười, bịnh nghiện, đất, biển, đảo, rừng, cây, cá, chim và cơ chế cs v.v..

 

  1. TÌNH DÂN TỘC: 14 bài về nỗi đau Việt Nam, nỗi nhớ Sài Gòn, tình yêu nước, tổ quốc, niềm tin vào lịch sử, mất mát tuổi hai mươi, một ngôi đền có tên Việt Nam, Việt Nam có một thời thừa máu, đừng mệt mỏi, hãy làm một giọt nước v.v…

 

  1. TÌNH NGƯỜI: 10 bài về hạnh ngộ đầu năm, tình mẹ, tình bạn, tình người, mùa xuân, mùa thu, sông, biển, tâm sự của tử tù v.v..

 

Tựa: Gs Nguyễn Ngọc Bích (Phát biểu tại DC và Dallas)
Bạt: Ts Bạch Xuân Phẻ
Biên tập: Trần Trung Tín
Thiết kế bìa: Uyên Nguyên
Trình bày nội dung: Đặng Hoàng Lân – Trần Nghi Hạ
Nhạc Nguyễn Trọng Khôi – Phan Ni Tấn
Cổ Loa xuất bản lần thứ nhất tại Boston, Hoa Kỳ
Tác giả giữ bản quyền
Copyright @ 2017 Trần Trung Đạo
All rights reserved.

2

 

MỤC LỤC

  1. KINH NGHIỆM THẾ GIỚI

 

  • Suy Nghĩ Bên Đèn Đỏ Ở Nara
  • Latvia, Sức Mạnh Của Niềm Tin
  • Hiểm Họa Trung Cộng Và Bài Học Latvia
  • Ngày Cuối Cùng Cùng Của Chế Độ Cs Liên Xô
  • EstoniaVà Cách Mạng Hát Hùng Ca
  • Hiểm Họa Trung Cộng Và Bài Học “Phần Lan Hóa” (Finlandization)
  • Hiểm Họa Trung Cộng Và Bài Học Tây Tạng
  • Lý Quang DiệuVà Chính Sách Ngăn Ngừa Cs Tại Singapore
  • Chuyện Từ Vùng Biên Giới Bắc-Nam Hàn
  • Kim Jong-Un Thử Bom Nguyên Tử Và Phản Ứng Của Tập Cận Bình
  • Springsteen Và Barack Obama, Hai Cánh Én Tự Do
  • “Dân Cần Minh Bạch” Qua Kinh Nghiệm Mông Cổ
  • Tham Vọng Và Nỗi Lo Của Tập Cận Bình
  • Đảng 50 Xu Tại Trung Cộng
  • Viện Khổng Tử, Cơ Quan Tuyên Truyền Và Tình Báo Trung Cộng
  • Tại Sao Thảm Đỏ Đối Với Các Lãnh Đạo Cs Thường Là Một Vấn Đề Quan Trọng?
  • Trò Hề “Phát Biểu Trước Quốc Hội” Của Tập Cận Bình
  • Tập Cận BìnhChủ Trương Độc Chiếm Biển Đông
  • Bài Học Tranh Chấp Biên Giới Giữa Trung Cộng Và Bắc Hàn
  • LeninVà Chính Sách “Tuyên Truyền Tượng Đài”
  • Nguồn Gốc Cộng Sản Của Ngày Quốc Tế Phụ Nữ 8 Tháng 3
  • Sáu Lý Do Giúp Chế Độ Cs Tồn Tại
  • Bài Học “Thoát Nga” Của Lithuania

 

  1. LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

 

  • Trung Cộng Không Đáng Sợ
  • Để Thắng Được Trung Cộng
  • “Quyền Lịch Sử” Của Trung Cộng Trên Biển Đông Là Quyền Gì?
  • Mao Và Chiến Dịch Tiến Chiếm Hoàng Sa 1974
  • Mao Và “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam”
  • Lãnh Đạo Csvn Trong Quan Hệ Mỹ-Trung
  • Mười Lý Do Nhân Dân Việt Nam Không Chào Đón Tập Cận Bình
  • Nhìn Lại Chiến Tranh Việt Nam
  • Tháng Tư: Gọi Tên Cuộc Chiến
  • Đừng Tưới Nước Lên Gốc Cây Rã Mục
  • Qua Cái Chết Của Ông Lê Hiếu Đằng, Nghĩ Về Chọn Lựa Của Hôm Nay
  • Kỹ Thuật Tuyên Truyền “Người Thật Chuyện Giả” Dưới Chế Độ Cs
  • Đất, Biển, Đảo, Rừng, Cây, Cá, Chim Và Cơ Chế Cs
  • Tìm Đâu Ra Minh Bạch?
  • Tôn Nữ Thị Ninh, Đại Biểu Xuất Sắc Của “Trí Thức Xã Hội Chủ Nghĩa”
  • Bệnh Sợ Dưới Chế Độ Cộng Sản
  • Đoàn Xe Tang Trên Đường Phố Hội An
  • Ai Sợ Ai?
  • Lãnh Tụ Và Thời Đại
  • Tượng Đài Cs, Một Gia Tài Không Ai Muốn Nhận
  • Việt Nam Không Phải Là Miến Điện
  • Nhìn Sang Miến Điện, Nhìn Lại Việt Nam Đang Thiếu Ai?
  • Fidel CastroChết, Nên Vui Hay Buồn?
  • Chủ Nghĩa Dân Túy Mỹ Và Donald Trump
  • Bệnh Nghiện Rượu Dưới Chế Độ Cộng Sản
  • Bệnh Lười Dưới Chế Độ Cs
  • Bánh Mì Ai Cập, Cá Việt Nam, Khát Vọng Con Người
  • Tổng Thống Trump Và “Chính Sách Một Trung Quốc”

 

III. TÌNH TỰ DÂN TỘC

 

  • Niềm Đau Madrid, Nỗi Nhớ Sài Gòn
  • Không Gì Thiêng Liêng Hơn Tổ Quốc
  • “Thay Đổi Nhận Thức, Thay Đổi Tương Lai”
  • Hãy Làm Một Giọt Nước
  • Nỗi Đau Sẽ Không Dứt Nếu Không Biết Tại Sao Đau
  • Đừng Để Lại Một Ngôi Đền
  • Phải Chăng Lòng Yêu Nước Đã Tới Hồi Mệt Mỏi?
  • Hãy Vững Tin Vào Lịch Sử
  • Món Nợ Tuổi Hai Mươi
  • Những Ngày Tháng Tới
  • Tiếng Hát Lộc Vàng
  • Bối Cảnh Việt Nam Qua Phim The Shawshank Redemption
  • Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Ai Sẽ Nói Thay Em?
  • Việt Nam, Một Thời Thừa Máu.

 

  1. TÌNH NGƯỜI

 

  • Hạnh Ngộ Đầu Năm
  • Thì Thầm Với Mùa Thu
  • Tình Bạn
  • Tình Người Như Mùa Xuân
  • Lễ Thọ Giới Của Một Tử Tù
  • Hai Tử Tù Và Tình Mẹ
  • Sự Im Lặng Của Biển
  • Nguyện Ước Rất Là Thơ Của Mẹ
  • Tâm Sự Với Mùa Xuân
  • Bắt Đầu Từ Đó

 

 

Tác phẩm  BÁNH MÌ AI CẬP, CÁ VIỆT NAM, KHÁT VỌNG CON NGƯỜI cũng được xem như là Chính Luận Trần Trung Đạo II. Chính Luận Trần Trung Đạo I, dày 600 trang, đã được xuất bản vào tháng 7, 2015. Để nhận một hay cả hai tác phẩm, xin liên lạc Nhà Xuất Bản Cổ Loa theo địa chỉ email: nhaxuatbancoloa@gmail.com

 

 

Nữ Thi Sĩ Minh Đức Hoài Trinh qua đời

1

Nữ Thi Sĩ Minh Đức Hoài Trinh vừa thất lộc tại miền Nam California, Hoa Kỳ.

Thọ 87 tuổi.

Tác giả 2 bài thơ, được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc “Kiếp nào có yêu nhau “và “Đừng Bỏ Em Một Mình” vừa từ giã thế gian ngày thứ Sáu ngày 9 tháng 6 năm 2017 tại Huntington Beach -California.

Đôi dòng tiểu sử thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh.

Minh Đức Hoài Trinh tên thật là Võ Thị Hoài Trinh, bà thường lấy các bút hiệu là Hoàng Trúc, Nguyễn Vinh, Bằng Cử. Bà sinh ngày 15 tháng 10 năm 1930 tại Huế, sống ở Pháp từ năm 1953 đến 1964. Sau đó bà đến định cư tại quận Cam, Hoa Kỳ từ năm 1982.
Tên tuổi của Minh Đức Hoài Trinh không ai trong giới văn học không biết. Bà sinh tại Huế, con quan Tổng Đốc Võ Chuẩn, Ông Nội bà là Võ Liêm, Thượng Thư Bộ Lễ của triều đình. Năm 1945 Bà tham gia phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp, sau đó Bà biết sự lợi dụng của phong trào nên bà bỏ về Huế tiếp tục học. Năm 1964 bà đi du học tại Pháp về ngành báo chí và Hán văn tại trường ngôn ngữ Đông Phương La Sorbonne, Paris đến năm 1967 bà ra trường và làm phóng viên cho đài truyền hình Pháp ORTF, lúc đó bà đi làm phóng sự nhiều nơi sôi động nhất như: Algerie và chiến trường Việt Nam. . . Năm 1972 bà được cử theo dõi và tường thuật cuộc hòa đàm Paris. 1973 Bà sang Trung Đông theo dõi cuộc chiến Do Thái, một thời gian sau bà trở về Việt Nam giảng dạy khoa báo chí tại Viện Đại Học Vạn Hạnh năm 1974-1975.
Sau biến cố 1975 bà trở lại Paris cho xuất bản tạp chí “Hồn Việt Nam” và trở lại cộng tác với đài phát thanh ORTF với chương trình Việt ngữ để tranh đấu cho những nhà cầm bút, những văn nghệ sĩ Việt Nam bị cộng sản cầm tù. Bà đứng ra thành lập Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và vận động để được công nhân hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế tại Rio de Janeiro, Ba Tây vào năm 1979.
Bà đã dùng ngòi bút và khả năng của mình thường xuyên tranh đấu cho các văn nghệ sĩ bị cộng sản giam cầm phải được trả tự do, ngoài những bài báo, bà còn sáng tác hơn 25 tác phẩm giá trị, trong đó có truyện ngắn, thơ…
Nhà Văn Nguyễn Quang đã thực hiện 1 tập sách rất công phu khá đầy đủ những tài liệu, bài vở và hình ảnh với tiêu đề: “Văn Nghiệp Và Cuộc Đời Minh Đức Hoài Trinh.” Nhà Văn Nguyễn Quang có đoạn viết: “Sau khi đọc quyển sách nầy người ta tự hỏi làm sao Minh Đức Hoài Trinh một con người nhỏ bé lại có thể hoàn thành trên nhiều lãnh vực trong thời gian đen tối nhất của lịch sử Việt Nam. . .Bà đã đi trên khắp 5 lục địa, bà đã vào những vùng chiến tranh lửa đạn. . .” Những đóng góp của bà với một cuốn sách nhỏ nầy chắc chắn không diễn tả hết được những gì bà đã làm cho quê hương cho nền văn học Việt Nam.

 


Các tác phẩm của bà đã xuất bản gồm có:
Lang Thang (1960), Thư Sinh (1962), Bơ Vơ (1964), Hắn (1964), Mơ (1964), Thiên Nga (1965), Hai Gốc Cây (1966), Sám Hối (1967), Tử Địa (1973), Trà Thất (1974), Bài Thơ Cho Ai (1974), Dòng Mưa Trích Lịch (Thanh Long Bruxelles, 1976), Bài Thơ Cho Quê Hương (Nguyễn Quang Paris 1976), This Side The Other Side (Occidental Press USA 1980), Bên Ni Bên Tê (truyện dài, Nguyễn Quang USA, 1985), Niệm Thư 1 (tái bản 1987), Biển Nghiệp (Nguyễn Quang USA, 1990).

 

Thơ HHiếu

noiloan

Lý Lịch nổi loạn

chúng tôi không là cách mạng chẳng là triết gia
chỉ là đám trẻ nhẹ dạ
chưa lấy được ngón cái ra khỏi cửa miệng
đã vội bôn ba
trong những chiếc giày
của người lớn
.
chúng tôi không là hậu quả cũng chẳng là nguyên ủy
chỉ là những sinh vật đang hoại tử
bị rơi vào giữa sự cố
và bị lũ người cầm trên tay lắm lá số tử vi
kiềng vào cổ
một lý lịch quái gỡ
của một dạng sinh vật
biết nói tiếng người
.
chúng tôi chẳng là thắng cảnh không là di tích
chỉ là những chướng ngại vật
chưa đủ lớn để thui thành than
đã vội trổ lá giương cành
cản trở sự phát triển
của đô thị mới
.
chúng tôi chưa là lăng tẩm của điển tích
chỉ là bức phù điêu bỏ dở
chưa chạm nổi được một mộ sử
đã tự nhang khói
trong những chiếc lư đồng
của người chết
.
chúng tôi không bầy đàn
chỉ dăm chai bia
cũng đủ viết lại vài trang
thời sự cũ rích, thủa nhà in chưa biết đánh bóng hình ảnh và
màu mè chữ nghĩa
.
chúng tôi chẳng bè lũ
chỉ là dăm hình nhân cổ quái của một trò múa rối nghèo nàn
vừa đủ khuyến mãi một câu chuyện
thất tán huyền thoại, thủa nhà xuất bản chưa hề tái bản lắm
trò đùa quái quỉ.
.
chúng tôi cũng chả màng thời cuộc
chỉ vui miệng nhắc lại dăm trang văn học sử
mà hội nhà văn thành phố đã tiện tay làm mồi châm lửa tẩu thuốc phiện
không bút mực nào có thể tả xiết
nên chẳng cần bàn viết
các thứ được đặt để trên bàn nhậu
nhậu bây giờ là thói quen của hậu hiện đại
khi mọi cảm giác đang bị chai đít
như thuyết darwin
khi mọi cảm giác đã bị cải cách
như thuyết karl marx
khi mọi đời sống đều bị quy hoạch
như thuyết cộng sản ba đình.
.
chúng tôi đám côn trùng rộng cánh
quẩn quanh bay
đời sống là một khoảng trời bần tiện lý tưởng, ngoại trừ
ngọn đèn thiêu thân ở cuối đường hầm
lao vào nó
chúng tôi tìm thấy nơi đó
những đá tảng ngoài không gian
.
chúng tôi tự thân là những diêm sinh hạt nhân muộn màng
cụm lửa khổng lồ từ môi trường biến thái
phún thạch của cuồng nộ
sức nóng của bất mãn
độ bung của sự nhẫn nhục bị nén ép tận cùng
đáy địa ngục
dĩ nhiên, sẽ thiêu đốt chúng tôi trước
nhưng chắc chắn, chúng
những thứ dễ bắt lửa bức xúc
cũng sẽ cháy rụi
.
càng đi gần hết con đường
chúng tôi càng thấy nhiều chúng-tôi
không nằm theo thứ tự hàng lối như các mộ bia trong nghĩa trang
lại vất vưởng hỗn loạn theo nhu cầu mưu sinh
lũ chúng tôi nằm chồng lên nhau
một lớp lịch sử hổn mang úng nước.

HHiếu

1

tranh Hoàng Hồng Cẩm

KHI ÔNG HỌA SĨ THẤT TÌNH

(thơ cũ đề mới)

 

  1. cắt băng phòng triển lãm này
    em xem họa phẩm tôi đầy bóng ai ?
    xin lỗi, em thầm đoán sai
    vì người mẫu chẳng giống ai hai lòng
  2. ngón tay nhúng cốc bia vàng
    vẽ em lên một góc bàn quạnh hiu
    lòng ta chỉ có bấy nhiêu
    mà nghe trĩu nặng trăm chiều nhớ nhung
  3. máu em đỏ thắm hay hồng
    ta pha màu chẳng vừa lòng em đâu
    gắng hòa một chút hơi nhau
    cho hồn họa phẩm ngàn sau sống còn
  4. đêm đêm ngồi vẽ một mình
    thương cho sơn cọ thật tình hiểu ta
    còn em, huyền hoặc dáng ma
    sống trong nét cọ mà xa ngàn trùng
  5. chân dung em vẽ xong rồi
    cả phòng vẽ bỗng sáng ngời ánh trăng
    lòng vừa rụng nỗi băn khoăn
    em còn hay mất, lạ quen, cũng thừa
  6. chín năm em ngủ khỏa thân
    đường cong nét lượn nhập tâm, thuộc lòng
    vậy mà vẽ mãi không xong
    cái man dại ngát trong vòng tay xưa
  7. em chưa chết đã là ma
    ta chưa chết đã thành nhà quàn em
    chong đèn bôi xóa suốt đêm
    tranh đời ta, một màu đen lạnh lùng
  8. lót màu đã mấy tuần nay
    bức tranh định vẽ loay hoay chưa thành
    hình như ích kỷ để dành
    dáng em lồng với hồn mình thiên thu
  9. phóng tay định vẽ tranh xuân
    phác ra vài nét, lạ lùng : vẫn em
    chắc sơn cọ có trái tim
    hay là em sống trong tiềm thức tôi
  10. ta là họa sĩ hạng tồi
    cứ cho màu sắc nhiều lời như thơ
    hồn ta thất lạc cõi nào
    khi em trừu tượng từ giờ trở đi
  11. cầm dao định chặt ngón tay
    may ra bỏ tật cả ngày vẽ em
    bàn tay đâu có tượng hình
    trái tim mới đáng chịu hình phạt thôi

 

Luân Hoán.
(Mời Em Lên Ngựa)

 

 

KHI ÔNG THI SĨ THẤT TÌNH

1.

khi ông thi sĩ thất tình
hồn thơ xác chữ lình bình khắp nơi
lấp lánh nắng treo trên người
mưa dán râu tóc đổ xuôi xuôi chiều

hai tay quờ quạng khẳng khiu
đứng ngồi hương rượu phiêu phiêu bềnh bồng
người chung quanh có như không
ngoài ông và ả ông yêu lừ đừ

ả thanh thoát dáng tiểu thư
tâm hồn nhan sắc y như Phật bà
thánh thiện hơn Mẹ chánh tòa
trên cao bát ngát mùi hoa tuyệt vời

còn ông ngang ngửa ghế ngồi
thi tiên thi thánh trên đời lâu nay
vũ trụ trong lòng bàn tay
vo tròn hạt nhỏ vãi bay mù trời

đạp mây ông vác tình đời
vừa than vừa dạy nên chơi thế nào
dẫu trầm lặng hay kêu gào
ông thoát không khỏi lòng hao hụt tình

ông thành một bậc thánh linh
thơ cho đời, buồn cho mình… lai rai
ít nhiều cũng chạm cái chai
hương nồng vị đắng sầu phai nhạt tình

2.

rất may, khi ngó lại mình
làm thơ vớ vẩn tôi hình như chưa
thành danh thi sĩ thượng thừa
thất tình bất chợt chỉ vừa vừa đau

ngớ ngẩn một vài bữa đầu
lơ viết bậy bạ, đi đâu đi hoài
từ xấu trai thành được trai
mùi hương vóc dáng của ai đậm dần

tôi thành bức tượng toàn thân
và yên phận giữ ngôi phần mộ riêng
mươi năm sau nếu có duyên
sẽ đem ra viết thành thiên chuyện lòng

tình yêu như một cây bông
nở đi nở lại hoa nồng nàn hương
bấy giờ càng thấm nỗi buồn
dù khi ngồi viết như tuồng dửng dưng

tôi thất tình lạ vô cùng
nhờ chưa chính thức ông trùm làm thơ

 

Luân Hoán
7.20 sáng 06.6.2017

dem

tranh Đinh Cường

 

Hành trình cuối cùng

 

 

Thế là cây bàng trước ngõ đã nguyên màu rực rỡ

Một màu vàng như phủ kín vòm cây

Mới đó lác đác vài chiếc lá

Ào ào cơn mưa vàng mới đây

Rồi đây chỉ còn những cành khẳng khiu trơ trụi

Mùa thu đã chết rồi

Ta cũng chết theo luôn

Con thuyền chở ta xuôi theo dòng chảy

Một con sông dài nhiều bến sang ngang

Ta thường lỡ bước những lần đón đợi

Và hôm nay lại là một chuyến đi xa

Trên trời có một cánh chim tung vòng lượn

Cất tiếng kêu tìm tổ gọi bầy

Nơi ta đến có tên Bến Lạ

Không tổ, không bầy chỉ một cô đơn.

Trong số khách tiễn tôi co mời riêng hai nghệ nhân cho một bài hát.

Bài Biệt Ly

Bởi lần này đích thực là Ly Biệt

Một chuyến đi không có cuộc trở về.

Với cây đàn trùng dây lạc phím người chồng đệm cho giọng hát đã khê của một ca nương đã xế chiều.

Bài hát là nhịp điệu cho sự xê dịch của con thuyền

Cho sự dừng lại của một không gian là sự chết

Và cũng là giây phút lưu luyến cuối cùng với cuộc đời.

.

 

Phan Vũ

Không gian cũ

2.6.2017

fe7b2e9dc2032ae45f8960a881c4a8f6

phạm trù của những ngôi sao

 

 

khi anh thả những cánh chim vào thơ

là khi anh biết mình ngã bệnh

không thể nào đếm xuể

thiên hà co cụm những vì sao li ti

chùm bóng nhân sinh hồi tị

nhác thấy bên đời

từng khối u rờn rợn

cu gáy ngoài đồng khan

giọng đất trùng thẳm

những con dốc năm nào ơi ới

bạn mình chúi ngửa

đo đạc chỉ là sự chiêm nghiệm chuỗi ngân hà đôi co

quét buốt rát

bụi.  và không thời

khoảng cách giữa tranh sáng

và điều huỷ hoại

có cả cây rừng chặt đốn

vườn nhà lung lay

chúng ta giống nhau khác nhau ở chỗ

không hề lý tới sự tranh tụng của thời gian

biết khóc

biết sống tràn trề quá vãng

chui rúc trong lớp vỏ hoài nghi thực tại

bọc lấy cảnh đời

có những loài chim ngưng tiếng hót

những cánh đồng áo nâu

và rừng thông bạt não

 

 

hoa luời biếng tay cầm

khi anh không còn viết được nữa

sẽ đọc bằng nỗi câm lười

những con đinh tán long óc

 

 

 

hoàng xuân sơn

cuối tháng ba 2017

 

 

t ị n h  s ắ c

 

 
ướt giùm
một hạt mưa sa
tôi về hạ giới
ôm
tà nguyệt đau
thở qua
trì giác không màu
làm sao vẽ được
ngàn sau
nhục hình
một tờ thân
nhẹ
như kinh
cũng về theo gió bất bình
thở
than
mai sau
hạt giống khô vàng
còn tôi. còn?
với trần gian
họa hoằn

 

hoàng xuân sơn

trích Lục Bát Hoàng Xuân Sơn

RusudanKhizanishvili_TheWinterSShine

Chút tâm tình

Thương nhớ thi sĩ Việt Phương

Giữa cung cấm anh chỉ ngồi ghế xép
ghế đầu sai
giúp việc
triều đình không có ghế cho thơ

Đại sự quốc gia tuôn qua tay anh
soạn thư
thảo hịch
ho ra bạc
khạc ra tiền
thét ra lửa
em là bài thơ mà anh là tác giả (*)
vô danh

Chỉ làm thơ anh mới được là mình
giữa trang thơ anh thành chính chủ
ghế phụ hóa ngai vàng
vua quan làm con chữ
vỡ ra rằng thơ là đấng quyền năng

Vỡ ra rằng khi anh nằm xuống
hơn với thiệt hỏa táng
chức với sắc hỏa táng
mọi thứ đều danh hư
mộ chí giữa đời một tước hiệu
Nhà Thơ.

Nguyễn Duy

(Sài Gòn, 9.5.1017)

__________________

 (*) Một ý thơ của Việt Phương

 

Cái gốc 

Phúc chu thủy tín dân do thủy (*)

Thượng sách muôn đời lấy dân làm gốc
nhân dân đây
cái gốc quốc gia này.

Bán mặt cho đất
bán lưng cho trời
nhân dân mẹ cha
nhân dân ông bà
nhân dân tổ tiên
nhân dân nguồn cội
hột gạo củ khoai nuôi nấng cả giống nòi.

Mảnh đất truyền đời
chát mồ hôi
đắng máu
lớp lớp anh hùng áo vải
lớp lớp xác người giữ đất
vẫn nhân dân.

Sao nên nỗi người cày không có ruộng
luật hoang vu hoang hóa nhân tình?

Sao có kẻ sống mọt đời vắt vểu
ăn quả trên cành tè axit gốc cây?

Ai ủ cái ung mủ tanh khoang mũi
ngửi hoa hồng sặc một mùi hôi?

Ai nuôi cái mù lòa đáy mắt
nhìn nhân dân ngấp ngoáng bóng thù?

Ai lăm lăm đẩy dân sang phía địch
tự biến thành thù địch trước nhân dân?

Lai tỉnh
hỡi lương tri
lai tỉnh!

Nguyễn Duy                                                                             
(Những ngày đau trong bệnh viện, tháng 4.2017)

____________________

(*) Lật thuyền mới biết dân là nước
  (Quan hải, Nguyễn Trãi)

Phân Ưu

PhamNgocLuPhanUu

 

HÌNH ẢNH TRONG ĐÁM TANG

GiadinhPhamNgocLu
Từ trái: Vợ Phạm Ngọc Lư, con gái và con trai

 

ĐÔI DÒNG VỀ NHÀ THƠ PHẠM NGỌC LƯ

Phạm Ngọc Lu_2

Nhà thơ Phạm Ngọc Lư sinh ngày 6 tháng 4 năm 1946 tại một làng nhỏ vùng Phá Tam Giang xã Vinh Xuân huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông học trung học tại trường Quốc Học, cựu sinh viên Viện Hán học thuộc Đại học Văn Khoa Huế. Sau khi tốt nghiệp sư phạm Qui Nhơn năm 1967, ông về dạy học ở Tuy Hòa đến năm 1975. Sau 1975 ông bỏ nghề dạy học, làm đủ nghề để mưu sinh, lòng vòng ở miền Nam. Đến năm 1995 ông một mình về Đà Nẵng, được một người bạn thơ, Ông Nguyễn Văn Gia, lúc đó là Giám độc hay Chủ nhiệm của Trung tâm Anh ngữ Đà Nẵng nhận vào dạy Anh văn. Khi đã có công việc tạm ổn định ông đưa vợ con về Đà Nẵng, mua nhà ở. Được vài năm, Trung tâm ấy giải thể. Ông mở lớp dạy Anh văn tại nhà, vợ buôn bán nhỏ, sống đắp đổi nhưng khá trọn vẹn với THƠ cho đến ngày nhắm mắt vì căn bệnh ung thư.  Bài thơ được nổi tiếng của Nhà thơ Phạm Ngọc Lư là bài Biên Cương Hành. Trong một bữa họp mặt văn nghệ thân thiện tại Huế, (năm 2009?) Nhà thơ Phạm Ngọc Lư đã đọc bài Biên Cương Hành và được Nhà phê bình Đặng Tiến nhận xét tại chỗ là một trong những bài thơ hay của thế kỷ 20.

Những ngày lâm bịnh hiểm nghèo, anh được anh Trần Hoài Thư vận động, tập hợp một số bài viết của anh chị em văn nghệ trong và ngoài nước, cho ra đời tập san Thư Quán Bản Thảo 70 chuyên đề Phạm Ngọc Lư – Biên Cương Hành – Tháng 6-2016.

Anh qua đời ngày 26-5-2017 tại Đà Nẵng, để lại Vợ, chị Nguyễn Thị Quý, người Bình Định và hai con Phạm Thị Quỳnh Thư (con gái) và Phạm Hà Giao (con trai) cùng với 2 cháu nội, ngoại.

 

Tin từ nhà thơ Uyên Hà

Mandolin

Người đàn ông đàn mandolin

Jun’ichirō Tanizaki

 

 Hà Vũ Trọng dịch

 

NHÂN VẬT:

Người đàn ông đàn mandolinngười đàn ông mù
Ukikovợ ông
Người đàn ông bí mật

Cảnh Một

(Nội thất căn phòng có vách tường trắng dày gây ấn tượng về một căn hầm. Một cửa sổ bên trái sân khấu và hai cửa sổ ở trung tâm đều được phủ rèm màu lục. Bên phải sân khấu là cửa ra vào. Cạnh cửa sổ bên trái là bàn giấy và cái ghế. Khoảng giữa hai cửa sổ trung tâm là một kệ sách nhỏ có chiếc đồng hồ báo thức. Một ghế bành đặt giữa phòng. Một bàn nhỏ và ghế sofa bên phải. Đồ đạc đơn sơ và khá cũ kĩ.

Khi rèm sân khấu kéo lên, tiếng đàn mandolin đang chơi một bản dạ khúc thanh bình. Một đêm mùa thu. Trên bàn có ngọn đèn thắp sáng với chao đèn màu lục. Bên phải, đối diện với vợ là Người Đàn Ông Mù ngồi bên thành ghế bành đang gảy mandolin. Ông mặc quần dài đen với áo thun xám. Vợ ông dựa lưng sofa như thể đang nghe tiếng đàn mặc dù nàng đang đọc một cuốn sách bìa hồng. Nàng mặc chiếc kimono mùa đông giản dị với chiếc áo khoác. Cạnh nàng trên sofa là hai cái gối tựa và một cái mền trắng, một đầu mền sổ xuống sàn nhà.

Người đàn ông mù (ngưng đàn) Đêm nay anh chơi đàn nghe hay hơn thường lệ. Có lẽ chỉ là do anh tưởng thế thôi. (Người vợ im lặng tiếp tục đọc sách. Nàng lật từng trang rất khẽ sao cho không nghe ra tiếng). Em biết không, đôi khi anh có ấn tượng vào một đêm như thế này – anh chắc là đêm nay trăng rất sáng – có một kẻ ở bên ngoài đang nghe tiếng đàn mandolin này. Anh chắc có kẻ đã chèo thuyền ra mặt hồ và nhìn lên những ô cửa sổ này. (Người vợ vẫn im lặng).Ukiko, em cũng có cảm giác đó chứ? Anh dám chắc tiếng mandolin có thể nghe thấy từ trên mặt hồ.

Vợ (mắt rời cuốn sách một lúc) Không thể nào.

Người đàn ông mù Em có thật tình nghĩ thế?

Vợ Nhưng nói gì thì nói…

Người đàn ông mù Không. Anh chắc có thể nghe thấy tiếng đàn, và trong thâm tâm em cũng cho rằng có thể nghe thấy chứ?

Vợ Ô, thôi đừng nói những chuyện này nữa! Các cửa sổ đều đóng chặt. Không còn gì để lo ngại. Gảy em nghe lại bản nhạc đó đi!

Người đàn ông mù Em có chú tâm nghe không? Không nghĩ gì khác?

Vợ Em đã lắng nghe, chẳng có ý nghĩ nào khác trong đầu cả.

Người đàn ông mù Anh đang hồi tưởng thời anh chơi bản nhạc này cho em nghe lần đầu. Vậy đó, không còn gì khác.

Vợ Vâng, em đang nhớ đến tất cả. (Người đàn ông mù chơi lại bản nhạc, người vợ kín đáo tiếp tục đọc sách. Tạm ngưng một lúc tương đối lâu).

Người đàn ông mù (thình lình ngưng đàn) Em đang làm gì?

Vợ Gì thế?

Người đàn ông mù Em đang nghe chứ?

Vợ Dĩ nhiên em đang nghe. (Người đàn ông mù đặt mandolin xuống, đứng dậy, dò dẫm đến chỗ vợ. Trong khi đó nàng gấp sách lại và giấu nó dưới tấm mền. Người đàn ông mù lượn bàn tay lên người vợ, rồi sờ soạng quanh mặt sofa đến khi ông dò ra cuốn sách).

Người đàn ông mù (chỉ vào cuốn sách) Cuốn sách gì đây?

Vợ Cuốn sổ tay dạy đan móc.

Người đàn ông mù Giấy tốt thế này – thật là xa xỉ đối với một cuốn sổ tay dạy đan móc! (Vợ giữ im lặng) Ukiko, em biết rằng, ba năm nay kể từ khi bị mù anh đã học cách phân biệt hầu hết mọi thứ bằng bàn tay, bằng cảm giác với chúng. Trang bìa cuốn sách này màu hồng.

Vợ Màu hồng thì có gì không ổn?

Người đàn ông mù Đây là một tập thơ. Em đã lén đọc vừa hồi nãy khi anh đang chơi đàn.

Vợ Không phải. Em đọc nó vào một lúc khác.

Người đàn ông mù Anh giữ cuốn sách này lại. (Nói xong, ông đi tới tủ sách. Lấy chìa khoá từ túi quần ra, mở một ngăn tủ rồi cất cuốn sách vào. Ông khoá lại. Rồi đi lại ngọn đèn và đứng đó dường như đang đo khoảng cách giữa ngọn đèn và vợ). Ukiko, cái bóng của em có in lên màn cửa không?

Vợ Cửa sổ thì tối om. Còn cái chụp đèn thì ngăn hết ánh sáng rồi.

Người đàn ông mù Tuy cửa sổ tối om, em có chắc rằng không có bóng mờ nào hắt lên đó?

Vợ (quay đầu nhìn cửa sổ) Không, không chút bóng nào.

Người đàn ông mù Mọi rèm cửa đã kéo kín không chừa một khe hở nào chứ? Và cũng không được để lại nếp nhăn nhúm nào? (Nàng nhìn chằm vào ông căm ghét). Sao em không nói gì?

Vợ Chứ anh không tin em tới mức đó sao?

Người đàn ông mù Chẳng phải anh không tin em. Anh sợ bất cứ kẻ nào ở bên ngoài. Có một gã đàn ông đang bí mật dòm lén qua cửa sổ vào trong căn phòng này.

Vợ Nhưng ngôi nhà này nằm ở ven hồ, lại ở trên đỉnh một vách đá cheo leo.

Người đàn ông mù Anh cam đoan rằng hắn tới ven hồ này bằng thuyền, rồi trèo lên vách đá.

Vợ Làm gì có kẻ nào trèo lên đây được? Nơi này cao ngất như một tháp pháo đài.

Người đàn ông mù Để đối phó với hắn anh đã chắn song sắt ngoài cửa sổ, nhưng đó là một cách dở. Nếu có ai thả sợi dây thừng từ song sắt xuống thì hắn có thể trèo lên được. Đêm nào anh cũng gặp ác mộng này.

Vợ Ôi chao, sao anh không khám song sắt xem có sợi dây thừng nào buộc vào không?

Người đàn ông mù Anh biết em khinh anh vì anh không có can đảm mở cửa sổ nên em mới nói thế.

Vợ Cho dù có kẻ ngoài cửa sổ tìm cách trèo lên, hắn làm được gì? Những song sắt trên cửa sổ – chẳng khác gì một nhà tù.

Người đàn ông mù Anh biết chính xác hắn sẽ làm gì. Vì vậy anh phải chắc chắn cái bóng của em không được phản chiếu lên màn cửa. Thường thường trong giấc mộng, anh nghe thấy tiếng súng lục nổ.

Vợ Vâng, tất cả đều ở trong giấc mộng của anh.

Người đàn ông mù Nhưng có khi anh cũng nghe thấy tiếng động không phải trong mộng. Kìa, từ vách tường kia kìa. (Ông chỉ vào khoảng giữa hai cửa sổ trung tâm). Hằng đêm có những tiếng kèn kẹt.

Vợ Em đã nói anh rồi đó là tiếng chuột.

Người đàn ông mù Anh đã nghe tiếng động đó hơn một năm nay. Cứ khi trời về khuya, chẳng đêm nào trôi qua mà anh không nghe. Tiếng động giống như có kẻ nào đó đang kiên trì cắt bức tường dày này từ bên ngoài.

Vợ Làm sao có kẻ cắt xuyên được những bức tường dày như thế? Chúng như một cái hầm.

Người đàn ông mù Nếu hắn cắt từng chút từng chút một, cứ hằng đêm đằng đẵng một năm trời thể nào hắn cũng phá xuyên được. Chẳng phải tiếng chuột đâu, mà là một loại dụng cụ sắc bén đang đục vào bức tường.

Vợ Đấy chỉ là ảo giác của anh thôi.

Người đàn ông mù Bộ em không cầu mong đấy không phải là ảo giác của anh hay sao?

Vợ Chúng ta đã nói xong chuyện này trước đây rồi… (Nàng đặt bàn tay này lên bàn tay kia, tựa lên tay vịn sofa và ngả đầu xuống. Người đàn ông mù ngồi xuống ghế bành).

Người đàn ông mù Em cho rằng đó thuần là ảo giác giả tạo của anh thôi, chỉ là đầu óc lệch lạc của một người mù?

Vợ Vâng, em chắc chắn như vậy. Không nghi ngờ.

Người đàn ông mù Anh không thấy em nhận ra hắn ta kiên trì tới mức nào.

Vợ Anh đang sợ chính chiếc bóng của mình.

Người đàn ông mù Chính tại hắn mà anh mất đôi mắt. Chỉ mới gần đây thôi anh mới nhận ra điều này. Nhưng đó mới chỉ là cú trả thù đầu tiên, còn bây giờ hắn đang thực hiện cú trả thù thứ nhì.

Vợ Không đúng. Không đúng. Anh đang bịa đặt mọi chuyện. (Nàng vẫn gục đầu, có vẻ đang âm thầm khóc. Tạm ngưng)

Người đàn ông mù Mấy giờ rồi? Em xem đồng hồ đi.

Vợ. Dạ. (Nàng đáp rõ tiếng để ông không biết mình đang khóc. Nàng đứng dậy mệt mỏi nhìn cái đồng hồ trên kệ sách). 12 giờ 25.

Người đàn ông mù Tới giờ ngủ rồi. Năm phút trễ hơn thường lệ. (Nàng thở dài, ủ rũ dựa vào lưng sofa. Người đàn ông mù đi đến kệ sách và mở cửa bằng chìa khoá. Ông lấy từ kệ ra một cái chai đựng bột trắng. Ông lại bàn giấy, lấy một tờ giấy trên mặt bàn rồi trở lại cái bàn nhỏ. Trong khi người vợ vẫn ngồi đó, đầu gục xuống, không nhìn vào ông, hệt như nàng đang chờ bị xử hình. Những cử động của Người đàn ông mù tính toán cẩn thận và cần đến thời gian. Ông đặt tờ giấy lên bàn, mở nút chai, và rắc một chút bột lên tờ giấy. Lúc này người vợ ngẩng đầu lên nhìn).

Vợ. Làm ơn, thế đủ rồi.

Người đàn ông mù Không, thêm một chút… đêm nay cần thêm một chút. (Nói thế rồi ông tăng liều lượng).

Vợ Em ngủ được mà, không cần nhiều thế đâu.

Người đàn ông mù Chỉ hai gram thôi. Thuốc dễ mất tác dụng trừ phi em tăng liều lượng.

Vợ. Anh bắt em uống thuốc ngủ nhiều quá làm em cảm thấy loạng choạng cả ngày. Em chắc chắn là do tác hại của thuốc.

Người đàn ông mù Chẳng việc gì em phải lo lắng về loại thuốc này. Có thể tác hại một chút, nhưng nó không giết chết được em. Anh không muốn em chết, chỉ vì chưa muốn.

Vợ Bao giờ em mới được phép chết?

Người đàn ông mù Năm năm, mười năm – ai biết? Có thể hai mươi năm nữa. Chừng nào anh còn đây đó thì anh vẫn để em sống. (Xong việc chuẩn bị thuốc, ông cất cái chai trở về kệ sách và khoá lại. Rồi ông đi lại cách cửa bên phải, lấy chìa khoá ra mở. Ông đi ra ngoài rồi khoá cánh cửa sau lưng lại. Tạm ngưng một lát. Người vợ vẫn bất động trong phòng. Chẳng mấy chốc ông trở lại với một cốc nước, khoá cửa và đi về phía nàng. Ông đặt cốc nước lên bàn, đặt tấm giấy vào lòng bàn tay rồi kiểm tra liều lượng lần nữa). Đứng dậy. (Nàng đứng dậy quay mặt lại phía ông và mở miệng ra. Một tay bóp lấy cằm, tay kia dốc thuốc vào miệng nàng. Ông lắc đi lắc lại, rồi cho nàng uống cạn hết cốc nước). Đủ rồi. Giờ nằm xuống. Em có thể ngủ yên nhờ liều thuốc này.

Vợ Hi vọng em sẽ không thức giấc dậy nữa.

Người đàn ông mù Chắc em muốn nói là cho đến sáng mai! (Đôi bàn tay che mặt, nàng lảo đảo trên ghế sofa và ngả lưng nằm xuống, đầu nàng nghiêng sang bên trái sân khấu. Người đàn ông mù kê đầu nàng bằng cái gối dựa và đắp tấm mền lên lên tới cổ nàng. Nàng nằm yên, mắt nhắm lại. Ông vuốt ve vợ qua tấm mền, rồi trở lại cái ghế bành, cầm cây đàn mandolin lên). Nghe bản nhạc này nhé, dù là nghe trong giấc mơ. Em sẽ không nhìn thấy hoặc nghe bất cứ gì khác. (Ông bắt đầu chơi đàn, và thường hay dừng lại để nghe tiếng thở của vợ. Một hồi ngưng tương đối lâu. Ông khẽ đặt mandolin xuống, và bước chân rón rén, lại bên sofa. Ông chăm chú nghe hơi thở của vợ, rồi lay người của nàng, thoạt đầu một cách rón rén, nhưng về sau lay như điên cuồng. Nàng không động đậy.(Quỳ gối xuống, ông giữ khuôn mặt nàng trong hai bàn tay và vuốt ve đôi má). Ukiko, tha thứ cho anh. Anh không muốn làm tổn thương em. Chỉ vì anh quá đỗi sợ em sẽ trốn theo hắn. (Ông lại vuốt ve má nàng và sửa lại cái gối dưới đầu nàng cho dễ chịu hơn. Tay ông di chuyển xuống tà kimono của nàng và ôm đôi chân nàng. Sau đó, ông lật tấm mền lên một chút, ông cởi đôi vớ vải linen rồi chà đôi má vào mu bàn chân nàng. Một hồi sau ông đứng dậy).Ngủ cho say nhé… Có đúng là em đang ngủ không? (Ông nhặt đôi vớ lên, nhét chiếc này vào trong chiếc kia. Ông bỏ chúng vào trong túi quần, rồi kéo mền lại). Đợi anh nhé. Giờ em đã ngủ, anh cũng sẽ lên giường. Chốc nữa anh quay lại và mang em vào trong phòng anh. (Ông trở lại ghế bành, vặn dây đàn mandolin cho chùng xuống, mở cánh cửa bên phải rồi đi ra ngoài, để cánh cửa mở. Ngưng hồi lâu. Một âm thanh kèn kẹt nghe từ phía bức tường giữa những cánh cửa sổ. Tiếng động ngưng một lát rồi bắt đầu lại. Tiếng kèn kẹt dần dần càng trở nên rõ rệt hơn. Người đàn bà nằm bất động trên sofa, như thể nàng đã chết. Người đàn ông mù, mặc bộ pyjama trắng, trở lại đúng lúc tiếng kèn kẹt ngưng. Ông để cánh cửa mở. Tới bên vợ, kéo tấm mền ra và đỡ nàng lên. Ngay lúc đó bức tường bắt đầu có tiếng động. Ông nhẹ nhàng đặt đầu nàng trở lại gối và rón rén đi tới bức tường để nghe ngóng. Tiếng động càng lúc càng trở nên ồn hơn. Ánh trăng chiếu sáng qua khung cửa sổ làm cho bóng của song sắt vạch lên màn cửa. Ngay lúc đó chiếc bóng của một người đàn ông xuất hiện trên ô cửa sổ phía bên phải. Chiếc bóng như bị mắc kẹt giống con thằn lằn trên song sắt. Người đàn ông mù lắng nghe chăm chú. Đặc tính của âm thanh dần dần thay đổi rồi trở thành một tiếng vỡ nứt. Một phần của bức tường gần cửa sổ bên phải bắt đầu đổ xuống). Hắn tới rồi! (Ông hét lên, co rúm lại rất dữ dội, gần như lăn mình tới bên sofa. Ông bám chặt lấy vợ, dường như cầu cứu, và lay người nàng thật mạnh). Ukiko! Ukiko! Cuối cùng hắn đến rồi! (Thậm chí khi bức tường đổ xuống, toàn bộ khung cửa sổ bắt đầu lắc lư, rồi dần dần tự tách ra khỏi bức tường. Cuối cùng nó đổ ập vào căn phòng, song sắt vẵn gắn chặt. Một sợi dây thừng buộc vào song sắt treo lơ lửng bên ngoài căn nhà. Qua khoảng trống vuông mở toang còn lại bên cánh cửa sổ, Người-đàn-ông-bí-mật nhẹ nhàng, không gây tiếng động, bò vào bên trong. Người đàn ông mù nhảy lui khỏi sofa và núp mình sau cái ghế bành. Người-đàn-ông-bí-mật thình lình vồ lấy ông ta như con chim săn mồi và lập tức bóp cổ ông). Ukiko! Ukiko! Cứu anh với! (Người-đàn-ông bí-mật xô ông càng lúc càng lùi xa đến khi ông ngã ngửa lên khung cửa sổ trên sàn. Y cưỡi lên người đàn ông mù, rút một sợi dây thừng nhỏ từ trong túi ra, rồi xiết cổ ông. Sau một hồi vùng vẫy, người đàn ông mù chết. Ánh trăng ùa vào cửa sổ rọi một vòng sáng quanh thi thể ông. Người-đàn-ông-bí-mật sau khi cầm chắc rằng ông ta đã chết, y đứng dậy, đi ngang qua ghế bành tới chỗ người đàn bà đang ngủ. Bàn chân của y va trúng cây đàn mandolin đang nằm trên sàn, sợi dây đàn bật ra âm thanh. Người đàn ông giận dữ nhặt cây đàn lên quật cho gãy cần, rồi đập tan ra từng mảnh trên sàn. Y quay đầu, như thể chợt nhớ điều gì, trở lại phía cái xác, cởi sợi dây thừng đã buộc vào khung của sổ kéo về phía mình, rồi buộc vào khung cửa sổ bên trái. Y nhấc người đàn bà đang ngủ lên vai và ra ngoài xuống dọc theo sợi dây thừng qua khoảng vỡ của bức tường. Sân khấu tối dần).

*

Cảnh Hai

(Bờ hồ. Phía bên trái, trên đỉnh một vách đá, một toà nhà trắng với ô cửa sổ vỡ có sợi dây thừng treo lơ lửng xuống vách đá. Cửa sổ hoàn toàn tối đen. Đêm trăng sáng đẹp. Người-đàn-ông-bí-mật ngồi ở giữa con thuyền nhỏ trên hồ. Ukiko đang ngủ, đầu nàng tựa vào lòng ông).

Người đàn ông bí mật Ukiko à, không còn gì để lo buồn nữa. Giờ mọi chuyện đã qua!

Ukiko (đột nhiên mở mắt) Anh đã trừ khử kẻ thù của em rồi ư!

Người đàn ông bí mật Anh đã trừ khử hắn rồi, kẻ thù đáng căm ghét của cả hai ta.

Ukiko Anh đã giải cứu em khỏi ngục tù.

Người đàn ông bí mật Anh đã cắt bức tường kia suốt hơn một năm trời để vào ngục cứu em ra.

Ukiko Em đã đợi anh, thời gian sao dài đến thế… Em đã thôi hi vọng, nhưng vẫn chờ đợi. Nhưng giờ đây lời cầu nguyện của em đã được khứng nhận, em không màng bao lâu nữa mình chết. (Hai người ôm nhau. Từ cửa sổ của căn nhà trên vách đá nghe thấy tiếng đàn mandoline. Đó là giai điệu người đàn ông mù thường hay chơi. Cả hai sững sờ, sợ hãi). Ô – hắn vẫn còn sống, vẫn còn…

Người đàn ông bí mật (nhìn lên cửa sổ) Đây là sự trả thù của ngươi ư? Nhưng chúng tôi không sợ ngươi đâu. Ta sắp đem người đàn bà này, người vợ quý báu của ta, đến một nơi sẽ không còn nghe tiếng đàn của ngươi nữa.

Ukiko Nhanh lên! Mang em theo cùng! Chừng nào còn sống, chúng ta vẫn còn nghe bản nhạc đó. Đi thôi, nhanh lên! (Người-đàn-ông-bí-mật nhổ neo khỏi đáy hồ. Ông ngồi ở giữa và cầm lấy tay nàng).

Người đàn ông bí mật Ukiko!

Ukiko Anh yêu!

Người đàn ông bí mật Nắm chặt lấy anh! Chúng ta sẽ chẳng rời nhau nữa.

Ukiko Ôi, chúng ta có thể chết bên nhau! Anh và em, bên nhau…

(Con thuyền dần dần chìm khuất. Tiếng mandolin tiếp tục chơi cho đến khi con thuyền mất dạng. Rồi thình lình im bặt).

Hạ màn

________________

Jun’ichirō Tanizaki (1886-1965) tiểu thuyết gia hiện đại lớn nhất của Nhật Bản, ông cũng nổi tiếng là nhà soạn kịch, gồm vở Người đàn ông  đàn mandolin (Mandorin-no hiku otoko; 1925) đã được dựng thành công trên sân khấu và điện ảnh. Bản dịch Anh ngữ của Donald Keen đăng trên tạp chí New Directions 24 – An International Anthology of Prose and Poetry, 1972

DanChimNho

dem2

MẮT CHIỀU

Thôi em ạ đừng gồng mình thế nữa
Đặt xuống đi em gánh nặng cuộc đời

Những buồn vui đắng đót phận người
Em cứ nghỉ, đôi vai dường đã mệt

Giấc mơ xanh thuở xưa còn nguyên nếp
Em xếp gọn gàng dưới đáy riêng tư

Ngày buồn tênh vừa thực vừa hư
Tan cơn mộng em kẹt vào ngày cũ

Anh nhặt lại ánh mắt em liễu rũ
Nỗi muộn phiền câm nín thiên thu

Tháng năm ơi chiều tím ngắt giăng mù
Đôi vai nhỏ gánh thời gian trĩu mỏi

Ánh mắt em chiều nay như dấu hỏi
Có nơi nào thế chấp nỗi cô đơn?

Để em vay một chút giận hờn
Một chút ngọt ngào bình yên nông nổi

Để anh đi suốt một chiều gió thổi
Vẫn không ngoài ánh mắt em tôi…

Hồ Thị Hải Âu

 

NgManNhien2

tranh Nguyễn Man Nhiên

yếu tính được khẳng định

 

 

gió hoang vu

ngân vang chuỗi âm cổ xưa tinh tuyền giai điệu

có thể nhìn thấy một cuộc đời khác

các vết tích ngậm giọt lửa mặt trời

di hài của thời đại rực rỡ trong sự im lặng

đứng tựa vào thời gian

giấc mơ loang xám bay ra từ cửa mộ

 

lời nguyện của tàn tro

theo ngọn gió khởi sinh cuộc sống khác

dường như cái bóng tôi sáng lên niềm kiêu hảnh

không thể nói với hình ảnh ký ức

về huyễn hoặc trong nỗi tuyệt vọng cuối cùng

 

trên cánh đồng cỏ khát

nắng dại tôn nghiêm nghi lễ cầu gọi mùa xanh

khi mặt người biến dạng

âm hưởng mạch ngầm siêu nhiên

mang hơi trầm cố thổ chảy về miền cổ tích

 

hãy hoan lạc đi tôi ơi!

cùng những hồn linh du ca

hát ru phận người qua những tháng ngày quy phục

 

khaly chàm

 

 

 

ý tưởng tôi từng giờ mở mắt

 

như hình nộm. mang nhãn hiệu thánh thần

được cầu chứng bởi thứ ánh sáng nhiễu loạn thần kinh

chẳng biết xấu hổ là gì khi cơn khát thèm nhạy cảm

mùi đàn bà thuần tính tạo ngữ âm rạo rực trong thanh quản

leo lên mặt tôi cấy trồng loài thưc vật thẫm đen cảm xúc

 

em bật khóc bằng sự rực rỡ của vi lượng ấu trùng

có phải là niệm khúc vuốt ve nghệ thuật cụt đuôi niềm kiêu hãnh

ảo giác chui vào hơi thở tỏa nhiệt thì thầm

dường như thuộc tính là dấu thánh ban tặng phút giây bội phản

khi vết ố nhục thể trừu tượng hình quả chuông ngả màu rỉ sét

 

vòng quay trái đất vụt vù hay chậm rãi

chờ ngày sinh nở con mắt mặt trời đỏ máu

cuộc biến hình cứu chuộc sắc màu dục tính

có lẽ nào tình yêu đã chết trong mõm chó sủa ngày

ý tưởng tôi từng giờ mở mắt

 

khaly chàm

 

 

ý tưởng được hình dung

 

định dạng

khuôn mặt thời gian

lý thuyết ánh sáng

thơm hương trong tia mặt trời

bình minh và hoàng hôn

tự cuốn xoắn vào nhau

sản sinh từng giọng nói cám dỗ

dư vang cuối cùng mở toang cánh cửa

bóng tối ban tặng hồng ân

sự im lặng

 

từ lâu rồi

giấc mơ tôi đã mọc cánh

dị dưỡng những chiếc lông

màu phế tích ủ mùi nỗi chết

vỗ cánh điên mê trên bầu trời kí họa

khi đánh rơi nhiệt lượng hơi thở

tôi nhìn thấy niềm tin

cùng tín điều run rẩy trong mắt con chữ

và con người đang lao nhanh vào cơn mưa đen

                                                                    

ghép lại những sợi tóc rụng

em nghĩ đến ánh sáng nứt vỡ trong bóng mình

với ngày tháng bấu víu vào gương soi

vọng tưởng cách tân quá khứ

loang lổ vết phấn son ảo giác nụ cười ẩn dụ

cảm nghiệm được mùi đàn bà

thuần khiết tan vào thời gian tái sinh

 

khaly chàm

Nhà văn Việt có nhất thiết phải viết thứ văn gần gũi với người Việt?

Bài phỏng vấn nhà văn Trần Tiễn Cao Đăng

Nguyễn Hoàng Anh Thư thực hiện

NHAT3

Nhà văn Trần Tiễn Cao Đăng, tác giả cuốn tiểu thuyết kỳ lạ Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian, chia sẻ những suy nghĩ về cuốn tiểu thuyết mới nhất của mình, quan niệm của riêng anh về văn chương và thế giới.

TranCaoTienDang3

nhà văn Trần Tiễn Cao Đăng

Anh là người dịch một số tác phẩm rất quen thuộc với bạn đọc, vậy khi viết anh có chịu ảnh hưởng của văn phong một tác phẩm dịch nào đó không? Anh từng nói: “Tiểu thuyết của tôi không thuộc về số đông”, nhưng cái nhan đề anh đặt cho tiểu thuyết “Người tình của cả thế gian” lại có vẻ rất “câu khách”, anh thử lý giải cho người đọc về điều này được không?

– Nhà văn Trần Tiễn Cao Đăng: Tôi dịch khá nhiều tác phẩm văn chương nước ngoài, và đọc văn chương nước ngoài nhiều hơn văn chương trong nước, cho nên văn tôi viết nghe có vẻ “Tây” là điều dễ hiểu. Điều này diễn ra tự nhiên – không phải tôi chủ ý viết như vậy. Trong cách tư duy, trong tâm trí, tôi luôn cảm thấy mình phần lớn không bị ràng buộc trong khuôn khổ dân tộc Việt, không “thuộc về” người Việt. Đồng thời với ý thức mình là người Việt, tôi luôn có cảm giác rõ rệt mình thuộc về một nơi khác. Ngôn ngữ của tôi phản ánh điều đó. Nhan đề Người tình của cả thế gian, cũng như bản thân câu chuyện, đến với tôi một cách tự nhiên. Sự thật là, trong khi viết cuốn sách và trong khi nghĩ đến nhan đề ấy, tôi không nghĩ đến chuyện người đọc là ai. Cuốn sách được viết ra do nhu cầu tự thân nó. Một khi nó đã tượng hình đầy đủ và có đó giữa thế gian rồi, người đọc “lý tưởng” của nó sẽ xuất hiện.

NguoiTinhCuaCaTheGian_2

Bìa tiểu thuyết Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian

* Tiểu thuyết này anh viết chủ yếu dựa vào hư cấu, ít trải nghiệm thật, nhưng thế giới trong đó tràn đầy cảm xúc thật, mỗi nhân vật, mỗi tình huống đều được anh hình dung và thể hiện bằng ngôn ngữ rất chi tiết. Tuy nhiên đôi khi người đọc không khỏi băn khoăn vì đó là một thế giới quá xa lạ với đa số người Việt hiện tại. Anh lý giải ra sao về điều này?

– Tại sao bạn thích đọc văn chương nước ngoài? Phải chăng một nhà văn Việt thì nhất thiết phải viết thứ văn gần gũi với người Việt? Văn chương đích thực là một cõi vô biên giới, như tôi đã nói ở một chỗ khác. Tôi thích phản ứng của một số người đọc trẻ. Họ hoàn toàn không thấy những sự “khác lạ” trong tiểu thuyết Life Navigator… là điều gì đặc biệt. Họ tiếp nhận những thế giới trong tương lai, những đảo vũ trụ kia như là chuyện bình thường, đương nhiên. Họ mang tính “quốc tế” cao hơn hầu hết người đọc lớn tuổi. Theo nghĩa nào đó, cuốn tiểu thuyết của tôi dành trước hết cho những người đọc trẻ.

* Nếu chắp nối những giấc mơ của cô gái, người đọc sẽ nhận ra tình yêu của cô lớn dần lên, đang biến đổi theo chiều không gian lẫn thời gian, có cả những điều không tưởng vẫn có thể xảy ra trong những giấc mơ đó. Những hình ảnh đẹp và buồn, những “chữ nghĩa quý phái”… Theo anh, để viết được như vậy thì đòi hỏi nhà văn phải có tư chất lãng mạn, thông minh và chất tài tử, điều này có chịu ảnh hưởng từ nền tảng văn hóa của gia đình không?

– Chắc hẳn có. Cả cha lẫn mẹ tôi hồi còn trẻ đều là những nhà thơ không chuyên. Đặc biệt, tôi chịu ảnh hưởng có tính quyết định từ mẹ tôi. Bà là người dịu dàng, tinh tế, hơi lạc lõng giữa đời thường. Tôi thừa hưởng từ bà tình yêu tự nhiên đối với văn chương và nghệ thuật nói chung.

* Có vẻ như anh là một nhà văn có tính cách lập dị qua những quan niệm thơ văn mà anh bày tỏ trên Facebook. Ví dụ: “Trong thời văn hóa nghệ thuật đạo đức xuống cấp như Việt Nam hiện tại, khi mà mọi thứ xấu xí tràn lan và giành quyền thống trị, thì nghệ sĩ, hơn bao giờ hết, cần phải kiên trì, bướng bỉnh, lì lợm tiếp tục làm ra cái đẹp. Trong hoàn cảnh đó, làm ra cái đẹp là hành động chính trị của nghệ sĩ. Vũ khí của cô/anh ấy là cái đẹp, với quyền năng và sự bất diệt của nó”. Tôi muốn hỏi thêm, người phụ nữ đẹp theo anh là người như thế nào?

– “Lập dị”, bản thân điều đó không có gì xấu. Vấn đề là anh khác đám đông ở vấn đề nào, và khác như thế nào. Còn về phụ nữ đẹp, tôi có trả lời phỏng vấn như sau cho tạp chí Esquire: “Phụ nữ thế nào là lý tưởng với tôi ư? Nàng đẹp, thông minh, tinh tế, mạnh mẽ, “đầy nhục cảm”, dịu dàng, vị tha. Xác suất rất cao là cả đời bạn không gặp nàng. Nhưng nàng có thật. Một điều kỳ diệu, có thể nói vậy. Điều quan trọng hơn thế là ta cầu chúc hạnh phúc và bình an cho cả những người phụ nữ chỉ gần với chỗ lý tưởng, những người chiếm số đông nữ giới. Và yêu họ chẳng khác gì họ là những phụ nữ lý tưởng, bởi vì chính họ, những phụ nữ “bất toàn” đó, mới là phần cơ bản của thực tại. Con người cần như vậy: luôn mong nhớ cái toàn hảo và luôn biết hòa hợp với cái bất toàn”.

* Đến thời điểm này, cuốn tiểu thuyết đã xuất bản được gần tròn một năm. Anh cảm nhận được điều gì về phía độc giả? Có sự ghi nhận nào thật khác biệt, anh có thể chia sẻ được không?

– Không có nhiều người đã đọc và đọc hết được cuốn tiểu thuyết, đó là điều có thể đoán trước được. Tuy nhiên, trong số ít những người đã đọc trọn cuốn tiểu thuyết, có những người hiểu và thấu cảm với nó một cách sâu sắc. Và đó không phải là một nhà phê bình, một nhà văn “đàn anh”, một nhân vật “có thẩm quyền” nào trong giới văn chương, mà là một người đọc bình thường, trẻ tuổi, “vô danh” (cho dù thật ra không hoàn toàn vô danh). Những người đọc “vô danh” này có cái mà nhiều người khác không có được: họ có khả năng thấu cảm, sự khiêm nhường và tâm trí cởi mở, không bị trói buộc bởi định kiến, những phẩm chất cần có của một người đọc “cừ khôi”. Một nền văn chương mạnh thì cần có không chỉ những người viết cừ khôi mà cả những người đọc cừ khôi. Tôi tin ở những người đọc như thế.

* Anh viết về thế giới loài vật bởi anh nói “đã quá chán thế giới của con người”. Thế giới loài vật chạm tới cảm xúc sâu sắc nhất của anh. Anh có thể chia sẻ những cảm nhận ấy của anh không, đặc biệt là tình cảm yêu thương của thế giới đại đồng mà anh bắt gặp được ở đó?

– Tôi tin chắc rằng nấc tiến hóa cao hơn mà loài người, hay ít nhất là một bộ phận loài người cần phải vươn tới là thấu hiểu được, thực sự đối thoại được với mọi loài sinh vật khác và đối xử với mọi loài khác giống như cư xử với đồng loại của mình. Loài người cho đến bây giờ về cơ bản vẫn là một chủng loài ích kỷ, chỉ quan tâm đến bản thân mình và chỉ tôn trọng bản thân mình mà thôi (khi nói điều này, chúng ta tạm thời bỏ qua những khác biệt và xung đột trầm kha giữa những bộ phận khác nhau của bản thân loài người, vốn tự nó là một vấn nạn lớn, mà chỉ nói về loài người như một tổng thể).

Loài người cần học được cách làm sao có thể tiếp tục tồn tại và phát triển nền văn minh của mình mà không phải trả cái giá đắt là sự hủy diệt Mẹ Trái đất đã sinh ra mình cùng với các loài sinh vật khác vốn là anh em của mình.

Hiểu, tôn trọng và yêu thương các loài khác, những sinh vật hiển nhiên yếu hơn con người, đó là một phẩm chất mà hầu hết chúng ta không có hoặc có rất ít, và cần phải có nếu chúng ta thực sự tin rằng loài của mình là loài ưu việt nhất. Loài ưu việt nhất không phải là loài thẳng tay hủy diệt các loài khác một cách không cần thiết và không suy nghĩ, mà là loài thực sự hành động để giữ gìn các loài khác trong khi vẫn tiến tới trên con đường tiến hóa của mình, một loài thực sự trưởng thành và có ý thức trách nhiệm.

* Cá nhân anh có tin vào sự tồn tại của những thực thể giống như Life Navigator không?

– Tôi hoàn toàn tin rằng có những dạng tồn tại mà khoa học chưa biết tới. Nếu khoa học chưa biết tới chúng, thì nghĩa vụ của nhà khoa học không phải là phủ nhận chúng, mà là nhẫn nại và khiêm nhường theo dõi chúng, quan sát chúng, cố tìm hiểu chúng được chừng nào hay chừng đó.

* Chương Phụ lục với các nhân vật di dân cho thấy một viễn cảnh đầy bi quan về tương lai của loài người: Trái đất bị hủy hoại đến mức không còn có thể ở được, loài người phải di cư lên các đảo vũ trụ quay quanh trái đất, mà cũng chỉ là một bộ phận rất nhỏ của loài người mới có được may mắn đó mà thôi. Anh không tin rằng có thể có triển vọng tốt hơn cho loài người sao?

– Cũng như nhiều người khác, tôi chân thành mong muốn có triển vọng tốt cho tương lai của loài người. Mặt khác, khi nhìn vấn đề bằng lý tính, tôi biết không có nhiều cơ sở thực tế để tin rằng tương lai con người sẽ tốt đẹp. Nói gọn, tôi không tin vào chuyện loài người như một tổng thể có khả năng tự cứu mình, tự vượt qua bản tính vị kỷ và sự ngu dốt của mình. Nhưng tôi tin rằng một số ít cá nhân thì có khả năng ấy. Và số ít cá nhân này có cứu được toàn bộ giống loài mình hay không, điều ấy không quan trọng. Họ cứu được bản thân mình, nâng được bản thân mình lên cao hơn giống loài, vậy là đủ.

* Có những cú nhảy đầu đời rất khó khăn cho người cầm bút. Theo anh, người cầm bút phải có phẩm chất gì trước tiên?

– Tôi nghĩ, phẩm chất đầu tiên mà nhà văn phải có là nhu cầu nhìn và nghĩ về mọi thứ theo một cách khác, và bên cạnh đó là nhu cầu nói với mọi người về điều này theo cách của mình: bằng cách kể chuyện. Nhà văn bẩm sinh có thể ngại nói trước đám đông nhưng không ngại viết ra những gì sâu thẳm nhất bên trong mình. Một ca sĩ bẩm sinh có thể hát hết mình nơi bãi biển vắng tanh, như thể có hàng ngàn người đang lắng nghe họ và thấu cảm với họ. Một nhà văn bẩm sinh cũng vậy, viết hết mình trong đơn độc hoàn toàn, như thể có hàng ngàn người đang đọc họ, sẽ đọc họ và thấu cảm với họ.

* Cám ơn anh về cuộc chuyện trò thú vị!

 

 

 

Nguyễn Hoàng Anh Thư thực hiện

 

KhanhKiet

KHÁNH KIỆT

 

Có những tao ngộ buồn
Như trời chiều mù sương
Có những gặp gỡ như chuyến tàu lướt qua ga nhỏ
Ánh mắt tuổi thơ
Nụ cười dè sẻn của gia tài sắp tới hồi khánh kiệt
Có quá nhiều ly biệt trên cung đường bất trắc
Cuộc tao ngộ kế tiếp sẽ gánh bao nhiêu huyễn hoặc
Bao nhiêu kí ức?

À
Ngồi nhìn trời qua khung kính
Ấy vậy thôi
Thấy mình già đến mê mải
Hoang đường
Chiếc ghế nệm lún những vết thương
Tuổi trẻ
Băng bó hoài vẫn rỉ máu
Khung kiếng rọi nắng vào nỗi đau
Chỉ muốn úp mặt vào cốc nước
Nhạt nhẽo
Tắt thở ngọt ngào

Chẳng có cuộc tao ngộ nào giống nhau
Chẳng có nỗi buồn nào như nỗi buồn lần đầu
Nhưng vệt máu vẫn sẫm khi nhỏ xuống giấc mơ hạnh phúc

Trả giá cho thứ gọi là nước mắt
Khóc như thật
Như tình yêu lúc nở bừng ngây ngất
Như nụ hôn không phải lần đầu
Mà chia tay như thể lần thứ nhất

 

Chiêu Anh Nguyễn

 

 

 

Về !

 

 

Cốc nước lọc trong bể nước
Giọt nước mắt trong biển người
Như buổi chiều rất nhiều mây xám
Thì cô đơn, hẳn cũng vui

Đôi khi giả vờ vồn vã với đời
Giả vờ thôi
Như cốc nước cô đơn trong bể nước
Như giọt lệ rơi giữa biển người
Chiều đi không hẹn gặp
Ngày vui

Đôi khi cười với bóng gương soi
Giơ tay chào nhiệt liệt niềm vui
Chào như hai đoàn tàu ngược nhau ga cuối
Tít tận chân trời
Gió hôm nay có kèm chút nụ cười
Vung vãi trên đồi
Phía thung lũng rớt đầy âm thanh nhỏ
Ngạo nghễ tôi

Hỏi phía bên kia dãy mờ sương hơi
Có huyệt sâu bia trắng nằm chơi
Ta chào nhé một đời mỏi mệt
Về thôi!

 

Chiêu Anh Nguyễn

 

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Ni Cô

 

hư không em đổ xuống mái đầu bạc

dưới vòm họng tôi ổ trứng hạc nở

các con cái lớn thành những hồng hạc

và mồ hôi vắt kêu nghe dễ sợ..

 

..

sư ông cực kì phóng dật

buổi trưa đấy

tôi vào nằm dưới cội tùng

đọc “tropic of cancer” của henry miller

ông sư tung hê hết các ước muốn bấy lâu

tôi giấu kín trong lòng

 

sư ông còn bảo tôi bỏ ngay bức vẽ

với nhan đặt trước “mùa xuân đen” thực ra

vẽ bức tranh ấy

tôi dựa trên cảnh sống chả điêu đứng chút nào

của chính sư cụ

 

trong khi còn đang nghĩ

sư ông không quên căn dặn tôi

hãy quán tưởng về thời đại trump

cùng một đoạn đời sư cụ đã sống

rất xa hoa

sôi động/ lắm lúc cũng có ẩn dụ- nhưng

không nhiều

 

và khá hàm xúc

vì cũng chỉ loanh quanh các cuộc biểu tình

xuống đường

chống chiến tranh việt nam

 

theo tự điển “tropic of cancer” là hạ chí tuyến

buổu trưa đấy khuôn mặt sư ông bóng lộn

dâm đãng

 

khiến tôi cứ ngờ ông sư say

mãi sao mới biết rượu không hề làm sư ông say

ông sư say thứ khác- sắc

tiền (danh vọng!)

 

còn nhớ tôi có nói “hôm nay ngày xui

chẳng còn đồng (cắc) trong thẻ nợ- sư ông

sư hiểu tôi nói gì chứ!” ông sư chả nói gì

cứ cười hinh hích

 

hốt dưng tôi nghe giọng cười sư ông

cực lạ lẫm

nửa như tiếng cú/ nửa như tiếng sài lang rít

lo mình biến mất cũng nên

tôi hỏi “sư

có biết vạt áo nâu sòng

ông đang mặc

đã đổi màu!”

..

Vương ngọc minh.

 

 

 

Phat_DinhCuong
tranh Đinh Cường

Phật và Mẹ

 

 

ngày Mẹ nhằm ngày lễ Phật

Mẹ là Phật ở trên đời

Mẹ cho con hiền Phật tánh

Phật dạy con lời vô ngôn

 

 

 

chặng đời

 

ngóng nhìn cửa mỏi trời sao

hồn ai tinh tú lạc vào biên cương

ở đâu giới hạn không lường

đường chạy mãi tới thuỳ dương bãi chìm

con tầu xao xác kinh đêm

lời nguyện rền như tiếng chim vỡ đàn

một mùa lưu dấu tầm tang

tịch mịch tịch mịch mấy hàng lưu ca

vân tay ngón đụng thiên hà

ôm lấy bé mọn vào da thịt gầy

một cầu thở nhịp đông tây

phương nao về có môi đầy ngực thơm

đầy trăng nước đã vin buồn*

lung linh bóng cả đời buông ngợp ngời

nôi đưa về chốn ru hời

 

 

 

hoàng xuân sơn

9&10 tháng 5 2017

*ý, Tô Thuỳ Yên

BitMat

LẠI HỖN

 

 

Một quan to chính phủ,
Nói về vụ Đồng Tâm,
Có một câu vớ vẩn,
Láo và rất thấp tầm:

“Nếu ta có sai phạm,
Thì xin lỗi người dân.
Dân sai – xử theo luật
Và truy tố nếu cần”.

Sao lại chỉ xin lỗi?
Quan sai, phải ngồi tù.
Phải đền bù thiệt hại.
Bộ trưởng mà nói ngu.

Các bác thấy rồi nhé.
Mấy thằng quan của ta
Luôn công khai ngồi xổm
Trên pháp luật nước nhà.

Vô tình hay chủ ý,
Câu phát ngôn ngu này
Bộc lộ hết não trạng
Của lãnh đạo ngày nay.

Một não trạng phong kiến,
Còn đảng là con mình.
Với bọn chúng, luật pháp
Chưa bằng nửa chiếc đinh.

Xin lỗi, muốn văng tục.
Chúng mày được dân nuôi
Để ăn nói tử tế,
Mà nói như đầu buồi!

 

Thái Bá Tân

NgoVuongToai (2)

Ngô Vương Toại – phác thảo chì của Ng Trọng Khôi

thạch miên

              nhớ ngô vương toại

 

đá

không phải ngọc

lóng lánh lóng lánh

hồi phục

mênh mang

cọ cứa         ôi

không phải lên men

nước

ngờingời hồn vệt cắt

nám hồng

xù xì           nham

mộc

dung hương cuộc mời

không mài giũa

đau đáu hân hoan lệ tủi mừng

mõi mê cùng cực

 đá đá

ôi                đá

và ngọc

chẳng một thời lưu dấu biện vân

có biết

lúc

ngày chưa lủi

vô tranh

nhìn ta lóng ngóng

đụng thành sắc               rêu

màu sương

với ảm đạm

chiều

thành ra ai oán

chim kêu

một mình

tĩnh vật rồi

tranh

và               nghinh

tẻ ra khung họa

biến hình

vô tri

hoàng xuân sơn

bốn tháng chạp mười bốn

belanger122

TÔI VỀ TÔI HIỆN MỘNG DU

 

Tôi về đứng ngó trời mây
Biển xanh núi thẳm hồn ngây ngất hồn
Giữa nghìn thu sóng đẹp buồn
Trăng sao bất tuyệt ru hồn thế nhân
Tạ ơn khoảnh khắc vô ngần
Tôi về tôi hiện giữa trần gian vui
Biết bao kỷ niệm chôn vùi
Mùa Xuân Tinh Thể ngậm ngùi bay đi!
Tuổi xanh xưa biết nói gì
Trời Em mộng cũ vĩnh ly biệt nguồn.
Tôi về tôi hiện tôi buông
Nụ cười hoa pháp trong hồn cỏ cây
Tôi về lặng ngó trời mây
Biết đâu vô tận lòng ai vãy lòng?!
Biết đâu lòng biển lòng sông
Người ơi! Xương máu giọt hồng lệ rơi!
Lạnh hồn con sóng trùng khơi
Hoang liêu chiếc bóng mây trời hoàng hôn.
Tóc xanh thôi nhé đừng buồn
Lời yêu thương cũng tiếng buồn thiên thu!
Tôi về tôi hiện mộng du
Cùng mây tiền kiếp cõi bờ hư không!

 

TRẦN THOẠI NGUYÊN

a5084864d88e5c225f320ebbe4a0926f

Kẻ thù

 

 

Những ngày tôi sống biết bao tươi đẹp

Như mùa đông thêm đẹp một cánh hoa

Mà kẻ thù không bao giờ hay biết.

 

Họ cố sức làm cho tôi gục ngã

Họ sung sướng thấy tôi bị hành hạ

Nhưng họ cho tôi vững chãi khôn ngoan

Những người, tôi thầm lặng chịu ơn.

 

Nhưng em ơi! Nếu em không đến

Làm kẻ thù lớn nhất của đời anh

Anh ghét em và cầu mong ai đó

Làm đôi mắt em chảy lệ ròng ròng

Những tháng năm tuổi nhục như những biển mây buồn.

Dày vò lên thân xác trắng như hoa huệ của em

Làm nó toát lên một mùi hương day dứt.

 

Vì em! anh không thể bao dung

Vì kho báu mà anh dâng tặng

Vì em đã làm mặt trời trong anh tan vỡ

Vì những buồn phiền lũ lượt đến tháng năm.

 

 

Lê Trinh

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Tranh Nguyễn Trọng Khôi – SONATA – Oil on Linen 28 x 30

VĨ CẦM  / SONATA


Cảm tác từ bức tranh SONATA

Kính tặng Họa Sĩ NGUYỄN TRỌNG KHÔI

 

 

Người ngồi đó từ bao đời, thuở trước,
Bên bãi bờ êm vắng những chiều trôi.
Mặt sóng gợn gió đùa theo con nước,
Đã mờ dần, ánh sáng phía xa xôi.

Cây đàn cũ nghìn năm còn ngân tiếng,
Điệu hân hoan trong vũ hội mùa Xuân.
Nhạc thúc giục chinh nhân vào trận chiến
Nhạc kiêu hùng lộng gió buổi ra quân.

Bao khúc hát nhớ về người xa vắng
Ai đi qua để lại dấu chân đời?
Cầm tay ấm trong ngày ta ly biệt,
Người đi rồi, hồn mộng cũng xa khơi!!

Cây đàn thần của thời xưa lưu bóng,
Tiếng VĨ CẦM réo rắt khúc thăng hoa.
Đàn tấu vang triền miên trong ảo mộng,
Chuỗi thanh âm khoan nhặt phút giao hòa.

Phía xa kia chút nắng vàng hiu hắt
Bãi vào đêm triền núi xám mơ hồ.
Nghe như đá nghìn năm còn đứng đợi
Tiếng thời gian trôi mãi đến hư vô.

Em ngồi lặng trong ánh vàng xế khuất,
Phía cuối trời pha sắc tím u trầm.
Đàn vang vọng đến chân mây vách núi
Tuôn dạt dào trên sóng nước xa xăm.

Sẽ còn mãi những rung ngân thần thoại,
Dẫu trăm năm làn nước cuốn trôi đi.
Dù nghìn năm âm ba như bão táp,
Hồn PAGANINI đồng vọng khối tình si…

 

UYÊN THÚY LÂM

 

 

CUỘC TÌNH XA

Sương thu bàn bạc theo vào

Hơi thu se lạnh dạt dào hồn thơ.

Người phương cũ có tròn mơ

Kiếp người dâu bể đôi bờ thêm thương.

Ta yêu nhau giấc mộng thường

Một đời tạc dạ chung đường nào quên.

Thu phai nắng bóng chiều nghiêng

Mong qua năm tháng vẹn nguyên ân tình.

Lắm khi sóng gió bất bình

Cuộc phong ba dậy điêu linh phận người.

Cho dù tâm biệt mù khơi

Cho dù thân đã bên trời cách chia.

Người đi rồi sẽ quay về

Nghĩa tình thắm đượm chẳng nề gió mưa.

Lòng còn ghi khắc lời xưa

Thì trăm năm vẫn duyên vừa trúc mai.

UYÊN THÚY LÂM

Giao lưu cùng nhà thơ Tô Thùy Yên

ToThuyYen

nhà thơ Tô Thùy Yên qua nét vẽ của họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi

Vào tối ngày thứ sáu 28 tháng 4 năm 2017 một buổi gặp gỡ, giao lưu cùng nhà thơ Tô Thùy Yên đến từ Houston Texas được tổ chức đột xuất tại Trung tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng Massachussetts.

Buổi sinh hoạt  gọn nhẹ với chỉ hơn 40 người tham dự nhưng đã hình thành một không khí rất thân mật dầu chủ đề có phần nghiêm trọng : Chiều Tháng Tư Đen.
Chương trình được nhanh chóng sắp xếp, ngoài phần thủ tục của buổi sinh hoạt, phần giới thiệu tiểu sử  nhà thơ Tô Thùy Yên, còn có phần phát biểu của các anh em văn nghệ và thân hữu. Trong thời gian về thăm lại Boston của nhà văn Trần Doãn Nho nhân dịp này trong phần phát biểu anh cho khán giả thấy tầm quan trọng trong những bước tiến của văn học, thi ca … sự xuất hiện các trào lưu đánh dấu những giai đoạn phát triển nền văn học nghệ thuật nước nhà. Vai trò của các nhà văn nhà thơ cùng sự đóng góp làm phát triển lịch sử văn học miền Nam Việt Nam từ bước sơ khai. Những tác phẩm cùng sự khơi mở những điểm son mới lạ trong thi ca của nhà thơ Tô Thùy Yên, đồng thời cũng nhìn nhận, đánh giá ông như một nhà thơ có tầm cỡ và được quý mến nhất của miền nam Việt Nam từ những năm 60 đến nay. Cũng giống như nhà văn Trần Doãn Nho, trong phần phát biểu của nhà thơ Chân Phương, anh đã dẫn chứng những bài thơ hay của nhà thơ Tô Thùy Yên, những câu thơ đắt giá về ngôn từ, hình tượng…sự chắt lọc ngôn ngữ và những ẩn dụ đẹp đẽ.
Chương trình còn xen kẽ những câu phỏng vấn của nhà thơ Trần Thu Miên xoáy vào ba trọng điểm:
– Sinh hoạt của nhà thơ Tô Thùy Yên khởi đầu thế nào?
– Những đắc ý và sinh hoạt thi ca ở từng giai đoạn trước thời điểm 30 tháng 4 năm 1975.
– Những thời gian bị tù đày và giai đoạn định cư ở hải ngoại.

Bầu không khí được thêm sinh động bởi một chương trình văn nghệ giúp vui của các nghệ sĩ khu vực như Nhất Chi Vũ, Hoàng Vân, Minh Xuân, Ngọc Minh, và tiếng đàn của Phong Nguyễn.

Buổi sinh hoạt đã kéo dài hơn thời gian dự trù trong niềm vui của mọi người.

Văn Nghệ Boston

Vài hình ảnh buổi sinh hoạt

CHÂN PHƯƠNG những ngày câm nín

 

 ChanPhuong (5)

 

 

  • Trần Hữu Thục

 

Tập thơ bắt đầu bằng một “tin vắn” dựng lên chân dung về “tôi”, một cái “tôi” hết sức đặc thù sau ngày Cộng Sản chiếm trọn miền Nam.

Tôi là cơn điên

Còn sống sót giữa sự vật mồ côi

(….)

Là miếng giẻ nhét vào mồm

Là mảnh vải đen bịt mắt

Là vũng máu khô

Không còn nhớ những phát đạn bắn vào đầu

(tin vắn)

“Tôi” là một hiện hữu phi-hiện-hữu: câm và nín. 

Tôi chính là sự câm nín hèn hạ của các người.

            Rốt cuộc:

Tôi không còn tiếng nói

       chỉ còn hơi thở tôi và bát cơm nhỏ của con tôi

(Tuyên ngôn của tôi)

“Tôi” ở đây là một thực thể bị thu gọn, bị bần cùng, bị tước đoạt cả trong lẫn ngoài. Tự bản thân, mỗi một “tôi” là một nạn nhân, thậm chí là một/những sự vật; hay nói cách khác, một hiện hữu bị biến thành sự vật, bị sự-vật-hóa. Không còn “tiếng nói”, chỉ có “hơi thở” và “bát cơm”. Đó là một xã hội trong đó cá nhân chẳng khác gì hơn là một chuỗi chuyển động:

            …một thực quản xếp hàng đằng sau hằng hà thực quản

            …hai bàn chân di động giữa mớ tiêu chuẩn thấp cao

            …mười ngón tay quờ quạng tìm chút hy vọng khẩu phần (tôi có nói gì đâu)

            Bằng cách sử dụng hoán dụ, bài thơ khắc họa rõ nét điển hình trong một cửa hàng mậu dịch, nhưng cũng là khắc họa đầy hình tượng một xã hội, trong đó mọi hoạt động tinh thần bị thanh tẩy toàn diện! Tất cả sinh hoạt gói gọn trong những chuyển động vô cùng “sinh vật”: một con thú tìm kiếm miếng ăn. Không hơn không kém.

Cái mà cá nhân sở hữu duy nhất (nếu còn có thể gọi là sở hữu) mà bạo lực “cách mạng” (!) không thể tước bỏ: không khí.

Ba trăm sáu lăm ngày

Là độc quyền của mặt trời chủ nghĩa

….

Phần còn lại của chúng ta

Là không khí và không khí

(tần trung ngâm 1982)

Mà ngay cái “sở hữu” đó cũng không yên, vì:

làm sao mô tả cái không gian nằm ngoài mọi không gian ấy

            có bàn tay khổng lồ cầm lưỡi dao vĩ đại

                                    xắn vào miếng thịt tí hon.

                                    (mặc niệm tôi)

            Mỗi một “tôi”, mỗi một cá nhân bị hư vô hóa ngay khi hắn đang hiện hữu.

            Những dòng thơ trên đẩy hình ảnh của một xã hội toàn trị đến chỗ tận cùng bản chất của nó.

                                                                                    ***

PhuongSinh

                                    Hình bìa: Chú thích cho những ngày câm nín (Ấn bản 1992)

 

Trong không khí của những ngày tháng Tư, đọc lại “Chú thích cho những ngày câm nín” của Phương Sinh,  tôi tưởng chừng như sống lại cả cái thời kỳ lạ lùng đó qua một thứ ngôn ngữ đan kết giữa hiện thực và trí tuệ trong một cấu trúc thơ mới mẻ. Hiện thực được chắt lọc, được vắt hết râu ria, được tinh chế để lột trần ra cốt lõi của nó. Một thứ hiện thực trí tuệ hóa. Đó là thời mà từng cái “tôi” – những cái “tôi” trong “nhân dân” thuộc phe chiến bại – bị xem là kẻ thù. Cực kỳ đen tối và cực kỳ phi lý. Đến nỗi mỗi lần nhớ lại, tưởng như tất cả là một hư cấu lớn, chỉ  nằm trí óc hoang tưởng của con người.

     Phương Sinh là bút hiệu khác của một nhà thơ tại hải ngoại hiện nay, Chân Phương.[i] Theo lời giới thiệu của nhà xuất bản, Trình Bầy, anh “là một nhà trí thức trẻ tuổi, thi sĩ, người viết truyện, viết tiểu luận và nhà biên khảo.” Trong thời gian còn ở trong nước, anh “đã sáng tác hàng trăm bài thơ được chuyền tay trong giới văn nghệ và bạn bè.” Chú thích cho những ngày câm nín là tác phẩm đầu tay của anh, gồm 56 bài, “tuyệt đại đa số chính là các thi phẩm nói trên được phục hồi từ ký ức của tác giả.” Đọc tập thơ như là đọc một bản tường trình về cuộc sống. Nhưng đặc biệt là “KHÔNG có lấy một giọt nước mắt! (…) Tất cả là căng thẳng, là trực diện, là nói xiên (…) là chữ nghĩa nho nhã, hiện thực, nóng hổi,… nhưng không một giọt nước mắt,” theo nhận xét của nhà thơ Diễm Châu. (Tiền Vệ)

            Vâng, không xúc động. Nhưng chứa chan nỗi niềm. Chất ngất suy tư. Chú thích cho những ngày câm nín trước hết là cách vận dụng chữ nghĩa. Khô, trần trụi, một mặt. Mạnh, gân guốc, khỏe, một mặt khác. Như những nhát dao chém vào hiện thực. Những phát súng bắn vào đá sỏi. Không lý giải. Chữ nghĩa tự nó phơi bày cái xã hội dửng dưng, lạnh lùng, vô cảm. Nhân vật vẫn cười, vẫn khóc, vẫn đi, vẫn đứng, vẫn chơi đùa, tắm, ngủ…nhưng chỉ là cái rộn ràng của một cỗ máy khô, chết. Động mà bất động. Cõi nhân sinh là một rừng sự vật khô, chết.

 Dẫu vậy, ngôn ngữ thơ ở đây lại vẫn là ngôn ngữ thời sự, ngôn ngữ xã hội sống. Là những sự kiện nóng hổi diễn ra hàng ngày.

bọn giàu đem vàng đô la hột xoàn                  giấu

lũ nghèo đem con cháu                                   giấu

cán bộ thiếu ăn dốt nát                                    giấu    

dân đói rách bệnh tật                                      giấu

công an thích gái ham tiền                              giấu

nhà nước tham ô bất lực                                 giấu

quốc hội tòng phạm đồng lõa                         giấu

đảng có vô số sai lầm                                      giấu

tôi nhà thơ

còn chút đau khổ với lương tri                        giấu

(xu hướng tất yếu)

Cốt lõi của bài thơ nằm trong một chữ: giấu. Con chữ đơn giản này, kỳ lạ thay, giúp soi rõ hiện tượng toàn trị Cộng Sản. Có thể nói, phương sách cai trị cộng sản là Giấu. Bằng mọi giá. Thắng lợi của họ trong thời kỳ chiến tranh, chính là kỹ thuật giấu. Giấu súng, giấu cán bộ dưới hầm. Giấu thất bại, giấu khuyết điểm. Giấu cán binh, bộ đội chết. Lúc hết chiến tranh, cũng tiếp tục giấu. Nhà nước giấu. Cán bộ giấu. Nhân dân giấu. Người người đua nhau giấu. Nhà nhà đưa nhau giấu. Hãy gọi chủ nghĩa Cộng Sản là chủ nghĩa Giấu. Nếu hành trình của nhân loại đi từ bưng bít đến mở rộng, tự do, thì chủ nghĩa Cộng Sản kéo giật lùi: từ mở đến đóng. Đóng chặt mọi cánh cửa. Đóng chặt những sai trái, những bất công, đàn áp. Bằng cách đóng chặt tư duy của mỗi cá nhân.

            Trong “tình khúc mới”, nhà thơ vẽ ra bi kịch của tình yêu dưới sự kiểm soát chặt chẽ của chế độ bằng những mác-lênin toàn tập, quốc tế ca, phim liên xô, khẩu hiệu, công an khu vực, đại biểu công đoàn, lăng bác, nhật ký trong tù, vân vân và vân vân. Bi thảm nhất có lẽ là lời dặn dò:

            chỉ xin em một điều duy nhất

            từ đây đến ngày tóc bạc da mồi         

            rủi anh có say rượu hoặc nằm mơ ăn nói lỡ lời

            em nhớ đừng đi báo cáo

            Tình cũng giấu. Yêu cũng giấu. Đúng là tận cùng bằng số! Chỉ vì, nói như Lê Đạt, hàng chục năm trước đó:

đem bục công an đặt giữa trái tim người…

                                                                                                                ***

                Đặc điểm của thơ Chân Phương là ẩn dụ nghịch – nghịch dụ. Một ví von ngược giữa ý niệm và hiện thực, giữa hiện thực và hiện thực cũng như giữa ý niệm và hiện thực. Với hình thức nghịch dụ, nhà thơ làm đậm nét thêm tính cách kỳ quái, lạ lùng của xã hội. Biến tất cả thành hiện tượng trào lộng.

            Nét nổi bật nhất của tập thơ là tính trào lộng rất riêng của nó.

Lý tưởng của nhân loại mà người Cộng Sản kêu đòi biết bao nhiêu người hy sinh hết mấy thế hệ chỉ là:

bình đẳng – nàng út bị hãm hại

lẽ phải – vua già bị soán ngôi

tự do – thằng hề đang lải nhải

(kịch mới)

Một đối chiếu đầy cay đắng, giữa khẩu hiệu, chiêu bài và hiện thực. Chúng không chỉ so le mà nghịch đảo. Thậm chí, không cái gì dính dáng đến cái gì. Chữ theo đàng chữ, nghĩa theo đàng nghĩa, hiện thực theo đàng hiện thực. Bởi thế mà:    

vứt mẹ nhân phẩm đi mà sống

tốc độ xung động thần kinh làm sao đuổi kịp lạm phát gia tăng

hãy vá víu hình hài bằng những cơn say

và đến cửa hàng quốc doanh mua chịu một lời hứa

(Thư cho bạn trong nước)

            Khó khăn ư? Không sao. Tiêu cực ư? Không sao. Thời nào chả thế. Vả lại:

dù sao cũng khá hơn nhiều so với thời khuyết sử

hãy tự trang bị thật nhiều chủ nghĩa duy vật với tối đa kiên nhẫn

mày sẽ hiểu ra tính hợp lý của mấy ký gạo

khi đã được độn đầy những hứa hẹn nhân đạo

                                    (Thư cho bạn nước ngoài)

Tốt hơn thời khuyết sử, một lời ca ngợi chế độ đầy hào phóng! Vì không ở đâu, bạn được hưởng nhiều lời hứa hơn trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Những lời hứa cộng với rất nhiều kỹ thuật trị dân khác đã biến “tôi” – chủ thể tư duy – trở thành một thực thể sẵn sàng cống hiến tất cả. Kể cả chính bản thân mình:

tôi ký tên ủng hộ việc xây dựng trại tập trung

tôi ký tên tán thành phòng giam có trang bị hơi ngạt

tôi ký tên quyên góp nhẫn cưới của vợ chồng tôi

tôi ký tên ưng thuận cho kỹ nghệ xà phòng sử dụng mỡ của tôi với con tôi

tôi ký tên bằng lòng cho công nghiệp mỹ phẩm khai thác hàm răng mái tóc vợ tôi

tôi ký tên phấn đấu cho ban điều hành trại được vui lòng

tôi ký tên sẵn sàng chịu đựng những thử thách khó khăn hơn

tôi ký tên và vận động mọi người cùng ký (tôi ký tên)

            Nghe đầy vẻ cuồng tín! Vâng. Nhưng là một thứ cuồng-tín-tiền-chế. Hay nói theo ngôn ngữ Chân Phương, thuần hóa. Y như phản ứng có điều kiện của con chó trong phòng thí nghiệm của Pavlov:

té ra

đã X

thì X nào cũng thế

 

gõ một tiếng chuông

X sẽ đứng thẳng bằng hai chân sau

 

gõ hai tiếng chuông

X sẽ giơ hai chân trước lên khỏi đầu

 

gõ ba tiếng chuông

X sẽ bắt đầu nói

 

                                    TRUNG TÂM THÍ NGHIỆM THUẦN HÓA CHÚNG TÔI

                                                (lại nói về điều khó nói)

      Chắc không có ý niệm nào hay hơn để diễn đạt con người trong xã hội toàn trị.

            Trong một đất nước như thế, lòng người không thể tụ, mà tán. Người ta phải bỏ đất nước mà đi. Thảm cảnh vượt biên được diễn tả bằng một hình ảnh vô cùng ấn tượng và điển hình: chết chìm trên biển. Phút cuối cùng của một đời người diễn ra trong sự cô độc tuyệt đối: 

hãy quên huế sài gòn hà nội

hãy quên hộ khẩu chủ tịch phường

hãy quên công an khu vực giấy phép đi đường

hãy quên chèo quan họ cải lương

hãy quên khát vọng tự do

hãy quên tờ khai lý lịch

hãy quên vùng kinh tế mới những đêm mất ngủ hè đường

hãy quên vĩnh phú hỏa lò chí hòa côn đảo

hãy quên nước mắm gỏi bún rau thơm

hãy quên vàng đô la kim cương

hãy quên tất cả

để từ từ

chìm

xuống

                       lần thứ nhất

 

rồi

thong thả nổi lên

kiểm tra lại

chẳng còn gì ràng buộc

với thế gian

đoạn

chìm

                                   lần thứ hai

 

thanh thoát hoàn toàn

sau đó

nếu không tìm được chỗ nào

để tắp xác vào

thì đây

 

 

khoảng trống nhỏ hẹp

cuối bài thơ này

 

 

                       mày có thể

 

           lênh đênh                                                        lênh đênh

 

                                               lênh đênh mãi mãi

                                                                        (văn tế)

           

            Theo tôi, văn tế là một diễn đạt cực kỳ tinh tế, và cực kỳ bi thảm của thảm nạn vượt biên vượt biển sau tháng 4/1975. Không khí bài thơ là không khí của một trạng thái bình tĩnh đến lặng người. Không mảy may dao động, cuống quýt. Hồn nhiên như chẳng thể hồn nhiên hơn. Đoạn đầu bài thơ là một mô tả sống động cái xã hội bỏ lại đàng sau. Đoạn cuối bài thơ là một kết hợp giữa ngôn ngữ và các khoảng cách, cho ta cảm giác của một trôi nổi bập bềnh, bập bềnh đến vô tận!

            Cũng là trào lộng. Một trào lộng đau đớn !

           

 

 

 

NhöngNgayCamNin

Hình bìa: Chú thích cho những ngày câm nín (Ấn bản 2, 2005)

Chú thích cho những ngày câm nín  ra đời vì cảm hứng? Không. Vì xúc động? Cũng không. 

            Đây là những bài thơ đầy ý thức. Thoát thai từ những trải nghiệm chua chát. Của một nhân chứng. Của một phán xét. Hơn thế nữa, một cảnh giác.          

Ghi nhận cuối cùng của người đọc :

Trong tập thơ đầy cả bức bối, trào lộng, có lúc, tôi tìm thấy một quãng lặng. Nhẹ nhàng. Hồn hậu. Ngôn ngữ đột nhiên nghe mềm, non, nhẹ. Trong nỗi bức xúc vì bị tước mất tất cả đó, cũng có lúc, nhà thơ dịu giọng. Đó là lúc – và chỉ lúc đó thôi, rất hiếm hoi – anh tìm thấy lại một điều tưởng chừng cũng đã bị guồng máy toàn trị nghiền nát: ước mơ.          

những đêm tối trời

tôi đã âm thầm vùi chôn như thế nào

mớ trứng non vào cát lạnh

hy vọng một ngày rực nắng

chan hòa gió mặn trùng khơi

                                                            (tự họa)

            Nhất định nắng sẽ rực.

            Và đất nước sẽ chan hòa gió.

Mặn.

Trùng khơi!

Trần Hữu Thục        

4/2017

(viết trong những ngày tháng Tư và nhớ Boston)

[i] Có thể xem tập thơ ở trang mạng Ăn Mày Văn Chương

http://amvc.fr/Damvc/ChanPhuong/ChuThichChoNhungNgayCamNin/ChuThichChoNhungNgayCamNinTab.htm#_Toc249690292

hoặc ở Tri Âm Club:

http://triamclub.blogspot.com/2014/11/tho-chan-phuong-9.html

 

Trúc Tiên: Dáng Quê Hương In Bóng Xứ Người

Nhất Chi Vũ & Trần Thu Miên thực hiện

Mời bạn đọc tham gia vào cuộc điện đàm và bút thoại giữa Nhất Chi Vũ (NCV), Trần Thu Miên (TTM) và nhân vật chính là nghệ sĩ Trúc Tiên, người nữ gốc Mỹ Tho ( hiện đang sinh sống tại Paris ) đã đem dân ca Nam Bộ hay dòng nhạc Blues miền Nam Việt Nam sang Âu Châu và thế giới.

 

Dáng em chèo, nhớ thương theo

Đàn Ca Tài Tử bến đò Mỹ Tho

Giờ xa xôi ở phương nào

Nghe như ai hát câu hò ru nhau

(NCV)

CD __Dạ__-Trúc Tiên

NCV: “Chúng ta cùng nâng ly mừng Trúc Tiên rồi bàn về đĩa CD dân ca Miền Nam sắp phát hành tại Paris. Ông đã nghe hết các ca khúc do Trúc Tiên hát chưa?”

TTM: “Nghe rồi và có nhiều thắc mắc thú vị.”

NCV: “Nghĩ gì?”

TTM: “Thật ra trên phương diện nghệ thuật thì khó bàn vì không có căn bản.  Nhưng về mặt tình cảm văn hoá thì đây là một công trình đáng ca ngợi và ủng hộ.  Người Việt Tỵ Nạn nói riêng và Người Việt Hải Ngoại nói chung nên nhìn lại và cách tân những việc làm văn hoá quý báu như công trình thu âm của Trúc Tiên.”

NCV: “Đúng vậy. Theo tôi việc thưc hiện CD Đàn Ca Tài Tử của Trúc Tiên diễn đạt được một Dáng Đứng Ca Cổ Nhạc Việt Nam nơi Xứ Người, trong thời “vật chất hiện đại” hôm nay.”

TTM: “Ông cho độc giả biết tựa đề và vài nét về tác phẩm và tác giả.”

NCV: “Đĩa nhạc CD mới phát hành mang tựa đề “Dạ” của giọng ca Trúc Tiên. Tên tuổi rất Việt Nam, Trần Thị Trúc Tiên – Tôi gọi đùa vui là “ Chị-hai-xinh… Ca sĩ Trúc Tiên”. Giọng hát và Người và Cung cách son trẻ tha thiết “trải niềm tâm sự” ấy, kêu gọi người phương xa, nức lòng, dẫn đưa tôi về quê tôi thời sinh trưởng sông nước miền Nam, kỷ niệm biết yêu và biết… dễ thương, ớ-ơ ầu-ơ gần gũi thân thuộc, không bao giờ xa lạ đường về.  Thật là vui thích, trước khi tôi biết người ca sĩ này sang Pháp lúc 11 tuổi – tôi đã nghe đi nghe lại nhiều lần và dành giờ nghe từng bài, theo cái cảm tình đầu tiên, rất lạ, như được nghe một người ngoại quốc ân cần vui vẻ chào hỏi mình rất tự nhiên bằng Tiếng Việt.”

TTM: “Cái tựa đề rất lạ “Dạ,” có âm hưởng gì từ Dạ Cổ Hoài Lang không?

NCV: “Ẩn dụ, ý tứ, dí dỏm. Có lẽ nên dành cho Trúc Tiên trả lời câu này. Mặc dù mình đoán chừng, người làm thơ say mê Đoạn Trường Tân Thanh Nguyễn Du thế nào, thì, người viết nhạc cũng mộ mến Dạ Cổ Hoài Lang Cao Văn Lầu như thế.

Nhưng theo tôi, đĩa nhạc mang tựa đề “Dạ” mang theo cả tài năng và tâm tư của quý soạn giả Trần Ngọc Thạch, Hoàng Song Việt, Mộng Vân, Nguyễn Phương, Hoàng Thu Diệp và Ban nhạc là góp phần tối quan trọng. Các ngón đàn ứng tác sống động của Tứ tuyệt Duy Kim, Văn Môn, Huỳnh Tuấn và Thanh Hoàng. Giọng hát truyền cảm như gửi đi (phương trời thương nhớ) trọn cả tình ý Tác phẩm và cảm xúc từ trái tim Người sáng tác theo tinh thần Đờn Ca Tài Tử.

Vẫn, giọng hát sông nước miền Nam gần gũi thân thuộc không xa lạ ấy, đã nâng cao ngôi vị ca nhạc trên đất khách của giọng ca Trúc Tiên lên tươi mới hồn hậu, hiếm hoi lạ thường. Xin hỏi Trần Thu Miên trước khi nghe Trúc Tiên, ông nghe Đàn Ca Tài Tử bao giờ và đã được cuốn hút đậm nét nhất?”

TTM: “Đọc thì có nhưng nghe dường như chưa.  Lần đầu tiên tôi nghe tiếng đàn nhị cầm (đờn Cò) biểu diễn theo các điệu Đờn Ca Tài Tử là nhờ được mời tham dự một đại lễ tại Thánh Thất Cao Đài tại Boston.”

NCV: “Ah, sao lại thế?”

TTM: “Tôi đã tham dự các buổi đại lễ của nhiều tôn giáo, nhưng riêng với buổi đại lễ kỷ niệm ngày đạo Cao Đài được sáng lập đã để lại nhiều ấn tượng đẹp. Tôi không chỉ đến tham dự như một người khách nhưng đã thật sự tham gia vào các nghi thức từ đọc kinh, đến việc bái lạy như các đạo hữu khác trong thánh thất.  Đặc biệt trong buổi đại lễ hôm ấy có một nhạc sĩ Cao Đài (mời từ VN) ngồi trên ghế, một chân làm điểm tựa cho cây nhị cầm một chân thả lòng xuống sàn nhà và ông ta đã nhắm mắt kéo dây đàn theo tiếng cầu kinh của đạo hữu. Cuối lễ tôi đã lân la đến hỏi vị nhạc sĩ về thể loại nhạc ông biểu diễn trong đại lễ và được biết là ông đã đệm đàn theo các cung điệu của Đờn Ca Tài Tử.”

NCV: “Thế ông nghĩ gì về các cung điệu này?”

TTM: “Thành thực mà nói, vì trong đại lễ hôm ấy chỉ có một nhạc khí đơn sơ, đơn âm nên nghe lâu thấy ý nhạc lặp lại nhiều lần và giảm đi sự thu hút so với tính dân tộc trong buổi lễ.  Rất tiếc là chỉ có duy nhất một nhạc khí đệm nền cho buổi cầu kinh hôm ấy.  Giả như có thêm nhiều nhạc khí cả Ta và Tây thì hay biết mấy.  Nhưng mình nên trở lại vấn đề đang bàn về giọng hát Trúc Tiên và các ca khúc trong CD Dạ.  Theo ông thì CD này có sắc thái nào nổi bật?”

NCV: “CD “Dạ” cho thấy một nét một vẻ đặc sắc, rất riêng – như tôn lên một biểu tượng sống động nỗi niềm tâm sự trong đĩa hát. Ta nghe thấy nỗi niềm tâm sự ấy rất gần và càng gần hơn, nhờ giọng hát có âm sắc trung thực sáng gọn, hồn nhiên vượt ra khỏi kỹ thuật thanh nhạc “đóng khung” cảm xúc để đưa diễn cảm đến trọn phần “tâm linh” rất cao và quí của phong cách Đàn Ca Tài Tử – song hành nương theo tâm lý Nguyệt cầm (đờn Kìm), Song lan và các nét đặc trưng của âm giai điệu thức, trải qua bao đời, ví dầu… xa mặt mà không cách lòng.

TTM: “Về nhạc tính của Đờn Ca Tài Tử, có gì đáng chú ý?”

NCV: “Khi cơ quan hàn lâm UNESCO ý thức nhìn nhận giá trị Đờn Ca Tài Tử với quốc tế, loại hình nghệ thuật này vẫn-đã là vàng là son theo từng thời kỳ tách rời, hội nhập, tiếp thu, phát triển, cải tiến theo nền âm nhạc VN rất độc lập với những hệ thống nhạc lý riêng. Nhạc và Ca liền lạc Hòa /Đối /Cộng /Sinh thể hiện những tâm lý âm thanh và nét đặc trưng tuyệt hảo.

Nền Ca Cổ nhạc phong phú của Người Việt dựa trên ba (3) thang âm điệu thức nguyên thủy theo thuật ngữ vẫn có tên là, hơi Bắc, hơi Xuân và hơi Ai, tuy có chút biến đổi hoặc đảo trạng xen kẽ (Nam) trong tùy từng điệu thức. Và, ngay từ đây, từ sự tổng hợp khéo léo, các nhạc sĩ tiên phong miền Nam đã sáng tạo thêm ra một thang âm độc đáo thứ tư, đó là hơi Oán. Hơi Oán thêm vào này, định hình thể loại âm nhạc Tài Tử miền Nam dựa trên bốn (4) thang âm điệu thức. Âm giai Oán: Hò Xự Xang Xê Cống Oan Liu = Đô Mib Fa Sol La Đố … Trội vượt lên, mới mẻ, gợi hương khoe sắc, thích ứng tâm tình gần gũi tâm hồn người miền sông nước hiền hòa. Một trùng hợp ngẫu nhiên với thang âm Blues phôi thai nền Nhạc Jazz Hoa Kỳ. Ngay cả nghệ thuật ứng tác của từng thành phần ban nhạc đệm cũng rất tự do phơi phới và rất riêng.”

TTM: “Từ nãy giờ, mình bàn hơi nhiều chuyện bên lề, quên cả cô Trúc Tiên.”

NCV: “ Đúng vậy, chào Trúc Tiên, trước hết là chúc mừng cô đã can đảm đi tìm nghệ thuật trong dòng Dân Ca Nam Bộ. Lý do nào thúc đẩy cô thực hiện việc thu âm các bài dân ca nam bộ (tài tử) này ?

hình cho bài CD __Dạ__-Trúc Tiên

Trúc Tiên: “Chào hai anh và chào quý độc giả.  Thưa hai anh, Trúc Tiên chọn thu âm các bài bản tổ của Đàn Ca Tài Tử vì nhiều lý do. Thứ nhất là Trúc Tiên thấy hiện nay, hầu hết các chương trình văn nghệ trong lẫn ngoài nước hiếm khi dành cho thể loại nghệ thuật này chỗ đứng xứng đáng. Nói về nhạc cổ truyền miền Nam thì mình thường nghe những bài lý, dân ca, hò, hay vài câu vọng cổ rải rác vài nơi vào những dịp xuân về tết đến. Từ khi Unesco công nhận Đàn Ca Tài Tử –có người viết như nói theo giọng Lục Tỉnh là “đờn”– là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại (2014) thì trong nước nổi lên một số chương trình như thi tuyển Giọng Ca Vàng, The Voice…, nhưng thường các bài bản được chọn để thi thố là các bài điệu Vọng Cổ, một trong những điệu mới của Đàn Ca Tài Tử. Các điệu xưa hơn chút như Tứ Đại Oán, Long Ngâm, Nam Ai… vẫn chưa được nhắc nhớ thỏa đáng.

 

Đàn Ca Tài Tử không chỉ là Vọng Cổ, đó là lý do thứ nhì thúc đẩy Trúc Tiên trình bày các bài bản cổ, giới thiệu đến thính giả. Vì từ cuối thế kỷ 19, khi các nhạc quan của triều đình Huế theo hịch Cần Vương của vua Hàm Nghi xuôi Nam đã hòa Nhã Nhạc Cung Đình Huế vào nhạc lễ và cái chân chất của người miền Nam để cải biên thành những bài bản tổ ; nhưng Nhạc Tài Tử (tên gọi ban đầu) thời đó lại chỉ dành riêng cho giới thượng lưu. Mãi cho đến khoảng năm 1920 khi bộ môn ca kịch Cải Lương ra đời rồi thịnh hành thì các bài bản Đàn Ca Tài Tử mới phần nào đến với công chúng, nhưng chỉ để phụ họa, gọi là “lấy hơi” cho các câu Vọng Cổ trong tuồng Cải Lương ; vài câu Nam Ai đầu tuồng, hay nửa bài Nam Xuân phía cuối tuồng…, thế nên các điệu cổ này cho đến bây giờ vẫn chưa thân quen với quảng đại quần chúng, vì có bao nhiêu dịp được nghe trọn một bài đâu. Nói là gia tài của ông bà để lại mà mình không được thưởng thức cách trọn vẹn thì làm sao mình thương, mình hiểu để bảo tồn hay phát huy được. Vì thế, với đĩa nhạc “Dạ”, Trúc Tiên mạo muội trình bày 10 trong 20 bài tổ của Đàn Ca Tài Tử. Mong là tiếng hát của mình gợi lại chút gì thân thương trong tiềm thức mỗi người Việt tha hương, như tiếng gọi về cội nguồn. Và đó là lý do thứ ba Trúc Tiên chọn hát các bài bản Đàn Ca Tài Tử.”

TTM: “Cô có giọng văn biên khảo, nói như giảng bài. Tốt lắm.  Câu trả lời này là một bài học súc tích cho riêng cá nhân tôi.  Tuy nhiên những điều cô giải thích cũng rất hữu ich cho người còn xa lạ với nền Dân Ca Nam Bộ, nhất là loại Đờn Ca Tài Tử.  Xin cô cho độc giả  và thính giả biết Người nghệ sĩ dân ca nam bộ nào cô ngưỡng mộ?”

TT: “Câu hỏi này làm Trúc Tiên suy nghĩ nhiều hơn một chút vì trong đầu Trúc Tiên có rất nhiều tên tuổi. Nhưng sau cái “chút chút” đó thì điều quan trọng Trúc Tiên muốn chia xẻ là trong quá trình tập hát các bài bản cổ, điều Trúc Tiên ngưỡng mộ nhất nơi những nhạc sĩ và ca sĩ Đàn Ca Tài Tử là tấm lòng, vì đam mê nghệ thuật, lúc nào cũng mở rộng chào đón những ai đến với thể nhạc này.” 

 

NCV: “Cô chía sẻ với đọc giả và thính giả đôi điều liên quan đến tiến trình việc thực hiện công trình thu âm này và ai giới thiệu hay hướng dẫn cô về thể nhạc Đờn Ca Tài Tử?”

 

TT: “Mặc dù Trúc Tiên chào đời ở Mỹ Tho, là cái nôi của Đàn Ca Tài Tử, và dù đã được ông nội dạy hát cho từ thuở… mới u ơ, nhưng khi lên 11 tuổi, Trúc Tiên đã phải cùng gia đình sang định cư bên Pháp, nên khi tìm về với cội nguồn, Trúc Tiên tốn rất nhiều thời gian truy lùng bài ca, bản nhạc để tập hát cho đúng nhịp đúng điệu. May mắn là mình hiện đang ở thế kỷ 21 của công nghệ thông tin đầy tiện lợi nên Trúc Tiên có thể tìm thấy trên Internet để nghe các bản đàn của các chú bác nghệ sĩ bên nhà, như bác Ba Tu chẳng hạn. Có gì không hiểu, Trúc Tiên hỏi ; không có bài hát, Trúc Tiên xin… Có thể là do các chú bác nghệ sĩ bên nhà thương Trúc Tiên ở nước ngoài mà còn ham học hát bài bản cổ nên tận tâm chỉ dẫn. Đặc biệt, có một ca sĩ nổi tiếng (yêu cầu ẩn danh) chỉ cho Trúc Tiên từng nốt xàng, nốt xê, lúc ngân, lúc láy… Trúc Tiên hát và thâu âm theo bản đàn rồi gởi về, anh ấy nghe xong chỉ dẫn cho Trúc Tiên hát đúng hơn.

 

Sau khi đã hát đúng nhịp đúng điệu, khó nhất là tìm được ít nhất 4 cây đàn chuyên nghiệp để đàn các bài bản cổ này và là nguyên bài chứ không phải vài câu thôi. Trúc Tiên nhớ có lần liên lạc với một nhạc sĩ bên nhà, bác ấy hỏi : « Nam Ai con hát bao nhiêu câu ? » Trúc Tiên thưa “43 câu”. Bác ấy lắc đầu : « Thời này còn mấy ai đàn 43 câu mà con hát ? Mà 43 câu thì cũng đâu có ai nghe ! »

Vì chưa có kinh nghiệm nên nhạc nền phải thâu đi thâu lại nhiều lần cho đến khi đúng với bài bản. Như Trúc Tiên đã thưa ở trên, khó nhất là tìm được “chuyên cầm” Đàn Ca Tài Tử để thực hiện phần nhạc nền.

 

Sau khi thâu nhạc nền và tiếng hát xong thì đến phần điều âm (mixage) sao cho đúng “hơi cổ” cũng là một vấn đề không dễ giải quyết. 10 nhạc phẩm của đĩa nhạc “Dạ” này cũng đã trải qua lắm… bổng trầm.”

TTM: “Thật ra thì nghệ thuật, nhất là nghệ thuật biểu diễn ca khúc cổ không chỉ khó về diễn tả nhưng khó cả về mặt tạo ấn tượng và sức thu hút nguồn thưởng lãm. Xin cô cho biết Tại sao cô chọn những bài hát trong CD này?”

TT: “Thưa hai anh, với các bài bản tổ của Đàn Ca Tài Tử thì quan trọng nhất là “điệu”, sau đó mới đến câu chuyện mà soạn giả muốn lồng vào các điệu đó. Nên Trúc Tiên chọn điệu trước. Cũng như bên tân nhạc, có “tông” trưởng hoặc thứ, thì bên cổ nhạc miền nam chúng ta có “hơi Bắc” vui nhộn, “hơi Nam” se buồn và “hơi Oán” thống thiết.Ví dụ, các điệu Xàng Xê, Long Ngâm, Ngũ Đối Hạ thuộc hơi Bắc, âm hưởng mạnh mẽ, hùng hồn thường dùng trong những buổi tế lễ mang tính cách trang nghiêm. Các điệu Nam Xuân, Nam Ai, Nam Đảo thì là hơi Nam với cung cách ung dung, nhẹ nhàng, có buồn thì man mác, thường được dùng để kể chuyện. Trong khi các điệu Tứ Đại Oán, Phụng Cầu, Phụng Hoàng, thuộc hơi Oán nên dòng nhạc uỷ mị, buồn đứt ruột.”

NCV: “Trong các lãnh vực từ  học vấn, kinh doanh, chính trị, hay nghệ thuật, ngoài các bậc thầy, người ta thường có người hướng dẫn và nâng đỡ, tiếng Anh gọi là Mentor, Ai là người khuyến khích hay nâng đỡ cô thực hiện công trình thu âm này?”

TT: “Người đầu tiên thuyết phục Trúc Tiên thực hiện đĩa nhạc “Dạ” này không ai khác, chính là “Anh Nhà” của Trúc Tiên, và cũng là người khuyến khích, nâng đỡ tinh thần khi Trúc Tiên gặp trở ngại. Ngoài ra, còn nhiều, nhiều người nữa…”

NCV: Ôi, ai có duyên may hơn! Cho tôi gửi lời chào thăm người bạn hòa nhã hiền lành, nhà thơ nhạc sĩ Vũ Hạ, mừng anh và ca khúc mới Tiếng Chuông Ngân vừa hoàn tất rất ưng ý.

TTM: “Tôi không phải là nghệ sĩ biểu diễn nghệ thuật, nhưng đọc về sinh hoạt của các nghệ sĩ, nhất là các ca sĩ, việc thực hiện một công trình thu âm ca khúc không đơn giản.  Xin cô Kể lại vài kỷ niệm hay sinh hoạt trong thời gian thực hiện công trình thu âm cho các bài hát trong CD Dạ.”

TT: “Thưa hai anh và quý độc giả, Trúc Tiên xin kể lại kỷ niệm nho nhỏ vui vui nhưng rất trân quý của Trúc Tiên vì là lần đầu tiên trong đời đặt chân đến phòng thâu – trước đó, tất cả liên lạc về các vấn đề kỹ thuật, gởi nhạc nền… đều qua điện thư (email) – đó là khi mới vừa bước qua ngưỡng cửa của Studio Bảy Nốt Nhạc tại Sài Gòn, cạnh nhà thờ Tân Sa Châu, Trúc Tiên tự giới thiệu thì thấy mọi người cứ trố mắt ra nhìn mình, vẻ ngạc nhiên và có phần lúng túng. Gương mặt lúc đó của các anh chị chuyên viên phòng thâu giờ Trúc Tiên vẫn còn nhớ rõ mồn một. Thân thiết hơn sau những ngày thâu âm, các anh chị mới kể lại là lúc đó các anh chị ấy đang chờ Trúc Tiên với hình ảnh một phụ nữ đứng tuổi, tóc dài, bận áo bà ba, mang guốc không chừng…, chứ không phải tóc ngắn con trai, ăn mặc tân thời và nhất là còn nhỏ tuổi (!) Có một điều vui nữa là về cách phát âm. Trúc Tiên ở bên Pháp từ bé nên phát âm các vần “đ” và “t” kiểu ảnh hưởng tiếng Pháp, không giống người Việt thuần túy.Thế nên anh chuyên viên kĩ thuật ghi âm đã phải mất khá nhiều thời gian tập Trúc Tiên phát âm sao cho đúng. Cứ hễ mỗi lần hát đến những âm đó là Trúc Tiên lại luống cuống, lọng ngọng. Nói trong bụng là phải chi biết trước sẽ chỉ chọn những bài hát không có hoặc ít các vần “đ”, “t” cho an thân !”

NCV: “Hát có nghĩa là mang lời ca và dòng nhạc vào trái tim người nghe. Chính ca sĩ phải có khả năng hoà chính trái tim và tâm hồn mình vào lời ca điệu trước thì mới làm rung động được con tim và tâm hồn người nghe.  Cô nghĩ gì khi hát và diễn tả những bài hát này?”  

TT: “Thưa, sau phần chọn theo hơi điệu, mỗi bài hát Trúc Tiên chọn đều gắn bó với tâm tình mà Trúc Tiên muốn gởi qua tiếng nhạc lời ca. Như bài Quan Âm Thị Kính điệu Xàng Xê, mỗi lần Trúc Tiên buồn vì có người nghĩ oan cho Trúc Tiên, Trúc Tiên sẽ hát bài này để vuốt ve nỗi buồn, nhắc mình tự chịu đựng vì hình như không có nỗi oan nào hơn oan tình của Thị Kính. Khi hát bài Tình Bằng Hữu điệu Nam Đảo là lúc Trúc Tiên nhớ về quê nhà, mong ước được gặp lại bạn bè thuở nhỏ đánh đũa, nhảy dây. Các bài  Nam Quốc Sơn Hà điệu Long Ngâm hay Hồn Thiêng Sông Núi điệu Ngũ Đối Hạ, Trúc Tiên hát để nhớ đến tổ tiên với bao khó nhọc gầy dựng và để lại những gì tốt đẹp nhất cho chúng ta, chúng ta có bổn phận gìn giữ, như Đàn Ca Tài Tử nói riêng, văn hóa hoặc hơn nữa là tổ quốc nói chung.” 

 

TTM:Cô cho biết đôi điều về kinh nghiệm học thuật và sinh hoạt nghệ thuật của cô.”

TT: “Thưa, ngoài âm nhạc ra thì Trúc Tiên rất thích và có chút ít năng khiếu về hội hoạ nên thường giúp vẽ bìa sách, bìa đĩa nhạc (CD)… cho bạn bè cũng như các cộng đoàn như Ban Tu Thư Giáo Xứ Việt Nam Paris, Hội Nhạc Sĩ Công Giáo Việt Nam Hải Ngoại… Trúc Tiên cũng đã nhiều lần trang trí sân khấu cho những buổi văn nghệ của các cộng đoàn người Việt ở Paris. Thỉnh thoảng Trúc Tiên cũng làm thơ viết văn để không quên tiếng Việt và chia sẻ vui buồn với bạn bè.”

 

NCV: “Cô còn dự kiến gì trong tương lai gần?”

TT: “Thưa quý anh, như con cháu kể lại chuyện ông bà, Trúc Tiên mong ước được kể lại “câu chuyện Đàn Ca Tài Tử” bằng lời ca tiếng nhạc đến với các cô bác, các anh chị, không chỉ ở Pháp, mà khắp các nơi để kêu gọi mọi người chung sức góp tay góp tiếng làm sao để một thể nhạc dân tộc không bị thất truyền. Thế nên, ngay từ bây giờ Trúc Tiên bắt đầu cuộc hành trình, trước hết là các quốc gia thuộc châu Âu như Na Uy, Đan Mạch, Đức… ; sau đó mong rằng sẽ được gửi tiếng hát đến những châu lục khác như Úc, Mỹ…” 

 

TTM & NCV: “Chúng tôi cảm ơn cô.  Cầu chúc cô tràn đầy ơn phước Quê Mẹ. Chúng tôi là đồng hương xa quê nhà nhất là đồng hương Miền Nam được nghe cô qua những bản dân ca đắc ý đã phát sinh ra từ miền đất phì nhiêu mầu mỡ của Việt Nam.  Chúng tôi hy vọng rằng dựa vào nền tảng nghệ thuật của Đàn Ca Tài Tử, các nhạc sĩ sẽ sáng tạo những ca khúc mới với tiến trình âm giai mới, hòa âm và được trình tấu phụ họa bằng những giàn nhạc giao hưởng tân kỳ. Các ca sĩ cũng có thể hát nhiều bè theo những nhịp điệu mới.  Cảm ơn quý độc giả đã theo dõi cuộc điện đàm và bút thoại này của chúng tôi.”

Kính mời quý vị thưởng thức một ca khúc tiêu biểu trong CD “Dạ” – Khúc Nhạc Uyên Ương – Soạn giả Hoàng Song Việt – Tiếng hát Trúc Tiên.

 

 

Quý vị muốn có CD “Dạ” xin tùy nghi liên lạc địa chỉ xuất bản phát hành: Vũ Hạ, 3 rue Aristide Maillol – 78370 Plaisir – France. /Email: tranh@orange.fr /Phone: 0646610446 /Đa tạ.

Nhất Chi Vũ & Trần Thu Miên

Boston

30_4

tháng 4, hình sự. cuối

l ấ n  t ớ i

để nhẹ một câu chêm một câu
khiến đời tủi hổ nghiến lòng đau
khiến trời mây trắng râu tóc bạc
khiến cả muôn thu lịm buồn rầu

bảo nhẹ một chữ khiêng một chữ
như kiến tha về lấp lỗ hang
tự mùa giam nắng làm mưa lụt
người giam người lớp lớp hàng hàng

tự động người đui cõng người què
tự đường cay bụi mắt đỏ hoe
đêm bán khai không còn chỗ trú
trái đất thui run rẩy một tờ

xóa hết trang này bôi trang khác
quyển đã đen rồi lịch sử hư
thơ không có thật đời hư cấu
tình đã khóc vùi một tháng tư

r u ỗ n g

chào em bay mất dấu nường
chào tôi lá mục
cháy vườn cây khô
chào nhau vinh hiển cơ đồ
sáng. hom đất lỡ
chiều rò bến sông
chào ngươi chết buổi cờ hồng
chào trăm thiên hạ bế bồng nhau đi
chào di căn
tuổi bệnh. trì
chào khô hốc lệ
nằm thi thể buồn
nghiêm. chào
đời ruỗng tha phương

h u y ề n   h ư

gương soi lẫn bóng chiều tà
trên cao nắng lóa dưới da mẩn buồn
cầm tay mình. chút xương xương
mà cung du thứ in tuồng đi xa
sao vi lửa cháy hằng hà
day đầu ngó lại chút nguy nga còn
em chờ rửa tội móng son
mai sau nguyên thuỷ trăng tròn vĩnh nghiêm
nước dâng nước dâng. biển. chìm
ru người không trách khỏi oan nghiệt đầy
nửa mùa viêm nhiệt chia tay
chờ nhau tạng mỏi lan gầy cúc hoa
 
hoàng xuân sơn
16-26 tháng 4, 2014

 

 

tothuyen1

nhà thơ Tô Thùy Yên

Trần Hữu Thục : Thơ Tô Thùy Yên, Chênh Vênh Siêu Hình – Hiện Thực

Gặp lại nhau, nhìn sững chẳng ra

Em thay đổi quá, tựa sơn hà

Thơ làm không kịp theo dâu biển

Mắt dẫu khô mà nhớ lại hoa(Tô Thùy Yên)

  1. Tô Thùy Yên (TTY)[i] làm thơ từ hồi còn rất nhỏ. Bài thơ đầu tiên đưa đăng báo được in ở tạp chí Đời Mới do nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh chủ trương, vào lúc ông 16 tuổi. Theo ông, bài thơ đó, “chắc chắn không phải là một bài thơ hay và ngày nay tôi chẳng còn nhớ nó như thế nào nữa”[ii]. Năm 1956, một bài thơ khác in ở trên Sáng Tạo – tạp chí mở ra một thời kỳ mới của văn học nghệ thuật Việt Nam: Cánh đồng, con ngựa, chuyến tàu. Đó là một bài thơ mà những ai yêu mến văn học nghệ thuật không thể quên. Nó là dấu mốc của một chuyển biến sâu xa trong nền văn học miền Nam mà cũng là trong nền văn học VN. Gần 40 năm sau, tập thơ đầu tay mới ra đời: Thơ Tuyển Tô Thùy Yên, xuất bản ở Hải Ngoại năm 1995, lúc nhà thơ đã… 56 tuổi đầu. Thêm chín năm nữa, tháng 8/2004, tập thơ thứ hai ra đời: Thắp Tạ.

Bìa trước của tập thơ mới này ghi:

thức cho xong bài thơ

mai sớm ra đi

cài hờ lên cửa tặng

Đây là bài thơ ngắn nhất của tác giả (trong lịch sử thi ca, chắc cũng không có mấy bài thơ ngắn hơn), Tặng phẩm. Lời thơ nghe như có ý nói rằng “Thắp tạ” là tập thơ cuối cùng trong đời ông? Mong rằng tôi hiểu sai.

Cảm giác đầu tiên của tôi khi đọc thơ TTY là ngạc nhiên vì một số điểm có vẻ như “tương phản” trong thơ ông.

– Bài thơ (được xem) như đầu tay, “Cánh đồng, con ngựa, chuyến tàu” làm lúc còn là một thiếu niên – không phải là một bài thơ tình học trò với những rạo rực yêu đương, mộng tưởng, nhớ nhung vớ vẩn – mà lại là một bài thơ đẫm triết lý; không phải là một thứ triết lý vớ vẩn, mà là chứa chất một cái nhìn rất bao quát, được tiếp tục được triển khai qua nhiều bài thơ về sau này, dưới những cách diễn đạt khác nhau về hữu hạn/vô hạn. Suốt mười lăm câu, tuyệt không có một từ ngữ triết lý nào, cũng không ám chỉ một ý niệm triết lý nào. Toàn bài là một bức tranh sinh động, rất đẹp, rất hoành tráng và chấm dứt bằng một bi kịch đầy ấn tượng: tàu chạy mất và con ngựa thì gục ngã. Một gục ngã êm đềm, thẩm mỹ! Một ẩn dụ triết lý tuyệt vời!

– Thơ TTY rất nhiều khái niệm hoặc hình tượng triết lý – lời thơ đôi khi bí hiểm, khó hiểu – thì đồng thời lại không thiếu những hình ảnh hiện thực, có thể nói còn hiện thực hơn cả những nhà thơ hiện thực nhất.

– Thơ Tô Thùy Yên rất hiện đại, rất cách tân, trong lúc lại không thiếu gì những bài, những đoạn, những câu thơ rất cổ điển, rất tiền chiến, rất thơ mới. Bên cạnh “Tôi chạy cắm đầu trên sợi kinh hoàng/Giăng qua đôi bờ vực lạnh hư vô”, chẳng hạn, ta lại đọc thấy “Có gã hề cuồng ra giữa chợ/Hát ngao những đoạn sấm truyền xưa/Bao giờ gió thổi cơn nồm lớn/Minh chúa giong thuyền ra cố đô” (Mùa Hạn) phảng phất không khí cổ điển hoặc “Bao giờ cho đến bao giờ nữa/Em gánh vui về họp chợ đông/Lòng ngát như hoa còn kịp buổi/Áo chưa người giữõ để xin buông” nghe như thơ tiền chiến. Lại có đoạn rất Kiều: “Đêm nằm, lệ chảy mòn tay/Nghe chừng đá nát vàng phai đến điều/Mịt mùng gió lửa liu hiu/Bóng nào khóc, bóng nào kêu, não nùng” (Hái rau)

Về điểm này, Nguyễn Hưng Quốc nhận xét “Có thể dễ dàng tìm thấy trong thơ Tô Thùy Yên vô số những dấu vết của truyền thống bên cạnh vô số những điểm cách tân độc đáo: cả hai hài hòa với nhau làm cho thơ ông, ở những bài thành công nhất, có cái hoàn hảo của những tác phẩm cổ điển”[iii].

            Lúc đầu đời, loại thơ xuôi của ông đầy những cách tân, cả về cấu trúc lẫn cách sử dụng từ ngữ và hình ảnh. Hãy đọc thử:

Với thân thể lân tinh, em sáng lên trong bóng tối, hạt kim cương rạng ngời trong mỏ than đêm, anh trông thấy em không nhầm lẫn được. Với thịt da gỗ quý, giọt mật tinh khôi nằm giữa đài hoa thơm nức, em dâng hương anh, gã du mục lạc loài trong nhớp nhúa. Em là chiếc thuyền đời thượng cổ chở đến anh hoa trái tốt tươi ngọt ngào của miền đất anh đã biết qua thần thoại” (Lễ Tấn Phong Tình Yêu)

          Dù cách diễn tả rất mới, rất tới, nhưng bài thơ suôn sẻ, tình tứ như thế có cái gì như làm dáng và sáo, thậm chí ngoa ngôn. Tôi đồng ý với một nhận định của Bùi Vĩnh Phúc khi cho rằng, qua “Lễ tấn phong tình yêu”, “Ngôn ngữ và hình ảnh trong thơ Tô Thùy Yên đã có những nét khác lạ so với hình ảnh và ngôn ngữ của những người thơ cùng thời. Nhưng cho dù có thế đi nữa, hình ảnh thơ của Tô Thùy Yên trong giai đoạn này vẫn còn tính chất nạm bạc, đặc biệt nếu ta đọc toàn bài. (…) Đọc kỹ, chúng ta thấy TTY đã có nỗ lực làm mới hình ảnh, làm mới cách nhìn trong thơ mình. Trong nỗ lực đó, ông viết được những câu thơ có vóc dáng lạ. Nhưng dù sao, như đã nói, đó vẫn là một sự dát vàng cẩn bạc của TTY trong giai đoạn này. (…) Hình ảnh và ngôn ngữ thơ vẫn chưa hoàn toàn đạt được sự ung dung tự tại”[iv].

Một vài bài khác, cũng làm trong giai đoạn này, chứa một hơi thơ khác hẳn bài trên, ít nhiều nhiễm không khí triết lý:

Tôi châm điếu thuốc nữa

Đốt tàn thêm tháng năm

Chiếc bắc xa dần bến

Đời xa dần tuổi xanh

(Đêm Qua Bắc Vàm Cống)

TTY cảm nhận đau thương, cảm nhận cô đơn, nhưng không phải cái đau thương, hay cô đơn xuất phát từ bất hạnh cá nhân – mà là thứ cô đơn, đau thương có tính nhân quần. Và có tính khái niệm. Mấy câu sau này lại càng có vẻ “khái niệm” hơn nữa:

Có đọc thuộc thánh thư

Linh hồn tôi vẫn vậy

Tôi vẫn không thể lạy

Dù đứng trước hư vô

Đầu tôi cứng và trơn

Thượng Đế làm sao ngự

Tôi đành trốn chủ nợ

Định mệnh đòi linh hồn

(Thân Phận Của Thi Sĩ)

Hai bài thơ có những trích đoạn trên cũng như một vài bài thơ khác như “Thi sĩ”, “Tội nghiệp”, ta thấy ông đưa vào các thuật ngữ triết lý. Từ ngữ và ý thơ mang tính cách khai phá, rõ ràng phần nào chịu ảnh hưởng của trào lưu hiện sinh đang từng bước chinh phục không khí văn học miền Nam thời đó. Nhưng giờ đọc lại, tôi thấy chúng – hay thì có hay, tất nhiên – nhưng vẫn có vẻ gượng gạo. Cái chất TTY đặc thù chưa thấy xuất hiện. Phải đến những bài như “Đãng tử”, “Mòn gót chân sương nắng tháng năm” hay “Bất tận nỗi đời hung hãn đó”, vân vân, ta mới thấy định hình một Tô Thùy Yên thực sự, một TTY như ta biết hiện nay.

Thuận tay, ta ngắt một cành sậy

Làm cây sáo thổi cạn hồn sầu

Bay tản khắp vô cùng trống trải

Âm thừa tưởng lạc đến muôn sau

(Đãng tử)

Hơi thơ mềm mại, ý thơ lãng đãng, mông lung y như chẳng nói lên điều gì rõ rệt, khác hẳn với mấy đoạn thơ trên. Đọc thử một đoạn trong một bài thơ khác:

Tàu đi, những chấn động hung hãn

Sắt thép kinh hoàng va đập nhau

Ta tưởng chừng như thời đại động

Xô đi ầm ĩ một cơn đau

(Tàu đêm)

Nghe ghê! Hung hãn, kinh hoàng, va đập, thời đại động, ầm ĩ. Đoạn thơ này cũng cho ta cảm giác ngoa ngôn vì từ dùng rất kêu, nhưng ngôn ngữ chắc, khỏe, vừa để diễn tả chuyến tàu chở tù thời kỳ đó (tàu thì cũ, đường sắt thì quá cổ lỗ sĩ, vừa mới phục hồi) vừa diễn tả tâm trạng hoang mang, dao động, tuyệt vọng của những người tù đang trên đường bị đi đày biệt xứ. Cả hai đoạn trích trên khác hẳn nhau về hơi thơ, ý thơ, thi ảnh, khác nhau cả về cấu trúc lẫn ngôn ngữ, nhưng lại có một điểm giống nhau: lạ. Ấy, Tô Thùy Yên! Tôi sẽ cố gắng trình bày cái “lạ” đó qua suốt bài này. Trong khả năng cho phép.

Chữ nghĩa TTY

TTY làm nhiều thể loại thơ: thơ năm chữ, thơ bảy chữ, thơ xuôi, thơ tự do, thơ lục bát, thơ phá thể. Ngắn có (bài “Tặng phẩm” chỉ có 14 chữ), dài và rất dài có (bài “Mùa hạn” thơ bảy chữ, gồm đến 188 câu, 1326 chữ). Như đã nhận xét từ đầu bài, chữ nghĩa TTY pha trộn giữa truyền thống và cách tân. Bên cạnh những từ và cụm từ hiện đại như hư vô, ý thức, Thượng Đế, sự can trường của hiện hữu, thám hiểm tương lai…ông tận dụng các từ ngữ với ý nghĩa rất cổ điển như: vạn cổ, bí lục, thiên thu, phù du, quan san, kinh thiên, dương thế, gậy trúc, tào khê, trăm họ, thánh đế, sấm truyền; các đặc ngữ dân gian: chớp bể mưa nguồn, hạc vàng thương nhớ, chờ anh như biển vẫn chờ sông, vàng đá nhắn quan san, ngựa đá đã qua sông, nước non ngàn dặm, núi lở sông bồi, đá nát vàng phai, chút phận long đong, bóng xế đường dài…

Đồng thời, ông sáng tạo nhiều và nhiều cụm từ rất lạ: ngổn ngang câm, bất an già, khoảng cách đặc, án tử hình treo, lãng quên xanh, nỗi sầu vô dạng, u hoài mốc, gió hao đuối, rợp hải hà, rớt nắng, nắm níu, nhớ hư hoặc, một phía mê tưởng, lưu cữu gió, vũng vướng mắc, ráo gió, úng máu, thiu hồn, muối muộn, đuối kiệt, ngất tạnh khuya, réo đuối… Ở điểm này, ta có thể so sánh TTY với Trịnh Công Sơn. Cả hai đều là những người “đẻ” ra nhiều từ mới hoặc sử dụng từ cũ với một ý nghĩa mới. Ở TCS, ta có nào là tuổi đá buồn, vết lăn trầm, lời buồn thánh, nắng khuya, hạ trắng, bồn gió hoang… nào là dài tay em mấy, cồn đá… Nhưng ta ghi nhận một khác biệt: chữ nghĩa TCS dường như thoát thai từ trực giác, còn chữ nghĩa TTY thì là một dụng công đầy ý thức (như sẽ đề cập ở đoạn sau); một điểm khác, TCS do vướng trong việc phổ nhạc nên tương đối bị giới hạn trong lúc TTY tự do hơn nhiều, nhất là khi ông không còn xem trọng chuyện vần điệu trong thơ.

Có một nỗ lực rất lớn của TTY trong việc sử dụng từ ngữ để diễn đạt sự vật ngoại giới và tâm cảnh của mình. Ông tìm cách bóc tất cả những lớp vỏ bọc quanh hiện thực bằng cách huy động đủ loại từ ngữ, phối trí chúng trong một cấu trúc theo kiểu riêng của ông[v]. Dường như ông muốn đi đến tận cùng bản thân chúng để tìm thấy cái gì còn ẩn dấu đàng sau hoặc nằm bên trong sự vật. Từ cũ dùng đúng nơi đúng chỗ. Từ mới gây ra ấn tượng mạnh. Đồng thời tận dụng các đặc ngữ, quán ngữ vừa để làm “mềm” câu thơ hoặc làm dịu đi những cách diễn đạt quá mới vừa là một cách điều hòa tinh tế nhằm tạo hiệu quả cao nhất nơi người đọc. Thơ ông không quá tối tăm, khó hiểu, nhưng để hiểu được, đòi hỏi người đọc phải vận dụng tri thức, kiến thức và óc quan sát tinh nhạy. Đọc thơ TTY không thể chỉ đọc bằng trực giác vì chúng không gây nên xúc động lập tức nới người đọc. Chúng đã không cho những thi ảnh trơn tru, thuận tai, gợi hình, gợi tình; đã thế, lại đưa ta vào một không khí đầy trầm tư mặc tưởng, đôi lúc khá ngột ngạt.

Ông có lối diễn đạt sự vật, cảnh vật chung quanh rất sống động bằng cách sử dụng những tính từ, động từ một cách khá bất ngờ. Xin dẫn ra đây một số:

– Động vật: chim “giục giã” hay “hớt hãi kêu van”, con ngựa “cuồng bão táp”, chó “tru thăm thẳm”, di điểu “xẻ luống sầu”, con quạ “kêu ran”, con còng “ẩn nhẫn bò”.

– Thực vật: cây “nứt nở vỏ”, “bật gốc” hoặc “sưng vết chặt lồi”; rong thì như những “tầng buồn”; hàng cây dương thì “bất an già”; rễ cây “bung” hay “gượng”; cỏ tranh “khom mỏi”; tàu chuối “reo ngất ngất”; cây xương rồng “gắng gượng”.

– Sự vật: con rạch “đen nồng”, chiếu chăn “bức bối”; con đường “duỗi sáng” hay “rọc điếng”; hàng rào chà cản nước “nỗ lực lao đao”; nước ao “lền đặc”; gềnh đá “nhọn rách tơi”; bãi biển “trơ trẽn”; tàu chạy “khoan xoáy” hay “rú”; máu “bung”.

– Những hiện tượng tự nhiên: gió “khốc liệt” hay gió “sửa soạn”; thủy triều “sôi”; mùa hè “cọ xát” hay “xô xát reo vang” hay “nhức rát”; biển “nhẫn nại”, “tang chế”; nắng “nứt ran ran”, mặt trời “rã”; khuya “rụng rời”; đêm “tối lền”.

– Những ý niệm, trạng thái hay cơ cấu: lịch sử khi thì “ngất lả”, khi thì “thịnh nộ”, khi thì “mài thê thiết”; tứ thơ thì “xiêu tán”; kỷ niệm “buông”, “rú”, “chìm”; (cái) bất-khả-tư-nghì “đá chởm”

Có những câu, mới đọc, ta tưởng nhà thơ đang nói đến một điều “bất khả tư nghì”[vi] nào đó. Không. Ông tả chân, rất tả chân. Chẳng hạn:

rền hoa: tim đèn dầu thắp lâu ngày, phía trên cháy thành than xòe ra như một bông hoa nở.

– Mái ngói nghiêng triền trái rụng lăn. Một cách đảo ngữ khá thú vị. Nó khiến cho một chi tiết thực dường như biến thành hư. Đó chỉ là tiếng trái cây rụng và âm thầm lăn trên mái nhà nghiêng. Để ý, nhà thơ dùng những động từ kế tiếp nhau để diễn tả chuyển động: rụng, lăn.

Thủ pháp này được ông dùng rất nhiều để gom ý, cô đọng ý và tạo cảm giác lạ:

Thả/trôi hồn một tấu khúc chừng quen

Dềnh/giạt về những quá khứ bỗng ngoi nổi

Thả, trôi, dềnh, giạt, ngoi, nổi đều là những động từ.

Một câu khác:

Kỷ niệm buông tay rú – ngất- chìm

Buông, rú, ngất, chìm là những động từ.

Cũng một thủ pháp như thế, nhưng là tính từ, là danh từ hay là một kết hợp giữa các loại từ:

Phòng biệt giam tối mốc thấp hẹp (tính từ)

Tốc độ cao gài cố định mặc (cố định, mặc kệ cho nó chạy)

Trời sao có hồi cũng đuối kiệt (đuối sức, kiệt lực)

Và trong những khoảnh đèn khoét đọng lẻ quạnh (khoét ra, đọng lại, lẻ loi, quạnh quẽ)

Từ Hán-Việt cũng được sử dụng trong một vài trường hợp bất ngờ:

Hàng tre cổ chĩu đầu lưu cữu gió (tre trĩu ngọn xuống để lưu cữu – cố giữ – gió lại)

Ta ngồi bên đống lửa man rợ – Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế – Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi

– Hừng đông hùng vĩ và thanh thản

Nói chung, chữ nghĩa ông rất chọn lọc, nghe lạ tai mà chính xác, khiến câu thơ mang ngay một vóc dáng khác thường, tăng cường thêm ý nghĩa cho chính nó:

Mưa lâu trời mốc, buồn hôi xưa (Qua sông)

Rêu mốc mờ thêm những đã mờ (Huế oán)

Trăng thiếp, sao mê, sông ráo gió

Buồn lan sóng nối, tản không tan (Nhớ có lần, trên bến bắc khuya, nghe một ông lão đàn hát)

Kết cấu tinh xảo:

Thăm thẳm trưa, thời gian chết xanh (Vườn hạ)

Quán chật xanh lên rừng lính ướt (Qua sông)

Nghi ngút khuya thiên cổ dặm mù (Thao thức)

Ngoài ra, ta nhận thấy TTY khoái sử dụng từ trắc ở chữ thứ năm trong câu thơ bảy chữ khiến câu thơ có một nhịp điệu riêng biệt, hình thành một phong cách khá đặc thù của thơ TTY:

Bốn trăm hải lý nhờ không tới

Mùa gió xoay chiều, giờ khốc liệt

Sông hồ nẻ đáy giếng vô vọng

Loại câu trên nằm lai rai ở nhiều bài. Có bài, như “Đêm quan ngoại”, kỹ thuật đó được sử dụng hầu như toàn bài, đại loại như: Tạt vào, giũ phủi bóng đêm bám/Gối đầu lên một chỗ không lý/Giờ này đã khuya khoắt thiên cổ… Ta biết, những từ thứ năm trong những câu thơ cước vận trắc, nếu gieo vằn bằng, thì đọc lên nghe trơn tru, thuận mồm hơn. Dùng các từ trắc ở đây khiến câu thơ nghe như có cái gì chẹn, nghẹn lại, gây nên cảm giác bế tắc, lúng búng. Quả thật vậy, đọc chúng, ta thấy ngay tác giả muốn diễn tả những cảm giác day dứt, bất an.

Những bài thơ làm thời gian sau này (trong Thắp Tạ), TTY đều sử dụng nhiều từ và cụm từ trắc để diễn tả tâm tình đặc biệt của mình: những nỗi niềm khuất tất, trạng thái ngơ ngẩn cuối đời khi “quỹ thời gian” đang mỗi ngày mỗi cạn (như Soi mệnh, Tỵ khách, Nỗi lần mình giở). Chẳng hạn:

Giấc mộc đè cứng nghẹn dẫy la

Gà nửa khuya gáy xộ trăng muộn

Sòng phẳng án khổ hình vắt đá lấy máu viết

Viết, viết như chép phạt những điều thừa

Về một kỳ tích tối cổ mãi hư bại. (Soi mệnh)

Đoạn thơ trên mà so với những câu, cũng của ông, như: “Thấy gì chăng, chẳng thấy gì/Nước rào, trăng rạt, ta thì mỏi mê/Chầy khuya, nước ủ trăng ê/Uổng công, bãi ấy đi về một ta…” (Đi Về) thì quả là khác nhau một trời một vực. Nói chung, chúng không khó hiểu lắm nhưng lại rất khó đọc. Chữ nghĩa ngổn ngang. Hơi thơ u uất. Vẫn là những ám ảnh siêu hình về thời gian, vô hạn, biến dịch. Ở đây, tôi ghi nhận một khác biệt. Thuở đầu đời, nhà thơ nghênh ngang đối đầu với/và có vẻ “thưởng thức” cái hữu hạn của con người, ném hữu hạn trước vô hạn như một thách đố, thậm chí không giấu nỗi hân hoan:

Giá ta được lên cao, lên cao

Để ngắm nhìn một lần thấu suốt Định Mệnh ta

Trước ngày từ biệt nó

(…) Ta cố gắng làm người. Con người vô ích sáng choang như món hàng đeo lên Hư Vô đen ngời bóng lộn (Bất tận nỗi đời hung hãn đó)

Hay:

Hoàng hôn xô bóng ta trên cát

Ta lớn lao và ta cô đơn

Vào lúc sau này, tuổi xế bóng, cái nhìn có khác, nghe ra rất ngậm ngùi:

Quá một hạn tuổi nào,

Sống nữa hầu như để giữ sống

Qua ngày một trí nhớ lâm chung.

Đâu rồi gã trẻ người bạt mạng lao đầu

Vào những bất khả tư nghì đá chởm

(Soi mệnh)

Tính siêu hình

Nhà thơ TTY không đến với sự vật như những kẻ thân thiện để ngắm nghía, chia sẻ, thông cảm, tìm hứng hay tìm cái đẹp, mà là để nghi hoặc, liên miên tra vấn và như thể tìm cách đẩy chúng vào cuộc chơi. Dường như ông hóa thân vào sự vật, đánh thức chúng dậy. Trong thơ TTY, dấu vết cảm hứng khá mờ nhạt, đúng như nhận định của Nguyễn Hưng Quốc, theo đó, TTY “trước hết là một nhà thơ trí thức (…) có thể thấy một đặc điểm lớn trong phong cách TTY: ông bắt đầu sự nghiệp làm thơ một cách đầy tự giác. Ông không cậy vào cảm hứng, vào năng khiếu, như hầu hết những nhà làm thơ khác”[vii]. Ông vận dụng cả ý thức, lẫn kiến thức và óc quan sát tinh tế để làm thơ. Nếu chú ý, ta sẽ thấy ông luôn luôn chủ động kiềm chế chữ nghĩa, không bị chi phối bởi thói quen và ngẫu hứng[viii]. Rõ ràng là ông làm thơ không chỉ để diễn tả những xúc động cá nhân trước thiên nhiên, trước thân phận hay những cảnh đời ngang trái. Ông triển khai giòng thơ xa hơn, sâu hơn[ix], tiến vào lãnh vực vô thể, tức là lãnh vực của thế giới ý niệm. Do vậy, tính chất siêu hình bàng bạc trong hầu hết những bài thơ của ông[x]. Trả lời cho câu hỏi “Triết học và thi ca là những phạm trù khác nhau. Nhưng có nhiều người làm thơ triết học. Theo anh, có biên giới nào giữa thi ca và triết học không” của Nguyễn Mạnh Trinh, TTY hỏi lại “Có thật có một loại thơ gọi là thơ triết học sao?”[xi]. Rõ ràng là nhà thơ không mấy mặn mà với khái niệm về một loại thơ riêng biệt gọi là thơ triết lý, tất nhiên trong đó có thơ ông. Thơ là thơ. Nhưng là một người đọc yêu mến thơ ông, tôi thích gọi thơ TTY là thơ triết lý. Ta có thơ tình, thơ chiến đấu, thơ thiền, thì nếu thêm từ thơ triết lý, đâu có sao. Cũng chỉ là một cách gọi. Tạm gọi. Cho có cái cớ đi trọn bài này. Rồi thôi.

Mà không phải thơ triết lý sao được. Này nhé:

Nên ta phó mặc cho trời đất

Trời đất vô ngôn lại bất nhân

Nên ta lẳng lặng đi đi khuất

Trong lãng quên xanh hút thời gian

Cái gì vậy? Yêu? Nhớ? Mong chờ? Nuối tiếc? Thiền? Không có cái nào là đúng hết. Chỉ còn một cách: đó là thơ… triết lý! Còn gì nữa đây:

Bìm bịp chiều chiều kêu nước lớn

Đi, đi đâu, chèo chống mỏi mê?

Đến ngả ba, đành theo một lối

Tiếc ngẩn không cùng theo lối kia

(Đãng tử)

Dạ, một diễn tả “rất thơ” về song quan luận (dilemma), thuộc lãnh vực luận lý học.

Rõ là thơ triết thì khác với triết lý. Các triết gia dùng khái niệm để diễn đạt tư tưởng triết học, đi tìm chân lý, và khi tìm ra cái gọi là chân lý rồi, họ yên tâm núp trong pháo đài của mình. Tưởng thế là xong! Nhà thơ không hề đi tìm chân lý, nên suốt đời lang thang, là một “gã hề cuồng”, không nơi ẩn nấp: không có gì gọi là hoàn tất trong cuộc đời này. Mọi thứ đều dang dở, bất toàn. Bởi thế, nếu đọc triết cho ta cảm giác an toàn vì mọi câu hỏi dường như đều đã có lời giải, thì đọc thơ bao giờ cũng cho ta cảm giác chênh vênh, bất định. TTY gọi triết gia hay nhữõng nhà tư tưởng lớn là “các vương tôn miền trí tuệ/Mưu đồ đo đạc cả Vô Biên”. Còn nhà thơ thì:

Ta ngắm gốc cây nứt nở vỏ

Gốc cây to đến mấy người ôm

Nghĩ tới bao điều thầm lặng lớn

Trí ta không đủ lực đo lường

Vì khác với các triết gia, tâm thức của một nhà thơ:

Câu hỏi vạn niên, lời đáp nhất thời

Chữ nghĩa rối bời gai góc loạn

Con đường suy tưởng thật lang thang

Ngày một xa thêm chân lý lớn

(Chim bay biển Bắc)

Đoạn này “thơ hóa” một trong những vấn nạn lớn của triết học cổ kim: có thể tìm thấy chân lý bằng chữ nghĩa và suy tưởng không? Nhà thơ dứt khoát: càng chữ nghĩa, càng suy tưởng, nghĩa là càng tìm cách đạt đến chân lý thì người ta càng xa chân lý. Vả lại, làm gì mà có chân lý cơ chứ! Nói TTY làm thơ triết lý có nghĩa là nhà thơ “thơ hóa” các suy tư thuần lý, thêm da thêm thịt cho chúng, ban cho chúng đời sống. Cũng là một cách phá vỡ các ảo tưởng duy lý. Hay mượn một hình ảnh “đắt giá” của TTY: Ngựa ngã lăn mình mướt như cỏ/Chấm giữa nền nhung một vết nâu trong bài thơ đầu đời “Cánh đồng, con ngựa, chuyến tàu”. Có lẽ không có mô tả nỗ lực thất bại của con người nào nên thơ bằng hình ảnh tuyệt đẹp của con ngựa TTY. Thơ TTY, hiểu theo một cách nào đó, là sự khai thác hình ảnh này qua hàng hàng lớp lớp chữ nghĩa sau này, theo tôi.

Những đề tài triết lý trong thơ TTY không có gì mới lạ. Vẫn là những ý niệm và hình ảnh quen thuộc ta thường tìm thấy trong triết lý Đông Phương cũng như Tây Phương (thường gọi là các phạm trù) qua mấy ngàn năm nhân loại suy tưởng: tuyệt đối, hữu hạn, vô hạn, vũ trụ, biến dịch, vô thường, thời gian, không gian, lịch sử…Hầu hết những đề tài đó được nhà thơ nhấn mạnh trong một số bài bằng cách viết chữ hoa như Chân Lý, Thiêng Liêng, Cõi Tạm, Hiu Quạnh, Vô Biên, Tương Lai, Định Mệnh, Hư Vô, Nhân Thế, Vĩnh Cửu, Lịch Sử. Chẳng hạn như:

Có thể mai kia Thời Đại Lớn

Sáng rền trên cõi sống tinh anh

(Mòn gót chân sương nắng tháng năm)

Dưới nét phác nụ cười thầm mê man của Định Mệnh

Để ngày ngày ta đến điều trần lặng lẽ trước Vô Cùng

Về một Hữu Hạn tuyệt vời đang phóng dụng

(Bất tận nỗi đời hung hãn đó)

Những ý niệm triết lý được nhà thơ trở đi trở lại nhiều lần bằng những cách diễn đạt khác nhau: khi thì là những suy tưởng trông rất thuần túy, khi thì là những ẩn dụ, biểu tượng, khi thì là những hình ảnh từ ngoại giới: người, sự vật, sinh vật.

Đề tài thời gian có lẽ là đề tài lớn nhất và bao trùm nhất trong cõi thơ của ông, được triển khai rộng rãi trong nhiều bài thơ khác nhau. Bài thơ đầu tiên “Cánh đồng con ngựa chuyến tàu” là một diễn tả sống động về tính bất trắc của thời gian và sự bất lực của con người. Tàu tượng trưng cho thời gian vô hạn, con ngựa tượng trưng cho kiếp người hữu hạn. Hãy xem sự rượt đuổi quyết liệt biểu lộ cho một quyết tâm của ý chí:

Tàu chạy mau, tàu chạy rất mau

Ngựa rượt tàu, rượt tàu, rượt tàu

Càng rượt, thời gian càng chạy gia tốc:

Tàu chạy mau, vẫn mau, vẫn mau (…) Tàu chạy mau, càng mau, càng mau

Con ngựa vẫn mê mải rượt tàu, rượt tàu để cuối cùng:

Ngựa ngã lăn mình mướt như cỏ/Chấm giữa nền nhung một vết nâu.

Thật hào hùng và bi tráng! Một kết thúc buồn, đẹp và rất thơ. Y như một hoạt cảnh. Sau này, trong “Thắp tạ”, ông diễn tả sự rượt đuổi đó một cách khác, ngắn gọn hơn (nhưng lại buồn thảm hơn):

Cố gắng

Cố gắng theo cho kịp

Cái bóng mình như có đi nhanh hơn

(Nhanh hơn)

Trong nhiều bài về sau, ông không cần dùng đến ẩn dụ mà gọi đích danh hoặc hình tượng hóa thời gian qua hình ảnh của một sự vật, một chủ thể. Đó là một cái dốc dài: Trên dốc thời gian, hòn đá tuột/Lăn dài kinh động cả hư vô; là một chiếc xe: Thời gian gia tốc, thảm thê thay; là một nhân vật khuất lấp nào đó: Ta gọi thời gian sau cánh cửa/Nỗi mừng ràn rụa mắt ai sâu; là một ngăn kéo hay một kho chứa: Ta về như bóng ma hờn tủi/Lục lại thời gian kiếm chính mình; là sợi dây:Thời gian đứt quãng dài vô định/ Như sợi dây diều băng mất tăm; vô hình vô dáng: Biển Bắc mịt mù con nhạn lạc/Thời gian mất trí trắng vô âm . Hầu hết những gì liên hệ đến thời gian xuất phát từ những ý niệm về một cái gì trôi chảy mãi, vô cùng vô tận: Trăm năm rồi lại trăm năm khác; Dòng ngày tháng trắng chảy lơ mơ; U minh ngày tháng bóng lao đao.

Ám ảnh về thời gian, trong bản chất, chính là ám ảnh về quá khứ. Quá khứ bao giờ cũng cho ta cảm giác đó là một cái gì thuộc về nguồn gốc, là bản chất của cuộc tồn sinh. Một ảo tưởng của con người: dường như càng xưa, càng cổ, càng đi về thời đại hồng hoang, nguyên thủy thì lại càng gần với “lý sơ nguyên”, gần với sự Sáng Tạo vũ trụ. Khổ thay, trước quá khứ, con người hoàn toàn bất lực. Quá khứ, cũng như người chết, là mênh mang, khó hiểu. Đó là “những người thuở trước”. Là người, như anh như tôi. Hỉ nộ ái ố ai bi lạc dục. “Giương cung bắn”, “đi tìm mộng”, “say vô hạn”, “tham chung đỉnh”, “diễm tuyệt dung nhan thảo mộc sầu”… Bây giờ họ đi đâu, về đâu?:

Những người thuở trước bây giờ lạc

Trong dã sử nào như bóng mây

(Và rồi tất cả sẽ nguôi ngoai)

Trong “Mòn gót chân sương nắng tháng năm”, nhà thơ diễn tả cảm thức triết lý về nỗ lực của con người trên đường đi tìm chân lý vĩnh cửu bằng cách thực hiện một chuyến hành trình siêu hình về quá khứ, phá vỡ bức trường thành dằng dặc vô hình của thời gian:

Ta gắng về sâu lòng quá vãng

Truy tầm mê mỏi lý sơ nguyên

Hỡi ôi, dọc dọc thấy câm cứng

Mặt trợn trừng chưa dứt ngạc nhiên

(Mòn gót chân sương nắng tháng năm)

Tìm gì? Tìm cái “lý sơ nguyên”, tức là cái khởi đầu, cái chân lý. Tìm thấy gì? Tuyệt không có gì. Tất cả đều “câm cứng”. Câm. Cứng. Một khép chặt miên viễn. Ngạc nhiên, đau đớn, thất vọng:

Ta lại trồi lên dương thế rộn

Ngày ngày ra bãi vắng vời trông

Bóng chim, tăm cá, cành trôi dạt…

Bất luận điều chi giữa mịt mùng

(Mòn gót…)

Dương thế không thiếu chi người như thuở trước, cũng “giương cung”, cũng “đi tìm mộng”, cũng “say vô hạn”, “tham chung đỉnh”, tóm lại, cũng chừng ấy chuyện. Với nhà thơ, đó là một “dương thế rộn” nghĩa là lắm chuyện, loay hoay, tưởng chừng như bận bịu cho một mục đích cao cả nào đó. Thực ra, chẳng có gì. Cho nên ông chỉ biết ra bãi vắng vời trông. Cũng chỉ là để vời trông! Bài thơ là một diễn đạt tuyệt vời về khát vọng tinh thần của con người từ xưa đến nay, luôn luôn muốn vượt thời gian, đi tìm bản thể của mình. Hình ảnh con người trần trụi ngày ngày ra bãi vắng mà vời trông vào cõi mịt mùng, quả là bức tranh sinh động tượng trưng cho nỗi đau siêu hình muôn thuở của những “con vật biết suy tư”

Một trong những hình tượng và cũng là khái niệm thời gian được TTY sử dụng nhiều – hàng chục lần trong nhiều bài khác nhau – là “thiên thu” hay “nghìn thu” hay “thiên cổ”: Thiên thu lóe tắt vệt phù du/Phất phơ chéo áo đường thiên cổ/Nghi ngút khuya thiên cổ dặm mù/Tiếng kêu đá lở long thiên cổ/Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế/Chốn rừng thiêng ỉm tiếng nghìn thu/Ngọn đèn như nỗi đợi thiên thu/Chung thân, thiên cổ bị cầm giữ/Giờ này đã khuya khoắt thiên cổ. Cả ba từ – khi thì dùng như danh từ, khi thì như tính từ hay trạng từ – đều chỉ một cái gì xa xưa, lâu lắc, không đo lường được. Tóm lại, vô hạn, vô cùng.

Ám ảnh thời gian tất yếu đưa đến ám ảnh về lịch sử. Khác với thời gian là một khái niệm mông lung, lịch sử – đối với nhà thơ – trông có vẻ cụ thể hơn, có da có thịt hơn. Nó tác động trực tiếp đến bản thân, đến cuộc sống hiện đương. Có lẽ để nhấn mạnh điều này, tác giả nhiều lần viết hoa hai chữ “Lịch Sử” trong thơ. Lịch sử tựa hồ như một nhân vật, hay ít ra cũng tựa như một thẩm quyền: Tử tội mừng ơn lịch sử tha; Đã trăm năm lịch sử làm thinh; Những âm thanh lịch sử thịnh nộ.

Là một thẩm quyền, lịch sử biểu lộ thái độ khác nhau tùy theo hoàn cảnh, khi thì “dường như rất vội vã”, khi thì “mài thê thiết”, khi thì “ngơi đi nhiều tiếng động”, “đổi phiên người gác ngục” và có lúc kiệt lực “ngất lả”, lại có lúc:

Như tên phù thủy già điên loạn

Lịch sử lên cơn dữ bất thường

(Mùa hạn)

Ở đây, lịch sử gắn liền với chế độ chính trị của mỗi thời, tác động cụ thể lên thân phận từng người, trong đó có bản thân tác giả. Đây là một trong những cảnh lịch sử “lên cơn dữ”:

Đám chủ mới, y trang xúng xính,

Súng nghênh ngang, tiếng hét phàm phu

Xua trăm họ sá chi thân mạng

Lăn địa cầu ra khỏi lối xưa

(Mùa hạn)

Lăn địa cầu ra khỏi lối xưa! Một mô tả cực kỳ hình tượng về tham vọng của chế độ Cộng sản.

Thời gian và lịch sử bao hàm tính chất biến dịch. Thơ TTY, ở một nghĩa nào đó, là cảm thức sâu sắc về lẽ biến dịch, về sự tuần hoàn, về ý nghĩa “không ai tắm hai lần trong cùng một dòng sông”:

Đời hoài công đứt nối miên man (Mòn gót)

Dòng sông u hiển trôi vô lượng (Hề, ta)

Các mùa chuyển động trong trời trống

Di điểu qua sông xẻ luống sầu.. (Tưởng tượng)

Bởi tất cả vô thường

Nên tất cả miên viễn (Soi mệnh)

Đời qua lớp lớp tàn hư huyễn/Giọt lệ sương thầm khóc biến thiên

(Ta về)

Thời gian – biến dịch đưa đến cảm thức về vô hạn/hữu hạn:

Vũ trụ miên man chuyển động đều

Mà trong vô hạn có chi đâu

(Đãng tử)

Vô hạn – hữu hạn là nghịch lý lớn nhất đối với ý thức con người:

Làm sao ta biết được

Niềm vô lượng không gian cuốn hút

Cõi trăm năm tiếp tiếp miệt mài,

Cuộc phiêu lưu tinh thần bi liệt…

Nùi lộ trình rối chẳng phăng ra.

(…) Loài sinh vật loay hoay quên khuấy nỗi kinh hoàng bé mọn

Trong vô tận quang niên và vô tận thời gian

(Bất tận nỗi đời hung hãn đó)

Một diễn đạt tuyệt vời khác về nỗ lực vô vọng của con người qua thời gian và không gian! Vẫn biết là phiêu lưu vô ích, là lập lại cái cảm thức tồn tại từ khi con người biết tư duy, nhưng cái quái đản là con người vẫn không ngừng suy tư về nó. Vận dụng tối đa chữ nghĩa để phiêu lưu vào chính cái cõi phiêu lưu. Biết là “trí ta không đủ lực đo lường” mà vẫn “nghĩ tới bao điều thầm lặng lớn”, vẫn “mưu đồ đo đạc cả Vô Biên”. Quả là một cuộc “phiêu lưu tinh thần bi liệt”!

Thời gian vô hạn, không gian lại càng vô hạn. TTY gọi đó là cõi “vô cùng tận”, là cõi “ngoài muôn dặm”: Mỏi chìm đóm lửa ngoài muôn dặm. Không gian là những đám mây vô sử; vũ trụ thì cứ thế, miên man chuyển động đều; là Bóng chim tăm cá cành trôi giạt/Bất luận điều chi giữa mịt mùng, con người trong vũ trụ chỉ dạo men bờ sóng tuyệt mù. Một trong những hình ảnh về không gian vô tận là hình ảnh con đường. Nó không có cùng đích: Con đường đi mỏi mà không tận và không có khởi đầu:

Ôi những con đường đến tự đâu

Một lần gặp gỡ ngả tư nào

Mà trong vô hạn chia lìa miết

Có cuốn theo mình bụi của nhau

Là cái gì cách ngăn, chia lìa:

Em nhỏ, làm chi chim biển Bắc

Để anh lầm mãi bãi Đông mù

Không-thời là một kết hợp có tính biện chứng, khiến cho cái vô hạn càng thêm vô hạn:

Biển Bắc mịt mù con nhạn lạc (không)

Thời gian mất trí trắng vô âm (thời)

Trăm năm, rồi lại trăm năm khác

Tên đóa hoa này, ngươi nhớ chăng?

Con ngựa bất kham cuồng bão táp

Cõi hồng trần lôi nỗi kinh tâm

Con người chỉ là một hạt lệ trong cuộc biến thiên vô hạn:

Đời qua, lớp lớp tàn hư huyễn

Hạt lệ sương thầm khóc biến thiên

 

Tính hiện thực

 

Siêu hình, như ta đã biết, thuộc về lãnh vực của ý niệm, của những hình tượng, biểu tượng. Chúng vô hình vô dáng. Hiện thực, ngược lại, là thế giới hữu hình chung quanh chúng ta, có thể tiếp nhận bằng giác quan. Khi nói thơ TTY là thơ triết lý thì không có nghĩa rằng thơ ông thuần là những suy tưởng cao xa, khó hiểu và “siêu” hình. Trong thơ ông, hiện thực cũng xuất hiện đầy dẫy, dồi dào. Ông để lòng mình phơi mở, đưa tầm nhìn ra khắp ngoại giới, từ trăng sao, các hiện tượng tự nhiên cho đến những sự vật nhỏ nhoi, tầm thường như mầm cỏ, gốc cây, hàng cây đứng bóng, con sâu, vết chặt hay san hô, vân vân.

– Mầm cỏ ngoi ngoi lên rạo rực

Con chim chèo bẻo hót lanh chanh

– Ta ngắm gốc cây nứt nở vỏ

Gốc cây to đến mấy người ôm

– Ngày. Ngày nắng chói chang như giũa

Ánh sáng vang lừng điệu múa điên

– Trời cao mỏi mắt, chòm mây bạc

Thăm thẳm trưa, thời gian chết xanh

– Hàng cây đứng bóng ôm tròn gốc

Đất ẩm vương hương, cỏ trở màu

– San hô mọc tủa thêm cành nhánh

– Cây cỗi càng sưng vết chặt lồi

– Cây rách sâu thân chắt giọt lòng

Hiện thực là những sự vật cụ thể xuất phát từ trong kinh nghiệm tiếp cận sâu xa với ngoại giới của chính tác giả. Không phải là thứ kinh nghiệm đầy sáo ngôn của mùa thu thì “lá vàng”, mùa xuân thì “hoa bướm” mà là những kinh nghiệm đầy ấn tượng. “Trường Sa hành”, chẳng hạn, là một thí dụ. Đó là kinh nghiệm sâu xa về sự cô độc khi sống ở một hoang đảo. Hoang đảo thì hiu quạnh, hiu quạnh lớn đến nỗi vắng cả hồn ma quỷ. Đó là nơi gió khốc liệt miên man thổi, ban ngày thì nắng chói chang như giũa khiến phỏng khắp châu thân, buổi chiều mặt trời chiếu xuống biển raõ ra theo sóng khiến biển rưng rưng trong lúc trên trời đầy những chim đen thảng thốt quần; quanh đảo, đám cây gầy ven bãi sụp thì rễ bung, dưới nước thì những cụm rong óng ả trông như những tầng buồn. Đêm, ngồi bên đống lửa man rợ, hong tóc râu chờ chín miếng mồi. Những cảnh ấy, vật ấy có một tác động ghê gớm lên tâm trạng những người lính thú xa nhà. Họ nhớ nhà, nhưng xa quá nhớ không tới, đành khóc cười như tự bạo hành, khòm lưng nhẫn nhục; họ buồn đến nỗi tóc bị nung từng sợi đỏ và kêu dòn như tiếng nứt hoa niên. Tâm trạng của những kẻ bị đẩy ra làm lính thú ở hoang đảo vô cùng bức xúc, ngột ngạt:

Đất liền, ta gọi, nghe ta không?

Đập hoảng Vô Biên, tín hiệu trùng

Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc

Con chim động giấc gào cô đơn.

Khoảng cách đặc, một sáng tạo chữ nghĩa rất tô-thùy-yên!

“Góa phụ” là một kinh nghiệm đầy ấn tượng khác. Ở đây, thực cảnh và tâm trạng người góa phụ đan quyện lẫn nhau. Nó diễn tả một khoảng trống không cùng giữa cái chết và cái sống, giữa thực tế phũ phàng và nỗi khát khao vô cùng tận của người phụ nữ vừa mất chồng trong lúc tuổi còn hoa niên. Nhà thơ ví cái chết như cánh cửa đóng tự ngàn năm bặt âm, và nàng tìm kiếm vô vọng như tìm ở cõi gió vì cát loạn muôn trùng đã xóa cả dấu chôn trên mộ. Đêm đầu tiên người góa phụ ở nhà một mình sau khi chôn chồng cho ta một hình ảnh bi thiết. Tâm và cảnh đan xen lẫn nhau tạo nên một nỗi đau mênh mông, sâu thẳm. Người góa phụ ngẩn ngơ đứng trước bàn thờ, thức cho đến lúc trăng lu, khuya mỏi nén nhang tàn với ngọn đèn hư ảo thắp trắng mái tóc. Ở xa, có tiếng chó tru thăm thẳm, tru đến trời đất phải sững sờ, ngây ngất. Tất cả lặng im, đến nghe cả tiếng trái cây rụng rồi âm thầm lăn trên mái ngói.

Em độc thoại lời kinh ánh xanh

Trăng lu, khuya mỏi, nén nhang tàn

Chó tru thăm thẳm ngây thiên địa

Mái ngói nghiêng triền trái rụng lăn

(…) Ngọn đèn hư ảo chong linh vị

Thắp trắng thời gian mái tóc em

Hiện thực đến thế thì thôi! Còn nàng thì:

Tim đập duỗi ngoài thân nỗi lạnh/Hồn xa con đóm lạc sâu đêm

Hãy lưu ý cách dùng chữ nghĩa tinh xảo: cõi gió, lạc sâu đêm (không phải thâu đêm), duỗi ngoài thân, ngây thiên địa.

Trong bài thơ tình “Trưa nay, ta còn đi bên nhau”, TTY mô tả thành phố dưới cái nắng buổi trưa gay gắt, nơi hai người đi với nhau lần cuối trước khi chia tay mãi mãi:

Thành phố lũng hoa mê

Duỗi phơi xa những triền mái lóa.

Gió luông tuồng.

Anh nghe rõ nắng lao xao trên giàn hoa giấy rộ.

Trưa đứng sững giữa lòng đường

Cây cùng thu vén bóng.

Chữ nghĩa dùng cực kỳ ấn tượng: lũng hoa mê, duỗi phơi xa, triền mái lóa, gió luông tuồng, trưa đứng sững. Một kết hợp ngôn ngữ tân kỳ và chính xác. Dưới tác động của cách dùng chữ cùng cấu trúc câu, cảnh vật hiện ra vừa thân quen lại vừa mới lạ. Đồng thời nó cho ta cái cảm giác lạ lùng y như thể ông đang dùng ẩn dụ. Cũng buổi trưa, nhưng trong bài “Vườn hạ”, ông diễn tả một cách khác, cũng không kém ấn tượng:

Thăm thẳm trưa, thời gian chết xanh.

Gì vậy? Nhà thơ chơi chữ? Không đâu! Đây là một buổi trưa ở vùng thôn dã. Có sống ở miền quê những buổi trưa hè nắng gắt, trời đứng bóng, nhìn lên bầu trời xanh, trông xa thăm thẳm, mọi vật mệt mỏi nằm yên y như thời gian ngừng trôi, ta mới hiểu hết ý nghĩa của cái gọi là “thăm thẳm trưa” và thời gian “chết xanh”. Hãy đọc một đoạn thơ khác, cũng với một cách diễn tả tân kỳ:

Biển tù hãm dẫy, vô phương thoát

Quẳng bờ những xác sóng mưu toan

Để đổi lấy một hạn kỳ tạm ngụ

(Hành giả âu sầu)

Có lẽ chưa ai nhìn biển và sóng bằng cái nhìn khác lạ như thế. Tiếng Hán -Việt (tù hãm, mưu toan, hạn kỳ tạm ngụ) chen với tiếng Việt ròng (dẫy, thoát, quẳng, xác sóng) nghe rất lạ tai. Nhưng nào có gì sai! Thú thật, tôi khoái. Rõ ràng là chữ nghĩa có thể làm thay đổi thực cảnh. Đúng hơn, nó làm ta thay đổi cách nhìn về thực cảnh. Người ta thường nhìn biển như là một cái gì mênh mông, to rộng, sâu thẳm (biển cả, biển tình…), nhà thơ nhìn biển như một vũng ao tù nhỏ bé, hạn hẹp nhốt những con sóng khiến phải quẳng chúng lên bờ như một “mưu toan”. Cách nhìn mới mẻ đó cho thấy lòng nhà thơ luôn luôn bức bối trước cái hữu hạn của hiện thực. Nó “lạ hóa” (defamiliarize)[xii] hiện thực. Có thể xem “lạ hóa” là một trong những chức năng đặc thù cùa văn chương, nhất là trong thơ. Và đặc biệt, thơ Tô Thùy Yên. Nhà thơ “lạ hóa” cảnh vật chung quanh chúng ta, “lạ hóa” luôn cả những ý tưởng siêu hình vốn đã được bao nhiêu nhà tư tưởng và triết gia bào đi bào lại đến mòn nhẵn cả ý nghĩa. Cao hứng, tôi xin trích dẫn thêm một đoạn thơ nữa, để xem TTY “lạ hóa” hiện thực đến mức nào. Đây là cảnh một bãi rừng hoang:

Dưới lũng, trên triền, nắng xếp nhỏ

Nước ròng sâu, sông lảng lảng xa

(…) Mông quạnh bãi phơi, vũng vướng mắc

Con cò lặng ngẩng lắng hơi thu

Xác cây gục hỗn mang cành rễ

Rừng đứng quanh đây, rừng tận đâu?

(…) Chiều bóc, bóc dần những rớt nắng

Loi ngoi nắm níu lũng triền xa (Chim kêu bãi quạnh)

Ấy: nắng xếp nhỏ, vũng vướng mắc, chiều bóc, bóc dần, loi ngoi nắm níu. Nghe thú vị có thua gì đọc một đoạn thơ tình! Còn nhiều, nhiều nữa. Cứ mỗi lần đọc lại thơ TTY, tôi lại khám phá ra một cái lạ khác. Tại sao? Có lẽ là vì chúng… lạ! Cũng có lẽ là vì nhà thơ quan sát kỹ, chế biến kỹ các chất liệu tiếp nhận và không dễ dãi với chính mình.

Trên đây là nói về tả vật, tả cảnh, tả người, những hiện thực bình thường. Sau đây, ta sẽ bàn về những tình thế (situations), về các biến cố (events). Cũng như mọi người thuộc lứa tuổi từ 50 trở lên, TTY sống qua 4 biến cố lớn: chiến tranh, chế độ Cộng Sản, những tháng ngày tù tội và đời sống lưu vong. Cuộc biển dâu đó (thơ TT nhắc nhiều lần về biển dâu, bằng nhiều cách diễn tả khác nhau) kéo hẳn nhà thơ ra khỏi không khí siêu hình thuần túy mà ông đắm chìm trong những tháng ngày tuổi trẻ khi đất nước đang tạm hưởng thái bình. Cũng là lẽ thường. Làm sao có thể đắm đuối trong cõi siêu hình khi thực cảnh chung quanh ta đảo lộn, ảnh hưởng đến từng bữa ăn, giấc ngủ, đến chuyện sinh tử của cả đời người. Từ chỗ đang rong chơi trên mây, con người bỗng rớt hẳn xuống đất, đụng chạm với muôn ngàn thực tế phũ phàng. Hàng ngày, hàng giờ. Dù có để tâm hồn mình bay bổng đến đâu, con người cũng bị buộc phải đối diện với hiện thực, đối phó với nó và giải quyết những vấn đề do nó gây ra. Nỗi đau, nỗi cô đơn siêu hình biến thành nỗi đau hiện thực. Hiện thực bây giờ không còn là thứ hiện thực dửng dưng mà có tính cách cưỡng bức. Cưỡng bức cuộc sống và cưỡng bức ý thức. Sau này, ta không hề thấy ông làm những bài thơ thuần suy tưởng như “Đãng tử” hay “Mòn gót chân sương nắng tháng năm”. Tất nhiên, không khí siêu hình vẫn lãng vãng đâu đó, nhưng hiện thực chế ngự hẳn thơ TTY.

  • Nói về cuộc chiến đã qua trên đất nước, TTY tóm tắt:

Nhớ xưa thiên địa làm ly tán

Anh em nhà không ngó mặt nhau

Người chạy về thành, kẻ nhảy núi

Dốc đời cho một cuộc chiêm bao

Trong tập “Thơ tuyển”, ông chọn đưa vào ba bài thơ chiến tranh, là “Qua sông”, “Anh hùng tận” và “Chiều trên Phá Tam Giang”. Bài “Chiều trên Phá Tam Giang” tuy cũng nói về chiến tranh, nhưng đề tài được mở ra trên một hướng rộng lớn hơn, sẽ được đề cập vào phần cuối. Hai bài kia giới hạn trong việc mô tả chiến tranh. Khác với hầu hết thơ của ông, trong hai bài này, các ý tưởng siêu hình hầu như biến mất. Ta không thấy những suy tưởng lang man về thời gian, trăm năm, cõi thiên thu, hữu hạn, vô hạn mà là “chật ních” những hình ảnh đặc thù của cuộc chiến. “Qua sông” vẽ nên một bức tranh thê thảm của chiến trường, “Anh hùng tận” cho ta một khung cảnh khác đậm đặc không khí Nam bộ (thấp thoáng hình ảnh anh hùng Lương Sơn Bạc) trong lúc “Chiều trên Phá Tam Giang” có tính chính luận, mang đậm nét miền Trung (và miền Bắc).

“Qua sông” tả lại cảnh chuyển quân tiếp viện qua một con sông vào một ngày mưa buồn. Người đông, đò thiếu, trời lại mưa, lính tập trung bên bờ hút thuốc, chuyện vãn. Mỗi người góp một chuyện dựng nên một bức tranh chắp vá sinh động về cuộc chiến mà từng người đã và sẽ phải tích cực (nhưng miễn cưỡng) dự phần. Đây là khung cảnh chiến trường nơi mà đồng đội của họ hy sinh:

Tiếp tế khó – đôi lần phải lục

Trên người bạn gục đạn mươi viên

Di tản khó – sâu dòi lúc nhúc

Trong vết thương người bạn nín rên

Người chết mấy ngày chưa lấy xác

Thây sình, mặt nát, lạch mương tanh (Qua sông)[xiii]

Xác nào may mắn lấy được thì:

Áo quan phong quốc kỳ anh liệt

Niềm thiên thu đầm cỗ xe tang

Quê xa không tiện đường đưa tiễn/Nghĩa tận sơ sài đám lạnh tanh

(Qua sông)

Họ say sưa kể chuyện về cái chết của đồng đội trong lúc mường tượng bóng mình trong số đó, nên khi theo đơn vị qua sông đến nơi trấn nhậm (cũng là chiến trường):

Xuống đò, đời đã bỏ quên…

Một sông nước lớn trào lên mắt ngời.

“Anh hùng tận” dựng một khung cảnh hoàn toàn khác: một buổi dừng quân. TTY mô tả một cách chi ly một buổi dừng quân điển hình trên sông nước miền Tây Nam Bộ:

Dựng súng trường, cởi nón sắt

Đơn vị dừng quân trọn buổi chiều

Trọn buổi chiều, ta nhậu nhẹt

Mồi chẳng bao nhiêu, rượu rất nhiều

Đây ngã ba sông, làng sát nước

Xuồng ba lá đậu kế chân bàn

Trời mới tạnh mưa còn thấp ướt

Lục bình mây mỏi chuyến lang thang

(Anh hùng tận)

Những người lính nhậu nhẹt tưng bừng, vui vẻ y như bất cứ một buổi nhậu bình thường nào:

Tiếng hò mời dzô, dzô tở mở

Muỗi thủy triều chừng cũng dạt ra

(…) Ta chắt cho nhau giọt rượu sót

Tưởng đời sót chút thiếu niên đây

Nhưng chính cái bình thường đó lại để chuẩn bị và chờ đợi những gì không bình thường nhất của chiến tranh:

Giờ cất quân, đưa tay bắt

Ước cõi âm còn gặp để say

Bên kia cái bắt tay, chỉ còn một điều khả dĩ: cái chết. Một ước mơ lạ lùng, phi lý mà lại không kém phần hiện thực: tiếp tục cuộc nhậu ở chốn tuyền đài. Khôi hài và bi tráng đến thế thì thôi!

Gẫm lại về chiến tranh, nhà thơ tự hỏi:

Sao để xô vào một chương hồi lịch sử hỗn mang?

Đáng xé vứt?

Sao chịu bịt mù hồn, chơi sinh tử quái đản

Nam quân, Bắc quân trời sai tru diệt nhau?

Tàn trận, ngồi sảng hoàng giữa bãi xác bạn thù

Khóc loạn trí

Chính nghĩa nào thay được mạng người đây?

(Hành giả âu sầu)

  • Sau năm 1975, khi Cộng Sản chiếm được miền Nam, với một chính sách chuyên chế khắc nghiệt, đất nước trải qua những tháng năm dài bi thiết. Nhất là đối với những người thuộc phe thất trận. Họ gánh chịu hết mọi thứ oan khiên của cuộc sống. Đói, nghèo, áp bức, tù tội, trả thù, giết chóc. Kẻ lên voi, người xuống chó, người ở tù, kẻ tìm đường vượt biên. Đã thế, lại còn thiên tai dịch bệnh liên tiếp đổ xuống. Cả một miền Nam chừng như tan vỡ. Hiện thực đó được TTY ghi nhận một cách sắc nét qua nhiều bài thơ, trong đó có bài rất dài: “Mùa hạn”. Thơ đề cập từ khung cảnh chung đến riêng, từ nỗi đau của toàn thể dân tộc đến nỗi đau riêng của từng cá nhân. Dù thỉnh thoảng tác giả chen vào một số ẩn dụ, hoặc hình ảnh cổ điển, nói chung, toàn bài là một bức tranh vô cùng hiện thực, qua cái nhìn của một người thuộc phe thất trận.

Sông hồ nẻ đáy, giếng vô vọng

Muông thú điên lầm lũi bỏ đàn

Dân làng lũ lượt kéo lên rú

Lùng sục đào khoai củ đã khan

Côn trùng kiệt sức lìa hang ổ

Lên chết thiêu trên mặt đất hừng

(…) Người mẹ trẻ buồn đôi mắt trũng

Thân gầy nhom, tóc cháy, da cằn…

Địu con, một dúm thịt nhăn nhúm

Ra ruộng khê tìm mót cái ăn

Thân phận người thắng, kẻ thua:

Kẻ mới tới bày tòa giữa chợ

Giải người ra, sỉ mạ ba đời

Cho đeo bảng, dong đi khắp phố

Bắn bỏ bên đường, cấm nhận thây

Chĩa súng đuổi người ra khỏi đất

Đày đi biền biệt miệt thiên thu

Đuổi cả người chết ra khỏi mộ

Cày nghĩa trang, trả vói thâm thù

(Nỗi đợi)

Trả vói thâm thù! Chữ “vói” hay quá, như trùm cả đoạn thơ.

  • Là kẻ thua, tác giả – một thiếu tá trong quân đội VNCH – phải đi ở tù. Chuyến tàu chở tù đi đày ra miền Bắc, trong đó có tác giả, được mô tả một cách sắc nét qua bài “Tàu đêm”. Khác hẳn với khái niệm và hình tượng của những chuyến tàu mà ta có từ xưa đến nay, “Tàu đêm” không có cái nhẹ nhàng của những tiễn đưa, không có cái buồn lãng đãng của những chia xa và gặp gỡ, không có cái bâng khuâng, nao nức gợi nên từ tiếng còi tàu. Cũng như “Mùa hạn”, đó là một bức tranh sống động về khung cảnh hòa trong tâm trạng vô cùng đặc biệt của những kẻ bị đi đày, hoàn toàn không biết sinh mệnh sẽ về đâu:

Tàu đi. Lúc đó, đêm vừa mỏi

(…) Tàu rú. Sao ơi, hãy thức dậy

Vâng, tàu rú. Tàu chạy như một cơn giông lửa, như một cơn điên đảo, nó khoan xoáy sâu đêm thép với tiếng nghiến ghê người thác lửa sa. Còn trong tàu là gì?

Toa nêm lúc nhúc hồn oan khốc

Đèn bão mờ soi chẳng rõ ai

– Ngồi đây giữa những phân cùng bụi

Trong chuyển dời xung xát bạo tàn

Ta trở thành than thành súc vật

Tiếng người e cũng đã quên ngang

Khách đi tàu là:

gã tù lưu xứ

Xí xóa đời ta với đất trời

Trong hoàn cảnh đó, cảm giác của tác giả là:

Ta nghe rêm nhói thân tàn rạc

Các thỏi xương lìa đụng chỏi nhau

(…) Dường như ta chợt khóc đau đớn

Lệ nóng cường toan cháy ruột gan

Trong trại tù (cải tạo):

Buổi trời đất bất minh

Người chưa đủ sáng thành người

Những đồi nổng khai hoang dăm tháng trước

Qua mùa đông, đã nổi chật mồ tù.

Chiều bầm máu thảm thiết/Bãi ao tối nghịt rừng nhân dạng trần truồng (Hành giả âu sầu)

Tất cả những nhọc nhằn, đau đớn của thân phận tù đày được tác giả trút hết trong bài thơ lục bát “Hái rau”, nghe không khác gì truyện Kiều:

Núi vây, trời hẹp, ngày mau

Liều đau đến điếng, nguôi đau ít nhiều

Hái nhanh cho kịp trời chiều

Ấy mê, ấy tỉnh, cỏ nhiều hơn rau

(…) Cám ơn rau của đất trời

Hẩm hiu chưa cả được đời đặt tên

Và dẫu vô cùng đau xót, uất hận, tác giả cũng nhiều lúc lắng lòng mình lại, phơi mở với tương lai bằng một ước mơ thuần hậu:

Ta nhặt từng trang sách rách toang

Đứa ngu đã xé vứt ra đường

Ta gom từng hạt cây luân lạc

Mong mỏi gầy lên một địa đàng (Mùa hạn)

Nhưng rốt cuộc, mơ ước cũng chỉ là mơ ước. Ra khỏi tù, lại phải bỏ nước ra đi:

Khuya đó, anh lên đường

Từ bỏ căn nhà

Từ bỏ quê hương…

(…) Anh đếm từng ngày còn ở lại quê hương

Tim bóp thắt

(…) Anh ra đi/Bứt ruột mà đi (Giã biệt)

Lưu vong. Tâm hồn lại thêm một lần tan nát. Sống như cái sống của một người xa lạ.

Nước Mỹ này quá rộng và quá buồn

Anh không còn muốn tự định liệu

Tốc độ cao gài cố định mặc

Đường trường lái băng đêm

(…) Ghé lại một trạm xăng, một hàng fast food hay một rest area

Đây là đâu?/Đây cũng là đâu đó vậy

Dấp nước đầu, cổ, mặt. Tỉnh tỉnh lại với đời…

Và trong những khoảnh đèn khoét đọng lẻ quạnh

Nhìn chút đỉnh những con người

(…) Chạy rề qua những cổng toll way

Ném dúm đồng tiền vào rổ đợi

Nghe lăn nhanh chuỗi âm thanh mơ hồ va bạt hoang mang (…)

…nhìn vẻ mặt người thu tiền uể oải

Hờ hững tiếng cám ơn

Chừng nỗi đời quá nhạt nhẽo (Đường trường đêm)

Khác với hơi thơ da diết trong “Ta về”, toàn bài “Đường trường đêm” là một cố gắng diễn tả cái nhạt nhẽo khi sống ở Hoa Kỳ một cách rất nhạt nhẽo, qua hình ảnh và tâm trạng cũng… nhạt nhẽo khi lái xe trên xa lộ ban đêm.

Trên đây, với đầu óc phân tích, tôi đã cố xẻ thơ của TTY thành những phần khác nhau. Y như thể chúng vốn dĩ như thế. Và phải như thế. Thực ra, một bài thơ – hay ngay cả một câu thơ – là một cái gì hoàn chỉnh tự nó. Dù hay dù dở, nó là một chỉnh thể. Không siêu hình. Cũng chẳng hiện thực. Nói cho đúng, không khí thơ TTY thấm đẫm những khắc khoải siêu hình trong khi vẫn không tách khỏi thế giới tục lụy của hiện thực cuộc sống. Nhà thơ đứng dạng chân giữa hai thế giới (có vẻ như) khác biệt hay như thể đối nghịch nhau. Khi ông nhìn, ông nghe, ông chứng kiến sự vật chung quanh, thì đồng thời tâm hồn ông cũng bay bổng tới một thế giới khác siêu vượt lên trên hiện thực. Thế giới quanh ông hiện diện như những dấu hỏi muôn thuở. Ông tìm thấy trong mỗi một hiện tượng, mỗi sự vật đều cưu mang khắc khoải của chính mình. Nói như Nguyễn Hưng Quốc, “Hình ảnh của Tô Thùy Yên hiện ra trong thơ bao giờ cũng là hình ảnh một người đầy ưu tư, đầy khắc khoải. Có thể nói thơ Tô Thùy Yên là một chuỗi đồi thoại lặng lẽ và triền miên giữa ông và lịch sử, giữa ông và thiên nhiên”[xiv]. Mọi xuất hiện của một hiện tượng hay sự vật đều không tự nhiên, không dửng dưng mà trái lại đều biểu hiện cho những “thái độ”. Mô tả những rễ cây, ông viết:

Rễ bung còn gượng cuộc tồn sinh

Rễ bung là một hiện tượng, còn gượng ngầm chứa một thái độ: chống chỏi với định mệnh, chống chỏi để tồn sinh.

Mô tả cây xương rồng:

Ngưỡng mộ cây xương rồng gắng gượng

Thân trần đứng lẻ giữa đồng trơn

Cây xương rồng là một hiện hữu, một nỗ lực. Nó kiêu hãnh y như nỗi kiêu hãnh nghịch lý của con người:

Ta lớn lao và ta cô đơn.

Hay:

Những cánh hoa trên đồng chói lọi

Cũng xui phù thế ngậm ngùi thân.

Những cánh hoa chói lọi mà cũng “ngậm ngùi”. Chính cái chói lọi ấy lại chứa đựng nỗi ngậm ngùi! Khi nhìn biển ở vùng hải phận:

Anh sống làm quen cùng cái chết

Liếm lấy mặn mà trên đau thương

Chìm mãi xuống em và mất tích

Như mặt trời rã trong nước loang

Cảnh vật, sự vật hóa thân thành người. Như thế, càng tiếp cận với hiện thực chừng nào, thì nỗi xao xuyến siêu hình càng tràn trề trong ông. Nhà thơ nhìn, nhà thơ ngó thấy và rồi nhà thơ suy gẫm về những điều trông …xa lắc, có vẻ như chẳng dính líu gì đến thực cảnh:

– Ta nhìn ngọn cỏ, lòng mê mẩn

Nghĩ tới đời ràn rụa thâm ân

– Nước mắt ta tuôn khi nghĩ tới

Những người đã chết, chết như rơm

– Ta ngắm gốc cây nứt nở vỏ

Gốc cây to đến mấy người ôm

Nghĩ tới bao điều thầm lặng lớn

Trí ta không đủ lực đo lường.

– Trăng, bạn hiền xưa giờ tái ngộ

Ta thức đêm nay chơi với trăng

Nghĩ tội thương sau này, mãi mãi

Quanh mồ ta, trăng phải lang thang

– Ta ngó thấy thùy dương gẫy rũ

Từng cây như nỗi bất an già

Ta ngó thấy rào chà cản nước

Từng hàng như nỗ lực lao đao

Trong những bài thơ thuần triết lý thuở đầu như “Đãng tử”, “Mòn gót chân sương nắng tháng năm”, “Hề, ta trở lại gian nhà cỏ”, vân vân, TTY dùng các hình ảnh hiện thực để triển khai những ý niệm siêu hình: Cánh đồng, con ngựa, chuyến tàu, gió sửa soạn, gió thật xưa, mây vô sử, mây già nua, Thuận tay ta ngắt một cành sậy, làm cây sáo thổi cạn hồn sầu/Các “vương tôn miền trí tuệ” (triết gia)/Con chim thoát xác thành cơn mộng, bay liệng dài trên trí nhớ không, vân vân. Nói một cách khác, chim chóc, mây, mưa, ngày tháng…chỉ là những ẩn dụ. Ông mượn tạm chúng để mô tả cái thế giới nằm bên ngoài thực tại, thế giới của những ý niệm.

Sau này, ông rời bỏ hẳn thế giới ý niệm để tìm về hiện thực, dùng kinh nghiệm tiếp cận hiện thực để phóng rọi đến thế giới siêu hình. Bởi thế, ta không ngạc nhiên, trong bất cứ hoàn cảnh nào (khi bình thường cũng như khi chiến tranh, khi bị đi tù, khi tuyệt vọng, khi hy vọng, khi cô đơn, khi đi với người tình, khi trở về sau những ngày ở tù), nhà thơ cũng nhảy phóc từ thế giới bình thường đến thế giới siêu hình. Ông đưa hai thế giới đó tiếp cận nhau. Có lẽ đó là đặc điểm nổi trội trong thế giới thi ca TTY. Một sự tiếp cận như thế rất ít chỗ cho cảm hứng, rất ít chỗ cho “bảy bước làm thơ”. Bước nhảy phóc đó, thực ra, chính là sự nối dài của một ý thức đậm đà chất thơ. Đọc thơ TTY, ta vừa cảm thấy ông đưa ta đi sâu vào thế giới ý niệm cùng những liên tưởng, lại vừa cảm thấy đắm mình trong thế giới thơ chứ không phải thế giới của luận lý.

Xuyên suốt cõi thơ TTY, ta luôn luôn bắt gặp một con người loay hoay nhìn sự vật, cảnh vật chung quanh cũng như lặn sâu tận cùng tâm thức con người (thao thức, băn khoăn, ước mơ, phẫn hận, mộng tưởng…) bằng một cái nhìn kinh ngạc về bản chất của chúng. Thân xác ông ở đó (nhìn, nghe, cảm) nhưng tâm thức như bay vút mênh mang trong cõi trần thế mênh mông và chập chùng trong thời gian hư ảo. Ông đi sâu vào quá vãng để chẳng tìm thấy gì; rồi ngày ngày ra bãi vắng vời trông chỉ để thấy bất cứ điều chi cũng mất hút giữa mịt mùng; ông nhìn ngọn cỏ lòng lại mê mẩn, nhớ tới đời ràn rụa thâm ân; ông ngắm gốc cây mà đầu thì nghĩ tới bao điều thầm lặng lớn; đi với người yêu, em nhón chân lên hôn, ông lại thấy đang ở giữa cõi thực hư và bàng hoàng vì hai người chẳng khác gì hai hạt cát/Từng rời xa trôi dạt những thiên thu; ông giã biệt quê hương ra đi (thay vì chỉ mong thoát khỏi chế độ CS) thì lại cầu sao cho thoát được bộ da đó của mình/Đánh lạc hướng truy tầm của định mệnh; giữa chiến trường, ông thấp thỏm nhớ người yêu ở Sài Gòn (không nhớ như bình thường) mà yêu nuối tuổi hai mươi, thấy tình yêu như vận hội tàn đời vì nó là bằng chứng huy hoàng của thất bại (Chiều trên Phá Tam Giang); ông thích đi tới (không phãi để tới đích nào đó) mà tới rồi đi, miết miết…/Lòng không cùng, chốn tới biết là đâu (Ánh tàn dư); đất nước tao loạn, nhiễu nhương, cũng như mọi người, ông đợi, một nỗi đợi: Ta đợi nghe chừng thiên cổ mỏi/Hàng hàng thân trụ đứng hư hao; được thả từ về trại tù, (thay vì hân hoan, sung sướng vì được gặp lại gia đình) ông cảm thấy “như bóng ma hờn tủi/Lục lại thời gian kiếm chính mình (Ta về); chú ý đến chi tiết rất vụn vặt như ngấn nước đục khoen lem cỏ sậy, ông thắc mắc: Lưu mà chi chỉ dấu phù hư?; nhìn sóng biển, ông chỉ thấy sóng thì khóc mà biển thì tang cheá vì hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi; về thăm lại vườn xưa, nằm nghe tiếng thủy triều rút xuống bậc bậc sầu, tiếng mõ chùa thì khô khốc khốc để rồi gẫm ra tất cả chỉ là u minh ngày tháng bóng lao đao; trên chuyến chở tù đi đày biệt xứ, khi nghe con tàu ruù như một cơn điên đảo, khoan xoáy sâu đêm thép, ông lại tưởng chừng nghe thời đại động và lịch sử dường như rất vội vã khiến cho thời đại đang đi từng mảng lớn; nhìn hòn đá, nhà thơ cho là đá giú mộng trong lòng và thắc mắc Đá rõ điều ta muốn rõ không?

Hơi thơ ông chênh vênh, mấp mé ở bờ thực-hư: Trong từng cái thực, ông luôn luôn tìm thấy vô số những điều hư , trong từng sự kiện, ông luôn luôn tìm thấy bóng dáng của thân phận, của số mệnh, mỗi hữu hạn, ông tìm thấy cái vô cùng. Mỗi một hiện hữu y như thể đều phản ảnh một thế giới ảo nào đó mà ông không thể nào hình dung rõ ràng:

– Thoáng nhớ có lần ta đọc trộm

Lược sử ta trong bí lục nào

Văn nghĩa mơ hồ không hiểu trọn

Thiên thu lóe tắt vệt phù du (Đãng tử)

Ta mò đoán nghĩa dòng hư tự

Mòn nét trong thiên địa ngập ngừng

(Và rồi tất cả sẽ nguôi ngoai)

Tính chất pha trộn đó hầu như trải đều trong tất cả các bài thơ của ông. Ở đâu, ta cũng thấy ông nỗ lực tối đa vận dụng ngôn ngữ để vừa giữ tính chất suy tưởng mà vẫn không làm đánh mất chất thơ và không xa rời hiện thực. Chúng lang bang, khơi mở, tự tại. Đặc biệt ở một vài bài, tôi nhận thấy thơ TTY có một cấu trúc hoàn chỉnh, mang tính luận đề, trong đó nhà thơ đặt vấn đề. Với thế giới. Với chính mình. Cũng là để đặt vấn đề thôi.

Chẳng hạn như trong bài “Hung hãn nỗi đời bất tận đó”, nhà thơ đặt vấn đề về nền văn minh. Nếu “Ta về” cho ta cái ngậm ngùi thê thiết, “Tàu đêm” cho ta cảm giác nặng nề, bức xúc, “Mòn gót chân sương nắng tháng năm” cho ta những suy tưởng triết lý mênh mang thì bài thơ này chứa đựng cái sôi nổi, thống thiết của một cuồng nộ siêu hình. Chữ rượt đuổi, xô đẩy chữ, câu rượt đuổi câu, trượt từ hiện thực đến siêu hình với vô số hình ảnh, ý niệm và biểu tượng đan xen nhau. Đó là một tiếng kêu thống thiết về hậu quả tàn phá của nền văn minh, về ảo vọng của con người muốn thiết kế thiên nhiên theo dự tính chủ quan của mình. Con người đã tàn phá rừng cây xanh để trồng cao su với những con đường thẳng lối ngay hàng:

Ôi những rặng cao su thẳng lối ngay hàng

Ngang dọc cắt nhau ùa về vô cực điểm

(…) những con đường phân định mỗi lô cây

Những con đường đất máu

Những con đường, nườm nượp những con đường

và xây những khu chung cư:

Ta đã nhìn thấy nơi cửa rừng bảng sơ đồ thiết kế

Hứa biến khu vực này thành một kiểu mẫu chung cư

Như bản tuyên cáo bi hùng của Tương Lai dõng dạc:

Nơi đây loài người sẽ tiến bộ, sẽ đi lên

Cứ như thế, vì tiến bộ và văn minh, hết khu rừng này đến khu rừng khác sẽ biến mất. Nhà thơ tưởng tượng rồi ra tất cả những ngôi thiền viện thâm u sẽ được biến thành những căn nhà điện sáng trưng cùng với “toàn bộ giáo lý sắc không” sẽ được viết lại; những ngôi mộ đá lâu đời sẽ được sắp xếp thành “một nghĩa trang tân thời”, không còn cây xanh, không còn thiên nhiên nguyên thủy:

Chúng ta sẽ gia giáo hóa thiên nhiên/ Chúng ta sẽ đồng loạt hóa Định Mệnh

Đó là một cố gắng vô vọng, vì con người chỉ là vết lóe của Thiên Thu/Con số không bao trùm vũ trụ. Hắn khổ đọa chung thân vì đã ngông cuồng, liều lĩnh muốn vô hạn hóa hạnh phúc vốn là cái bất định. Bài thơ được kết thúc bằng cách lập lại một lời than thống thiết đưa vào từ đầu bài

Ôi những rặng cây mang án tử hình treo!

Có thể xem nhà thơ là một thành viên tích cực của Đảng Xanh (Green Party)[xv] chăng? Những lời tiên tri của nhà thơ đều đã trở thành hiện thực hết. Cứ nhìn những tòa cao ốc, những con xa lộ dài vô tận, những ngôi chùa, ngôi đền thờ hiện đại, đèn điện sáng choang, những nghĩa trang tân thời, những…vân vân trên khắp thế giới, thì biết. Bao nhiêu rặng cây không còn được mang án tử hình treo nữa. Chúng đều đã lên ghế điện hết cả từ hồi nảo hồi nao! Riêng tôi, mỗi lần nhìn một ngôi chùa đẹp đẽ mới mọc lên với đầy đủ những tiện nghi văn minh cần thiết, mắt nhìn rất thích nhưng lòng cứ thấy… ngậm ngùi, nghĩ tới những rặng cây đã bị kết án tử hình oan uổng! Và nhìn những khu rừng xanh, là thấy chúng đang mang án tử hình treo.

Một bài khác, “Chiều trên Phá Tam Giang”, đặt vấn đề về chiến tranh, tình yêu và thân phận con người trong dòng trôi nghiệt ngã của lịch sử. Từ một trận chiến, nhà thơ liên tưởng đến bản chất của chiến tranh. “Nghĩ cho cùng”, tác giả tự hỏi, những nỗ lực chiến đấu của cả hai phe, dù nhân danh gì đi nữa, cùng gom góp lại/Mặt đất này đổi khác được bao nhiêu?, và rồi tự trả lời: cả hai cùng cam phận quay cuồng và cùng mắc đường Lịch Sử. Nó khiến cho tình yêu trở thành yêu nuối tuổi hai mươi, thứ tuổi mà những giấc mộng đua đòi rồi ra sẽ rơi rụng dọc đường lên dốc tuổi. Nó khiến cho những con người tham gia trong bộ máy chiến tranh phải lỡ độ đường/Trên mịt mùng nghi hoặc và tuổi thanh xuân thì mất tích. Buồn, đau, giận mà thực ra tất cả chỉ là:

Gió muôn năm thổi lẽ tuần hoàn

Cho cỏ cây thay đời đổi kiếp

Một trò ảo hóa, trong đó con người rút cục, chỉ là một “gã hề cuồng”:

Như gã hề cuồng mưu sinh giữa chốn đông người

Với từng ấy tấn tuồng bần tiện

Rút ra từ lịch sử u mê

Bài thơ kết thúc một cách rất tôthùyyên:

Chiều trên Phá Tam Giang

Có gã hề cuồng buông tiếng cười lạnh rợn

Khiến bầy ác thú mà lịch sử sanh cầm cũng chợt hãi hùng

Dớn dác ngó.

Dớn dác ngó. Có lẽ chưa có bài thơ nào kết thúc một cách lạ lùng như thế: ba từ trắc, rất nôm na, rất không thơ tí nào! Nghe hụt hẫng. Thì thế, chiến tranh và lịch sử làm sao mà thơ cho được! Chiến tranh là bước hụt hẫng của con người. Bước vào chỗ vô nghĩa.

“Thức giấc trong phòng biệt giam” đặt vấn đề con người trong lịch sử qua hình ảnh một tù nhân (là chính tác giả) trong một nhà tù biệt giam:

Phòng biệt giam tối mốc thấp hẹp

(Ta ở đây. Hơn bảy tháng rồi)

Cánh cửa sắt nặng nề sừng sững.

Sáu diện tích xi măng khuôn áp hãm đè.

Trong sự cô lập, người tù TTY:

Ước lượng thời gian

Như mò tìm một khe hở bất ngờ

Trên trường thành dằng dặc những thiên thu.

Ông suy gẫm về bản chất của lịch sử:

Lịch sử dường như đã ngất lả

Sau những liên hồi vật vã điên cuồng

(…) Lịch Sử đổi phiên người gác ngục

Lúc giày đinh, lúc dép râu.

Nhìn những dòng chữ ghi lại trong xà lim viết bằng chữ, bằng than và hình như bằng cả máu của bao nhiêu người tù đi trước, ông đẩy suy gẫm đi xa hơn nữa, đó là:

những nỗ lực tuyệt cùng lưu hậu bản thân

Đang khốc liệt đương đầu những bất trắc dập xóa

Như những mưu toan vô vọng ra khỏi chính mình

Trốn chạy dày vò

Của những người ở trước.

Một diễn đạt cực kỳ bi thiết về thân phận của tù nhân, ăm ắp hiện thực mà rất sâu, rất xa trong cõi suy tưởng thâm trầm. Nhìn từ bên ngoài, hình ảnh tù nhân, nhất là những tù nhân bị biệt giam hay tử hình hay chung thân hay không có án, là hình ảnh của thân xác tiều tụy, mặt mày lờ đờ thiếu đói, tuyệt vọng, bi thương. Nhưng bên trong mỗi người là một thế giới sôi động, sôi động ngày đêm, là những “nỗ lực tuyệt cùng”, là “khốc liệt đương đầu”, là những “mưu toan”. Một cuộc chiến đấu liên lỉ. Để làm gì? Để tồn tại. Ít ra là tồn tại với chính mình. Nhà thơ, từ đó, liên tưởng tới bao người đi trước, trong đó có bà con dòng họ mình, đã từng ở tù như thế. Ở tù, rốt cuộc, cũng là bước tiếp nối. Một tiếp nối nghiệt ngã. Anh ta:

Đi tới đi lui

Trăm lượt nghìn lần

Như một hồn ma cổ đại

Trong hầm mộ muôn đời

Rồi nằm xuống:

Dỗ mình hãy cố ngủ

Tập quen dần với giấc thiên thu.

Lại thiên thu, một khái niệm về thời gian bất định.

Cả ba đều là những bài thơ xuôi – đầy hiện thực và nặng những suy gẫm siêu hình – là một cách diễn đạt khác rút ra từ những “Đãng tử”, “Tưởng tượng ta về nơi bản trạch”, hay nói khác đi, hiện thực hóa “Đãng tử”, “Tưởng tượng ta về nơi bản trạch”, vân vân. Với một giọng thơ hết sức đặc thù, khi thì xôn xao, sôi động với thứ ngôn ngữ (có vẻ) rất chính luận, khi thì lắng xuống thâm trầm, khi lại nhuốm đầy vẻ “u mặc”, trửng giỡn, trào lộng – theo tôi – là biểu hiệu cao nhất của tài năng TTY.[xvi]

Chữ nghĩa và tri thức đã tổng hợp nên Tô Thùy Yên. Với cách sử dụng chữ nghĩa độc đáo, tân kỳ và sáng tạo[xvii], TTY đã mở ra nhiều cánh cửa của hiện thực. Cũng con sông đó, cũng biển đó, cũng trời đất đó, nói chung là cũng những sự vật đó, TTY đã cho ta thấy nhiều hình dáng khác của chúng, lạ lùng và thú vị. Đồng thời ông mở ra nhiều cánh cửa từ những ý niệm triết học vốn đã bị đào xới mòn nhẵn nghe đến chán chường qua hàng ngàn năm nhân loại suy tưởng. Ai mà chẳng biết vô hạn, hữu hạn, biến dịch, tuyệt đối, chân lý … TTY cũng lập lại chúng, nhưng lập lại một cách khác, choàng lên chúng những khuôn mặt mới, dịu dàng và thơ trẻ hơn. Kiến thức ông chín và sâu, được tiêu hóa đàng hoàng để hóa thành những thi-triết ảnh tươi mươi, sống động. Nhiễm chất thơ, nên thay vì đẻ ra những luận chứng siêu hình ngột ngạt đưa đến những tranh cãi hoài hoài không dứt – kéo dài cả mấy ngàn năm và vẫn còn tiếp tục – thì chúng mang lại cho ta những tuyệt vọng ngọt ngào của cuộc nhân sinh, khiến cho nỗi tuyệt vọng đôi khi cũng lấp lánh, tinh anh như niềm hy vọng.

Phải chăng, đó cũng chính là cùng đích của nghệ thuật?

TRẦN HỮU THỤC

(2005)

[i]Để cho gọn, trừ trường hợp đặc biệt cần nhấn mạnh một điều gì đó, tôi sẽ dùng chữ tắt “TTY” thay thế cho “Tô Thùy Yên” trong toàn bài viết này.

[ii] Nguyễn Mạnh Trinh, Phỏng vấn Tô Thùy Yên, tạp chí Hợp Lưu số 24, tháng 8&9/1995, tr. 162. Đây là một bài phỏng vấn rất hay, qua đó, NMT và TTY đã trao đổi rất nhiều điều về thơ: quan niệm của TTY về thơ, cách làm thơ, yếu tố vần điệu, chữ nghĩa, kiến thức… Bài phỏng vấn cũng đưa ra nhiều thông tin về tạp chí Sáng Tạo mà TTY là một trong những thành viên trong ban chủ trương. Theo tôi, những ai muốn tìm hiểu về thơ TTY, không thể không đọc thêm bài phỏng vấn này.

[iii] Nguyễn Hưng Quốc, “Thơ, V.V… Và V.V…”, nxb Văn Nghệ (California) 1996, tr. 192

[iv] Bùi Vĩnh Phúc, “Lý luận và Phê Bình – Hai mươi năm văn học Việt ngoài nước 1975-1995”, phần “Tô Thùy Yên: Thơ, như một vinh dự lầm than của kiếp người”, nxb Văn Nghệ (California) 1996, tr. 395-396

[v] Về cách phối trí từ ngữ, tức là chọn lựa và kết hợp, tác giả Bùi Vĩnh Phúc phân tích khá kỹ. Xem Bùi Vĩnh Phúc, sách và bài đã dẫn, tr. 378,379,380

[vi] Ngôn ngữ Phật Giáo, có nghĩa là: điều-không-thể-nghĩ-bàn

[vii] Nguyễn Hưng Quốc, sđd, tr. 192

[viii] Để hiểu rõ hơn quan điểm của TTY về vấn đề cảm hứng, xin trích lại đây ý kiến của ông phát biểu trong bài phỏng vấn “Làm thơ, cũng như làm bất cứ thể loại nghệ thuật nào khác đương nhiên đòi hỏi trước tiên phải có cảm hứng… (…) Tuy nhiên, nghĩ cho cùng, cảm hứng đó do đâu mà phát sinh, nếu chẳng phải từ những nung nấu trường kỳ đến mức đã trở thành những ám ảnh một đời của tác giả. Bản thân tôi không tin là có thể có những cảm hứng ngẫu sinh. Dĩ nhiên bài thơ thành hình không chỉ thuần với cái cảm hứng đầu tiên khai ngộ đó. Từ cái cảm hứng đầu tiên khai ngộ đó đến cuối bài thơ được hoàn thành, với tôi, luôn luôn là một con đường xa vợi, nhọc nhằn lắm khi tuyệt vọng ê chề vì lực bất tòng tâm”, dẫn theo “Phỏng vấn Tô Thùy Yên”, Nguyễn Mạnh Trinh, bđd, tr. 164

[ix] Có lần TTY nói với tôi: người sáng tác, theo tôi, phải có cái vision (tầm nhìn) lớn

[x] Hai từ triết lý và siêu hình dùng trong bài này có thể làm cho một số người đọc phân vân. Xin được giải thích như sau: Triết lý, tiếng Anh là philosophy, nguyên gốc từ tiếng Hy Lạp (philo và sofia), có nghĩa là “yêu sự khôn ngoan” (love of wisdom). Sau này, từ triết lý được sử dụng rộng rãi để chỉ sự theo đuổi các nghiên cứu có tính chất lý thuyết về những vấn đề liên quan đến cuộc nhân sinh như cái sống, cái chết, bản chất của sự vật, vấn đề chân lý, vấn đề khoa học, hiện sinh và từ đó phát sinh ra nhiều phạm trù khác nhau như: thời gian, không gian, các giá trị, vấn đề tuyệt đối, vân vân. Siêu hình học, metaphysics, nguyên gốc tiếng Hy Lạp là “ta meta ta physika”, có nghĩa là “những tác phẩm xuất hiện sau các tác phẩm viết về vật lý (physics) của triết gia Aristotle. Như thế, meta-physics chỉ có nghĩa đơn thuần là “sau-physics”. Nhưng về sau, các học giả phương Tây sử dụng nó với ý nghĩa mở rộng, có nghĩa là nghiên cứu những vấn đề siêu vật lý (trans-physical), tức là vượt lên trên những gì quan sát được. Trong trường ốc, người ta thường phân loại triết lý ra thành tâm lý học, luận lý học, đạo đức học, siêu hình học, vân vân. Như thế, siêu hình học là một bộ môn của triết lý. Trong bài này, do phạm vi giới hạn của đề tài, tôi sử dụng cả hai từ triết lý và siêu hình lẫn lộn nhau, đều ám chỉ một số ý niệm (cũng như niềm tin) căn bản về bản chất của sự vật như vấn đề tồn tại, hiện sinh, không gian, thời gian, lịch sử, chân lý…, tóm lại, là những gì không thể kiểm chứng được bằng thực nghiệm. Do đó, chúng khác biệt hay đối lập với hiện thực là những gì xảy ra trong thực tế, có thể nhận biết được bằng các giác quan. Tuy nhiên, từ siêu hình dùng ở đây không liên quan gì đến phong trào siêu thực (surrealism), là một lý thuyết sáng tác nghệ thuật dựa trên vô thức, do André Breton (Pháp) sáng lập vào đầu thế kỷ thứ 20.

[xi] Nguyễn Mạnh Trinh, Hợp Lưu số 24, bài đã dẫn, tr. 167

[xii] Dẫn lại theo Nguyễn Hưng Quốc, sđd, tr. 85

[xiii] Nguyễn Hưng Quốc phân tích bài “Qua sông” một cách khá thú vị. Xem NHQ, sđd, tr. 143-147

[xiv] Nguyễn Hưng Quốc, sđd, tr. 192

[xv] Một phong trào chủ trương bảo vệ môi trường thiên nhiên, chống lại các dự tính làm ô nhiễm môi trường, xuất phát từ các nước kỹ nghệ phương Tây, hiện nay có mặt trên hầu hết các nước trên thế giới.

[xvi] Thường người ta chỉ nhớ “Qua sông”, “Mùa hạn”, và đặc biệt “Ta về”. Ngay cả bài “Chiều trên Phá Tam Giang”, người ta cũng thích nhớ vài đoạn, mà không lưu ý đến bài thơ như một tổng thể. Trần Thiện Thanh phổ nhạc, chỉ đưa vào một đoạn nói về tình yêu, biến bài thơ thành một bài tình ca. Đáng tiếc! Nhưng cũng đành chịu thôi, vì không thể phổ một bài thơ dài và đa dạng như vậy trong một bản nhạc giới hạn. Vả lại, dường như những gì khác cũng không mấy phù hợp với sở thích của nhà nhạc sĩ này chăng? Riêng tôi, tôi thú vị nghe nhà thơ quá cố Cao Đông Khánh và nữ nghệ sĩ Phan Dụy diễn ngâm bài thơ này (trong nhiều bài khác, cũng của TTY, băng Cassette “Thơ Tô Thùy Yên”, Cao Đông Khánh và Phan Dụy diễn đọc, diễn ngâm) Đặc biệt, giọng Cao Đông Khánh rất thích hợp với không khí và tư tưởng của “Chiều trên Phá Tam Giang”. Nhất là đoạn kết thúc, nghe rất đã, khi anh chấm dứt ba chữ: dớn dác ngó. Rất dớn dác!

[xvii] TTY phát biểu: “Tôi cũng tâm niệm lời hứa của Đỗ Phủ: Ngữ bất kinh nhân, tử bất an. Nói không làm người sợ, chết không yên. Dường như chẳng bao giờ tôi ngừng nghỉ kiếm tìm cho dù có khổ công đến đâu một chữ đắc, cái chữ độc nhất mà không một chữ nào khác cho là tương đương hòng thay thế được. Nói cách khác, tôi chỉ chịu đi qua một câu thơ, một đoạn thơ khi nào tôi hoàn toàn kiệt quệ khả năng thể hiện hay hơn, gần hơn, sống hơn điều tôi ao ước thể hiện. (…) Câu thơ hay nhất mà thi sĩ nào cũng mong mỏi làm được có lẽ là câu thơ gần gũi nhất với lối nói thông thường mà mới thoạt nghe ai cũng nhận ra ngay là thơ, không giải thích được, không diễn dịch được”, Nguyễn Mạnh Trinh, bài đã dẫn, tr. 165 – 166

 

 

ThuMoi

Lut2016

đơn âm

                         

Anh đã rút mình như con nhện rút tơ trong ngàn vạn đêm đen

những câu chứ nhói đau lồng ngực

con nhện nhả tơ con tằm dệt kén

anh nhả nỗi buồn đêm nhiều khi không thấu được chính mình

những chữ đơn âm chỉ mình anh gặm nhấm mỗi ngày

phút hạ màn sân khấu đổi vai người còn kẻ chết

những nỗi buồn lũ lượt rủ nhau về trong mỏi mệt

với vết thương trên mặt trên vai và vết ung thư di chứng trên thịt da mình

 

những dấu chân Giao Chỉ da vàng đến lúc nào rồi có lặng thinh

và im lìm biến mất?

những đơn âm ngây ngô anh phát ra từ trái tim bất lực

đừng đánh đổi nhau bởi cuộc mưu cầu

hôm nay giữa tiếng ru chiều anh về đứng ngõ sau

 ngóng một cơn buồn sẽ đến

 

Phương Uy

 

Đ. ê.M .k.h.ô.n.g. C.ó. S.a.o

 

tôi vớt trên hai trục toạ độ trống không những cơn điên đã từ lâu di cư khỏi bộ não khô héo

 tàn dư của trận thấu thị lạnh lẽo trên ô kính buốt hơi giá

 những chồi cây những đọt lá non vẫy trên hơi thở mù

cơn lạnh này đã không ở đúng vị trí của nó

 tràn ra trên những chuyến bus sớm

 trên những luống rau còn non mùi sương

có những buổi ngày đi vắng

 vòng tròn lặp đồng tâm gợn sóng xô mặt ao tù

tiếp tuyến chạm bờ tưởng tượng cong gãy

 những nấc thang dập dờn trong mây thiên đường

trận trễ nãi mùa đông

 

vẽ lên mặt gối trắng những dấu hỏi sợi tóc già rơi

 lần họp mặt sau cuối sẽ được ấn định ở nơi nào?

em đến từ đâu ở lần không hẹn trước

đêm rớt lạnh ngập mùi hơi thở lên men

 lần tỉnh táo cuối cùng là từ khi nào?

 cây kiều mạch hoa anh túc mật nho đã làm xong sứ mạng

của nó chúng ta chia tay nhau trên những giao lộ chúng ta tưởng tượng ra những đường thẳng không song song không phải bao giờ cũng cắt nhau

mặt không gian ảo

chúng ta đã thực sự gặp nhau chưa trong cuộc sống đầy day dứt?

 mãi mãi chỉ nhìn thấy nụ cười của nhau trên mặt tuyến tính buổi chiều bỏng rát

 trên đêm không sao không ánh sáng

rồi khuất dạng như mặt trời buổi sa mù

hãy chuẩn bị cho cuộc hành hương thật lâu về Thiên Hà Mới

nơi chòm sao Orion phủ trong tuyết cháy

 đừng dựng lên đồi Can vê đừng dựng thập ác

sự cứu chuộc mang đến bằng điệu ca loài chu tước

hãy chuẩn bị cho lần gặp mặt đời đời kiếp kiếp

bằng chia ly này

 

Phương Uy

 

Tháng 4

 

Khi vị đắng lan ra trên đầu lưỡi, những gai vị giác tê buốt, màu nâu đen loang trong khoang miệng, lẩn khuất cho những bợt bạt ngày cũ, là tôi, trong một buổi sáng ít ánh nắng.

Chiếc rương kí ức không như chiếc hộp pandora, không có những tò mò háo hức khi mở, dù rằng những đau đớn giống nhau, lỗi lầm cũng không phải do định mệnh, tôi nói với tôi khi tôi cùng tôi vượt qua cơn mê sảng dài ngày.

Trong những đám mây trôi lưu cữu trên bầu trời xám, em đã cất vào đám mây nào những kí ức của tôi, những mật thất cất dấu bao điều tội vạ, khi ánh sáng thối rữa trong chiếc mạng nhện mệt buồn ở xó bếp, thịt da nào còn buồn nhớ vết muỗi châm đêm qua?

Tháng Tư, tôi mở cánh cửa đón em ở một ngôi nhà không tỏ thấy, những nghi lễ đãi bôi có cần không một cử hành, khi tiếng trống đánh để chào mừng những gian dối cũ, cũng là khi nỗi đau thành hình liệm chết những giấc mơ. Bao nhiêu giấc mơ đã qua đi, bao nhiêu giấc mơ tôi đã tử vong khi trời sáng? Những buổi sáng buồn rũ trong lá cây, ngày em không đến.

Chất lỏng tiếp tục tan trên đầu lưỡi, cùng cơn đau thở xòa. Những hoài ảnh hư vô của ngày hôm qua vẫn tiếp tục là ảo ảnh của hôm nay, khi trận loạn binh đã thất thủ trong những ngày hắc ám nhất của thế kỉ trước, nỗi đau kí sinh trên cơ thể vẫn còn thiêm thiếp có bùng dậy bằng những dấu chân xòe ngón? Khi đầu còn quấn khăn trắng mà thân đã sẳn sàng trong áo liệm, trận ngôn từ nào đã tử vong cho những nấc thang để đạp nhau trèo lên, dẫu không phải thiên đường Khi những ngón tay thiếu nữ thâm tím đỡ lấy vòng gai trong mùa sám hối, góc tối nào cựa mình triệu hồi những lời kinh xanh xao? Những vòng chuỗi không thể gọi được cơn gió về, dẫu bàn tay đã cố với. Lết qua ám ảnh của bóng tối, những giấc mơ có trật tự xếp hàng để trở về, sau hồi chuông xưng tội, những trận loạn ngôn là tội lỗi của ngôn từ, khi cơn bão tang thương đã cuốn trôi tất cả yêu thương như lũ quét, thì những ngón tay xanh xao làm dấu thánh có cứu rỗi được những tội nghiệt cuồng dã cất sâu trong góc tối những đêm tháng Tư?

 

Phương Uy

 

Giọt đắng 2

 

Rồi khóc mải miết những ca từ rơi rụng

con chim gục chết bên vệ đường

mặc hương hoa trẫm mình trong im lặng

 ngày trôi quá mong chờ

 

 mỗi sáng bắt đầu bằng giọt đắng

 ngậm và tan

mỗi sáng bắt đầu bằng gợi lắng

 dù rằng không nỗi nhớ nào yên an

 

Rồi bước mải miết trên độc đạo

xa nhau nỗi nhớ thét gào

người ở gần không chạm mặt

 buồn như hư hao

 

rồi cũng sẽ cùng nhau bước vào thinh lặng

sa mạc trùng trùng ai gọi nhau

ở nơi môi còn thắm đỏ

đừng để ngày xoa nhàu

 

Phương Uy

55

Linh San

 

 

Ngày mặt trời chết

Sự sống cuộn tròn trong chiếc áo

Một lần nữa, em lại ngủ trong bảy kiếp

Vẫn trong chiếc áo có màu Linh San

 

Có thể là những ngày bắt đầu tháng tư

Khi em đặt nỗi đau lên từng ngọn tóc mềm

Chảy xuống bờ vai

Như dòng sông Styx, chảy trong trong trí tưởng u ám của thần Hades

Em đặt nụ cười xinh đẹp lên gai nhọn

Để mơ về đại dương

Mơ về chàng Achilles đang chạy, mái tóc bồng bềnh như sóng

Tình yêu em không thể bị thương

Bình yên vỗ về 

Dưới gót chân em

Êm dịu

 

Ngày mặt trời chết

Em đùa, chỉ là câu chuyện của những đứa trẻ muốn được vắt mình qua đỉnh núi hái tháng năm rong chơi

Hái thật nhẹ tênh tiếng cười

Hái con đường chầm chậm

Ngày ấy, kẻ chăn trăng ngậm tràn cỏ mật

Cầm máu cho mình

Lùa trăng vào thung lũng đêm

Ngày ấy, em khoác màu khăn sô

Cầu kinh bóng tối

Ép xác niềm tin

Chôn trên đỉnh núi tịch tà

Chiếc áo em

Cuộn tròn

Màu của Linh San

Em ngủ trong bảy kiếp

Bắt đầu từ mái tóc mềm

Chảy xuống

Như dòng sông

Như sóng vỗ

Như nụ cười xinh đặt trên gai nhọn

Một bông hoa trắng muốt

Bình yên

Vỗ về 

 

Nguyễn Hoàng Anh Thư

A-Space-Between-Here-And

TỔ QUỐC

Tôi được sinh ra từ một nước Việt buồn
Nơi ấy tôi tự hào ghi vào tim mình hai tiếng thiêng liêng: Tổ Quốc
Tuổi thanh xuân bắt đầu vào những ngày chiến tranh chấm dứt
Chưa thấy hòa bình đâu mà chỉ là những cuộc chiến đấu không ngừng
Chiến đấu với những cơn sốt rét kinh hoàng
Mà giấc mơ là một con thuyền lênh đênh sóng nước
Chiến đấu với những cơn đói run người trên từng bước đường xuôi ngược
Mà giấc mơ là những ngọn nến chập chờn trên chiếc bánh sinh nhật ngày xưa
Chiến đấu với những kiểu con người độc ác ranh ma
Mà giấc mơ là chiếc áo chùng khói lam từ một ngôi nhà nguyện
Tiếng Thánh Ca vang trong từng chiều xao xuyến
Giọt nước mắt nào
Thôi
Chảy ngược về tim
Tuổi trẻ chúng tôi
Từ Ấy
Đi tìm…

 

Bên kia Thái Bình Dương ngọn gió Lào khô quắt
Quất điên cuồng vào từng cuộc mưu sinh
Kiêu hãnh đấu tranh để ngẩng mặt đứng lên
Dù rơi xuống bao nhiêu máu và nước mắt
Tổ Quốc thân yêu xót đau từng vết cắt
Nghẹn ngào
Bỏ cuộc
Thiên di…

 

Bên này Thái Bình Dương mưa
Đỉnh Big Bear ngập một màu trắng tuyết
Từng ngày qua…từng khôn cùng nuối tiếc
Thẩn thờ tôi gọi Chúa Ơi!
Bên cạnh tôi, một bé thơ cuống quýt reo cười:
Con cũng người Việt Nam, tên con là Hoài Phố.
Tôi cúi xuống, mái tóc đen bé nhỏ
Nép vào tôi như một cọng rong buồn
Những đôi mắt Việt Nam chung cội chung nguồn
Gặp nhau trên một đỉnh trời cao vút
Tôi biết bé thơ đã được dạy và hiểu về Tổ Quốc
Nhưng liệu rồi bé có còn tự hào về hai tiếng Việt Nam?
Tôi ngày xưa, nước mắt cứ rơi theo những trang sử oai hùng
Những ranh giới từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau nguyên vẹn
Tôi bây giờ, xa xăm như mây nguồn chớp biển
Ngậm ngùi thương quá quê hương
Tôi được sinh ra từ một nước Việt buồn…

 

TÔN NỮ THU DUNG

 

Le-Kinh-Tai-so-1

Tranh Lê Kinh Tài

ngáp vặt

 

đêm vang một bóng

giũ tờ mây sa

đóa thân tồn liệt

chín tới sương già

nằm nghe nhịp lỏi

cận đời xông pha

 

                             thơ phát tán rằng là không chủ động

                             bị đường kim sổ chỉ tháo ra ngoài

                             thơ úng thuỷ thiệt ra quần không đáy

                             tự trần truồng chưa đặng vẻ khoan thai

 

ý là kẹt giỏ

câu cú bỏ ngõ

chữ tọt vô buồng

hàm ơn thụ giới

 

                             chọt chọt.  ngứa.  trong họng

                             ngoài trời.  sương.  dâng dâng

một buổi chiều kiên định

đứng.  đi.  chẳng phải nằm

 

 

 

hoàng xuân sơn

ngày sáu tháng ba mười bảy

 

 

 

cười cười

 

 

rất mực đười ươi

háy hó háy hó

rất

cười nhố nhăng

rất ta

hột-hạt-nhì-nhằng

cái vui ập tới

cái bần thần                  đi

buồn làm chi

buồn mần chi

cười lên sáng chói*

sắt

chì

lu câm

 

 

hoàng xuân sơn

20 tháng ba 2017

“cười lên đi cho răng vzàng sáng chói” – nhạc chế dân gian

59

Tháng tư

 

Tháng tư nhớ chết màu hương cũ
nhớ chuyến tàu di tản chớm khuya
em mắt quầng thâm buồn ủ rũ
anh bám be tàu .Con sóng  kia

Tháng tư từ đó mưa không ướt
đất dưới chân đen đến lạnh lòng
nghe khúc hùng ca mà khát nước
triều dâng sa mạc vẫn khô ran

Tháng tư buồn đứt đuôi nòng nọc
tiếng ngụy găm đau mỗi ngọn đèn
lòng chợt già như người đứng tuổi
chờ người thắng cuộc gọi kêu tên

Tháng tư  đạp chiếc xe đầm cũ
ngơ ngác hồi lâu trước cổng trường
một lớp đỏ người trương áo mũ
một lớp âm trầm trước đại dương

Tháng tư mới đó mà xa biệt
những hận và vui đã lộn phèo
nỗi nhớ  chảy tràn  qua giới hạn
lòng xưa cũ ấy quá rong rêu

Tháng tư về lại không quay lại
quay lại làm sao được nỗi mình
em đã nghìn năm chìm sóng biếc
hồn người chết ức có siêu sinh ?

 

Nguyễn Hàn Chung
 2.30. AM 2/4/17

lichsu

Nhìn lạm

 

(chuyện không “phiếm” chút nào!)

 

 

“Đụn Sơn phân giái

 Bò Đái thất thanh

Thủy đáo Lam thành

Nam Đàn sinh thánh”

Tạm dịch:

“Khi núi Đụn chẻ đôi,

Khe Bò Đái mất tiếng,

sông Lam chảy vào núi Lam,

đất Nam Đàn sinh thánh nhân”

(Trạng Trình

Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

            Nhìn lạm có hai trường hợp. Thứ nhất là nhìn lầm (nhầm), không phải là của mình mà tưởng lầm là của mình, rồi nhìn hay giành nắm lấy. Trường hợp nầy không đáng trách vì ngưới nhìn lạm không có cái ý gian, không chủ đích.

            Trường hợp thứ hai là có chủ ý, biết không phải của mình nhưng vì tham lam mà nhận bừa, giành lấy được. Trường hợp nầy là đáng chê trách, đáng trừng phạt.

            Việt Cộng hay nhìn lạm theo kiểu nầy.

            Nói có sách, mách có chứng.

            Sách hay chứng?

            Xin đọc mấy câu sấm Trạng Trình (Trạng nguyên Trình Quốc Công Nguyễn Bỉnh Khiêm). Xưa nay, nhiều người cho rằng ông Trạng nói hay, nói trúng nên hay giành phần cho mình, còn Việt Cộng thì tranh lấy để tuyên truyền, mặc dù, Việt Cộng theo chủ nghĩa duy vật, không tin thần thánh. Đúng là “nói một đường, làm một nẻo”.

            “Đụn Sơn phân giái

            Bò Đái thất thanh

            Thủy đáo Lam thành

            Nam Đàn sinh thánh”

dịch nghĩa:

            Nếu Núi Đụn (Đụn Sơn) nứt làm đôi,

            Khe Bò Đái nước không chảy ồ ồ như tiếng bò đái nữa.

            Sông Lam xoi lở bờ sông đưa nước vào

            tận chân núi Lam thành

            Thì (huyện) Nam Đàn, tỉnh Nghệ An có thánh xuất hiện.

            Hồi Cụ Phan Bội Châu còn sinh thời – cụ mất năm 1941 ở Huế – là một nhà cách mạng – bị Tây bắt ở Thượng Hải (bên Tầu), rồi giải về giam lỏng ở Bến Ngự (Huế), nhiều người thường tới lui thăm cụ. Bấy giờ ông Đào Duy Anh đang ở Huế, cùng ông Trần Lê Hữu đến thăm cụ Phan.

            Câu chuyện sau đây được Đào Duy Anh kể lại trong cuốn “Ông già Bến Ngự” – cuốn sách viết về Phan Bội Châu.

            Cụ Trần Lê Hữu có hỏi:

            -“Thưa cụ Phan, “Bò Đái thất thanh, Nam Đàn sinh thánh” chẳng phải là cụ hay sao? Cụ còn thất bại nữa là người khác!”

            Phan Bội Châu đáp:

            -“Kể cái nghề cử tử xưa kia tôi cũng có tiếng thật. Dân ta thường có thói trọng người văn học và gán cho người ta tiếng nọ tiếng kia. Nhưng nếu Nam Đàn có thánh thực thì chính là ông Nguyễn Ái Quốc chứ chẳng phải ai khác.”

            Bấy giờ, khoảng trước năm 1937, – sau năm nầy cụ Trần Lê Hữu bị Tây đày đi Pleiku – cụ Trần Lê Hữu đang làm “thừa phái”, đến Huế, cùng đi thăm cụ Phan với cụ Đào Dy Anh. Nhiều người, nhất là trong giới những người chống Tây, biết Nguyễn Ái Quốc chính là Nguyễn Sinh Cuông (Cung hay còn gọi là Côông, tiếng địa phương), người làng Kim Liên, tục gọi là “làng Sen”, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, đang hoạt động cách mạng – chưa biết rõ Hồ Chí Minh là tay sai cho Cộng Sản Quốc Tế – bên Tầu. Cụ Trần Lê Hữu là người cùng quê, hồi còn trẻ thường chơi đùa với Nguyễn Sinh Cung, biết nhau khá rõ. Thế tại sao cụ Trần Lê Hữu không cho rằng “Nam Đàn sinh Thánh” là Hồ Chí Minh mà nói rằng “thánh đó chính là Phan Bội Châu”.

            Người ta thấy tính khiêm nhượng trong câu trả lời của Phan bội Châu. Cụ tự thấy mình là người “thất bại”: Bị Pháp bắt cóc, bị đưa ra tòa, bị “tù giam lỏng” ở Bến Ngự, nên không nhận mình là thánh nhân như trong câu sấm.

            Thật ra, nếu câu sấm của Trạnh Trình có đúng thật, nghĩa là Nam Đàn có sinh thánh thật, thì thánh đó không phải là Nguyễn Ái Quốc (tức Nguyễn Sinh Cung, Cuông, hay Côông).

            Tại sao?

            Theo ý câu sấm, thánh đó phải là người huyện Nam Đàn. Thật ra, Hồ Chí Minh (hay Nguyễn Sinh Cung, Cuông hay Côông) không phải là người huyện Nam Đàn. Ông Hồ Chính Minh người lành Lai Nhã, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

            Nếu Hồ Chí Minh là thánh thật thì câu sấm trên phải như sau:

            Đụn Sơn phân giái,

            Bò đái thất thanh,

            Thủy đáo Lam Thành,

            Thanh Chương (thay vì Nam Đàn) sinh thánh.

            Nếu là Thanh Chương thì trật lất, sai với câu sấm.

            Đụn Sơn, Khe Bò Đái thuộc huyện Nam Đàn, núi Lam Thành (núi Thành) thuộc huyện Hưng Nguyên, chẳng cái nào thuộc huyện Thanh Chương.

            Tại sao tôi nói Hồ Chí Minh người huyện Thanh Chương?

            Khi Hồ Chí Minh còn sống, cái “gốc gác” của Hồ Chí Minh được giấu kỹ lắm. Sau khi ông ta “đi thăm cụ Kác- Mác, cụ Lê Nin” như trong di chúc – rồi, thì cái dòng dõi, máu mũ của ông ta mới bị tiết lộ ra, đầu tiên là do “nhà sử học” Việt Cộng Trần Quốc Vượng tiết lộ.

            Nhà sử học (của Việt Cộng) nói thì ít khi sai vì “dòi trong xương dòi ra”, chối đằng nào!

            Trước hết là nói về ông Hồ Sĩ Tạo.

            Ông Hồ Sĩ Tạo người làng Lai Nhã, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, danh sĩ, văn hay chữ tốt, đậu giải nguyên trường Nghệ.

            Vốn dĩ là người tài hoa, ưa “văn nghệ, văn gừng”, hay chè chén, tổ chức hát hỏng vui chơi. Vì vậy mà ông gian díu với cô Hà Thị Hy, con gái ông Hà Văn Cẩn, cũng quê ở Nam Đàn, tục gọi là Cô Đèn vì cô có tài múa đèn đẹp lắm, hát cũng hay lắm. Cô Hy có bầu với ông Hồ Sĩ Tạo.

            Khi đó ông Tạo mới 21 tuổi, đã có vợ con, còn cô Hy thì gần ba mươi tuổi. Ông Tạo không cưới (thêm vợ bé) là cô Đèn, bèn đem gã cho ông già Nguyễn Sinh Nhậm, bảy mươi tuổi, góa vợ, gần đất xa trời.

            Ông Nhậm chắc cũng chẳng ưa chuyện vợ con gì đâu, già rồi, nhưng nếu bây giờ có một “cô nường” như cô Đèn đến chăm sóc nhà cửa, cơm nước thì ông cũng “khỏe” nên ông nhận lời.

            Vậy là cô Đèn vác cái bụng bầu – đứa con của ông Hồ Sĩ Tạo – về ở với ông Nhậm ở làng Kim Liên – tục gọi là làng Sen – huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

            Nhân vật thứ hai là cậu bé Nguyễn Sinh Sắc

            Không bao lâu sau, cô Đèn sinh ra một thằng bé, đặt tên là Nguyễn Sinh Sắc. Thằng bé sinh được ít lâu thì ông “cha hờ” chầu tổ tiên. Hai năm sau, thằng bé Sắc cũng mất mẹ.

            Mồ côi cả cha lẫn mẹ, thằng bé Sắc về ở với anh, Nguyễn Sinh Thuyết, con bà vợ trước của ông Nhậm. Trên nguyên tắc, ông Sắc là em cùng cha khác mẹ với ông Thuyết.

            Còn trong thực tế thì sao?

            Thực tế thì: Bố ông Sắc là ông Hồ sĩ Tạo.

                                Bố ông Thuyết là ông Nguyễn Sinh Nhậm.

                                Mẹ ông Sắc là bà Hà Thì Hy.

                                Mẹ ông Thuyết là một bà già nào đó,

                                nhưng không phải là bà Hà Thị Hy.

            Vậy ông Sắc và ông Thuyết hoàn toàn nước lã – không phải là “ao nước lã” như câu tục ngữ “Giọt máo đào hơn ao nước lã” mà là một biển nước lã đấy.

            Người ta không rõ thái độ ông Thuyết với đứa “em khác mẹ” như thế nào, nhưng với bà vợ ông Thuyết, không thể đem về nuôi một thằng lạc vất lạc vơ, chằng có máu mũ bà con gì cả. “Chim cu nuôi tu hú.” Bà muốn đuổi thằng bé Sắc ra khỏi nhà.

            Tuy nhiên, ông Hồ Sĩ Tạo cũng còn nghĩ tới “hòn máu rơi” của ông.

            Nhà ông Hồ Sĩ Tạo không nghèo, ông học giỏi, nhưng các con ông Tạo thì tệ lắm: Rượu chè, cờ bạc, vui chơi, học hành không ra chi, nói chung là “quậy”. Không hy vọng ở các “quý tử” của ông nên ông với tay tới ông Sắc nhiều hơn, mặc dù ông Sắc là con ông Nhậm.

            Ông Tạo tìm cách giúp đỡ ông Sắc. Vì vậy, ông Sắc được ông cụ Hoàng Xuân Đường, đồ Nho, làm nghề dạy học, người làng “Trừu” (còn gọi là làng Chùa), tên chữ là làng Hoàng Trừu, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, đem về nuôi, dạy chữ cho, về sau cho làm rể, lấy con gái cụ Đường là bà Hoàng Thị Loan. Bà nầy mất ở Huế khoảng sau 1905, khi ông Sắc làm quan ở Huế.

            Nhân vật thứ ba là cụ Võ Văn Giáp

            (Phần nầy, độc giả muốn đọc chi tiết hơn, xin đọc bài “Quan hệ Ngô gia, Hồ gia” trong cuốn “Theo Dòng”, Văn Mới xuất bản, tôi là tác giả, hoặc có thể đọc trên “vantuyen.net).

            Cụ Vũ Văn Giáp tuy không làm quan ở Huế, nhưng cả triều đình Huế, từ vua cho đến hoàng tộc, quan quyền, ai cũng biết và nễ trọng cụ, bởi vì cụ có một cái nghề đặc biệt. Khi vua Tự Đức gọi cụ về Huế, giao cho cụ mấy chục mẫu ruộng ở phía tây – bắc Huế, nơi người Huế thường gọi là “Trại Trâu” hay “Trại Bò”. Cụ Giáp là người quảng giao, hay giúp đỡ người nghèo khổ, nhất là giới sĩ tử. Cụ Võ Bá Hạp, con trai cụ Giáp thi đổ cử nhân năm 1900, nhưng cũng như cụ Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, không chịu ra làm quan, dù là quan Nam triều, cũng là “hợp tác với Tây” – Xin nói thêm, con trai cụ Võ Bá Hạp là cụ Võ Như Nguyện, “đại công thần” nhà Ngô – Ngô Đình Diệm. Tuy nhiên sau khi ông Diệm ngồi vững trên “ngai vàng” thì cụ Nguyện tự ý “từ quan”, về dạy học.

            Sau khi đậu cử nhân ở trường Nghệ, ông Nguyễn Sinh Sắc vô Huế thi tiến sĩ. Thời gian nầy, ông Sắc và các con “tạm trú dài hạn” tại “Trại Trâu”, qua sự giúp đỡ của cụ Võ Văn Giáp vì cụ Giáp biết nhà ông Sắc nghèo, và cụ Giáp cũng có cảm tình với ông Hồ Sĩ Tạo.

            Ông Nguyễn Sinh Sắc thi hỏng tiến sĩ. Cụ Sắc lại ra tay, xin với ông Ngô Đình Khả – thượng thư bộ Lễ – và ông Cao Xuân Dục, chánh chủ khảo, vớt cho ông Nguyễn Sinh Sắc.

            Nhờ đó, ông Sắc đậu phó bảng, nhưng đậu vớt. Vì vớt ông Nguyễn Sinh Sắc mà cụ Phan Châu Trinh cũng được vớt luôn vì cụ Trinh cũng hỏng nhưng lại cao điểm hơn ông Sắc. – Xin coi bài đã dẫn ở trên –

            Đậu rồi, năm 1900, ông Sắc cũng không làm quan. Ông về quê. Năm (5) năm sau 1905, ông Sắc, đổi tên là Huy – Nguyễn Sinh Huy – xin triều đình cho bổ làm quan. Ông Sắc được chức thừa biện bộ Lễ, được ít lâu được bổ tri huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định.

            Nhân vật thứ tư: Nguyễn Tất Thành

          Làm quan ở Huế, ông Nguyễn Sinh Sắc đem vợ con theo. Các con ông Sắc gồm có Nguyễn Sinh Đạt (còn tên là Khiêm, gọi trại là Khơm), Nguyễn Thị Thanh (hiệu Bạch Liên), Nguyễn Sinh Cung, còn gọi là Cuông – kỵ tên – Công hay Nguyễn Tất Thành.

            Chỉ có Nguyễn Tất Thành còn được đi học, ngang tới lớp Ba trường Cửa Nam, phía ngoài cửa Đông Ba.

            Sau nầy, sách báo Việt Cộng nói anh học trò Nguyễn Tất Thành học trường Quốc Học là nói dốc. Học trò Quốc Học lúc đó phải là “hậu bổ” – tức là đậu cử nhân (Hán học) xong rồi, chờ bổ đi làm quan – mới gọi là “hậu” bổ – hậu là sau. Con quan cũng phải học ở Quốc Tử Giám, sau mới học hậu bổ (đặc cách) rồi vô Quốc Học. Cụ Phan Bội Châu đậu giải nguyên ở trường Nghệ mới “vào Giám” (vào học Quốc Tử Giám – tiếng gọi thông thường hồi đó – ) giả bộ đi học nhưng để tìm “đồng chí”  (đồng chí chống Tây, không phải đồng chí Việt Cộng). Cụ Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng đều đổ cử nhân (năm 1900), nhưng không ông nào chịu học Quốc Học. Học Quốc Học là “theo Tây”. Ai đi học Quốc Học cũng sợ bị dân chúng “chưởi” là theo Tây nên học sinh Quốc Học hồi đó, phần nhiều là các ông “hậu bổ”, khi đi học phải dấu tập (vở) và bút chì vào trong áo dài. Độc giả muốn biết rõ hơn xin đọc bài “Cựu Học “Sanh” của tôi trong Viết Về Huế 1 – Văn Mới xuất bản.

            “Cậu” Nguyễn Tất Thành lúc đó học chữ Nho cũng chưa tới đâu, chưa “đậu” gì cả, cũng sợ dân chúng “chuởi” nên không học Quốc Học. Vả tiêu chuẩn học vấn kém lắm, làm sao vô học Quốc Học được?

            Ông Sắc đi tri huyện Bình Khê, rồi bị cách chức vì chịu trách nhiệm việc cho lính đánh chết dân trong khi ông ta đang say rượu. Việc thưa ra tới Huế, ông bị gọi về bộ Lễ điều tra. Bộ Lễ điều tra xong, trình lên vua Thành Thái. Vua phê: “Trãm giam hậu.” Thế là xong, chờ ra pháp trường mà thôi. “Sát nhân giả tử.”

            Cụ Vũ Văn Giáp một lần nữa lại ra tay “cứu độ” vì gia đình ông Sắc bây giờ “tang thương” lắm. Bà Hoàng Thị Loan mới qua đời. Cụ Giáp lại nhờ ông Ngô Đình Khả. Vua thành Thái đổi cái án “trãm giam hậu” thành “cách chức, đuổi” ra khỏi quan trường.

            Ông Nguyễn Sinh Huy mặt mũi nào mà về quê!?

            Thoát chết, ông vào Nam, có bà con gái Nguyễn Thị Thanh đi theo chăm sóc cho cha.

            Rồi ông Huy đi luôn, không trở về đón con đang tạm trú tại “trại trâu”. Anh con trai Nguyễn Tất Thành cũng buồn tình, cũng tìm đường vào Nam. Tới Phan Thiết, ở đây, cũng có mấy nhà cách mạng, ông ở lại, làm giáo viên tại trường Dục Thanh.

            Khổ nỗi, vì trình độ học vấn của ông mới lớp ba nên chỉ dạy a, b, c… cho mấy đứa trẻ mũi thò lò. Ông buồn tình bỏ vào Saigon, rồi ông “đi Tây”. Tới đây thì độc giả biết cả rồi, tôi khỏi kể lại.

            Sau khi ông Nguyễn Tất Thành theo Cộng Sản Nga, ông Huy ở Saigon cũng không yên. Ông bị mật thám Tây theo dõi. Bấy  giờ Saigon cũng là “đường giây liên lạc” giữa Cộng Sản Việt Nam và Cộng Sản Pháp bằng đường thủy.

            Thế rồi ông Huy lưu lạc về Miền Tây, sau khi bà Thanh, con gái ông bỏ về xứ. Ông chết ở Cao Lãnh, được tổng thống Ngô Đình Diệm ra lệnh quận trưởng Cao Lãnh xây mộ cho.

            Tại sao ông Diệm cho người xây mộ cho bố ông Hồ Chí Minh? Chuyện nầy sẽ kể sau.

            Nhân vật thứ năm: Vương Chí Nghĩa

            Về Cao Lãnh, ông Huy – để tránh sự theo dõi của mật thám Tây – đổi sang họ Vương, tiếp tục làm nghề coi tử vi, tướng số và thầy lang An Nam. Ông cưới một cô vợ khá trẻ, nhỏ tuổi hơn cả Nguyễn Tất Thành, bà nầy sinh một người con trai độc nhất, đặt tên là Vương Chí Nghĩa.

            Vương Chí Nghĩa sinh 7 người con. Một người tên là Vương Chí Việt, đi tu theo đạo Phật, pháp danh là Thích Chân Quang, thượng tọa, tu ở chùa Phật Quang, núi Dinh, Vũng Tầu.

            Sau 1975, ông sư Thích Chân Quang có về Nghệ An, tìm thăm lại họ Hồ gốc gác của ông. Ông về làng Lai Nhã, huyện Thanh Chương, Nghệ An là làng ông Hồ Sĩ Tạo, không về làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

            Cách hành xử như thế, cho thấy, ông Việt, ông Nghĩa, hay ngược lên nữa, ông Huy và chính cả ông Hồ Chí Minh, không phải người huyện Nam Đàn.

            Vậy thì làm sao “Nam Đàn sinh thánh” mà thánh lại là nguời huyện Thanh Chương?

            Họ Hồ ở Nghệ An

            Ông tổ họ Hồ ở Nghệ An là ông Hồ Hưng Dật, gốc bên Tầu, qua làm tiết độ sứ ở châu Hoan, trước thời “Thập Nhị Sứ Quân” ở nước ta.

            Rồi ông Hồ Hưng Dật lập nghiệp ở Nghệ An.

            Làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An có đền thờ ông, coi như ông tổ họ Hồ ở xứ nầy.

            Con cháu Hồ Hưng Dật nối đời sinh sống ở đây, có nhiều người nổi tiếng. Đầu tiên, phải kể là Hồ Quí Ly, người cướp ngôi nhà Trần, dựng nên nhà Hồ.

            Bấy giờ, Trương Phụ mượn tiếng “Phù Trần diệt Hồ” để sang xâm lăng nước ta. Nhiều người còn trung với nhà Trần – có công lớn ba lần đánh bại quân Mông Cổ xâm lăng nước ta vào thế kỷ 13 – nên khi cha con Hồ Quí Ly / Hồ Hán Thương / Hồ Nguyên Trừng kêu gọi dân chúng cùng đứng lên chống Tầu thì dân không theo, nói một cách mai mỉa thì “Giặc ngoài xâm lăng, toàn dân hớn hở”, tương tự như năm 1979, Tầu Cộng đem quân đánh Việt Cộng, cũng có  người cho rằng “đáng kiếp” bọn Cộng xâm lăng miền Nam vậy. Người ta quên cái gương lịch sử đời nhà Hồ hay sao?

            Cha con Hồ thua trận, chạy trốn vào Nghệ An thì bị quân Tàu bắt được, giải về Tầu. “Thành nhà Hồ” – di tích hiện còn – được xây ở Nghệ An cũng vào thời kỳ nầy.

            Khi làm vua, Hồ Quí Ly đặt tên nước là “Đại Ngu”  – Không phải là “ngu lắm”, mà “nước Ngu vĩ đại”, vì Hồ Quí Ly còn nhớ gốc gác họ Hồ là từ nước Ngu ở bên Tầu, thời Chiến Quốc.

            Cũng ở nhà thờ họ Hồ làng Quỳnh Đôi – bảng ghi là “Đại Hồ” – còn thờ bà Hồ Xuân Hương – tục gọi là “Bà chúa thơ Nôm”, và Hồ Thơm nữa.

            Hồ Thơm là ai?

            Hồ Thơm là tên tục của Nguyễn Huệ, tức vua Quang Trung, quê ở làng Phú Lạc, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định.

            Nếu tính từ khi Nguyễn Hoàng vào Nam 1558 đến khi “gia Long thống nhất sơn hà” 1802 thì cuộc phân tranh Nam – Bắc kéo dài gần 350 năm. Hai bên đánh nhau 7 trận lớn, có khi quân Trịnh vượt sông Gianh vào Nam, cũng có khi quân Nguyễn kéo ra đánh chiếm vùng Thanh – Nghê – Tĩnh.

            Chúa Nguyễn muốn mở mang đất phương nam nhưng thiếu dân, nên mỗi lần đánh ra Bắc, thường “lùa” dân vào Nam lập nghiệp. Vì vậy mà có người cho rằng, một số người họ Hồ ở Quỳnh Lưu hoặc Thanh Chương bị bắt đi, và lập nghiệp ở Bình Định. Trong số nầy có ông Hồ Phi Phúc, người sinh ra ba anh em nhà Tây Sơn. Đó chỉ là truyền thuyết, không có tài liệu nào nói chắc về việc di dân bất đắc dĩ nầy.

            Bởi vì đất trong Nam là “đất của Chúa Nguyễn” – xin xem “Công trạng 9 Chúa 13 vua”, cùng tác giả – nên khi anh em nhà Tây Sơn khởi loạn, để có chính nghĩa, anh em nhà nầy phải đổi từ họ Hồ sang họ Nguyễn. Sau nầy, khi đã đánh bại quân nhà Thanh rồi, vua Quang Trung dự tính lập kinh đô ở Nghệ An, gọi là “Phượng Hoàng trung đô”, cũng có người cho rằng vua Quang Trung muốn ghi nhớ lại vùng “đất cũ của mình” và cũng vì cho rằng vùng đất Nghệ là “địa linh nhân kiệt.”

            Tuy nhiên, việc họ Hồ ở làng Quỳnh Đôi lập miếu thờ ông Hồ Thơm cũng một phần nào xác tín lại nguồn gốc họ Hồ của anh em nhà Tây Sơn vậy.

Gốc gác ông Hồ Hữu Tường

            Ông Hồ Hữu Tường nổi tiếng trên nhiều lãnh vực. Trước hết là “ở tù”. Thời đại nào, ông cũng “vô tù”, và “chết trong tù”: Việt Cộng chỉ tha ông ra khỏi “trại học tập cải tạo” khi ông hấp hối. Ông phải đi “học tập”, trong khi với kiến thức của ông, nhiều nhà “lãnh đạo” Quốc Gia cũng như Cộng Sản chỉ đáng là học trò của ông. Một điểm đặc biệt nữa, ông là người “ôn hòa” nhất, trong số những nhà cách mạng, cũng như chính trị của nước ta. Ông có hai lần ra “nằm co ở nhà tù Côn Đảo”; lần thứ nhất, khoảng từ 1940 đến 1944, lần thứ hai, từ 1957 hay 58 cho đến khi Ngô triều sụp đổ.

            Mãi sau khi ông được ra tù Côn Đảo, khoảng 1964, 65, ông có ra Huế. Bấy giờ tôi mới thấy – chỉ thấy thôi – con người mà sách của ông, tôi đã đọc từ lâu, sau khi mới học hai năm đầu ở cấp trung học. Hồi ấy, tôi khoái chuyện “nói dốc có gốc” của ông trong “Phi Lạc sang Tầu”. Tôi có ý chờ một cuốn khác của ông nữa “Phi Lạc náo Hoa Kỳ” nhưng chưa được đọc.

            Hồi ấy, khi ông ra Huế, nhất là mấy lần đầu, sinh viên Huế, ùn ùn đi đón ông. Họ để ông ngồi trên xe xích-lô, một bọn xúm nhau đẩy xe chạy, thêm mấy chục người vừa chạy bộ vừa đạp xe chạy theo hoan hô. Cảnh tượng thật là vui. Họ gọi ông là “Nhà văn hóa”, trong cách xưng hô thường thì gọi là “thầy”.

            Nhà tôi ở hồi đó là ở trước ciné Morin, nơi ông thường đến “diễn thuyết” cho sinh viên. Nhờ vậy, tôi thấy ông rất nhiều lần. Ông có dị tướng: Răng hô (hăng rô?) và tay dài gần tới đầu gối, gọi là tướng “hầu nhân”, nôm na là “tướng vượn”, “tướng con đười ươi”, là tướng ông trạng Mạc Đỉnh Chi.

            Sách ông thì nhiều lắm, tôi chưa đọc hết, nhưng thích nhất có ba cuốn: “Phi Lạc sang Tầu”, “Thằng Thuộc con nhà nông” và “Trầm tư của người tôi tử hình” (còn gọi là Minh Đạo) và một truyện ngắn: “Con thằn lằn chọn nghiệp”.

            Chuyện “Phi Lạc sang Tầu là chuyện nói dốc”, và “Thằng thuộc con nhà nông” cũng có người cho là như thế.

            Ông quê ở Cái Răng, Cần Thơ nhưng ông cho rằng ông là hậu duệ vua Quang Trung ở Bình Định. Vì vậy, hồi bấy giờ có tờ tạp chí xuất bản ở Saigon, vẽ hình ông hồ Hữu Tường đứng trên con ngựa gỗ, loại cho con nít chơi, chú thêm một câu: “Ta là con cháu vua Quang Trung đây.”

            “Sự kiện” tự xưng “con cháu vua Quang Trung”, cũng không phải là nói dốc không có căn đâu. Độc giả chắc biết “Sự tích trái sầu riêng.” Chuyện gốc gác họ Hồ ở Cái Răng cũng có thể tương tự như thế.

            Bình Định, xưa gọi là Qui Nhơn, nơi anh em nhà Tây Sơn khởi nghĩa, là nơi đông dân chúng theo phò nhà Tây Sơn. Vua Gia Long coi họ như là “dân Tây Sơn”, nên khi “thống nhất sơn hà” xong rồi, vua quan nhà Nguyễn bèn hỏi tội những người từng chống Nguyễn Ánh. Để tránh tai họa, dân Bình Định bỏ xứ trốn vào Nam.

            Có một điều cảm động lắm. Khi “Gia Long tẩu quốc”, vì bị Nguyễn Huệ đuổi tới sát bên lưng, “bầu đoàn thê tử” Nguyễn Ánh còn không mang theo kịp, nói chi tới lính tráng của ông.

 

&

 

            Những “phi, tần” bị bỏ lại ở Thới Bình, Nha Mân phần nhiều là người đẹp. Hơn hai mươi năm sau, khi Gia Long về lại đất Gia Định dựng nghiệp thì các “phi”, các “tần” nầy cũng gần tới tuổi ngũ tuần cả rồi, có cần thì Nguyễn Ánh tuyển “người mới”, “vừa trăng tròn”, chớ không xài “đồ antique” nữa. Dù sao thì con cháu những người bị “đành quên sao” nầy, nhờ cái gène của ông bà nên người nào cũng đẹp. Những người lính VNCH hành quân, đóng đồn ở Thới Bình biết cả đấy. Người đọc cũng có thấy những “cô nường” đẹp ấy trong “Bên dòng sông Trẹm” của Dương Hà.

            Còn con gái Nha Mân?

                        Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc

                        Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân

                        Giả bộ giăng câu lên xuống mấy lần

                        Ở xa thì nhớ, đến gần lại run!

GaiNhaMan

Gái Nha Mân

 

            Dân Qui Nhơn sợ vua quan nhà Nguyễn, bỏ xứ vô đây, lại sống chung với người vô trước, cũng là những người bị Nguyễn Ánh bỏ lại hồi “Gia Long tẩu quốc”. Và họ… cảm thương nhau: cũng tình người xa xứ, kẻ trước người sau, không cần “nhà nước” hô hào, họ cũng “hòa hợp hòa giải” mặc dù trước kia họ từng ở trên hai “chiến tuyến” khác nhau.

            Xin nghe câu ca dao:

 

                        Rồng chầu ngoài Huế,

                        Ngựa tế Đồng Nai!

                        Nước sông xanh sao lại chảy hoài

                        Thương người xa xứ lạc loài tới đây!

 

Giải nghĩa:

            -Rồng chầu ngoài Huế:

              Nguyễn Ánh đã lên ngôi vua. (Vua: rồng)

            -Ngựa tế Đồng Nai:

             Đất Gia Định cũng đã yên trị. (Ngựa tế: quan đi)

            -Nước sông xanh sao lại chảy hoài:

              Việc trả thù chưa dứt, như nước sông vẫn còn chảy.

            -Thương người xa xứ lạc loài:

              Người Qui Nhơn còn bỏ xứ trốn vào Nam.

 

            Họ Hồ ở Cái Răng có phải là “người xa xứ lạc loài…”

 

&

 

            Trong cuốn “Hương Trầm Trà Tiên” (Kể chuyện đánh giặc ở quê hương Nguyễn Tấn Dũng. Văn mới xuất bản), tôi viết hai bài về “Dinh Điền Cái Sắn”. Có lý do đặc biệt: Nếu không có các ông linh mục “cơ sở” (ở trong các kinh) thì Dinh Điền Cái Sắn khó thành công.

            Nhận xét đó khiến tôi nhớ tới “Trầm tư của một người tội tử hình” (nhan đề nầy là khi còn đăng trên tờ Bách Khoa). Sau nầy, in thành sách, tác phẩm được đổi tên là “Minh Đạo”.

            Dinh Điền là sản phẩm của ông Diệm (hay ông Nhu cũng thế), còn Minh Đạo là suy tư của ông Hồ Hữu Tường khi ông nằm co “chờ thời” (ra tù) ở Côn Đảo.

            Chương trình Dinh Điền của ông Nhu không lạ lắm, bởi vì, có thể ông đã nghiên cứu về Kolkhoz, Sovkhoz của Liên Xô hay Kibbutz của Do Thái, trong khi đó ông Hồ Hữu Tường chỉ nhìn bốn bức tường xà-lim mà nghĩ ra những điều phải nói là đặc sắc hơn ông Ngô Đình Nhu.

            Ông Hồ Hữu Tường “nhận định” về ba cái, mà ông gọi là nền văn minh hiện đại, là tinh hoa của nhân loại, mà suy ra con đường đi của dân tộc.

            Ba nền văn minh đó là: “Văn minh cơ khí Âu Mỹ”, “Văn minh chính ủy” của Cộng Sản và Đạo Phật. “Cơ khí” hay “chính ủy” đều vô tâm, phải có từ bi của đạo Phật mới “kết dính” con người với nhau được. Điều nầy tôi đã thấy ở dinh điền Cái Săn, nhưng thay vì vai trò “tăng sĩ Phật Giáo” như trong Minh Đạo thì ở đây là các ông cha trong kinh. Độc giả có đọc “Gái Kinh” của tôi (trên Vantuyen.net) sẽ thấy tôi có nói tới cái vai trò của mấy ông cha trong kinh đấy.

            Tuy nhiên, nếu so sánh với “Trại Ruộng” của “Đức Phật Thầy Tây An” (ông Đoàn Minh Huyên) hồi thế kỷ 19 thì “Đức Phật Thầy” đã đi trước cả ông Ngô Đình Nhu cũng như ông Hồ Hữu Tường một trăm năm. Độc giả muốn biết rõ hơn, xin đọc sách đã dẫn ở trên.

            “Trại Ruộng” của Phật Thầy Tây An còn nặng về tính cách chiến lược quân sự nữa. Vì vậy, sau khi chiếm các tỉnh miền Tây Nam Bộ, giặc Tây đã đốt phá hầu hết các “Trại Ruộng” do Đức Thầy và nông dân Nam Bộ dựng nên, chỉ còn sót lại có một “Trại Ruộng Láng Linh” ở Châu Đốc cũ mà thôi. Nay còn đền thờ.

            Cha và con: Hồ Tài Huệ Tâm

            Khi mới đến định cư ở Hoa Kỳ, tôi có hỏi bác sĩ Đặng Ngọc Cương, muốn có cuốn “Văn Chương Bình Dân” của linh mục Thanh Lãng thì mua ở đâu. Tôi có gọi điện thoại hỏi mấy nhà sách ở Cali nhưng không có. Trong mười năm dạy học, chương trình dạy học của tôi là Việt Văn lớp Đệ Tam (lớp 10 bây giờ). Văn Chương Bình Dân là môn chính.

            Văn hóa người Việt Nam ở trong nền “văn chương truyền khẩu” là chính, hơn là ở trong “văn chương bác học”. Kinh nghiệm sống cũng cho tôi cái nhận xét đó. Những chuyện thần thoại, chuyện cổ tích, ca dao và tục ngữ, cũng như hát chèo, ca Huế, cải lương chất chứa văn học dân tộc Việt Nam nhiều nhất, đa dạng và phong phú nhất, hơn là ở trong những tác phẩm bác học như Cung Oán Ngâm Khúc, Chinh Phụ Ngâm, Bích Câu Kỳ Ngộ, v.v… hay ngay cả truyện Kiều của Nguyễn Du cũng vậy.

            Nay ở hải ngoại, muốn bảo tồn và truyền thụ văn hóa dân tộc cho trẻ em, chúng ta cần phục hồi và phổ biến văn chương truyền khẩu cho chúng.

            Cùng quan điểm như thế, bác sĩ Đặng Ngọc Cương nhờ bà Hồ Tài Huệ Tâm, giáo sư ở Harvard, mà theo anh, anh có quen biết, photocopy lại cho tôi toàn bộ cuốn sách nói trên của linh mục Thanh Lãng, để tôi có tài liệu.

            Tài liệu về Văn Chương Bình Dân ở miền Nam trước 1975 khá phong phú, nhưng có hệ thống nhất, đầy đủ nhất có lẽ là cuốn sách nói trên của linh mục Thanh Lãng. Tôi nhờ tìm lại là vì lý do đó.

            Khi nghe nói giáo sư Hồ Tài Huệ Tâm là con gái của ông Hồ Hữu Tường, tôi nhớ đến cuốn truyện “Chị Tập” mà ông Hồ là tác giả. Cuốn truyện không có gì “mê ly rùng rợn”, nhưng người ta thường nói đùa. Tuy nhiên, đó cũng là một cuốn truyện “nguy hiểm” vì nó nói đến mối tình của hai người làm cách mạng, khi Tây còn đô hộ nước ta. Cửa nhà tù bao giờ cũng mở sẵn chờ họ.

            Gần đây, tôi mới đọc vài bài viết của giáo sư Hồ Tài Huệ Tâm. Tôi hơi thất vọng, bởi vì bà rời Việt Nam sớm quá chăng, và bà sinh ra lớn lên ở Saigon, không ở vùng quê nên không rõ lắm, hay chỉ biết qua sách vở về người dân quê Việt Nam. Vì vậy, tôi phải nói tới:

            Sự xuất hiện của đạo Cao Đài và Phật Giáo Hòa Hảo ở miền Nam.

            Chính sách đô hộ của Tây kỳ thị tôn giáo lớn của người Việt Nam: đạo Phật.

            Như tôi có nói trong cuốn “Giặc về giữa đêm xuân” – hồi ký về tết Mậu Thân ở Huế -, Văn Mới xuất bản: Việt Cộng giết người Huế là chuyện rõ ràng, nhưng việc tàn sát đó, không chỉ dưới bình diện Cộng Sản giết người Quốc Gia, hay những ai có liên hệ đến chính quyền Quốc Gia. Việc tàn sát một cách bừa bãi và triệt để, nhất là với những người có đạo Thiên Chúa, trong tết Mậu Thân ở Huế, còn cho chúng ta thấy một nguyên nhân sâu xa khác nữa, nguồn gốc từ việc Tây xâm lược nước ta, có sự tiếp tay của các ông cha cố người Tây Dương mà có người gọi là “những tên thực dân mặc áo thầy tu.”

            Sau khi đánh chiếm Huế xong, Tây lùng bắt vua Hàm Nghi, nhà vua kêu gọi Cần Vương, gây nên “Phong Trào Cần Vương” và tiếp đó là “Phong Trào Văn Thân / Bình Tây Sát Tả”, đã tạo ra sự mâu thuẫn càng ngày càng sâu sắc giữa người có đạo và người lương, ảnh hưởng dây dưa đến việc Việt Cộng tàn sát người có đạo Thiên Chúa ở Huế tết Mậu Thân.

            Trong tình hình cai trị kéo dài hàng trăm năm đó, đạo Phật bị Tây kỳ thị đàn áp là điều không tránh được. Chỉ một Dụ số 10, không công nhận đạo Phật như một tôn giáo của người Việt cũng đã rõ ràng.

            Vì vậy, đạo Phật càng ngày càng suy đồi, nhiều người Việt Nam muốn chấn hưng tôn giáo của mình bằng nhiều cách: Hội Phật Học xuất hiện ở Miền Bắc và Miền Trung. Đó chỉ là hội “Học Phật”.

            Trong khi đó, việc chấn hưng đạo Phật ở miền Nam phát triển theo hai hướng khác nhau:

            -Một là trong giới bình dân, với sự xuất hiện của ông Đoàn Minh Huyên, được dân chúng ngưỡng mộ vì ông đã đẩy lùi được một trận dịch tả lớn ở vùng Cái Tầu Thương; sau được dân chúng tôn vinh là “Đức Phật Thầy Tây An”. Qua Phật Thầy Tây An, đạo Phật dấn thân vào đời bằng việc Phật Thầy lãnh đạo dân chúng phát hoang đất đai, thành lập các “Trại Ruộng” như tôi vừa nói ở trên. Đạo Phật của Đức Phật Thầy Tây An là nguồn gốc của Phật Giáo Hòa Hảo mà giáo chủ là ông Huỳnh Phú Sổ. Vì tình thần chống Pháp, và vì tình hình thực tế, Phật Giáo Hòa Hảo cũng có một đảng chính trị là Dân Chủ Xã hội Đảng, gọi tắt là Dân Xã Đảng, và có quân đội riêng khi Pháp bắt đầu tái xâm lăng nước ta sau khi Thế giới Chiến Tranh Thứ Hai vừa chấm dứt.

            -Thứ hai là con đường phục hưng đạo Phật trong giới trí thức miền Nam như ông Ngô Văn (Minh) Chiêu, Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang, Phạm Công Tắc. Họ đều là những người có học cả đấy. Từ căn bản đó, đạo Cao Đài phát triển trong giới từ trung lưu trở lên, có tính chất khoan hòa của người miền Nam. Vì vậy, trong việc thờ phụng, đạo Cao Đài có tính hòa đồng tôn giáo.

            Tính chất khoan hòa đó, dù khi hoạt động chống Pháp, hay từng có thời theo phe “Đệ Tứ quốc Tế”, tính chất chính trong tác phẩm và báo chí do hồ Hữu Tường chủ trương, thường có đặc tính “Hòa Đồng” như tên một tờ báo của ông.

 

&

 

            Dù còn thiếu nhiều tư liệu đáng tin cậy, một cách tổng quát, người ta có thể thấy một nét “xuyên suốt” từ Hồ Hưng Dật có đền thờ ở Nghệ An đến giáo sư Hồ Tài Huệ Tâm hiện đang ở Boston.

            Và còn gì nữa không?

            Lại nói về đất Nghệ An

            Đèo Tam Điệp nằm giữa Ninh Bình và Thanh Hóa ngày xưa được xem như một phòng tuyến thiên nhiên để chống lại quân Tầu khi chúng xâm lược nước ta.

            Từ đời Lý, Trần, Hồ, Lê mỗi khi quân Tàu sang đánh nước ta, lúc ban đầu, khí thế của chúng đang hăng, các vua phải lui về phía sau đèo Tam Điệp, củng cố lực lượng rồi sau đó phản công. Trong cách phòng ngự như thế, thường quân ta thắng lợi.

            Năm 1789, Tôn Sĩ Nghị chỉ huy hai mươi vạn quân Thanh tấn công nước ta theo đường Lạng Sơn, Cao Bằng. Ngô Thời Nhiệm, Ngô Văn Sở biết mình thế yếu, bèn rút về phía sau đèo Tam Điệp, mặt khác sai người hỏa tốc về Huế báo tin cho Nguyễn Huệ. Sau khi làm lễ lên ngôi, vua Quang Trung kéo quân ra Bắc, dưỡng quân ở Tam Điệp, cho quân sĩ ăn tết trước, rồi đánh thốc một trận, trưa ngày mồng 5 Tết, vua Quang Trung vào thành Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị hoảng hốt bỏ chạy, không kịp mang theo ấn tín.

            Hồi thế kỷ 13, khi xâm lăng nước ta, quân nhà Nguyên biết tính cách chiến lược của đất Thanh – Nghệ -Tĩnh, nên ngoài con đường Thoát Hoan tiến quân như thường lệ, vua nhà Nguyên còn cho Toa Đô đem thủy quân đánh vào Nghệ An, với ý đồ chận đường rút lui của vua nhà Trần.

 

&

 

            Đất Thanh Nghệ được coi là “địa linh nhân kiệt”. Truyền thuyết có câu:

 

                        “Hồng Lĩnh sơn cao

                        Song ngư hải khoát

                        Nhược thị minh thời

                        Nhân tài tú phát.

 

dịch nghĩa là (nôm na):

                        Núi Hồng Lĩnh cao,

                        Hai hòn đảo ở ngoài cửa sông Lam,

                        trông như hai con cá bơi ngoài biển rộng.

                        Gặp thời “thái bình thạnh trị”

                        nơi nầy sản sinh ra nhiều nhân tài.

            Cũng có người gọi Thanh Nghệ là đất vua quan vì có nhiều triều đại vua quan xuất phát từ nơi nầy. Lính gốc Thanh Nghệ, các đời Chúa Trịnh gọi là “ưu binh”. Đời “bà Chúa Chè”, họ bị người ta phê phán là “kiêu binh”. (Tác giả hẹn có dịp sẽ bàn đến sau…).

            Họ Hồ gốc gác chính là làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Huyện Quỳnh Lưu ở phía biển. Có một chi nhánh họ Hồ, cũng từ làng nầy, không rõ có phải “lạnh giò” vì người Tầu xâm lược hay không, bèn chạy tuốt vào cư trú ở huyện Thanh Chương, cũng tỉnh Nghệ An, sát biên giới Lào, nơi có nhiều “Nụ cười sơn cước”, xứ của người Mường. Tổ tiên của Hồ Chí Minh là ở xứ nầy, huyện Thanh Chương, không phải huyện Nam Đàn.

            Và Formosa?

            Formosa thuộc Hà Tĩnh, trong lưu vực sông Lam, đồng bằng Thanh – Nghệ -Tĩnh.

            Giao Formosa cho Tầu, sau nầy, khi bị Tầu tấn công, đám ở phủ Chủ Tịch Hà Nội không tính đường rút lui như các vua ngày trước hay sao? Nếu chạy vào vùng nầy, đám chóp bu Hà Nội chui vào cái rọ heo Formosa hay sao, hay họ sẽ theo gương thằng Cuội, đeo gốc cây đa mà lên ở trên cung trăng với chị Hằng.

            Liệu chị Hằng có tức mình mà đạp cho chúng một đạp?!

 

Hoàng Long Hải

 

 

Phụ lục:

(Trích “Việt Nam Sử Lược” của Trần Trong Kim – bản điện tử, không có số trang)

  1. TOA ĐÔ ĐÁNH NGHỆ-AN. Toa Đô là tướng đạo thứ hai quân Nguyên, đi đường bể sang đánh Chiêm-thành, nhưng mà quân nước Chiêm giữ được các đường hiểm-yếu, đánh mãi không được. Nguyên chúa hạ chiếu sai Toa Đô theo đường bộ kéo ra mặt Nghệ-an, hợp với quân Thoát Hoan để đánh An-nam.

Thoát Hoan được tin ấy, liền sai tướng Ô mã Nhi dẫn quân đi đường bể vào tiếp-ứng cho Toa Đô để đánh tự mặt trong đánh ra, còn ở mặt ngoài thì chiến thuyền của nhà Nguyên chia ra giữ các bến đóng ở sông Hồng-hà từ Thăng-long xuống đến khúc sông Đại-hoàng (thuộc huyện Nam-xang, Hà-nam).

  1. HƯNG-ĐẠO-VƯƠNG ĐEM VUA VỀ THANH-HÓA. Bấy giờ Hưng-đạo-vương dẫn các tướng hộ-vệ xa-giá xuống Thiên-trường, nghe Toa Đô tự vùng trong kéo ra, Hưng-đạo-vương tâu vua xin sai Thượng-tướng Trần quang Khải đưa binh vào đóng mặt Nghệ-an, giữ chặn đường hẻm, không cho Toa Đô ra, và sai Trần bình Trọng ở lại giữ Thiên-trường cự nhau với quân Thoát Hoan, rồi rước xa-giá ra Hải-dương.

Trần quang Khải vào đến Nghệ-an, chia quân phòng giữ, nhưng mà quân nhà Nguyên thế mạnh, đi đến đâu đánh tan đến đấy, lại có Ô mã Nhi ở mặt bể đánh vào. Quang Khải đương không nổi, phải lui quân ra mặt ngoài. Còn quan trấn-thủ Nghệ-an là Trần Kiện đem cả nhà ra hàng với Toa Đô. Toa Đô cho đưa bọn Trần Kiện về Yên-kinh.

Hưng-đạo-vương nghe tin, sai tướng đem quân đi lẻn đường tắt đuổi theo. Khi quân Nguyên đưa Trần Kiện đến địa-phận Lạng-sơn, qua trại Ma-lục (?), thì có người thổ-hào ở đấy tên là Nguyễn thế Lộc và Nguyễn Lĩnh đem dân binh ra đánh. Lại có quan quân đuổi đến nơi, quân Nguyên bỏ chạy. Trần Kiện bị tên bắn chết, nhưng có người nhà là Lê Tắc cướp được thây chạy thoát, đưa đến gò Ôn-khâu (Lạng-sơn) mai-táng xong rồi trốn sang Tàu. Lê Tắc là dòng-dõi Nguyễn Phu làm Thứ-sử Giao-châu về đời Đông-Tấn (317-419) ngày trước. Tự lúc trốn sang Tàu rồi, Lê Tắc có làm bộ sử “An-nam chí-lược”. Bộ sử ấy hiện bây giờ còn có ở bên Tàu và bên Nhật-bản.

 

 

54

KÍ ỨC BÌNH DƯƠNG..

 

học hành giỏi giang

tự khắc thực phẩm bày bàn ăn

 

tôi đẽo ra một chữ (tròn) từ ý

vừa tượng

thành/ gay go lắm

khói trắng bốc tràn lan (!)

 

bế chữ lên cũng phải cẩn thận

trời đang bão

không gian một màu xám ngoét

năm ấy

bình dương chịu trận đánh lớn

nhớ- đơn vị ông chốt lại bến cát

 

đêm tiền đồn

tránh bị càn/ ông cho tiểu đội rút trong các rẫy mì

ngủ

hừng sáng đại liên 12ly 8 của liên xô chế

bắn trúng anh nào thây tung cao

tợ quả banh

 

sao thế nhỉ?

chữ vừa bế lên liền phóng

trở vô ý 

 

tôi không thể hình dung mặt chữ nào từ ý

mặt chữ nào từ trận đánh lớn ở bình dương

khi ấy (lệnh phải phá sập cầu bến cát

dẫn tới thị xã!)

 

lịch sử hai miền nam

bắc/ những ngày đẽo chữ như này

dưới nách tiết tuyền mùi loài sơn dương

kể thì dễ chịu

 

buồn là không gian vẫn một màu

xám ngoát/ bầu trời nam

tanh tưởi

 

đã từng đi tìm sự sống trong cái chết

nhưng muốn đi xuyên các chữ

chưa đẽo

từ ý/ hôm nay

tôi nghe chúng nói “phải chịu trầy vi

tróc vảy

thơ mới có nghĩa- anh

 

con trai!”

..

vương ngọc minh.

9

CHO THÁNG TƯ 

(Cho CPTN)
Hãy kết thúc trang nhật ký
Tháng ba 
Đừng chép thêm dòng nào 
Của tháng tư phiền não
Hãy lặng im và yêu nhau thôi
Đây bờ vai ấm nóng và làn môi
Như bếp lửa suốt mùa đông chúng mình khao khát
Trút lên viền ngực nhau mùi mận chín
Trú lên triền mắt nhau màu hoa dừa cạn
Em sẽ là nữ hoàng anh nguyện làm gã lính thật ngoan

Ôi em yêu
Hãy hướng ánh mắt em ra phía đại dương
Nơi những cánh sóng đang xôn xao gọi bạn
Nơi những hàng phi lao hiền hòa 
Uốn mình dưới phím chiều êm ái
Đừng nhìn nữa em
Những căn nhà u trầm nét mặt
Những thằng bé chân trần lội nắng tìm giấc mơ xanh

Hãy nắm tay anh
Khẽ khàng nhưng thật chặt
Chúng ta đi qua những ngả đường đầy rẫy khổ đau
Nhưng mà em 
Anh xin đấy 
Đừng để rơi
Dù nửa giọt nước mắt
Thế giới đã quá nhiều chát mặn
Em ơi
Hãy nếm một chút 
Một chút thôi sự ngọt ngào
Dẫu chỉ là trong trí tưởng
Chiều nay
Đây một nhành bình yên khan hiếm
Đừng buông
Xin em đấy 
Chiều nay
Hãy khép lại nỗi buồn
Trang nhật ký
Cùng anh đi vào thảo nguyên tháng tư

Dẫu ngoài kia biển đói những con tàu.

 

Trương Đình Phượng

SÁCH MỚI

GIỚI THIỆU SÁCH:

MayNotPhuHoa

Văn Nghệ Boston vừa nhận được thi phẩm Mấy Nốt Phù Hoa của tác giả Hoa Văn. Sách do nhà Cội Nguồn ấn hành khổ sách 5.5 x 8.5 inch . Sách trình bày 210 trang bao gồm những bài thơ mới và những bài thơ xướng họa của các nhà thơ thân hữu.

Văn Nghệ Boston xin được trân trọng giới thiệu đến quý độc giả.

 

Văn Nghệ Boston

 Sợ hãi, hy vọng và trục xuất

 

Nguyên bản: Fear, Hope and Deportations

Tác giả: Mary Jordan, Kevin Sullivan và Scott Clement.
Hình ảnh: Linda Davidson 
(Washingtonpost ngày 18/3/2017)

Dịch: Trần Doãn Nho

 

(Lời người dịch: Trên các trang mạng cũng như qua các email, những người ủng hộ Trump và chống Trump vẫn còn tiếp tục tranh cãi nhau, có khi rất dữ dội, thậm chí đi đến chỗ mắng mỏ nhau đủ điều. Bài báo này cũng là chuyện chống Trump và ủng hộ Trump, xuất hiện trên một tờ báo được xem là có khuynh hướng chống-Trump, Washingtonpost. Nhưng khác một điều, nó kể lại một câu chuyện với những chi tiết rất đời thường, rất cụ thể, rất đơn giản. Nó cho thấy nước Mỹ vần tồn tại những vấn nạn, mà dù Trump hay Hillary hay một ai khác – và dù tại vị một hay hai hay ba… nhiệm kỳ tổng thống – cũng không thể giải quyết được ngay và giải quyết một lần là xong xuôi. Phóng sự này nêu lên một trong những vấn nạn đó: chuyện di dân. Xin mời.)

 

1

(Bà Estes đang xem hình ảnh cũ)

                                               

Vào lúc 4 giờ 30 sáng trong một ngày thứ hai lộng gió, Tamara Estes uống một viên B12 để có thêm năng lực và uống thêm dầu cá để trị chứng viêm khớp ngón tay.  Dù uống thuốc ngủ hàng đêm, bà luôn luôn thức dậy sớm trước khi mặt trời mọc, sẵn sàng đi làm, một việc làm nhắc nhở về những điều khiến cho bà tức giận về nước Mỹ.

Bà là tài xế lái xe chở học sinh trên tuyến đường đi ngang qua khu Bắc Texas, nơi gồm toàn là người Mễ Tây Cơ cư trú bất hợp pháp. Bà đón khoảng chừng 100 [học sinh là] con cái họ và chở chúng đến các trường công lập được tài trợ bởi những người Mỹ đóng thuế. Trong đó có bà.

2

(Gia đình Nevarez, từ trái: con gái, Nevarez (cha), Rainier (con trai), Reyes (mẹ)

 

Sống cạnh nhà bà là một gia đình di dân, và khoảng thời gian trước lúc rạng đông, họ cũng thức dậy khuya động ồn ào. Khi người cha rời nhà đi làm ở một công trình xây cất nào đó, thì bà mẹ chiên trứng và đổ vào món bánh bắp nóng. Họ đã làm việc ở Mỹ cả hai thập niên chẳng có giấy tờ hợp pháp, nhưng bốn đứa con của họ được sinh ra ở đây và do đó, là những công dân Mỹ – hay, như Estes và tổng thống Trump thường gọi, đó là những “đứa bé mỏ neo” (anchor babies). Đứa lớn nhất, Rainier Corral, 15 tuổi, ra khỏi giường mang theo cặp sách và hộp kèn trumpet. Cậu ta là một đứa bé rắn chắc nặng 188 pound, chơi cho đội bóng bầu dục trường trung học, một học sinh xuất sắc muốn theo học ngành cơ khí tại trường Texas A&M. Gia đình của cậu luôn luôn tin ở vùng đất hứa Mỹ, nơi họ đã dành dụm đủ tiền để mua một căn nhà riêng và là nơi con cái đi học những trường tốt. Nhưng bây giờ khi [tổng thống] Trump dọa sẽ trục xuất hàng triệu người – và ngay cả thay đổi luật vốn đã cho con cái họ quốc tịch Mỹ -, họ rất sợ hãi.

Trong lúc đó, bà Estes lại tràn đầy niềm hy vọng. Đã nhiều năm rồi, bà cảm thấy bà đang sống trong một Giấc Mơ Mỹ nghịch đảo, cuộc sống bà cứ tụt hậu, mà bà tin rằng một phần là do những di dân bất hợp pháp đã lấy đi những việc làm tốt và khiến bà đóng thuế nhiều hơn. Giờ đây khi Trump hứa hẹn “lấy lại xứ sở của chúng ta”, bà nghĩ là cuộc sống bà sẽ khá hơn.

Đó chính là lý do chia rẽ họ ngay lúc khởi đầu của kỷ nguyên Trump: để cho một tổng thống giữ đúng lời hứa với hàng triệu cử tri da trắng thuộc giai cấp thợ thuyền bầu cho mình như Estes, Trump đe dọa trục xuất hàng triệu di dân thợ thuyền giống như gia đình ở nhà kế cận.

 

Những đứa bé mỏ neo

                    

Trên quãng đường 20 dặm đến trạm xe nhà trường, khi lái xe, bà thường lắng nghe chương trình phát thanh có xu hướng bảo thủ, nơi bà thu lượm hầu hết tin tức trong ngày.  Bà vặn làn sóng 660 AM để lắng nghe Mark Davis, một xuớng ngôn viên nổi danh ở Texas, ca ngợi Trump, bài bác những kẻ có xu hướng tự do và khiến cho bà hoài nhớ lại những tháng ngày đẹp đẽ hơn trước đó. Bà nói: “Tôi mong chúng tôi có thể trở lại thời kỳ khi chúng tôi có thể sống mà không phải bon chen lo lắng gì.” Bà Estes bây giờ 59 tuổi, ly dị, và kiếm được 24 ngàn mỗi năm. Với bốn ngày nữa mới có lương mới, bà chỉ còn đúng 118,72 đô la trong trương mục ngân hàng. Số lương mà bà kiếm được hơi quá nhiều để đủ điều kiện hưởng hầu hết trợ cấp chính phủ, nhưng lại quá ít để mua bảo hiểm sức khỏe với giá quá cao hàng tháng và những khoản khấu trừ ngoài khả năng. Khi bà bị gãy cánh tay năm rồi, bà bó lại bằng một thanh nẹp 15 đồng mua ở tiệm thuốc tây và  uống thuốc giảm đau cả tháng.

Theo cách nhìn của bà, đời sống có vẻ dễ dàng đối với những di dân Mễ bất hợp pháp hơn những người Mỹ da trắng giai cấp công nhân phải đóng thuế. Khi đời sống của bà trở nên khó khăn hơn, bà tin rằng của cải của những “kẻ bất hợp pháp” lại tăng lên và bà phải trả giá cho điều đó. [Điều đó] ít làm bà cay đắng hơn là “những dứa bé mỏ neo”, chúng đuợc hưởng những phúc lợi của chính phủ, kể cả Medicaid, được đi học trường công và được trợ giúp thực phẩm.  Bà Estes phẫn nộ vì phải trả giá cho tấm lưới an toàn của họ trong khi bà cảm thấy bà chẳng có gì. Bà nói, “Tôi không thể kéo hoàn cảnh tôi lùi lại thời gian 20 năm trước. Một phần là do lỗi của tôi. Một phần [khác] thì không do tôi.”

Chính phủ Hoa Kỳ đã cấp “quốc tịch do sinh đẻ” (birthright citizenship) cho những đứa bé sinh ra trên đất Mỹ, bất chấp tình trạng pháp lý của cha mẹ chúng, ngay từ sau cuộc Nội Chiến [1861-1865]. Quốc hội và các tiểu bang đã thừa nhận Tu Chính Án thứ 14 ghi vào Hiến Pháp vào năm 1868, chủ yếu là bảo đảm quyền công dân cho những người nô lệ vừa được giải phóng.

Trên ba thập niên vừa qua, ngoại trừ Canada, các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới đã bãi bỏ hay hạn chế cấp quyền công dân do sinh đẻ giữa lúc làn sóng di dân và tỵ nạn tăng cao. Nhưng ở Hoa Kỳ, mọi thứ vẫn duy trì như cũ. Năm 2014, 7% những trẻ con ra đời ở Mỹ – khoảng 275 ngàn  – là con cái của những người cư trú bất hợp pháp, theo Pew Research Center, một cơ quan thăm dò dư luận phi đảng phái. Ở Texas, những di dân không giấy tờ chiếm đến 1/4 tất cả các ca sinh nở được Medicaid tài trợ vào năm 2015 – hơn 54 ngàn trẻ sơ sinh – theo số liệu từ Sở Dịch Vụ Y Tế Texas (Texas Health and Human Services Commission). Cái giá phải trả của những người thọ thuế là 116 triệu đô la. Những người bảo vệ quyền công dân do sinh đẻ cho rằng hội nhập những di dân dự phần vào cái đã khiến cho Hoa Kỳ trở thành một quốc gia ngoại hạng, và do đó, phủ nhận quyền công dân của những trẻ con này sẽ tạo ra một số lượng lớn trẻ sơ sinh sống ngoài vòng pháp luật. [Trong lúc đó], những người chỉ trích thì cho rằng điều đó sẽ khuyến khích thêm số di dân bất hợp pháp và làm tiêu hao tài nguyên quốc gia.

 

3

(Bà Tamara Estes đang cho gà ăn)

 

Bà Estes thích thú nghe Trump tấn công tình trạng quốc tịch do sinh đẻ trong cuộc vận động tranh cử khi ông phát biểu, “Một phụ nữ có thai. Đợi được chín tháng, bà ta bước qua biên giới, bà ta sinh con ở Mỹ, và chúng ta phải chăm sóc đứa bé này trong vòng 85 năm. Tôi không chấp nhận điều đó.”  Các thăm dò dư luận cho thấy đại đa số người Mỹ chống đối việc trục xuất hàng loạt, nhưng những người ủng hộ nòng cốt của Trump tỏ ra rất kiên định về điều đó: theo thăm dò gần đây của CNN/Kaiser, 55 phần trăm những người da trắng không có bằng đại học muốn tất cả mọi người sống trong xứ sở này một cách bất hợp pháp phải bị trục xuất.

Nhìn vào đâu, bà Estes cũng đều được nhắc nhở rằng xứ sở của bà đang thay đổi. Số ghi danh học ở Texas của những người da trắng giảm xuống dưới 30%. Học sinh Tây Ban Nha chiếm đa số. [Cơ quan thăm dò] Pew [Research Center] ước tính hơn 13% các học sinh Texas là con cái của những di dân bất hợp pháp. Bà Estes muốn có một công việc có lương cao hơn nhưng rất khó kiếm lúc này đối với những ai chỉ biết nói tiếng Anh. Câu hỏi đầu tiên cho bất cứ cuộc phỏng vấn tìm việc nào là “anh/chị có biết nói tiếng Tây Ban Nha không?” (Habla español?) Bởi thế khi Trump bắt đầu nói chuyện về việc trục xuất những di dân bất hợp pháp, những người vốn “trực tiếp ganh đua với những công nhân Mỹ ở thế yếu” [theo cách nói của Trump], bà Estes đi tham dự những cuộc vận động của ông và mang về tấm bảng hiệu quảng cáo cho Trump cắm ngày trước bồn cỏ nhà bà. Bà bắt đầu được biết với tên “Trump Lady” (Bà Ủng Hộ Trump) trên xe buýt trường do bà lái, chiếc xe, vào buổi sáng thứ hai này, khi đến gần nơi trạm dừng đầu tiên,[bà nhìn thấy] một bé gái nhỏ nhắn thu mình trong chiếc áo choàng xám với chiếc cặp sách sau lưng, nói bằng tiếng Anh với bà mẹ chỉ biết nói tiếng Tây Ban Nha: “Con yêu mẹ!”

Trong vòng hai tiếng đồng hồ, bà Estes đón khoảng vài chục học sinh. Trên những ghế ngồi ngay sau lưng bà, bọn chúng trò chuyện với nhau bằng tiếng Tây Ban Nha, thứ ngôn ngữ mà bà không hiểu. Bà cảm thấy lòng sôi sục giận về những đồng tiến thuế mà bà phải đóng để trả cho việc học hành của chúng. Nhưng tính bà vốn yêu thích trẻ con, và bà không muốn bị mất việc làm. Cho nên, [dằn lòng ] bà mỉm cười và nói một câu vốn được lập đi lập lại nhiều lần:

“Nhớ cẩn thận khi bước xuống xe. Chúc tất cả các em một ngày tốt đẹp.”

 

Giá cả và đóng góp

           

Khi bà Estes bắt dầu đi làm, Rainier đang ở trong bếp nhà bên cạnh, kiểm tra điện thoại xem có tin tức gì mới không. Mẹ cậu, chị Azucena Reyes, 34 tuổi, hỏi cậu bằng tiếng Tây Ban Nha trong khi đang làm món trứng trên bếp: “Có uống cà phê không con?”  “Không, mẹ,” cậu trả lời bằng tiếng Anh, trong lúc đẩy cốc cà phê đi để xem tin tức của trang mạng “Young Turks” trên YouTube, nhìn thấy tựa đề nổi bật: “Đội Trục Xuất của Trump đã ra quân.”  Rainier ra đời 4 tháng sau khi [mẹ cậu,] chị Reyes, lúc đó 18 tuổi, nhập cảnh Hoa Kỳ bằng một hộ chiếu du lịch, hy vọng mang lại cho đứa con chị một đời sống tốt đẹp hơn đời sống mà cậu sẽ phải có trong một thành phố nhỏ nghèo nàn ở Durango, Mexico. Cậu luôn luôn cảm thấy mình là một người Mỹ hoàn toàn, chẳng khác gì với những bạn da trắng cùng lớp. Nhưng bây giờ, trong cái quận hạt đã bầu cho Trump đến 83%, bỗng nhiên, cậu nghe người ta nói như tát vào mặt: “Cút về xứ mày đi” hay “Đi cắt cỏ đi.”      

Tiếng đồn trục xuất lan khắp. Một người bạn nói với Reyes rằng những viên chức trục xuất đã bắt người tại chợ Walmart. Những người khác thì nói việc đó xảy ra ở một tiệm khác. Hay tại các rào chắn ngoài đường. Toàn gia đình bây giờ ở nhà thường xuyên hơn nhưng hôm qua vẫn đi nhà thờ, nhập cùng với cả 1400 người khác tại một thánh lễ công giáo sử dụng tiếng Tây Ban Nha. Vị linh mục của họ nói có nhiều người hơn đã bỏ đi lễ, sợ rằng các viên chức đặc vụ liên bang có thể đang giám sát nhà thờ. Chị Reyes cũng lo lắng nhưng chị nói chị và gia đình chị đồng ý cho phỏng vấn về câu chuyện vì họ muốn người ta hiểu rõ hơn những người di dân vốn đang bị đe dọa trục xuất. Chị nói, giữa quá nhiều “sự bất trắc và sợ hãi, tôi hy vọng chúng tôi có thể làm một số điều tốt.”

            Đối với Rainier, những gì đang xảy ra thật không công bằng. Người Mỹ thuê những người bất hợp pháp xây nhà cho họ, gặt hái mùa màng cho họ, cắt cỏ vườn tược cho họ, rửa chén đĩa cho họ. Họ cảm thấy hạnh phúc khi làm những việc nhọc nhằn, lương thấp chẳng ai muốn. Bù lại, họ thích được sống không sợ hãi vì phải bị trục xuất. Rainier tin rằng những gia đình giống như gia đình cậu đang là nguyên nhân cho những vấn đề mà họ không tạo ra. Cậu nói, “Hầu hết trong số họ là những người bình thường đang cố tìm cách có một đời sống tốt đẹp hơn. Trục xuất những người có hồ sơ tội phạm thì không sao. Còn trục xuất những gia đình không làm điều gì sai trái thì là chuyện khác.”

           

4

(Rainier đang chơi đàn)

 

Tổng thống Trump lý luận rằng những di dân bất hợp pháp cướp công ăn việc làm của những người công nhân Mỹ, hạ thấp tiền lương của họ và là gánh nặng cho chính phủ. Các nghiên cứu xác nhận điều này có phần đúng, ít nhất là trong ngắn hạn. Năm rồi, một cuộc nghiên cứu kỹ lưỡng do “Học Viện Khoa Học Quốc Gia” (National Academies of Sciences) thực hiện tìm thấy rằng những công nhân không giấy tờ có thể hạ thấp luơng bổng chút ít đối với loại công việc ít đòi hỏi kỹ năng. Nhưng cuộc nghiên cứu đó cũng cho thấy “từ ít đến chẳng có hiệu quả tiêu cực nào trên lương bổng nói chung và trên công việc của những người công nhân Mỹ trong dài hạn.” Cùng một nghiên cứu cho thấy rằng những di dân mới đến là gánh nặng cho những người trả thuế, nhất là chi phí giáo dục con cái họ. Nhưng những đứa trẻ này, và con cái của họ về sau, không những đã bù vào khoảng chi phí đó, mà còn đóng thuế cho tiểu bang và cho các chính quyền địa phương nhiều hơn là các dịch vụ mà họ thụ hưởng. Hầu hết những nhà kinh tế không quy cho những di dân bất hợp pháp về sự suy đồi của giai cấp công nhân Mỹ. Họ lý luận rằng những di dân đó làm gia tăng tài sản quốc gia bằng cách trám vào những việc làm lương thấp không ai muốn, góp phần hạ thấp giá cả của nhiều hàng hóa và dịch vụ.

            Cha mẹ của Rainier đã nhiều năm làm công việc lau chùi nhà cửa, làm công nhân trong một nhà máy keo dán, lắp đặt phòng tắm, lót gỗ chân tường. Bốn năm trước, họ thu góp tiền tiết kiệm mua một căn nhà nhỏ bị nhà băng kéo, trả 40 ngàn đô la tiền mặt. Bây giờ họ trả thuế tài sản 1,400 đô la hàng năm. Họ khai thuế lợi tức liên bang khoảng chừng 30 ngàn nguyên năm, bao gồm cả phần tiền giữ lại cho An Sinh Xã Hội và Medicare – những phúc lợi mà có lẽ họ không bao giờ nhận được. Tính trên toàn quốc, nhưng di dân bất hợp pháp trả khoảng chừng 11,7 tỷ đô la hàng năm thuế lợi tức tiểu bang và địa phương, thuế mua bán và thuế tài sản, kể cả 1,5 tỷ ở Texas, theo số liệu của “Viện Nghiên Cứu Thuế Khóa và Kinh Tế” (Institute on Taxation and Economic Policy). Và hơn 4 triệu người không có số An Sinh Xã Hội – hầu hết đều là di dân bất hợp pháp – nạp thuế lợi tức liên bang bằng cách sử dụng số “Căn Cước Thuế Cá Nhân” (Individual Taxpayer Identification) do “Sở Thuế Liên Bang” (IRS) cấp phát.

            Gia đình Rainier đã cố gắng hợp pháp hóa tình trạng di dân của họ trong vòng hai thập niên qua. Từ năm 1997, cha cậu, Nicolas Nevarez, 38 tuổi,  đã nạp đơn xin cấp một thẻ thường trú nhân xuyên qua thân phụ mình, một công nhân bất hợp pháp được cấp quốc tịch theo chương trình ân xá 1986 của tổng thống Reagan. Năm ngoái, chính phủ Hoa Kỳ phát hành chỉ 801 giấy thị thực nhập cảnh thuộc diện của anh – một người lớn Mễ có gia đình, con của một công dân Mỹ – trong một danh sách chờ hơn 240 ngàn người. Luật sư của Nevarez bảo anh phải kiên nhẫn. Nevarez nói, “Tôi cố gắng làm đúng thủ tục mọi việc. Nhưng đã 20 năm nay rồi mà?” [không thấy kết quả]

            Nevarez và Reyes không có bảo hiểm sức khỏe và thường lo sẽ bị bệnh, mặc dầu con cái họ lại được hưởng Medicaid. Khi Rainier cần mổ đầu gối năm rồi, cậu được bao trả toàn bộ chi phí. Cha mẹ cậu nói cậu nên xem trọng cơ hội mà cậu có khi sống ở Hoa Kỳ – và cậu đã nghe lời. Nhưng cậu không biết làm sao để trả tiền học đại học, cho nên, cậu nghĩ đến chuyện đăng ký vào quân đội Mỹ ngay sau khi hoàn tất trung học. “Đó là xứ sở tôi và tôi muốn phục vụ,” cậu vừa nói  vừa xách hộp đựng kèn và cặp sách rồi đi học.

 

Tụt xuống từ giai cấp trung lưu

 

Sau khi chấm dứt chuyến đưa đón sáng, bà Estes đậu chiếc xe buýt vàng và bấm giờ nghỉ. Lúc đó là 9 giờ sáng. Chuyến chiều bắt đầu vào lúc 2 giờ 30. Quá tốn xăng lái đi lái về, bà phải ngồi đợi [hơn 5 tiếng đồng hồ] trong chiếc xe Honda của bà đậu trong bãi đậu xe, không được trả đồng lương nào.

Bà ăn một cái bánh nướng xốp lấy ra từ cái túi nhựa và lắng nghe đài phát thanh, nơi Mark Davis ca ngợi tuần lễ đầu tiên của tổng thống Trump sau khi nhậm chức. Estes nghĩ rằng Trump đã có một khởi đầu tuyệt đẹp. Bà muốn  chào mừng vị tân tổng thống khi ông phát biểu trong bài diễn văn nhậm chức rằng “Những người đàn ông và đàn bà bị lãng quên của xứ sở chúng ta sẽ không còn bị quên lãng nữa.” Bà có cảm tưởng như thể Trump đang nói trực tiếp với chính bà.

Estes sinh trưởng ở Dallas, trong một ngôi nhà lớn có hồ bơi. Bà có cả con ngựa riêng của mình. Mẹ bà chết khi bà mới lên 4, nên bà sống với cha, chủ một tiệm  kinh doanh nhỏ thường lái chiếc xe Thunderbird màu đỏ có thể mở/đóng mui tuỳ ý (convertible). Nhưng rồi ông mất khi bà lên 19. Bà vội vàng lập gia đình, có hai con và ly dị lúc 26 tuổi. Bà đã làm nhiều việc trong cuộc đời mà được trả lương càng ngày càng ít. Bà đã từng là kỹ thuật viên mổ (scrub tech) ở một bệnh viện, một giao dịch viên chuyên giao các bản thiết kế nhà cửa cho thiết kế viên, một tài xế đưa đón khách đi sòng bạc. Mấy năm trước đây, bà chuyển về ở vùng bắc Dallas, nơi bà có thể mua một căn nhà nhỏ trên một mảnh đất rộng 2 mẫu tây tách ra từ một dải đất rộng của những cánh đồng lúa mì.

Bây giờ, ở tuổi xấp xỉ 60, là người đã từng được nuôi nấng trong tiện nghi của một gia đình thượng lưu, bà hiện sống trong nỗi căng thẳng của một công nhân. Bà tiếc là đã không đi học đại học và trở thành một bác sĩ thú y. Qua đài phát thanh, bà nghe rằng những việc làm tốt dành cho những người chỉ có bằng trung học đã vì toàn cầu hóa và tự động hóa đánh cắp: đó là Trung Quốc và người máy. Bà biết rằng phải cần nhiều thời gian  Trump mới có thể mang công ăn việc làm trở lại. Nhưng bà cảm thấy vui  khi thấy ông tiếp tục thực hiện lời hứa là đuổi cổ những “người bất hợp pháp”. “Họ sẽ ra khỏi chốn này hết sức nhanh,” Trump nói tại một cuộc vận động tranh cử vào tháng 9 năm 2015, trong khi Estes và 20 ngàn người khác reo hò cổ vũ. Bà cũng cảm thấy khoan khoái khi có một tổng thống rốt cuộc đang nói về “những đứa bé mỏ neo.”

Hầu hết những học giả luật đều nói rằng thu hồi quyền công dân do sinh đẻ (birthright citizenship) sẽ cần một tu chính án khác, một tiến trình phức tạp đòi hỏi sự cháp thuận của 2/3 thành viên hai viện quốc hội và sự phê chuẩn của ¾ tổng số các tiểu bang. Tuy nhiên, Trump, đã đề xuất một cách đơn giản là thách đố sự biện giải hiện hành [luật quốc tịch] tại tòa án.  Theo ông, qua lời phát biển trong một lần đi vận động, “Một số luật sư rất, rất giỏi” tin chắc rằng con cái của những di dân không giấy tờ là “không có quốc tịch Hoa Kỳ.”

Vào tháng 1[2017], dân biểu cộng hòa (bang Iowa) Steve King tái giới thiệu Đạo Luật Quyền Công Dân Do Sinh Đẻ (Birthright Citizenship Act), theo đó quốc tịch chỉ được cấp cho một đứa bé nếu ít nhất một trong hai cha mẹ đã là công dân Mỹ, hoặc là một thường trú nhân hợp pháp hay một người không phải công dân nhưng phục vụ trong quân đội Mỹ. Một số viên chức Texas đã theo đuổi một phương pháp kín đáo (backdoor approach) nhằm cắt phúc lợi cho những đứa trẻ có cha mẹ bất hợp pháp bằng cách giới hạn những hình thức nhận dạng phụ huynh các em sẽ chấp nhận khi phát hành giấy khai sinh. Một khi không có giấy khai sinh, một đứa trẻ không thể chứng minh quyền công dân và do đó không tiếp cận được với các phúc lợi của chính phủ.

Sau khi những phụ huynh Mễ và Trung Mỹ kiện ở tòa án liên bang, những viên chức Texas năm ngoái đồng ý thừa nhận thêm nhiều hình thức nhận dạng, bao gồm những thẻ căn cước bầu cử ở Mễ Tây Cơ – nhưng chỉ sau khi hơn một ngàn trẻ sơ sinh đã bị từ chối giấy khai sinh, theo lời Jennifer Harbury, một luật sư làm việc với cơ quan “Trợ Giúp Pháp Lý  Texas RioGrand” (Texas RioGrande Legal Aid). “Phe chống di dân rõ ràng là rất được khích lệ,” Harbury nói.

Ngồi trong xe, Estes đổi sóng qua đài 820 AM, nơi Rush Limbaugh  đang lên giọng: “Di dân là lý do chính khiến cho Donald Trump đắc cử. Người ta đang ca ngợi những cuộc bố ráp [di dân] do ICE thực hiện.”[1]

 

Giống nhau nhưng quá xa nhau

 

Vào lúc bà Estes chấm dứt tuyến đường lái xe và trở về nhà, mặt trời đã lặn hẳn. Đèn xe chiếu sáng cả căn nhà nhỏ của bà, và những con chó bắt đầu sủa vang. Bà có nuôi thêm chó Doberman (một loại chó Đức) để kiếm thêm tiền.

Ít phút sau, anh Nevarez cũng lái xe vào nhà.

Công vệc hàng ngày đều đặn tương tự nhau ở cả hai ngôi nhà tiền chế nhỏ này, nằm trên một con đường phẳng lót nhựa đi vào vùng đồng cỏ Bắc Texas. Cả hai gia đình đều nuôi gà và chó, làm việc suốt ngày với số lương ít ỏi và đi nhà thờ cầu nguyện vào mỗi Chúa Nhật. Cả bốn năm nay, những người láng giềng đó hiếm khi trò chuyện với nhau. Có lần, Nevarez và một số di dân Mễ giúp Estes đào một huyệt mộ cho một trong những con chó của bà. Bà tỏ ra có chút thân thiện. Nhưng rồi tấm bảng hiệu quảng cáo cho Trump xuất hiện trên bồn cỏ trước nhà bà khiến họ mỗi ngày mỗi cách xa nhau thêm.

Tại bàn ăn trong bếp, Rainier , mới tập điền kinh xong, nhai ngấu nghiến bốn cái “enchiladas” (bánh bắp nhân thịt). Cha cậu ăn ít miếng. Anh ta mệt và chẳng muốn nói nhiều. Anh ta suốt ngày đứng trên cái thang cao 30 bộ, lắp cửa cho những ngôi nhà. Tóc anh lấm tấm bột mạt cưa. Ở nhà kế bên, Estes đang ở trong bếp, quá mệt không nấu ăn nổi. Thỉnh thoảng, bà ăn một ít miếng phô-ma sau khi làm một số việc lặt vặt buổi chiều. Nhưng khi bà kiểm tra tủ lạnh, chẳng còn gì trong đó. Bà chán nản buông mình xuống ghế. Bà nói rằng sự chống đối của bà đối với những “kẻ bất hợp pháp” không phải là chuyện cá nhân. Bà nói khi bà cần giúp một việc gì quanh nhà, những người láng giềng Tây Ban Nha sẵn sàng giúp trước khi “những người láng giềng da trắng của tôi giúp.” Bà nói bà không muốn những đứa trẻ trên xe buýt của bà nghĩ rằng bà là kẻ vô lương tâm khi bà ủng hộ những cuộc bố ráp bắt người để trục xuất. Nhưng bà nói một cái gì đó cần phải thay đổi.

Bà bật truyền hình. Bà đã thu lại 8 giờ trực tiếp truyền hình buổi lễ nhậm chức [của tổng thống Trump]  từ kênh C-SPAN và một phim tài liệu dài hai giờ về Trump từ kênh “Lịch Sử”, bây giờ mới bắt đầu xem.

(Trong buổi lễ,] Trump lớn tiếng: “Họ là những kẻ thất bại. Họ là những đứa trẻ con!”

Bà cười. Chắc chắn là ông ta đang pha trò.

Giọng oang oang của Trump vang lên trong căn nhà nhỏ của bà: “Giai cấp công nhân sẽ đánh trả lại!”

Bà thốt lên: “Đúng vậy, đúng vậy!”

 

Trần Doãn Nho

(24/3/2017)

 

Xem nguyên văn ở:

http://www.washingtonpost.com/sf/national/2017/03/18/fear-hope-and-deportations/?hpid=hp_hp-top-table-main_riggedimmigration-455am%3Ahomepage%2Fstory&utm_term=.fc752e17ef26

[1] Rush Limbaugh là một bình luận gia Cộng Hòa rất bảo thủ, chủ nhân và là xướng ngôn viên chính của đài phát thanh làn sóng 820 AM, Texas. ICE=Immigration and Customs Enforcement = Cơ quan Cưỡng Chế Hải Quan và Di Dân.

 

NhaSan

Đất nước đến hoa còn xấu hổ

 

Một nhà nước như không còn ai biết ngượng
Lại mọc đầy hoa xấu hổ nơi nơi
Cây thẹn thùng nép cỏ
Lá nhắm hờ mắt gió trêu ngươi

Nói dối mọi nơi
Nói dối mọi điều
Nói dối quá làm hoa đỏ mặt
Muôn năm cái không có thật
Không có thật ở đâu ?

Ai áp giải nhân dân phải tìm ra ma xó?
Đất nước nằm mơ trên quả địa cầu
Đất nước khom lưng tìm thiên đường không có
Một thiên đường ý cuội mạo lòng dân

Hoa thay người xấu hổ
Kẻ gian manh mang mặt nạ thánh thần
Hoa xấu hổ mọc trong tờ hộ chiếu
Ra nước ngoài thương người Việt tủi thân

Sự trâng tráo làm vương làm tướng
Xấu hổ ơi xấu hổ mọc nơi nào?
Kẻ ăn cắp lên truyền hình dạy người tự trọng
Lê Chiêu Thống gào: phải yêu nước như tao…

Ai đang chọn quốc hoa giữa thời quốc nhục
Đất nước ơi xin thẹn với Tiên Rồng
Trong băng hoại hoa giữ mình nhân cách
Giữa lòng người hoa xấu hổ còn không?

 

Trần Mạnh Hảo.

 

Những thần Vệ nữ vú to mông nẩy và nguồn gốc của nghệ thuật

 

Hà Vũ Trọng

Một thoáng nhìn vào hành lang triển lãm nhỏ dưới đây, gồm một số tượng thường được gọi là “Vệ Nữ” (Venus) có niên đại cách nay 40.000 năm cho tới 3.000 năm trong các nền văn hoá thế giới. Những phong cách “mới lạ” từ thời tiền sử này cho chúng ta cảm tưởng về nền điêu khắc hiện đại. Thực vậy, bởi vì nghệ thuật hiện đại của thế ki 20 chẳng qua là đứa con hoang đàng trở về với cái nôi khởi nguyên của nghệ thuật loài người, trở về với Mẹ Đất, với nguyên mẫu mà Carl Jung gọi là Mẹ Cả — nguồn mạch sáng tạo của đời sống.


 

Suốt hơn 100 năm qua, những tranh cãi về nguồn gốc của nghệ thuật vẫn còn những bất đồng. Tuy nhiên, những năm gần đây, chứng cứ đưa ra cho nghệ thuật trừu tượng tìm thấy ở châu Phi có niên đại cách đây 75.000 năm, còn chứng cứ cho nghệ thuật tượng hình cổ xưa nhất đã có cách đây 40.000 năm.

Những khai quật mới đây vào năm 2008 phát hiện ra một pho tượng nhỏ khắc trên ngà voi mamút ở Hang Hohle Fels, vùng Swabia Jura phía tây nam nước Đức. Pho tượng thần “Vệ Nữ” này được tạo ra cách đây 40 ngàn năm, khiến nó trở thành nguyên mẫu cổ nhất về nghệ thuật tượng hình và đẩy lùi niên đại sớm hơn cả 10.000 năm so với những tượng Vệ nữ nổi tiếng thuộc văn hoá Gravette (ở Pháp). Hàng ngàn pho tượng nữ thần cùng đủ mọi hiện vật và di tích đền thờ nữ thần mà những nhà khảo cổ học như Marija Gimbutas đã liên tục tìm thấy ở châu Âu và những nơi khác trên thế giới, đã làm thay đổi triệt để những cách nhìn của chúng ta về bối cảnh và ý nghĩa của nghệ thuật đầu thời Đồ đá cũ. Và không hẳn chỉ là nguồn gốc của nghệ thuật, những phát hiện này cũng làm thay đổi và đánh giá lại những thiết chế văn hoá, xã hội, tín ngưỡng của nhân loại trong mấy ngàn năm qua dưới chế độ phụ quyền với tín ngưỡng độc thần.
41

Chúng ta sẽ điểm qua một số pho tượng thần Vệ Nữ nổi tiếng và cổ xưa nhất, và cũng là những tác phẩm sáng tạo đầu tiên của nhân loại.

  1. Vệ nữ Hohle Felskhắc trên ngà voi mamút, cao 6 cm, phát hiện năm 2008 ở vùng Swabia Jura nước Đức, cũng là vùng được cho là có mặt sớm nhất của người homo sapiens ở châu Âu (Cro-Magnon). có niên đại từ đầu thời kỳ Đồ đá cũ cách nay khoảng 40.000 năm. Đây Là mẫu mực cổ nhất thế giới về nghệ thuật tượng hình nói chung. Các đặc trưng của nhiều pho tượng nữ thần vào những thời kỳ tiền sử sớm nhất thường ít chú tâm vào phần đầu, gương mặt, cánh tay hoặc bàn chân, mà đặt nặng vào những thuộc tính của sinh dục. Với Vệ Nữ Hohle Fels, cũng vậy, ngoài hai đặc trưng phồn thực thường thấy là “vú to mông nẩy”, bộ phận âm hộ còn được khuếch đại với hai bắp đùi căng tròn và hai chân dạng ra để nhấn mạnh việc sinh đẻ. Có lẽ đó là vẻ đẹp sinh học lý tưởng, ít ra là trong thời kỳ này. Giới y học ngày nay xem hình ảnh đàn bà thời tiền sử bị chứng béo phì, nhưng thật ra theo quy luật sinh tồn thì lớp mỡ dày dưới da và dưới bộ mông to xệ này hẳn nhiên có chức năng cần thiết để giữ nhiệt và dự trữ năng lượng nhất là khi người phụ nữ vừa phải sinh con đẻ cái trong những điều kiện sinh tồn khắc nghiệt nhất của môi trường thời kỳ Băng hà. Cũng có người xem đây là tác phẩm nghệ thuật huê tình (erotic) có sớm nhất của nhân loại. Tuy nhiên, khái niệm hiện đại về “nghệ thuật” hoặc “huê tình” là hoàn toàn xa lạ trong một thời kỳ không có khái niệm giam cầm gọi là “tác phẩm nghệ thuật” hoăc “khiêu dâm”. Hình tượng nữ tính thiêng liêng ở đây được tôn vinh thành nữ thần, người mẹ mang thai, sinh sản, nuôi dưỡng từ bầu vú no tròn, và lại đón đứa con trở về tử cung của Mẹ Đất để rồi lại tái sinh.

    42

  1. Vệ Nữ Dolni Vestonicelà người đàn bà khoả thân bằng gốm có màu màu đen sẫm kì lạ, cao 111 mm,  niên đại cách nay 29.000—25.000 năm, tìm thấy ở vùng nam Brno, Moravia, nước Tiệp. Bức tượng gốm này tuy có đặc trưng phồn thực tương tự với những pho tượng khác, nhưng gương mặt có hai đường vạch thành đôi mắt xếch và một vạch thẳng là mũi, và chóp đầu có bốn cái lỗ để cắm hoa, cây lá hoặc lông chim, tạo thành kiểu tóc biểu thị cho cây cối đâm chồi nảy nở từ Mẹ Đất. Pho tượng này phát hiện cùng với những tượng đầu nữ thần và những thú vật khác, được công nhận là đồ gốm cổ nhất nhân loại, và đã sớm biết sử dụng kĩ thuật nung gốm. Nghệ thuật điêu khắc trên ngà voi và gốm với những hình tượng đa dạng tìm thấy ở vùng này được xem là do bàn tay của người phụ nữ tạo ra trong thời đồ đá.

    43

  1. Vệ Nữ Ostrava, phần thân mình của tượng này cao khoảng 5 cm, khắc trên quặng haematite, cũng thuộc văn hoá Gravette tìm thấy ở Moravia, Tiệp. Niên đại cách đây 27.000 năm. Mang kiểu dáng cực hiện đại, gần như phong cách lập thể, và cái gò tam giác như một mảnh bikini hiện đại. Hình thể mảnh mai với dáng eo thon, vú nhỏ và săn chắc, bụng hơi nhô lên gợi ý giai đoạn trẻ trung và mang thai thời kì đầu.  Tiếp theo dưới đây, cũng là những Vệ Nữ Dolni Vestonice điêu khắc từ xương thú, thân thể được cách điệu hoá thành nghệ thuật trừu tượng rất “hiện đại”, trở thành những biểu tượng vật tổ về người bàn bà như là nữ tổ tiên của loài người. 

 

 

  1.  Vệ Nữ Lespugue điển hình của nền văn hoá Gravette trải dài khắp châu Âu, cách nay 27.000 năm, ở vùng Dordogne, Pháp. Khắc trên ngà voi mamút, cao 14 cm,  Vệ Nữ này không có bàn tay hay bàn chân, cặp giò thuôn nhọn dần, mục đích như để cắm đứng xuống đất hoặc cắm vào đâu đó có thể nhìn thấy. Phần ngực trên lõm thành một đường cong và uốn lên trên như chiếc đầu rắn hướng tới trước, vì vậy tất cả  phần trên mảnh mai như thể để nhấn mạnh ở phần dưới vào khả năng sinh đẻ và nuôi dưỡng. Cặp vú to thõng xuống với hai cánh tay nhỏ tựa lên hai bầu vú hoà nhập vào với cái dạ con tròn đầy; cặp mông và cặp giò phồng căng lên thành khối căng như thể đang trợ giúp cho hành vi sinh đẻ. Bộ vú và bộ mông gây cảm tưởng là bốn quả trứng to mang trong chiếc tổ của thân thể đang có bầu. Mười vạch thẳng khắc dưới mông đằng sau bắp chân tạo ấn tượng của dòng nước ối đang tuôn ra từ dạ con. Mười đường vạch gợi ý về mười tuần trăng mang thai.

 

 


  1. Vệ Nữ Willendorf, niên đại khoảng 26.000 năm, tìm thấy ở Áo. Tuy chỉ cao 11 cm nhưng nữ thần trông dáng đồ sộ, tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng này có thể tìm thấy trong đa số sách về lịch sử nghệ thuật. Bức tượng được khắc bằng đá vôi, mang đậm tính phồn thực của Mẹ Đất với cặp vú to, bụng lớn, âm hộ được khắc chi tiết, và vẫn còn dấu vết của lớp màu đất đỏ quét lên tượng trưng cho máu.  Quanh đầu nữ thần là 7 lớp bện song song vòng quanh và che kín khuôn mặt. Con số 7, con số của sự trọn vẹn, một phần tư của chu kì tuần trăng.
    49
  1. Vệ Nữ Moravany/Moravia, ở Slovakia, khắc bằng ngà voi mamút, cao 7.6 cm, niên đại 22.800 năm, cũng thuộc nền văn hoá Gravette. Bức tượng rất đẹp, không có đầu, tất cả nhấn mạnh vào tính tả châncông phu ở bụng và cặp vú nặng trĩu, biểu thị đang chu kì mang thai. Rốn và âm hộ cũng được khắc rõ nét. 

50

  1. Nữ thần Brassempouy, bức tượng nổi tiếng này chỉ còn sót lại chiếc đầu, cao 3.65 cm, khắc trên ngà voi mamút, tìm thấy trong một cái hang ở Brassempouy (Landes, Pháp), niên đại cách đây khoảng 25.000 năm, thuộc văn hoá Gravette. Đây là bức tượng có phong cách hiện đại nhất, và có lối miêu tả sớm nhất mang tính tả thực về khuôn mặt và kiểu tóc, cổ cao với những nét thanh tú.

    51

  1.  Vệ Nữ Laussel, cao 43 cm, khắc trên đá vôi, Pháp, cách đây 22.000 năm, tay phải cầm chiếc sừng bò mộng hình mặt trăng lưỡi liềm, trên đó vạch ngấn 13 ngày khi trăng tròn và 13 tháng của năm âm lịch. Bàn tay trái chỉ vào dạ con đang căng lên để chỉ sự liên hệ chu kì trăng tròn với tiến trình sinh đẻ của dạ con.

52

  1. Vệ Nữ Avdeevo, khắc trên ngà voi mamút, cao 12-15 cm, cách nay 20.000 năm, địa điềm Avdeevo này nằm ở sông Sejm gần thành phố Kursk, Nga, có liên hệ rất gần với những địa điềm đầu thời Đá Cũ ở Trung và Đông Âu. Những tượng Vệ Nữ này hình thể có biến đổi, nhưng hầu hết miêu tả những giai đoạn khác nhau của chu kì sinh đẻ.

    39

  1. Vệ Nữ Engen,tìm thấy ở hang Peterfels, Đức, niên đại cách đây 15.000 năm, khắc bằng than đen và mài tới độ nhẵn bóng tuyệt đẹp, chiều cao chỉ 4.4 cm. Đây có lẽ là hình tượng người đàn bà được cách điệu trừu tượng cao độ nhất, với bộ mông to hình trứng, có lỗ ở chóp đầu để xỏ dây da đeo quanh cổ.

 

 

                               

  1. Vệ Nữ Jomon của Nhật Bản, thuộc thời kỳ Jomon (hay Thừng văn) niên đại bắt đầu cách đây 16.000 năm và kết thúc vào 300 năm trước CN, là nền văn hoá có sự liên tục và lâu dài nhất thế giới. Dân tộc Jomon đã tạo ra sản phẩm đồ gốm thuộc loại có sớm nhất thế giới với phong cách phong phú và rất đặc dị, những hình thể người vừa trừu tượng vừa cụ tượng được cách điệu tinh tế và hiện đại, cùng nhiều tượng nữ thần mang bầu và sinh đẻ. Cũng như hầu hết ở những xã hội tiền sử khác, đồ gốm của Jomon được cho là do phụ nữ chế tác.

 

  1. Những Vệ Nữcủachâu thổ sông Ấn, thuộc nền văn minh Harappan được coi là nền văn minh đô thị lớn nhất và cổ nhất, ở vùng tây bắc Ấn Độ, cách đây 5000 năm.

 

 

1.    Những nữ thần Hồng Sơn, bằng đất nung và ngọc thạch, thuộc nền văn hoá Hồng Sơn trong thời đại đồ đá mới, ở vùng nay thuộc đông bắc Trung Quốc (trải dài từ khu tự trị Nội Mông đến Liêu Ninh). Nền văn hoá tiền sử này rất bí ẩn và có nền văn mình và kĩ thuật rất cao, có niên đại kéo dài cách đây 6700 năm cho tới 4900 năm, cũng là nơi chế tác ngọc thạch sớm nhất với phong cách tạo hình độc đáo. Tại di chỉ Ngưu Hà Lương đã khai quật ra một tổ hợp Đền thờ Nữ thần và nhiều tượng nữ thần khoả thân. Đền thờ này dùng để hiến tế nữ thần trong thời mẫu hệ, liên quan đến việc sinh đẻ và những nghi lễ phồn thực của người nữ.
62

  1. Vệ Nữ ngủ say, tượng đất sét quét màu đất đỏ, cách đây 5800 năm. Bức tượng người nữ thân hình tròn trịa và phồn thực này tìm thấy trong một ngôi đền thờ nữ thần ở Malta, nơi có lẽ thực hành việc cứu trị và những nghi lễ khác. Bức tượng thể hiện một nữ tư tế đang nằm ngủ để rồi đưa ra lời đoán giải và tiên tri từ những  giấc chiêm bao.

63

  1. Vệ Nữ hình “vĩ cầm”, đá cẩm thạch, niên đại cách đây 4800 năm, thuộc nền văn hoá Cyclades, Hi lạp.

Tham khảo:

Anne Baring & Jules Cashford, The Myth of the Goddess – Evolution of an Image, Arkana: Penguin Books, 1991

Wikipedia:

GoddessVenus figurinesPrehistory ArtMother GoddessVenus of Hohle FelsVenus of Dolni Vestonice

Các trang khác:

Venus figures from the Stone Age

The real story of Russia Paleolithic Venus

 

 

 

49d5c1ed3b6b3889102cb1e3dcb11ff1

TỐC KÝ ĐÊM 

(Cho H gã thi nhân lập dị)

1.

nằm xuống 
một vì sao cháy muộn
tôi thấy
những cánh đóm đi lạc
trong giấc mộng của mình
nỗi đau mọc mầm tự bình minh
chảy tràn
qua nách thời gian
lễnh loãng màn đêm bội thực khúc kinh sám hối

bóng trăng hạ tuần
trầm mình 
dưới vũng cây 
nín lặng
đợi 
giờ khắc trút hồn
những dấu chân sương
ánh màu bạch tạng
hút tầm vệt cô đơn
giữa khói thuốc mơ hồ.
gã đàn ông vò nát, nhai, nuốt tháng năm 
nhắm mắt chạy theo dòng lý tưởng thổ tả
2.
ánh trăng loang dần 
khung cửa nhếch nhác
gã thằn lằn 
cắn 
giỡn chiếc đuôi
sưng tấy bởi căn bệnh hủi 
cuối kỳ

quẫy đạp
giữa vũng chiêm bao đa tầng
như con cá 
choãi mình từ đám rong rêu 
sực mùi
tôi thấy
cực điểm sự phân hủy
của những cơn tiềm thức phản mùa
đàn cảm xúc vong nô
thảng thốt
bứt đứt những giác quan cảm biến
hớt hải
hớt hải
đan kết những mảng màu 
tự mãn
!
3.
những bựng vú trần gian
ung thư
nhễu nhão chất sữa cạn kiệt Protein

lũ chuột 
bĩ bõm bơi
qua con kênh lòe bịp khát khao
la liếm 
nằm kễnh khoe từng khoang bụng trương phềnh
những niệm khúc hối cải
bằn bặt dội về
từ cánh rừng hoang tàn của thời đại đĩ thõa.

trộn lẫn chiếc bóng 
nhung nhúc dòi bọ an phận 
của mình
vào đám sao không còn đủ sức tỏa sáng
tôi lắng nghe
xa xăm
tiếng bình minh lâm bồn.

 

 

Trương Đình Phượng

 

 

 

NHÀ THƠ 

Đi đến tận cùng sự cô đơn
Để gặp một sự cô đơn tận cùng khác
Đôi khi cố ngồi chính giữa ánh đèn
Để che chiếc bóng phía sau
Rồi chợt giật mình nhận ra
Thể xác đang bấu víu vào bóng
Ném sự tầm thường ra ngoài cửa sổ tâm hồn
Mong đặt bước đến miền trù phú khác lạ
Đâu ngờ 
Mình chỉ là con dế nhỏ nhoi
Đánh mất chiếc kèn trong lùm cỏ dại…

 

Trương Đình Phượng

 

 

 

HẠT GIỐNG

 

Gieo hạt niềm tin vào mảnh đất đêm đen
Tôi chờ mùa quả khát vọng bình minh
Chín
Trong cơn mơ chập chờn lúc nửa khuya
Tôi hốt hoảng nhìn thấy lũ quạ xới tung mảnh vườn

Xa xa nơi đỉnh núi
Chốn an nghỉ của tổ tiền loài Nhân Mã
Thấp thoáng ánh đèn 
Trong lâu đài hoang phế

Sáng sớm tôi ra vườn
Khắp nơi đã mọc đầy giống cây lừa dối.

 

 

Trương Đình Phượng

 

 

 

TÔI CHỜ CƠN VIÊM XOANG CỦA GIÓ 

(Cho H.. gã nhà thơ lập dị)

 

tôi ngồi
trên chấn song 
cửa sổ mở toang
tháng ba
những nhụy đào
muộn
theo gió rơi
rơi
lặng lẽ

những ý niệm
vừa mới
qua đời
lẫn trong những giọt
nước mắt của thiên nhiên

sáng tháng ba
không nắng
tôi ngồi
trên
song cửa sổ
lởm chởm
buồn
lả tả
từng hạt chiêm bao
rụng

trên dung mạo
của những tiếng chim
ồn ào
tôi nhận thấy
hình hài
những đôi mắt
lẻ loi
cất giấu
lý lịch 
lạc loài

tôi ngồi trên
chấn song
cửa sổ
bóng tối
tháng ba

âm thầm tôi
đợi
cơn viêm xoang hàm
của gió
!

 

Trương Đình Phượng

 

 

MỘT BÀI THƠ TỰ DO BỎ QUÊN 

 

Tôi bỏ quên bài thơ bên cửa sổ
Bài thơ viết về ngục tù và tự do
Sáng hôm ấy trời nắng êm và gió dịu dàng
Con chim hót say sưa trong chiếc lồng
treo dưới cành nhãn lá vàng.

Khi tôi trở về căn nhà đêm đã chật
Chiếc lồng tre nằm chỏng chơ dưới đất
Những giọt máu đỏ bầm nhỏ đầy trang giấy ghi bài thơ
Gã mèo cuộn mình trên nệm ấm tỉnh bơ…

 

Trương Đình Phượng

TranhEgonSchiele

Tranh Egon Schiele

HỞ KÍN HE HÉ

 

  1. kín đáo đứng đắn chắc không ?
    tôi tin số ít đồng lòng với tôi:
    chắc chi, còn tùy tính người
    lẳng lơ bản chất từ trời đất sinh

hữu tình ai chẳng hữu tình
phát xuất mạnh ở cửa mình tràn ra
Adam cũng giống Eva
biết che đậy tốt vẫn là tuyệt hơn

*

  1. trần truồng có tục thật không ?
    theo tôi thấy rõ tơ lông, chuyện thường
    nhiều khi rõ mặt trầm hương
    tính chất cấm địa hoang đường mất đi

vưu vật không thể tùy nghi
bày biện cố ý, nhu mì gió hay
người gian ít hơn kẻ ngay
nét hoa tinh khiết càng gây bềnh bồng

*

  1. che ơ hờ gợi dục không ?
    tôi tin rằng có manh tâm khá nhiều
    kín kín hở hở là chiêu
    nghệ thuật cao thấp lẫn liều mạng chơi

trong mười người có hai người
vẫn nuôi sở thích mời đời biết ta
thế nào “trong ngọc trắng ngà” (1)
trời cho sở hữu chẳng là của riêng ?

 

Luân Hoán
6.23AM-10.3.2017

(1) chữ dùng của cụ Nguyễn Du

A1gUdo61EfL._SL1500_

g ó c  n h ì n  c ủ a  n ú i

 

chúi mũi đụng đường sào

ai cắm trên sông hận

nước.  cản đường ta sao

thôi quay về núi đứng

 

trên mây.  trong sương buồn

lưng đau dằng dặc suối

thác gầm. rồi quên tuôn

mạch tim về đã nguội

 

thôi phường đời không dung

đáy oan cừu chưa hả

thôi còn ngọn sóng lừng

với biển cuồng hung phá

 

dải mây chiều tịnh yên

trăng điên nào thắt cổ

đêm trở mặt bưng biền

đêm.  của thời dông tố

 

thời chúng ta đã cùng

giải giao nhau đồng lõa

những chặng ngời lao lung

những muôn trùng sinh hóa

 

Hoàng Xuân Sơn

 

 

 

g i ả  t ỉ

 

[mình còn nợ nhau]

giả tỉ đêm sâu             gục

xuống

ánh đèn

giả tỉ cuộc đời rất hèn

giả tỉ mình [vẫn]

sống lèng èng           đâu?            nơi?

giả tỉ nước lã cầm hơi

xem như hạt bụi qua đời

thế thôi

 

HoàngXuânSơn

 

BW

Người đưa tin…độc địa

 

Tặng “xếp” cũ của tôi,
trung tá Huỳnh Kiêm Mậu.”
(Chuyện thật kể lại)

hlh

 

            Đưa ống nghe điện thoại ra xa khỏi tai, hướng mặt về phía trung tá Mậu, Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị, tôi nói, không lớn tiếng, đủ cho mọi người trong phòng nghe:

            -“Có khách rồi, không biết có kịp tết không?”

            Trung tá Mậu hỏi ngay:

            -“Ma chay hả? Từ đâu về?”

            -“Thiết Đoàn 16, tử trận ở Kompong Trạch, mẹ ở Gia Định.”

            Trung tá Mậu ngữa lưng, dựa vào ghế. Tôi nghe tiếng ông thở ra. Chỉ còn bốn ngày nữa là tết. Ông “mệt” cho ông hay ông “cám cảnh” cho tôi, “năm hết tết đến” còn lo việc an táng cho đồng ngũ.

            Tôi lại đặt ống nghe vào tai, tiếp tục với người ở bên kia:

            -“Huế còn đó không?

            -“Có”. Tiếng thiếu úy Huế trả lời. Tôi hỏi tiếp:

            -“Lên đường về đây rồi phải không?”

            -“Vâng!” Huế trả lời. “Tui cho một trung sĩ đi theo với tài xế. Làm sao anh?”

            Tôi vẫn giữ cái thói hay nói đùa:“Làm sao cũng chẳng làm sao!” Ở đây có người lo tiếp cho tử sĩ. Ông trung sĩ đi theo có điện thoại của tui không? Gần tới nơi thì gọi cho tui. Tui chờ ở Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp.” (Hồi ấy “Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa đang chuẩn bị hình thành – tg)

            -“Tui dặn rồi. Có phải điện thoại của anh là 30.240?”

            -“Đúng! Yên tâm đi nghe. Có chi trở ngại, tui sẽ gọi ông.”

            Huế -Trần Huế – bạn cùng khóa Bộ Binh, Thiết Giáp với tôi. Anh ta cũng như Phạm Văn Nga lại là học trò cũ của tôi, khoảng chừng hơn năm năm trước ở Huế. Cả hai thua tôi khoảng 10 tuổi.

            Sau tết Mậu Thân ở Huế, buồn tình, tôi tự  động bỏ dạy –“bỏ cục phấn bấm cò súng” – câu tôi thường nói đùa với bạn bè – Hai “ông bạn đồng khóa” thì tới tuổi động viên, thành ra, “cùng nhau đi lính Cộng Hòa”, hết Quang Trung, lên Thủ Đức, vô trường Thiết Giáp. Ra trường, tôi và Nga chọn Thiết Đoàn 17/ Kỵ Binh, đóng ở Phước Tường. Huế về Thiết Đoàn 16 ở Long Xuyên; sau tháng 3/ 1970, Thiết Đoàn thường hành quân vượt biên qua Kamphuchia. Tôi được giữ lại Bộ Chỉ Huy, tiếp nối tờ báo “Kỵ Binh”, “giữ cái nghiệp làm báo tự chọn” do một ông bạn cũ từ thời học tiểu học, đại úy Lương Thúc Trình giao cho vì Trình được biệt phái về “nhiệm sở cũ”, giáo sư ở trường trung học Trần Quí Cáp, Quảng Tín.

            Tôi kiêm luôn công việc mà tôi thường gọi đùa là “Người đưa tin… độc địa”, nghĩa là đưa tin “báo tử các chiến hữu” của binh chủng cho thân nhân của họ ở Saigon và Gia Định.

            “Tin… độc địa” vì gia đình người ta đang yên ổn, bỗng tôi tới gõ cửa báo tin thân nhân họ… tử trận. Thế là cả nhà, có khi còn cả cha mẹ già, vợ con, chị em… òa nhau lên khóc.

            Nghe tiếng họ khóc, tôi đứng như “chết trân” tại chỗ. Nhiều khi muốn trốn khỏi nhà họ nhưng không trốn được; nhiều khi muốn làm “ông Tề độn thổ” cho xong, nhưng lại không có 72 phép thần thông.

&

            Về nhận việc ở đơn vị mới được mấy hôm, Trung Tá Mậu gọi tôi tới bàn ông, biểu ngồi xuống ghế. Đứng bên cạnh ông là trung úy Nguyễn Đăng Đức, tay cầm xấp hồ sơ không dày không mỏng. Trung tá Mậu nhìn tôi một lúc, mặt hơi có vẻ nghiêm, nói:

            -“Giao việc nầy cho anh tôi yên tâm hơn. Mấy lâu nay, trung úy Đức đảm nhận nó, chưa có gì sai trái nghiêm trọng, nhưng ông Đức có bệnh hay quên; nhiều khi ông ta quên làm tôi đứng tim luôn. Việc ma chay phải hết sức cẩn thận. Gia đình người ta có người “hy sinh vì Tổ Quốc”, mình lo giúp người ta việc an táng là phải chu toàn. Lôi thôi, thân nhân thưa lên tới Tổng Thống chớ không phải tới ông Đại Tướng đâu. Vậy là họ gõ đầu thuộc cấp, từ trên gõ xuống, gõ tới mình là coi như… khăn gói ra Vùng 1, Vùng 2. Ngại lắm! Mình không sợ tác chiến nhưng khăn gói quả mướp kiểu ấy thì mất mặt anh hùng.”

            Theo lệnh trung tá Mậu, trung úy Đức trao tập hồ sơ cho tôi. Nhìn hàng chữ ngoài bìa, tôi đâm lo, “hơi lạnh giò” vì tưởng có “âm khí nặng nề” như khi Kiều gặp mộ Đạm Tiên. Đây là một cái tên có lẽ tôi chưa từng nghe bao giờ: “Hồ Sơ Ma Chay”.

            Tôi cũng “thấm” lời trung tá Mậu căn dặn: “Gia đình người ta có người hy sinh vì Tổ Quốc”… Chuyện nầy… dễ “thông cảm”, vì chính gia đình tôi, cũng không “ngoại lệ”, cũng đã có người tử trận, còn như thấy, thì thấy không ít lần.

            Tôi từng ngạc nhiên vì mấy chữ “Nhà Vĩnh Biệt” treo trước cái nhà nhỏ nằm riêng một góc phía trong Cửa Hậu, ở thành Mang Cá / Huế, cuối quân y viện Nguyễn Tri Phương mà tôi từng thấy khi mới học lớp Nhì. Tôi có bà chị, nhà ở đường Lê Văn Duyệt, con đường song song với sông đào An Hòa / Bao Vinh; bên cạnh con đường nầy, phía ngoài cửa Hậu là “Nghĩa Trang Quân Đội”. Biết bao nhiêu mồ mả ở đó. Cũng có lần tôi đi thăm chị, ngang nghĩa trang, nhằm lúc người ta sắp hạ huyệt, tiếng kèn Tây nổi lên: “Tọ ti tè, tọ ti tè…” bọn trẻ từng nhại theo “Tôi chưa tề. Tôi chưa tề!” Cái nhại nầy có phần nghiêm trang vì người ta không dám đùa với người… chết.

&

            Về chỗ, tôi mở tập hồ sơ… nghiên cứu. Ấy là nói cho ra vẻ… chớ “nghiên cứu” gì đâu! Trước hết là coi thử… phải làm gì: Báo tin là một. Thứ hai là hỏi tang gia có yêu cầu gì: phương tiện, xe cộ di chuyển (bao nhiêu xe, bao nhiêu người), nơi an táng (tại nghĩa trang quân đội hay đưa về nhà cũ, những nhà có vườn như ở Lái Thiêu, Bình Chánh, tang gia yêu cầu đưa về nhà của họ, chôn trong vườn nhà hay nghĩa trang gia đình. Cũng ngại đấy vì có vài gia đình ở vùng “mất an ninh”, lỡ khi đang làm lễ thì Việt Cộng tấn công. Đừng nói nhân đạo với “tụi nó”, có lúc nào Việt Cộng không thẳng tay giết người?!

            Có những điều phải về làm tờ trình “xin thượng cấp”, có những cái phải làm “Bưu điệp cầm tay” đem ngay sang cho “Trung Đội Chung Sự” ở Gò Vấp để xin họ giúp đỡ…

            Không có gì khó, cái gì cũng dễ.

            Quân Đội VNCH có bài bản cả rồi: đơn vị nào, người nào, ai lo việc nấy, ngoại trừ khi yêu cầu của tang gia vượt ra những điều thông thường. Cũng may, phía Quân Đội thì dự trù hoàn hảo, về phía tang gia, không đòi hỏi gì quá đáng, chỉ cần mình: “Thi hành công vụ” với một tấm lòng như thế nào đó để tang gia được chút an ủi.

            Khó nhất, chính là việc “báo tin”. Khó mở miệng nói câu “Thưa ông (hay thưa bà, thưa chị), anh (gì đó)… đã tử trận.”

            Và kinh hoàng, và sợ hãi, và cũng lắm khi đau xót, tội nghiệp vì những tiếng khóc òa lên, nghe… não lòng.

&

            Nửa giờ sau, tôi báo cáo với trung tá Mậu tôi đi “báo tin tử sĩ”, bắt đầu lo ma chay. Tài xế Chính dừng xe chờ tôi ngay cửa trước. Tôi khoái đi với “ông” tài xế nầy. Tuy không phải là dân Saigon, nhưng anh ta rành rẽ đường sá, thông minh, nhạy bén, “tìm nhà” rất nhanh.

            Hồi bấy giờ xã Phú Nhuận, xã Bình Hòa, tuy thuộc quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định, nhưng “Saigon hóa” mất rồi. Từ Saigon, qua khỏi Cầu Bông, Cầu Kiệu, nếu không tò mò, mấy ai để ý bên nầy cầu là Saigon, bên kia cầu là Gia Định: Nhà cửa san sát, cái cao cái thấp, phần nhiều mới xây, nhà cũ mất dấu cũng không ít, hết hẽm nầy, tới hẽm kia, tìm ra địa chỉ gia đình tử sĩ phải chăm chú tìm đường, hỏi thăm, có khi phải tới ngay trụ sở phường…

            Bởi vì làm công việc “báo tin dữ”, nên tôi biết nhiều con đường, và cả nhiều con hẽm nữa của “Saigon ngày nay”, và tôi có cái tên mới do các bạn cùng đơn vị đặt cho tôi: “Thổ công phía sau Saigon”. “Phía sau Saigon” là những xóm nhà lộn xộn, đằng sau những con đường lớn.

            Saigon khác với Huế.

            Huế gọi là “kiệt”. Saigon gọi là “hẽm”.

            Huế có từ Kiệt 1 tới Kiệt 5, Kiệt 10 đã là nhiều. Saigon thì hàng trăm “con hẽm”.

            Huế gọi là “trên”: Nhà số 5, “trên” 9 chẳng hạn, là đã tới chỗ tận cùng của kiệt.

            Saigon khác, bởi vì Saigon là “thành phố quốc tế”: Tiếng Tầu, tiếng Tây, tiếng Anh trộn bậy với nhau khá buồn cười.

            Đi xe Lam thì dùng tiếng Anh: “Tốp! tốp”. Là “Xì tốp” đấy. Khách đi xe lam, muốn xuống thì nói tiếng Anh với tài xế: “Tốp” (stop). Muốn ăn thì gọi “hủ tiếu”; muốn uống cà phê thì “Xí nại”, “xây chừng” là tiếng Tầu chớ gì. Tìm nhà trong hẽm thì gọi là “xiệc”: 5 “xiệc” 20, lại “xiệc” 19, v.v… “Xiệc” gốc là tiếng Tây: “sur”: 5 sur 20, sur 19. Mới tới Saigon thấy lạ, lâu ngày thành quen.

            Nhà mấy “ông lớn” nằm ngay ngoài đường lớn, khỏi “xiệc”, tìm dễ lắm. Nhà lính tráng là nhà nghèo, dân lao động, thợ  thuyền, “buôn thúng bán mẹt”, phải trố mắt nhìn gần chục cái “xiệc” mới tới nơi. Có khi khóm phường ghi không rõ, người đi tìm phải đi quanh, không phải “năm phút đã về chốn cũ”, mất vài chục phút “lại về chốn cũ” là chuyện thường.

            “Trăm hay không bằng tay quen”. Nhờ cái “quen” ấy tìm nhà cũng nhanh, tuy nhiên tôi cũng có lần kiếm hụt hơi.

            Một lần tôi với tài xế Đãnh tìm một ông già, địa chỉ ghi rất gọn: “Phi trường Tân Sơn Nhất”.

            Tử sĩ con ông già chắc không quan tâm lắm về nơi cư trú của thân phụ mình, nên anh ta, trong hồ sơ nhập ngũ, ghi đại khái như vậy. Đến phiên tôi đi tìm nhà, đâu có thể “đại khái” mà phải tìm cho được, để báo tin rằng “Con trai bác đã tử trận”. Rồi chờ…

            Ông già góa vợ khi còn trẻ, “một cha một con” sống với nhau, cho đến khi người con trai, thấy mình cần đăng lính, sau khi bị thôi thúc vì câu hát của Lam Phương: “Người thư sinh ấy đã xếp bút nghiên”… Và “anh hãy nói khoác chiến y rồi.”

            Tôi đi bộ gần như “đứt hơi” từ đầu tới cuối phi trường Tân Sơn Nhất, để hỏi thăm ông thân sinh tử sĩ; tôi mới biết thêm ông là nhân viên “Sở Quản Lý Phi Trường”. Đến ngay “Sở Quản Lý Phi Trường” cũng chẳng ai biết ông là ai vì “ở đây đông người lắm”. Phải tìm đến “ban phát lương”, bởi vì nếu ông ta có đi làm thì phải có lương.

            Bấy giờ “bà Thủ Quỹ” mới cho hay rằng, người cha của anh lính tử trận của binh chủng tôi là một ông Tô Vũ của phi trường, thời kỳ đã có nhiều Boeng 727 lên xuống phi đạo.

            Chắc chắc ông không phải là nhạc sĩ Tô Vũ của “Em đến thăm anh một chiều mưa”, “phục vụ đảng và bác ở ngoài Bắc”, đang ở ngay Hà Nội hay “sơ tán” máy bay Mỹ lên miền Trung du Bắc bộ; ông ta lại càng không phải là ông Tô Vũ bị rợ Hung Nô bắt làm con tin đời Hán Vũ Đế bên Tầu, mà chính là một ông già chăn dê cho phi trường. Chắc là mấy ông lớn “quản lý phi trường” khoái ăn thịt dê, đất phi trường thì rộng, tại sao họ không nuôi một bầy dê để có thịt dê mỗi khi tiệc tùng.

            Hỏi “bà Thủ Quỹ” chăn dê ở đâu? Bà lắc đầu: “Thiếu úy tìm quanh phi trường thì gặp ổng. Ổng không cho dê ra khỏi phi trường đâu!” Vậy là tôi lại phải “một chiều lang thang” trong phi trường” không phải để xem “người đi, người tiễn”, hay “người chia tay nơi cuối đường” (băng) mà để đi tìm ông già chăn dê.

            Hơn một giờ sau, “lội bộ rã giò”, mới gặp “ông Tô Vũ thời đại” gần Cổng Số 6 (?), chỗ gần Tổng Y Viện Cộng Hòa. Ông đang “thả dê” ăn ở đó; “thả dê” là tôi nói theo đúng nghĩa đen của hai tiếng nầy.

            Báo tin cho ông già xong, tôi phải ngồi chờ ông khóc tỉ tê.

            Ông không khóc òa như các mẹ, các chị. Ông khóc không thành tiếng, ông khóc thầm; không “thê thảm” như người đàn bà khóc con bị cọp vồ trong “Cổ Học Tinh Hoa”. Ngày trước, khi khóc vợ qua đời, ông cũng khóc thầm như thế chăng? Rồi bao nhiêu năm “gà trống nuôi con”, nếu có khi nào ông thấy thương cho người vợ chết sớm, “đầu gối tay ấp”, bên cạnh đứa con trai độc nhất, ông cũng khóc thầm như thế chăng?

            Ngày trước ông khóc vợ, nay ông lại khóc con, cũng âm thầm như hồi ông khóc vợ. Có ai biết cho ông? Có ai thông cảm cho ông, một người cha vừa mới nghe tin con “mất ngoài chiến trường”. Ông ngồi dựa lưng vào cây bã đậu mà khóc! Ông không thấy đau khi những cái gai nhọn ở thân cây đâm vào lưng ông. Nỗi đau quá lớn trong lòng ông làm ông quên đi cái đau nơi thân thể ông rồi chăng?

            Đứng chờ lâu mỏi chân, vả đi bộ nãy giờ, chân tôi cũng đã chồn, tôi cũng ngồi xuống dựa lưng vào một cây bã đậu bên cạnh.

            Một lúc thật lâu, ông đứng dậy lùa bầy dê về chuồng, cách đó cũng khá xa.

            Tôn trọng nỗi đau của người cha mất con, tôi lặng lẽ đi theo. Cho dê vô chuồng, khóa cửa lại, “việc công” xong rồi ông mới mời tôi về một cái chòi lợp tôn gần đó, để lo “việc tư”, để hỏi thăm về việc người con trai ông đã hy sinh, và hỏi thăm về việc chôn cất.

            Dĩ nhiên, đó là một “kỷ niệm đời lính” khó quên cho tôi!

 

&

 

            Công việc của tôi như thế. Bây giờ là lúc tìm nhà người mẹ tử sĩ.

            Con hẽm bên cạnh trường Nữ Trung Học Lê Văn Duyệt trên đường Đinh Tiên Hoàng, Gia Định, gần như đối diện với Lăng Ông Bà Chiểu là một con hẽm xa hun hút. Tôi có cảm tưởng như nó rẽ phải, rẽ trái rất nhiều lần, cuối cùng sẽ “đụng” với “đường Hàng Keo”, là một con đường nhỏ, chưa tráng nhựa, đối diện với Ty Canh Sát Gia Định trên đường Võ Tánh. Có phải xưa là “bót Hàng Keo” như người ta thường gọi?

            “Kinh nghiệm” không sai. Theo địa chỉ, tôi phải đi qua bao nhiêu cái “xiệc”. “Tin tức đầu tiên” khi hỏi người trong hẽm, mới hay rằng đó là một “bà già Tầu” trên năm mươi tuổi, “một mẹ một con”, con đăng lính, mẹ ở một mình. Đây không hẳn là một bà “mẹ Việt Nam” như kiểu cục Tâm Lý Chiến tuyên truyền, mà chính là một “bà mẹ Tầu” có con đi lính Việt Nam, chống “tay sai Tầu Cộng”. Nói vậy cho đúng bài bản.

            “Tin tức thứ hai”, bà vốn dĩ gốc Tàu Chợ Lớn, “yêu” một người Việt Nam, bị gia đình cấm cản. Đó cũng là “chuyện thường tình”, như dân chúng từng nghe. Đến khi có bầu, bà theo người chồng Việt Nam về ở xóm nầy; chưa được bao lâu, người chồng tử nạn xe lửa; “sinh nghề tử nghiệp”, người chồng là công nhân hỏa xa.

            Bà cũng đành ở vậy, nuôi con, không tìm về Chợ Lớn, nhà cũ, cha mẹ ruột, vì cha mẹ đã từ con. Người con trai lớn lên, giống như thanh niên cùng xóm, mười tám tuổi, anh đăng lính mũ đen. Lính mũ đen là lính Thiết Giáp. Hơn nửa năm sau, anh “hy sinh trên chiến trường Kamphuchia”. Anh ta đúng là một con người “quốc tế”: Cha Việt, mẹ Tầu, chết ở Kam-pu-chia. May mà chưa có vợ Tây hay vợ Mỹ.

            Tôi giả bộ đi chầm chậm qua căn nhà tôn nhỏ, nơi bà sinh sống một mình, tự hỏi lòng: “Làm sao mà báo tin cho bà đây?” vì chắc chắn bà thương con lắm. Nghe tin con tử trận, chết giả hay bất tĩnh là việc dễ xảy ra.

            Và bà già Tầu ngất xỉu thật, sau khi bà hỏi lại tôi một lần nữa về tin người con trai bà: “Nó “chiếc” dzồi a?”

            Nhưng rồi bà tỉnh lại ngay, chụp ngay con dao để bên cạnh, giáng lên cao và… chém tôi, kèm theo một câu chưởi: “Cha cái “xằng Xiệu” giết con… ngộ.” 

            Tôi không kịp hay cố nghe cho rõ tiếng cuối “ngô” hay “ngộ” hay gì đó. Tôi bước lui vài bước thật nhanh, có tạo một khoảng cách, tin chắc con dao bà cầm chém không tới… tôi.

            Rồi bà già Tầu khóc, khóc to, bà la to lên, chưởi mắng ai đó tôi không nghe rõ; rồi bà té xuống đất, lại ngồi lên, lại tiếp tục chưởi “xằng Xiệu”. Bà chưởi tổng thống đấy…

            Nhìn cảnh ấy, tôi nói với tài xế Chính, đứng bên tôi, mặt cũng tái xanh đi, không phải vì sợ, mà có lẽ vì ngạc nhiên, vì thấy lạ, một cảnh anh ta chưa từng gặp. Tôi nói: “Bà điên rồi mầy ơi! Bà điên rồi.”

            Nghe tiếng tôi, Chính hơi bình tĩnh trở lại, hỏi tôi:

            -“Làm sao thiếu úy, bây giờ làm sao?”

 

            Trí tôi cũng chưa ổn định hẳn, tôi trả lời:

            -“Cũng không biết làm sao?”

            Binh thư của trường Bộ Binh chỉ dạy tôi nhiệm vụ của một trung đội trưởng. Binh thư trường Thiết Giáp dạy tôi về “Thiết Quân Vận” M-113, xe tăng M-41, và đội hình hành quân, tấn công; binh thư cục Tâm Lý Chiến không có mục nầy. Tôi phải tự mình xoay xở lấy, không phải để “đối đầu với địch” mà ứng xử tốt đẹp với… đồng bào tôi như lời trung tá Mậu dặn dò.

 

&

 

            Mấy người hàng xóm chạy lại. Có người vỗ vỗ nhẹ vào má “bà già Tầu”, có lẽ muốn cho bà tỉnh lạị, có người la to: “Lấy chai dầu…” Có lẽ họ muốn xức dầu cho bà. Rồi họ làm gì đó, tôi không thấy rõ. Đúng là “tình Chòm Xóm”. Tình nầy không có ở… Mỹ.

            Có vẽ như việc bà bị ngất đi, bà bị điên, không có gì nghiêm trọng. Chưa ai biết bà vừa nhận tin con trai bà tử trận. Hồi nãy, trên con đường đi hỏi nhà để vào đây, tôi “giữ kín miệng”. Kinh nghiệm dạy tôi như thế, “không nói với ai về tin người tử trận, trước khi báo cho gia đình.”

            Yên tâm như thế, tôi quay lui, đi ra đầu ngõ. Chính đi kế bên tôi, hỏi liên tiếp:

            -“Làm sao thiếu úy? Làm sao bây giờ?”

            Tôi không trả lời, lầm lũi đi. Đến kề bên cổng trường, tôi ngồi xuống cái ghế nhỏ của một quán “càphê cóc”. Chính cũng ngồi xuống. Tôi và anh ta không ai gọi gì. Cô gái bán quán đứng chờ bên cạnh. Tôi đưa tay ra dấu biểu chờ, cô ta bỏ đi vào trong.

            Một lúc sau, tôi nói với Chính:

            -“Chờ một chút, tìm cách nào gặp bà!”

            Chính nói:

            -“Hồi nãy có mấy bà hàng xóm, thiếu úy không nói luôn đi.”

            -“Đâu được! Thấy mặt mình, bà xỉu nữa là mệt chết đó.”

            Nói với Chính câu đó là tôi nhớ một chuyện cũ. Hồi tôi còn đi học, anh Trương, hàng xóm, thường qua chơi với tôi. Anh kể, nhà quen có nuôi một con khỉ. Anh ấy hay chọc ghẹo và cho khỉ ăn vặt. Một hôm, anh đập chết một con rắn. Tinh nghịch, anh gói con rắn trong tờ giấy báo, đem cho khỉ. Con khỉ tưởng là đồ ăn, kêu cheng chéc, cầm chắc trong tay, rồi mở tờ giấy báo ra. Thấy con rắn, con khỉ nắm tay lại, chết giấc. Đến khi con khỉ tỉnh lại, mở mắt ra, lại thấy con rắn trong tay, lại chết giấc lần nữa. Tôi không biết chuyện anh ấy kể thật hay đùa, nhưng tôi thấy vui và nhớ mãi.

            Bây giờ cũng vậy. Nghe tin tôi nói, “bà mẹ Tầu” chết giấc. Nếu tỉnh lại, lại thấy tôi, chắc gì bà ấy không chết giấc lần nữa. Chuyện thiệt hay giả, tôi tránh mặt “bà mẹ Tầu” là hay nhất, suy nghĩ một chút rồi tính sau.

            Một lúc sau, tôi hỏi Chính:

            -“Khu vực nầy chắc thuộc xã Bình Hòa?”

            -“Đúng rồi, hôm trước, em tới trụ sở xã một lần.”

            -“Xe để đâu?” Tôi lại hỏi.

            -“Em gởi tại Cảnh Sát.” Chính trả lời.

            -“Cứ để đó đi. Mình tới trụ sở xã, phải nhờ địa phương.”

            Tôi đứng dậy, Chính đi theo, đến trụ sở xã phía chợ Bà Chiểu.

            Ông phó xã trưởng nói, sau khi nghe tôi bày tỏ ý kiến nhờ báo tin cho “bà già Tầu”: “Phải xuống khóm. Xã nầy dân đông lắm, chỉ thua Phú Nhuận. Khóm họ gần dân hơn.”

            Rồi ông ta hăng hái đi trước, đến trụ sở khóm. Phải chờ hơn nửa tiếng đồng hồ, anh trung sĩ khóm trưởng mới về tới nơi. Tôi đoán chừng trường hợp của anh ta. Anh trung sĩ, có một cái dù ông lớn nào đó, được biệt phái về làm khóm trưởng ở đây, mỗi ngày tà tà lui tới với khóm, xa súng đạn, giữ được chữ “thọ” cho bản thân. Không rõ vì bản tính hay vì muốn lập công, anh ta hết lòng giúp tôi.  

            Anh đến gặp “bà mẹ Tầu”, lúc chòm xóm còn ngồi đứng quanh bà, báo tin và an ủi; xong anh cho người gọi tôi vào, để tôi “chia buồn”, hỏi bà có yêu cầu gì cho đám ma người con trai.

            Tôi nghiệp “bà mẹ Tầu”, bà chẳng xin xỏ, đòi hỏi gì hết, bà chẳng biết gì về việc lo chôn cất con trai bà, chỉ sớm mai, đón bà lên nghĩa trang, cho bà “bịt khăn cho con”, và chứng kiến cảnh hạ huyệt. “Năm hết tết đến”, bà mẹ Tầu cũng như các ông bà hàng xóm, theo phong tục của người Việt, “không để đám ra ngoài năm.”           

            Tôi hẹn với “bà mẹ Tầu”, sáng mai, tôi đến để đón bà lên nghĩa trang. Các bà hàng xóm cũng muốn đi đám, tôi hứa sẽ có một xe Dodge đưa các bà đi và về.

            Trước khi ra về, tôi gặp riêng ông trung sĩ khóm trưởng, hỏi:

            -“Tình hình an ninh ở đây có yên không?”

            -“Tình hình an ninh” là cái gì?” Ông trung sĩ hỏi lại.

            -“Bây giờ người ta hay biểu tình “đả đảo”, “hoan hô”, nhất là đám “phản chiến”, “thành phần thứ ba”, bọn chúng có lợi dụng hoàn cảnh “bà mẹ Tầu” để làm gì không?”

            -“Không! Ở đây không ai theo họ!” Ông trung sĩ nói chắc.

            -“Hồi nãy tôi quên hỏi, “bà Tầu” có mời sư sãi nào không? Cần thì ở nghĩa trang có mấy ông tuyên úy. Đạo nào cũng có.”

            -“Không đâu!” Nói xong, ông trung sĩ đổi ý. “Hay thiếu úy mời một ông “tuyên úy Phật giáo”. Khóm nầy cũng có nhiều bà hay đi chùa!”

            -“Được! Có thôi. Cũng nên có một thầy cho lễ an táng, kinh kệ thêm nghiêm trang, “đủ lệ bộ”. Tôi trả lời.

            Một lúc, tôi lại hỏi:

            -“Vậy Nguyễn Thị Trừ thì sao?”

            -“Nguyễn thị Trừ nào?” Ông trung sĩ hỏi, vẻ ngạc nhiên.

            -“Ni sư Huỳnh Liên đó! Bả “nằm vạ” hoài, mấy lần tôi bị kẹt xe. Chùa bả gần đây nè! Bả tới mấy hồi.”

            -“Ở đây không ai hoan hô bả đâu. Láng cháng dân người ta đuổi bà đi, không cần cảnh sát của đại tá Đệ.”

            -“Bà nhà quê đó, bị tụi nó lợi dụng. Tôi nghĩ bả không có trình độ hiểu biết gì đâu, ngoài mấy cuốn kinh Phật. Tôn giáo mà cũng xông ra làm chính trị. Khỉ thật.”

            Chính hỏi tôi:

            -“Thiếu úy gọi Nguyễn thị Trừ nên khóm trưởng không hiểu.”

            -“Tôi gọi xách mé chơi, “không ưa được”. Người ta đang đánh giặc ngoài mặt trận, chết sống từng giây, đám phản chiến ở nhà quậy cho đã, thiệt không có lương tâm gì cả.”

 

&

 

            Nói xong, tôi đi qua hướng Cuộc Cảnh Sát Bình Hòa để lấy xe. Vừa ngồi lên ghế xong, tôi nói với tài xế Chính:

            -“Trễ rồi, xe của Thiết Đoàn 16 chắc về tới nghĩa trang, mình lên đó ngay.

            -“Kiếm ổ bánh mì thiếu úy. Em đói rồi.” Tài xế Chính nói.

            -“Coi chỗ nào có xe bánh mì thì tấp vô.” Tôi trả lời.

 

&

 

Sáng hôm sau, sau khi đến “Trung Đội Chung Sự” làm việc với toán an táng, xem huyệt và kim tỉnh xong, tôi về lại đơn vị tôi, rồi cùng mấy người nữa đi đến nhà “bà mẹ Tầu”.

Sáng sớm, tôi nói với đại úy Trang, trưởng phòng xã hội: “Cô gọi Phòng Tư cấp xe cho cô. Xe của phòng tôi phải xử dụng một mình.” Thường chúng tôi dùng chung một xe mỗi khi đi công tác chung.

Nói như vậy là tôi có chủ ý. Tôi không muốn “bà mẹ Tầu” đi chung xe Dodge với những người khác. Ít ra, cũng phải trân trọng bà một chút. Một đời nuôi con gian khổ, nay con tử trận, đem xe Jeep đến đón bà an táng cho con là một “đãi ngộ” quá ít ỏi đối với công ơn của người mẹ. Còn như “trợ cấp tổ phụ” có Phòng Xã Hội lo, không phải việc của tôi.

Khi tôi tới nhà “bà mẹ Tầu” mọi người tụ họp đã đông. Tôi vào nhà, chào bà và mọi người xong thì mời họ lên xe. Các bà cùng xóm đã lo xong một mâm lễ gồm hoa trái, nhang đèn… Tài xế Chính vội bưng lên để trên xe Dodge, và mời mọi người lên xe Dodge cùng với khóm trưởng.

Thấy “bà mẹ Tầu” loay hoay tính lên xe Dodge, tôi nói với bà ấy: “Tôi đưa bà đi”, rồi chỉ tay về phía chiếc xe Jeep. Bà hơi ngạc nhiên, rồi vội vã đi tới phía xe. Tôi lại nghĩ thầm: “Một lần rồi thôi”. Sau nầy, chẳng còn ai đưa đón bà như thế nầy đâu. Cuộc đời nầy bạc bẽo thật, trong cả tình người, không chỉ trong việc trai gái yêu nhau bỏ nhau mà thôi.

Hôm ấy, tôi để ý thấy có một cô gái còn trẻ, người hôm qua tôi không thấy. Cô đứng sát bên “bà mẹ Tầu”, mặt còn dấu đẫm nước mắt. Hình như cô ta vừa hết khóc khi thấy chúng tôi tới nơi. Không ai giới thiệu với tôi cô ấy là ai. Chắc không phải là vợ vì “hồ sơ quân bạ” của tử sĩ tôi xin ở “Phòng Một” ghi anh ấy còn độc thân. Vậy thì ai? Một người bà con, một người bạn học, một “cô láng giềng” hay một “em gái hậu phương”. Rồi loay hoay công việc, tôi bỏ qua cái thắc mắc ấy. Khi lên xe, tôi thấy cô theo sát “bà mẹ Tầu”, tôi bèn mời cô lên ngồi ghế sau cùng tài xế Chính. Bữa đó, tôi đích thân lái xe đưa “bà mẹ Tầu” lên nghĩa trang.

Trong nhà quàn, một dãy dài hơn mười cái quan tài phủ cờ nằm song song với nhau, trong cái không khí ảm đảm của nơi làm đám ma. Có mấy người đang ngồi khóc quanh một cái quan tài ở phía xa.

Nhờ buổi sáng tôi đã lên đây trước, tôi biết “chỗ” của người con trai “bà mẹ Tầu”. Tôi dừng lại trước quan tài anh ta. “Bà mẹ Tầu” hiểu là con bà trong nằm trong đó, bà khóc nức nở: “Con ôi! Con bỏ má mà đi…”  Cô gái cũng ngồi sụp xuống bên cạnh “bà mẹ Tầu” khóc theo.

Tôi đưa hàm răng trên cắn nhẹ vào môi dưới để nước mắt tôi khỏi chảy xuống theo tiếng khóc của hai người đàn bà. Thấy ông trung sĩ khóm trưởng cùng vài ông già lo đặt lễ và bịt khăn cho “bà mẹ Tầu”, tôi lặng lẽ đi ra sân. Vốn dĩ biết mình dễ xúc động, tôi tránh cái khung cảnh đau đớn nầy.

Sau khi mọi lễ lược xong, đạo tì đưa quan tài ra huyệt. “Bà mẹ Tầu” vẫn khóc nức nở, nhưng may mắn, bà không bị ngất xỉu như ngày hôm qua. Cô gái ấy đi theo, tay nắm vào cánh tay “bà mẹ Tầu”, đỡ bà đi theo quan tài.

Cô ấy khóc và mọi người cùng khóc.

Tôi đi sau cùng, bâng khuâng nghĩ tới mấy câu thơ của Huy Cận: “Kẻo thân đau chưa quen nệm giường đời. Ai đi đưa xin đưa đến tận nơi. Chớ quay lại nửa đường mà làm tủi. Người đã chết một vài ba đầu cúi.”

Không phải “một vài ba đầu cúi”. Ai cũng cúi đầu và ngậm ngùi, kẻ khóc nho nhỏ, người khóc to.

 

&

 

Ba ngày sau, là ngày “ba mươi tết”, cũng là ngày cúng “mở cửa mả” cho người chết, theo phong tục người Việt Nam.

Hôm qua, tôi báo cáo với trung tá Mậu: “Tôi đem xe đưa bà lên nghĩa trang một lần nữa, kẻo tội nghiệp “bà mẹ Tầu”; con chết rồi, một thân một mình, không ai giúp đỡ.”

Khoảng mười giờ sáng, tôi đưa “bà mẹ Tầu” tới nghĩa trang. Cô gái hôm trước, hôm nay cũng đi theo. Cô gọi “bà mẹ Tầu” bằng “má”, khiến tôi hơi ngạc nhiên.

Sau khi cúng xong, cô gái mời mấy người lính ở nghĩa trang “dùng cơm”, tức là dùng các “đồ cúng” họ mang lên hôm đó. Trong khi mấy anh lính “ăn nhậu” vui vẻ, “bà mẹ Tầu” ngồi nhìn họ có vẻ trìu mến. Vì thương con nên bà thương những người lính trẻ nầy bằng tuổi con bà, tôi nghĩ vậy. Tôi không ngồi chung với mấy người ấy; vẫn với thói quen, tôi ngồi ngoài sân. Trung úy trung đội trưởng “Trung Đội Chung Sự” ngồi bên cạnh tôi nói chuyện bâng quơ. Thấy cô gái đi ngang, tôi gọi lại, dặn vài điều. Tôi nói:

-“Bữa nay tết rồi, các nơi đều nghỉ hết. Cỡ sau tết ít hôm, đơn vị của anh Nghĩa – tên của tử sĩ – họ sẽ gởi giấy tờ về để lập hồ sơ “trợ cấp tổ phụ” cho bà cụ. Cô có rảnh, giúp bà cụ điền các thứ giấy tờ được không?”

-“Được chớ.” Cô ấy trả lời.

Tôi nói tiếp:

-“Giấy tờ đôi khi có chỗ khó hiểu. Cô có thể vô đơn vị tôi, hỏi cô đại úy Trang, hay cô Thanh Nhàn, các cô giúp đỡ cho.”

-“Được. Tôi biết chỗ thiếu úy làm việc.”

-“Cám ơn”. Rồi tôi nói tiếp. “Đúng ra thì cô có “trợ cấp quả phụ”, nhưng bởi anh ấy khai còn độc thân nên chỉ có “trợ cấp tổ phụ” thôi.

Câu trả lời làm tôi chưng hửng:

-“Tôi có phải là vợ anh ấy đâu!”

Tôi vội nói:

-“Xin lỗi. Thấy cô gọi bà ấy bằng “má” nên tôi hiểu lầm.

-“Không có gì đâu. Từ nhỏ, tôi coi bà như má tôi.”

-“Vậy cô là hàng xóm anh ấy hay, xin lỗi, hơi tò mò một chút, “hai người có yêu nhau?” Tôi nói.

-“Chòm xóm thì có, nhưng người yêu thì không, bởi vì anh ấy đâu có yêu tôi hay yêu ai!” Cô gái trả lời.

-“Yêu ai cũng không, yêu cô cũng không. Vậy chắc cô là “em gái hậu phương” của anh ấy.” Tôi lại tò mò.

-“Cái đó cũng không luôn.” Cô gái trả lời, hơi mĩm cười.

-“Anh ấy không yêu cô nên cô không làm vợ anh ấy?” Tôi lại hỏi.

-“Cũng không thiếu úy à. Lấy chồng nghèo cực lắm. Nhà anh ấy chỉ một mẹ một con, anh ấy lại là lính, làm sao mà giàu?” Cô gái trả lời, vẻ ngậm ngùi.

-“Lại tò mò một chút nghe! Chắc cô lấy chồng giàu?” Tôi hỏi.

-“Thiếu úy biết tôi sợ nghèo! Chồng tôi là một “chú ba Tầu giàu” trong Chợ Lớn.” Một lúc sau, cô ta lại nói: “Nói cho đúng, anh Nghĩa mới là người tôi yêu!” Cô ta nói, mắt nhìn ra xa ngoài đường lộ, hơi có vẻ đăm chiêu.

-“Cô có vẻ rắc rối đó. Tôi xin lỗi.” Trung úy trung đội trưởng ngồi bên tôi, góp ý vô.

-“Có gì đâu! Chồng tôi là “lính kiểng”. Anh có cái giấy phép 15 ngày đổi một lần. Một hôm, đang đi với tôi, gặp Quân Cảnh hỏi giấy, mặt anh tái mét, sợ líu lưỡi, nói không ra hơi. Anh Nghĩa thì khác, mặc đồ lính vô, tướng anh ấy ngon lành ghê! Các anh nghĩ, con gái như bọn chúng tôi, “thần tượng” ai chớ. Đời không như mình nghĩ.”

Khi ấy có tiếng gọi của “bà mẹ Tầu”, cô ta “dạ” rồi quay quả đi vô phía trong.

Một lúc sau, cô gái đi ra, nói với tôi:

-“Mẹ anh Nghĩa xin gặp “ông tổng thống.”

Chết cha! Tôi nhớ câu trung tá Mậu dặn dò hôm bắt đầu giao việc cho tôi. “Thân nhân người ta thưa lên tới tổng thống.” Tôi có làm gì sai để “bà mẹ Tầu” đòi thưa lên tới tổng thống đây. Tôi vội hỏi lại:

-“Có chi quan trọng không?”

Cô gái cười:

-“Hình như bữa hổm bà chưởi tổng thống. Bà hối hận. Chắc bà muốn xin lỗi.”

Tôi hoàn hồn. May! Tôi không có lỗi chi. Tôi nói:

-“Cô nói giúp với bà. Ông tổng thống không chấp nhất gì đâu. Ông cũng thương lính, thương các bà mẹ lính vậy mà.”

Bỗng “bà mẹ Tầu” từ phía trong đi ra, tới chỗ tôi, bà ngồi thụp xuống, chấp tay lạy tôi, khóc, nói: “Tui có tội, tui có tội.”

Tôi vội vàng đứng dậy, cùng cô gái nâng bà đứng lên. Tôi nói với cô gái:

-“Cô nói giúp với bà ấy đi. Không có gì đâu. Tổng thống là người cao thượng mà, ông có trách chi.”

Cô gái nói lại với bà ta. Có vẻ như bà yên tâm hơn.

Tôi nói với trung úy trung đội trưởng và cô gái: “Bữa đó tui nghe, chớ tổng thống đâu có ở đó mà nghe. Ông không biết đâu!”

Bà di vô phía trong, chắc để chuẩn bị về.

Đang ngồi chờ, ông trung úy trung đội trưởng nhìn tôi, nói, giọng không vui: “Thiếu úy nhớ câu cô ta nói không. “Đời không như mình nghĩ.” Cô ta yêu một người hùng, nhưng lại sợ cho người đi giữa súng đạn, đành phải lấy một “thùng nước lèo”. Tội nghiệp cô ta nhỉ!

 

 

Hoàng Long Hải