Feeds:
Posts
Comments

Lãnh tụ Fidel Castro qua đời, thọ 90 tuổi

nguồn VOA

fidelcastro

NOV 25. 2016 – Cựu Chủ tịch Cuba Fidel Castro đã qua đời ở tuổi 90. Em trai của ông, Chủ tịch Cuba Raul Castro, loan báo tin này trên truyền hình nhà nước.

“Vào 10 giờ 29 phút đêm, chỉ huy trưởng của cuộc cách mạng Cuba, Fidel Castro Ruz, đã qua đời,” ông nói mà không cho biết nguyên nhân cái chết.

“Mãi tiến bước, tới chiến thắng.”

Cư dân thủ đô Havana trên đường phố buồn bã trước tin này trong khi tại thành phố Miami bang Florida của Mỹ, nơi nhiều người Cuba lưu vong sinh sống, một số người reo hò, nhấn còi xe và đập vào nồi chảo để ăn mừng, theo tin tức trên mạng xã hội.

Di hài của ông Castro sẽ được hỏa táng theo di nguyện của ông.

fidelcastro

 

Chính quyền cộng sản của ông Fidel Castro tồn tại sau một cuộc xâm lược của những người Cuba lưu vong được Mỹ hậu thuẫn, một cuộc khủng hoảng phi đạn giữa những siêu cường, nhiều âm mưu ám sát và nhiều thập kỷ chịu lệnh cấm vận kinh tế của Mỹ. Nhưng ông Castro đã sống đủ thọ để chứng kiến Washington loan báo tái lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Havana và chuyến công du theo sau đó của Tổng thống Mỹ đến đảo quốc này vào tháng 3 năm 2016.

Fidel Castro Ruz sinh ngày 13 tháng 8 năm 1926. Ông lớn lên trở thành một trong những nhà lãnh đạo của phong trào chống lại chế độ độc tài Fulgencio Batista. Ông lãnh đạo một lực lượng du kích mà cuối cùng đánh bại được quân đội của Batista và chiếm hòn đảo vào năm 1959.

Bob Dylan và những chuyện chung quanh giải Nobel văn chương 2016

bob-dylan-52fe6be6-hero

Thế Quân

 

Đến giờ, người ta vẫn không cho biết lý do tại sao Bob Dylan giữ im lặng rất lâu trước việc ông được tặng giải Nobel văn chương khiến cho Hàn Lâm Viện Thụy Điển bực tức, phê bình ông là “kiêu ngạo” và “bất lịch sự”. Sự im lặng khó hiểu này đồng thời cũng khiến cho tờ  New York Times nhảy vào cuộc. Trong bài viết mang tựa đề “Ý nghĩa của việc im lặng của Bob Dylan” (The Meaning of Bob Dylan’s Silence),[1] Adam Kirsch cho rằng có vẻ như Dylan muốn theo bước chân của Sartre khi triết gia này từ khước nhận giải Nobel năm 1964. Sartre khẳng định, nhà văn phải từ chối cho phép mình biến thành một tượng đài (institution), ngay cả khi điều này diễn ra trong những trường hợp đáng vinh dự nhất. Trở thành một người đoạt giải Nobel, có nghĩa là cho phép “người ta” định nghĩa mình là ai, là trở thành một sự vật và một khuôn mặt công cộng hơn là một cá nhân tự do. Cùng một ý, Dylan đã từng tuyên bố rằng ông “không còn muốn viết cho người ta nữa” mà chỉ muốn “viết từ thôi thúc bên trong tôi.” (write from inside me). Đi xa hơn cả Sartre, nếu tiếp tục im lặng như một sự khước từ, Dylan chứng tỏ rằng ông là một người thực sự tự do, về triết lý cũng như về mặt nghệ thuật, theo Adam Kirsch.

Nhưng rồi, cuối cùng, hôm 29/10/2016, Bob Dylan đã chính thức lên tiếng chấp nhận giải. Trong một cuộc điện đàm với Sara Danius, thư ký thường trực của Hàn Lâm Viện Thụy Điển (HLV) và hiện là giáo sư văn chương tại đại học Stockholm, Dylan  cho biết  ông rất vinh dự nhận được giải và tin này khiến ông cảm động không nói nên lời. Ông cho biết là ông sẽ tham dự buổi lễ trao giải. “Thật là kỳ diệu. Ai mà chẳng mơ một điều như thế này,” Dylan nói với phóng viên tờ Daily Telegraph.

Trong lời loan báo giải hôm 13/10, HLV ca ngợi rằng Dylan “đã sáng tạo ra những diễn đạt thi ca mới mẻ nằm trong truyền thống ca khúc vĩ đại của Hoa Kỳ.” Để minh chứng cho nhận định đó, Sara Danius  đã so sánh tác phẩm của Dylan với những nhà thơ cổ Hy lạp như Homer và Sappho.  “Dylan là nhà thơ vĩ đại trong truyền thống nói tiếng Anh. Nếu ta nhìn ngược trở lại 2.500 năm trước đây, ta sẽ gặp Homer và Sappho, thơ của họ viết ra là để được lắng nghe, là để được trình diễn, thường là đi kèm với nhạc cụ – cùng một cách như Bob Dylan.” Mặc dầu Dylan không được sắp xếp trong hàng ngũ những nhà văn nhà thơ, nhưng với một số lượng lớn những tác phẩm sáng tạo của ông trong năm thập niên, ông “luôn luôn tái tạo chính mình.” Không những thế, ông “là một mẫu mực tuyệt vời, một mẫu mực độc đáo,” theo Danius. Như thế, có một liên hệ sâu xa giữa thơ ca, văn chương và âm nhạc. Hơn nữa, bản chất văn chương của ca từ vốn đã được thừa nhận từ năm 1913 khi HLV trao giải cho người viết ca từ và là nhà thơ Rabindranath Tagore của Ấn Độ.

thubut

Quyết định khá bất ngờ của HLV đã gây ra tranh cãi trong giới học thuật toàn thế giới: tác phẩm của Dylan có đáng được xem là văn chương hay không?

Một số nhà văn nổi tiếng như Stephen King, Joyce Carol Oates và Salman Rushdie gọi Dylan là “người thừa kế xuất sắc của truyền thống thi ca, đó là một chọn lựa xứng đáng.” Nhà thơ Tod Marshall, cũng như Danius, cho rằng âm nhạc và thi ca đã từng pha trộn với nhau từ thời xa xưa. Những bài thơ của Homer và những khúc truyện-thơ (ballad) của thi ca tiếng Anh lúc khởi đầu thường được đọc lớn tiếng và đi kèm theo âm nhạc. Vì thế chả có gì là lạ khi xem ca từ là một hình thức nào đó của thơ. Nhiều ca khúc cũng sử dụng ngôn ngữ cô đọng, ẩn dụ, có nhịp điệu kết hợp thành một cái gì khuấy động tâm hồn và mang tính cách văn chương. Đi xa hơn, Billy Collins, nhà thơ quốc gia Hoa Kỳ, xem Dylan xứng đáng được thừa nhận như một nhà thơ. “Bob Dylan nằm trong số hai phần trăm những người viết ca khúc mà cái hay của ca từ nằm ngay trong ngôn ngữ của chúng mà không cần đến nhạc cụ và có một giọng điệu rất riêng. Tôi cho rằng ca từ của ông xứng đáng được xem là thơ.”[2]

Những người tán đồng việc trao giải cho rằng Dylan thường cho điểm xuyết những ám dụ văn chương vào ca từ của mình. Không những thế, ông cũng từng trích dẫn thơ của của Arthur Rimbaud, Paul Verlaine và Ezra Pound vào ca từ. Ngoài ra, ông còn làm thơ. Năm 1971, ông cho xuất bản Tarantula (1971), một tập thơ xuôi, viết theo kiểu dòng ý thức như của Jack Kerouac, William S. Burroughs, hay Allen Ginsberg. Tuyển tập “The Oxford Book of American Poetry” (2006) có ca khúc “Desolation Row” và nhà xuất bản “Cambridge University Press” phát hành tập “Cambridge Companion to Bob Dylan” (2009) củng cố thêm tên tuổi của ông như một người viết văn (literary stylist). Giáo sư Seamus Perry, đại học Oxford, cho rằng, “Hơn bất cứ ai, ông là nhà thơ vĩ đại của thời đại chúng ta”. Ca từ của ông vừa có tính cá nhân vừa tính nhân loại, vừa giận dỗi vừa hài hước lại vừa dịu dàng; ông là “chính mình một cách toàn hảo.”

Nhưng một số người khác cho rằng dù hay ho đến mức nào đi nữa, ca khúc là ca khúc, không thể “nâng lên” cùng hàng với văn chương. Văn chương phải là cái gì sâu lắng, gợi cảm, đa diện và đa nghĩa. Chữ nghĩa văn chương phải truyền đạt được những ý nghĩa sâu xa của cõi nhân sinh. Do đó, thành tựu của Dylan, dù có chứa ít nhiều chất văn chương chăng nữa, cũng không ngang bằng với thành tựu của những nhà văn khác,  như Phillip Roth, Marilynn Robinson, Joyce Carol Oates, Haruki Murakami (Nhật) hay Ngugi wa Thiong’o (Kenya), vốn được dư luận xem là những người đứng trong phòng chờ giải Nobel văn chương từ lâu. Chính vì thế mà nhà văn Rabih Alameddine không tiếc lời phê phán cung cách chọn lựa của Hàn Lâm Viện. Ông so sánh việc tặng giải lần này cho Dylan cũng như trước đây tặng cho Winston Churchill giải văn chương 1953 là một điều “ngu xuẩn”.  Nhà văn Pháp Pierre Assouline gốc Ma rốc thì cho rằng đó là một điều “khinh thường các nhà văn”. Nhà văn Thụy Điển Karl Ove Knausgaard tỏ ra khiêm nhường hơn: đồng ý với ủy ban về việc mở rộng giải cho những thể loại văn chương khác. Nhưng xếp Dylan “cùng hạng với Thomas Pynchon, Philip Roth, Cormac McCarthy làm cho tôi khó mà chấp nhận nó.”

Chưa nghe Dylan chính thức phát biểu ý kiến của mình về các tranh cãi. Tuy nhiên, khi được hỏi về việc Danius so sánh ông với Homer và Sappho, Dylan trả lời: “Tôi cũng nghĩ như thế, về phương diện nào đó”. Theo ông, một số ca khúc như Blind Willie, The Ballad of Hollis Brown, Joey, A Hard Rain, Hurricane…chắc chắn là có tính cách thi ca. Tuy nhiên, ông cho rằng ông không xứng đáng với sự so sánh đó; giá trị của chúng ông để cho người khác phán xét. “Tôi không có ý kiến về tác phẩm của mình,” ông cho biết.

Dylan là một nghệ sĩ đa dạng, đa năng. Ngoài viết ca khúc, ông còn là một họa sĩ, một diễn viên, một người viết kịch bản. Có người gọi Dylan là một “poet laureate of the rock era” (nhà thơ đoạt giải của kỷ nguyên nhạc rock). Là một người viết nhạc cổ điển, dân ca và các ca khúc phản kháng như Blowin’ in the Wind, The Times They Are a-Changin hay Like a Rolling Stone, vân vân, nhạc của ông đã nói lên tiếng nói cho cả một thế hệ trong những năm 1960 đầy xáo trộn và tạo nên động lực cho phong trào dân quyền. Ảnh hưởng của ông tiếp tục thâm nhập  xuyên qua nhạc rock, nhạc pop và dân ca ngày nay. Phát biểu về động lực sáng tác, ông cho biết khi viết ca khúc thường ta phải có một độ xúc cảm nào đó. “Ta phải biết rõ là tại sao mình lại viết, viết cho ai và viết về cái gì,” theo ông. Ông cũng nối kết ca khúc của mình với hội họa và điêu khắc. Làm việc gì cũng phải dụng công và mất thời gian. “Ta phải viết hàng trăm ca khúc không ra gì trước khi có viết được một ca khúc nghe được.” Và phải hy sinh đi những điều khác. Cũng như những nghệ sĩ khác, khi sáng tác, ông rất cô đơn, chỉ tự mình đối diện với chính mình.  

bobdylan-lyrics-ticket-326212-o

 

Nói đến sự liên hệ giữa ca khúc và văn chương trong sự nghiệp của Bob Dylan, khiến ta nhớ đến Phạm Duy và nhất là Trịnh Công Sơn, người được một vài tờ báo nổi tiếng của Hoa Kỳ như New York Times, Washingtonpost xem là một “Bob Dylan của Việt Nam.”[3]. Khác với hầu hết các nhạc sĩ VN khác, ca từ trong nhạc  Phạm Duy và Trịnh Công Sơn có thể tách riêng khỏi nhạc, tự tồn tại một mình. Ngoài giá trị về “lời nhạc” (lời để hát), chúng có thể được nghiên cứu như những văn bản về mặt văn học. Nghĩa là, chúng ta vẫn có thể nghiên cứu chúng một cách riêng biệt mà không cần lưu tâm đến nhạc. Chính vì thế, hầu hết những bài viết về Phạm Duy và Trịnh Công Sơn, ngoài một số đánh giá thuần túy về phương diện âm nhạc, đều được viết dưới dạng phê bình hay nhận định văn học. Rõ ràng là khi sáng tác, Phạm Duy cũng như Trịnh Công Sơn quan tâm đến tính diễn tả của lời y như nhạc.

Nhưng dù sao, không thể xem ca từ của hai nhạc sĩ này giống với thơ của những nhà thơ khác, Tô Thùy Yên hay Thanh Tâm Tuyền, chẳng hạn. Lại càng không có thể so sánh chúng với truyện ngắn hay truyện dài. Ca từ, dù đầy chất thơ, vẫn là lời để ca, để phụ họa với cái chủ đạo là nhạc. Trong lúc đó, thơ hay văn, chủ yếu là chữ và nghĩa. Nghệ thuật viết văn và thơ là nghệ thuật cấu tạo nội dung dựa trên hình thức chữ và cái cách mà nó biểu hiện hiện thực bên ngoài. Trong thực tế, viết như một ca từ hoàn toàn khác, có thể là rất khác với sáng tác một bài thơ hay một truyện ngắn và lại càng khác xa việc viết một truyện dài. Và do đó, hát một bài nhạc thì khác hẳn với đọc/ngâm một bài thơ hay đọc một truyện. Đó là điều rất hiển nhiên. Nhưng một mặt khác, được sự hỗ trợ của âm thanh, ca từ thường dễ phổ biến hơn và có tác động mạnh đến óc cảm thụ của quần chúng; do đó, rất dễ bị thương mại hóa.

Cũng thế, đối với Bob Dylan. Tuy nhiên, giải Nobel được thưởng cho một người vì sự nghiệp cả đời của họ, chứ không chỉ dựa trên một tác phẩm nào đó. Bob Dylan xứng đáng nhận được một giải như thế, vì những đóng góp của ông trong 50 năm, từ việc sáng tác – về ca từ cũng như về âm nhạc –  xuyên qua nhiều chủ đề và phong cách khác nhau. Rõ ràng, đó là một sự nghiệp văn hóa lớn, ngoại hạng, không thua bất cứ một nhà văn, hay nhà thơ nổi danh nào khác. Thực ra, trong quá trình chọn lựa hơn một thế kỷ qua, HLV đã từng trao giải cho những tác giả mà tác phẩm của họ không/hay rất ít gắn liền với cái mà ta vẫn thường hiểu về bộ môn văn chương. Chẳng hạn khi trao giải cho Winston Churchill vào năm 1953,  HLV cho rằng Churchill là bậc thầy khi viết sử cũng như tài hùng biện của ông nhằm bênh vực những giá trị nhân bản cao quý. Trao giải cho Jean-Paul Sartre năm 1964, HLV nhận định rằng Sartre là nhà văn mà các tác phẩm “giàu có về tư tưởng và đầy tinh thần tự do và đòi hỏi chân lý,” không lưu ý gì đến thành tựu của Sartre là thành tựu của một triết gia. Mới đây nhất, Nobel văn chương năm 2015 dành cho Svetlana Alexievich là một tác giả mà toàn bộ tác phẩm đều thuộc lãnh vực  báo chí và phi hư-cấu. Có thể là HLV muốn mở rộng biên giới của nghệ thuật viết lách nói chung, chứ chẳng phải là “tái định nghĩa” (re-define) văn chương như một số người quan niệm. Vì thực ra, họ chẳng có thẩm quyền gì trong lãnh vực này.   

Trong bài viết “Ý nghĩa của việc im lặng của Bob Dylan” đề cập ở đầu bài, Adam Kirsch nêu lên một cái nhìn khác. Ông cho rằng khi chọn  trao giải cho  Dylan, HLV muốn nói một điều khác: sỉ nhục những nhà văn Hoa Kỳ vốn đã từng được đề cử giải nhiều năm qua. Gần ¼ thế kỷ, kể từ khi Morrison đoạt giải Nobel văn chương năm 1993, HLV làm như thể văn chương Hoa Kỳ không hiện hữu. Họ cho rằng văn chương Hoa Kỳ, theo cách hiểu truyền thống, chưa đủ giá trị. “Âu Châu vẫn còn là trung tâm của thế giới văn chương, chứ không phải Hoa Kỳ,” theo Horace Engdahl, thư ký thường trực của HLV trong một cuộc phỏng vấn với “The Associated Press” năm 2008. Vì nhà văn Hoa Kỳ quá thiên về xu hướng văn hóa đại chúng của họ. Xu hướng đó “quá cô lập, quá hẹp hòi”, “không thể hiện đủ và không thực sự tham dự vào cuộc đối thoại văn chương lớn lao. Do bị hạn chế vì sự ngu dốt.”[4] Nếu đúng như thế, phải chăng HLV tạo thêm một tai tiếng mới?

Từ ngày thành lập đến nay, việc chọn và trao giải Nobel văn chương vốn đã gây ra nhiều tranh cãi và ngộ nhận. Ở các giải khác, các thành tích nêu ra để tặng tương đối rõ ràng, giản dị, cụ thể; tự bằng chứng đưa ra là có đủ sức thuyết phục và bịt miệng bất cứ ai ưa điều rắc rối. Văn chương, trái lại, không có biên giới rõ ràng giữa hay và dở, giữa giá trị và vô giá trị – hơn nữa, cái hơn, kém giữa các tác phẩm có giá trị  hầu như không có tiêu chuẩn nào phân định rõ ràng. Bởi vậy, việc bình chọn và công bố giải diễn ra theo một lịch trình đặc biệt riêng. Ngày công bố giải bao giờ cũng được giữ bí mật cho đến giờ phút cuối cùng. Ðối với các thành viên của HLV, im lặng được xem là quy luật vàng.

Kjell Espmark, ông Hàn và là tác giả của “Le prix Nobel” nhận xét rằng HLV “gồm một nhóm người có tài năng và học vấn nhưng thiếu hẳn đầu óc  thụ cảm với cái mà chúng ta hôm nay gọi là tài sản phong phú của văn chương thời đại chúng ta.” Như nhiều nhà phê bình đã nhận xét, không có một, nhưng có nhiều giải Nobel, khởi đi từ hậu quả của một chuỗi những xu hướng  không ngừng thay đổi tùy theo cá tính của vị chủ tịch Viện cũng như khả năng cảm thụ của các ông Hàn – của những người tự cho là mình thừa kế đúng tinh thần của Nobel. Do lầm lẫn và do những giới hạn tự nhiên của con người, qua hơn một thế kỷ, ngoài vô số điều đáng trân trọng, không thiếu những chuyện đáng tiếc xảy ra khiến cho nhiều nhà văn tầm cỡ trên thế giới bị gạt tên như Marcel Proust, James Joyce, Jorge Borges, André Malraux, vân vân. Trong lúc, có tác giả đoạt giải lại chẳng gây nên ấn tượng gì đặc biệt. Năm 1995, ông Jérome Lindon, giám đốc nhà xuất bản Minuit, người đứng ra xuất bản tác phẩm của nhà văn đoạt giải Claude Simon, thú nhận, cuốn “L’Acacia”, tác phẩm đưa Simon lên đài vinh quang, khó khăn lắm mới bán được … 600 cuốn một năm, trên toàn thế giới!

bobdylanlyrics-slipcase

 

Bị phê bình, chỉ trích từ nhiều phía, rốt cuộc, mười mấy ông Hàn quyết định biến HLV thành một cái gì tương tự như một “Câu lạc bộ gia đình” (Cercle de famille). Mỗi lần chấm dứt họp, cả nhóm thường rút về một cái quán rất cũ thuộc một khu hẻo lánh, cổ kính của Stockhom để tránh mọi thăm chừng, dòm ngó của đủ hạng người tạo nên sự nghi kỵ lẫn nhau. Nhưng thế mà nào đâu có yên. Các ông Hàn, do lý do này hay lý do khác, vẫn không tránh được những bất hòa, có khi đưa đến thảm kịch. Số là có lần, ông Hàn Harry Martinson được giải (1974), chia cùng với một nhà văn Thụy Ðiển khác là Eyvind Johnson. Bị báo chí và dư luận phê bình dữ dội, vài năm sau đó, ông Hàn này dùng một cây kéo mổ bụng tự sát. Lần khác, sau vụ nhà văn Salman Rushdie bị giáo chủ Hồi giáo lên án tử hình vì đã xúc phạm đến Hồi giáo qua tác phẩm “Satanic Verses”, nhiều ông Hàn quyết định rời Viện vì cho rằng Viện đã không đứng lên bảo vệ nhà văn này trong việc sáng tác tự do. Một số ông Hàn khác  có lúc không chịu đi họp vì bất hòa với bạn đồng viện hoặc vì nhà văn mà mình giới thiệu và ủng hộ không được các bạn đồng viện khác xem xét đến. Vân vân và vân vân.

 

                                                                       *

Dẫu sao, Bob Dylan đoạt giải Nobel. Chuyện đã rồi!

Để tránh gây thêm ngộ nhận, có lẽ cách hay nhất là HLV nên mở rộng giải bằng cách đổi tên giải làm sao cho nó bao quát hơn và gồm nhiều thể loại hơn, Nobel Văn Học Nghệ Thuật chẳng hạn. Không có lý gì chỉ có văn chương mới là quan trọng, còn các hình thức nghệ thuật khác thì đành đứng ngoài chơi, để mỗi lần trao giải cho một người viết nào không phải nhà văn nhà thơ thì tìm cách lý luận vòng vo tam quốc, biện giải kiểu này kiểu nọ?

            Để chấm dứt bản tin này, có lẽ cũng nên biết qua ca từ của Dylan qua một trong những ca khúc nổi tiếng của ông: Blowin’ in The Wind. Ca khúc do một người bạn tôi, dịch giả Trần Ngọc Cư, dịch và đi trên trang mạng Talawas cách đây 9 năm:[5]

 bobdylan

Blowin’ in The Wind

How many roads must a man walk down
Before you call him a man?
How many seas must a white dove sail
Before she sleeps in the sand?
Yes, ‘n’ how many times must the cannon balls fly
Before they’re forever banned?
The answer, my friend, is blowin’ in the wind,
The answer is blowin’ in the wind.

Yes, ‘n’ how many years can a mountain exist
Before it’s washed to the sea?
Yes, ‘n’ how many years can some people exist
Before they’re allowed to be free?
Yes, ‘n’ how many times can a man turn his head,
Pretending he just doesn’t see?
The answer, my friend, is blowin’ in the wind,
The answer is blowin’ in the wind.

Yes, ‘n’ how many times must a man look up
Before he can see the sky?
Yes, ‘n’ how many ears must one man have
Before he can hear people cry?
Yes, ‘n’ how many deaths will it take till he knows
That too many people have died?
The answer, my friend, is blowin’ in the wind,
The answer is blowin’ in the wind.

Thoảng bay theo gió

 

(bản dịch của Trần Ngọc Cư)
Bao nhiêu nẻo đường một kẻ ngược xuôi
Trước khi bạn mới gọi nó là người?
Bao nhiêu biển khơi bồ câu sải cánh
Trước khi về nằm trong cát ngủ vùi?
Phải bao nhiêu lần tên bay đạn bắn
Trước khi vũ khí bị cấm đời đời?
Lời đáp, bạn ơi, thoảng bay theo gió,
Câu trả lời đà theo gió thoảng bay.

Phải bao nhiêu năm hòn núi ù lì
Trước khi núi kia bị trôi xuống biển?
Phải bao nhiêu năm người ta hiện diện
Trước khi được làm những kẻ tự do?
Biết bao nhiêu lần một người ngoảnh mặt
Giả vờ như là không thấy không nghe?
Lời đáp, bạn ơi, thoảng bay theo gió,
Câu trả lời đà theo gió thoảng bay.

Phải bao nhiêu lần một kẻ ngó lên
Mới nhìn thấy ra bầu trời xanh thắm?
Bao nhiêu lỗ tai một người phải sắm
Mới nghe được là có tiếng kêu than?
Bao nhiêu mạng người phải chịu thác oan
Hắn mới hiểu ra quá nhiều người chết?
Lời đáp, bạn ơi, thoảng bay theo gió,
Câu trả lời đà theo gió thoảng bay.

Ca từ đầy chất thơ, mang tính cách nhân sinh và triết học. Một bài thơ hay. Bản dịch cũng sát nghĩa và hay không kém. Nghe ca từ đó lồng trong nhạc lại càng hay hơn.  Đó là Bob Dylan.

Hy vọng rằng bài diễn văn nhận giải của Dylan sẽ là một ca khúc do chính ông hát lên trong buổi lễ.

Tại sao không?

 

Thế Quân

11/2016

 

________________________________

Tham khảo:

  • The Guardian, ‘I was left speechless’: Bob Dylan breaks two-week silence over Nobel prize

https://www.theguardian.com/music/2016/oct/29/im-speechless-says-nobel-winner-bob-dylan-as-he-breaks-his-two-week-silence

  • Adam Kirsch, The Meaning of Bob Dylan’s Silence

http://news.sky.com/story/bob-dylan-did-he-deserve-the-2016-nobel-prize-in-literature-10615471

  • Emily Klein , Bob Dylan’s Nobel Prize award presents opportunity to reflect on literature

http://www.gonzagabulletin.com/opinion/article_df8da1a2-964d-11e6-9e7d-2309bff16b23.html

  • Richard Brown , Why Bob Dylan deserves his Nobel prize in literature

http://theconversation.com/why-bob-dylan-deserves-his-nobel-prize-in-literature-67017

  • Wikipedia, Nobel prize of Literature
  • Charles Mcgrathoct, Lost in Translation? A Swede’s Snub of U.S. Lit

http://www.nytimes.com/2008/10/05/weekinreview/05mcgrath.html

  • Các trang mạng khác (CNN, NBC News…)

[1] Adam Kirsch, The Meaning of Bob Dylan’s Silence

http://www.nytimes.com/2016/10/26/opinion/the-meaning-of-bob-dylans-silence.html?_r=0

Có thể xem bản dịch bài viết này trên Đàn Chim Việt: Tại sao Bob Dylan im lặng trước Nobel?

http://www.danchimviet.info/archives/105468/tai-sao-bob-dylan-im-lang-truoc-nobel/2016/10

[2] Bob Dylan’s Nobel Prize award presents opportunity to reflect on literature

http://westhawaiitoday.com/news/nation-world-news/bob-dylan-wins-nobel-prize-redefining-boundaries-literature

[3] Washington Post April 3, 2001

https://www.washingtonpost.com/archive/local/2001/04/03/vietnamese-songwriter-trinh-cong-son-dies/4566885c-b359-4a2e-945b-e3f5591bc614/

New York Times April 5, 2001

http://www.nytimes.com/2001/04/05/world/trinh-cong-son-62-stirred-vietnam-with-war-protest-songs.html

[4] Xem thêm Charles Mcgrathoct, Lost in Translation? A Swede’s Snub of U.S. Lit

http://www.nytimes.com/2008/10/05/weekinreview/05mcgrath.html

[5] Trần Ngọc Cư, Talawas 23/8/2007. Xem: http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=10783&rb=0206

Nói thẳng: Trung Quốc không phải bạn ta. Họ xem ta như kẻ thù. Tốt hơn là Washington nên tỉnh ra thật nhanh, vì Trung Quốc đang cướp công ăn việc làm của ta, phá hủy ngành công nghiệp chế tạo của ta, ăn trộm công nghệ và năng lực quân sự của ta với tốc độ âm thanh. Nếu nước Mỹ không sớm khôn lên, tổn thất sẽ là không thể vãn hồi…

Xin theo dõi video sau đây:

 

 

Bob Dylan – Nobel Văn Học 2016: Một Sự Kiện Phức Tạp

 

Chân Phương

 

new_yorker

Bob Dylan đoạt Nobel Văn Học 2016 là một sự kiện phức tạp, tạo nên nhiều tranh luận. Tóm lại, vấn đề cần bàn – Bob Dylan có phải là một nhà thơ đã đóng góp và nâng cao thi ca bằng nghệ thuật ngôn từ và ý thức sáng tạo ? Trả lời câu hỏi này trước tiên cần trình độ chuyên môn văn học, sau đó là một kinh nghiệm cộng tâm hồn phóng khoáng của kẻ thưởng lãm sành điệu. Suy nghĩ và tranh luận, đây là điều tốt trong không gian văn hóa công cộng; nhưng ta đừng quên tham khảo các ý kiến có trọng lượng như Christopher Ricks, Billy Collins, Greil Marcus, Joyce Oates, Salman Rushdie…

Chắc chắn người ít ngạc nhiên nhất khi nghe tin Nobel Văn Học 2016 về tay Bob Dylan là Christopher Ricks. Vị giáo sư Nhân Văn tại đại học Boston University kiêm giáo sư Thi Ca Oxford là nhân vật chính trong công cuộc sưu khảo, biên soạn và bình phẩm giới thiệu sự nghiệp sáng tác ca khúc của Bob Dylan – Shakespeare của chúng ta hôm nay theo nhận định của giáo sư Ricks. Giới yêu chuộng Bob Dylan ở Mỹ hoặc Anh vẫn gọi ông là The Bard – danh xưng dùng riêng cho Shakespeare xưa nay.Trong bài nhập đề cho vựng tập ca khúc của Bob Dylan – The Lyrics, do Simon &Schuster xuất bản năm 2014 do công lao biên tập của Christopher Ricks, Lisa & Julie Nemrow, Giáo sư Ricks đã nhận xét như sau về nhà thơ-nhạc sĩ Bob Dylan: “provocative, mysterious, touching, baffling, not-to-be-pinned-down, intriguing, and a reminder that genius is free to do as it chooses” (khiêu khích, bí ẩn, gây xúc động, đầy nghi vấn, khó thể định vị, và nhắc cho ta biết rằng thiên tài hoàn toàn tự do muốn làm gì thì làm).

Học đàn ghita từ mười tuổi vừa chơi harmonica cùng nhiều loại nhạc cụ tự học, Bob đã biến ca nhạc thành đam mê lớn trong đời. Bỏ học sau sáu tháng học bổng tại University of Minnesota, chàng ca sĩ tài tử bắt đầu giang hồ ca hát tại mấy quán rượu bình dân vừa học hỏi các bậc đàn anh trong hai dòng dân ca folk song cộng country music như Woody Guthrie, Hank Williams…đồng thời tiếp thu một cách thông minh điệu blues với những bài hát da đen thống thiết của Rabbit Brown, Big Joe Williams, Leadbelly.. Hành vi tượng trưng khai mạc tiểu sử nghệ sĩ Bob Dylan là chuyến viếng thăm thần tượng của mình là Woody Guthrie tại bệnh viện Greystone ở New Jersey tháng 2-1960. Ca sĩ sáng tác đàn anh này là đỉnh cao dân ca Mỹ đã đưa xa truyền thống ca từ ballad Anh nhờ biết kết hợp linh động ca nhạc blues da đen.

Lần đầu sang East Coast, bước chân phiêu lưu đã đưa Bob đến New York, nơi ông bắt đầu sáng tác các ca khúc ballad nhuộm blues về nỗi buồn đô thị và tâm trạng lạc loài của dân nghèo tha phương như bài Talkin’ New York … khi ông hát dạo kiếm sống quanh Greenwich Village:

Winter time in New York town
The wind blowin’ the snow around
Walk around with nowhere to go
Somebody could freeze right to the bone

I walked down there and ended up
In one of them coffee-houses on the block

Well, I got a harmonica job, begun to play
Blowin’ my lung out for a dollar a day…

(Phố xá New York mùa đông
Gió thổi tuyết bay khắp nơi
Loanh quanh chả biết đi đâu

Lạnh thấu xương bà con ơi

Tôi ra đường rồi dừng chân
Nơi một quán cà phê trên phố

Họ muốn tôi chơi harmonica
Một ngày trả lương một đô
Thế là tôi bắt đầu phình phổi thổi …)

Đề tài lưu lạc giang hồ nhảy tàu ngủ bến quen thuộc với dân nghèo vô gia cư trong loạt hobo song của Woody Guthrie hay Peter Seeger lúc ấy có thêm tiếng vang nhờ tiểu thuyết On The Road của Kerouac cùng ảnh hưởng văn học Beat phóng túng hoang đàng; và Bob Dylan tung ra ngay đĩa nhạc đầu với các ca khúc lừng danh như Highway 51, Freight Train Blues hoặc Down the Highway thê thiết chất blues sầu muộn và tuyệt vọng …

Yes, I’m walkin’ down the highway with my suitcase in my hand
Lord, I really miss my baby, she’s in some foreign land

Yes, I been gamblin’ so long, Lord, ain’t got much more to lose
Right now I’m havin’ trouble, please don’t take away my highway shoes

So, I’m a-walkin’ down your highway, just as far as my poor eyes can see
Yes, I’m a-walkin’ down your highway, just as far as my eyes can see
From the Golden Gate Bridge all the way to the Statue of Liberty
(2)

(Tay xách va li tôi bước trên xa lộ
Em xuất ngoại đi đâu, Chúa ơi, tôi nhớ em quá

Đã lâu dính vào bài bạc, tôi chẳng còn gì để mất, Chúa ơi
Nay tôi đang khốn đốn, còn đôi giày đi đường xin đừng lấy của tôi

Vậy là tôi bước theo xa lộ, đi đến cuối tầm mắt mỏi
Tôi cứ thế bước trên xa lộ đi theo tầm mắt của tôi
Tôi cắm đầu đi từ cầu Golden Gate đi miết tới tượng Tự Do Thần Nữ.)

 

bob2

Từ Golden Gate – West Coast qua Statue Of Liberty – East Coast, chàng thi sĩ tuổi 20 với cây đàn ghita đã lắng nghe các tiếng nói và âm thanh của đất nước qua bài tình buồn của anh trai làng nghèo như Girl from the North Country, lời than thở của thợ thuyền hay nhà nông không nuôi nổi gia đình túng thiếu như North Country Blues, Ballad of Hollis Brown hoặc Maggie’s Farm Sự trưởng thành nghệ thuật của Bob Dylan gắn bó hữu cơ với các biến động lịch sử của thập niên sáu mươi, đặc biệt là cuộc đấu tranh dân quyền civil rights da đen và phong trào phản chiến chống Hoa Kỳ can thiệp vào Việt Nam. Từ đó ra đời các ca khúc thế sự quan trọng đánh dấu cả một thế hệ thanh niên Mỹ như hitsong quen thuộc Blowin’ in the Wind

How many roads must a man walk down/ Before they call him a man?

How many times must a man look up/ Before he can see the sky?

How many deaths will it take till he knows/ That too many people have die?

(Phải lang thang bao nhiêu nẻo đường, ta mới xứng với danh hiệu Con Người?
Phải bao nhiêu phen ngước mắt nhìn lên, ta mới thấy được trời cao?
Phải lên đến bao nhiêu con số tử vong, ta mới hay quá nhiều người đã chết?)

Ca từ trong những bài hát thế sự ta thán thân phận con người hôm nay như A Hard Rain ‘s A-Gonna Fall, phản biện lịch sử cùng tôn giáo da trắng trong Gates of Eden, Bob Dylan’s 115th Dream; chất vấn bạo lực xâm lăng của phương Tây như When the Ship comes in, With God on our Side; cảnh cáo chiến tranh toàn cầu trong Talkin’ World War III Blues….hay mối nguy vũ khí hạt nhân Masters of War… mang chất thơ bình dị chân thực rất gần Jacques Prévert, Erich Fried, và đặc biệt Bertolt Brecht.

Come you masters of war
You that build the big guns
You that build the big planes
You that build all the bombs

You that hide behind walls
You that hide behind desks

You play with my world
Like it’s your little toy

(“Masters of War”)

(Bớ các chủ nhân của chiến tranh
Các người đúc súng đại bác
Lắp ráp máy bay to
Thiết kế mọi quả bom

Các người trốn sau những bức tường
Các người ẩn náu sau bàn giấy

Các người đùa với thế giới của tôi
Như nghịch món đồ chơi nhỏ của các người.)


Oh the history books tell it
They tell it so well
The cavalries charged
The Indians fell

The cavalries charged
The Indians died
Oh the country was young
With God on its side

But now we got weapons
Of chemical dust
If fire them we’re forced to
Then fire them we must

One push of the button
And a shot the world wide
And you never ask questions
When God’s on your side

(“With God on Our Side”)

(Chuyện đó được sử sách kể lại
Sách sử kể lại thật tài
Đoàn kỵ binh phóng tới
Đám thổ dân ngã quị

Đoàn kỵ binh phóng tới
Đám thổ dân chết rạp
Than ôi đất nước còn non trẻ
Nhưng thuộc về phe của Chúa Trời

Bây giờ chúng ta có vũ khí
Thả bụi hoá chất mù trời
Nếu buộc phải bấm cò
Thì ta phải bấm thôi

Chỉ cần nhấn nút một cái
Tiếng nổ lan trùm thế giới
Và chúng ta chả bao giờ thắc mắc
Khi ta thuộc về phe của Chúa Trời.)

Ca khúc vừa trích dẫn trên đây tả đúng phản ứng của siêu cường USA ngày xưa lập quốc bằng chính sách diệt chủng thổ dân và hôm nay tiếp tục đường lối can thiệp quân sự sắt máu tại Trung Đông và Trung Á từ cả chục năm qua với danh nghĩa của Chúa Trời!

Còn mấy lời ca dưới đây vô tình mà minh họa chính xác cho các làng biển miền Trung sau vụ Formosa khi sông biển nhiễm độc, dân lành bị phản bội, giáo xứ cha cố bị hành hung bắt bớ trong khi bọn hung thủ sát nhân thì giấu mặt –

I’ll walk to the depths of the deepest black forest
Where the people are many and their hands are all empty
Where the pellets of poison are flooding their waters
Where the home in the valley meets the damp dirty prison
And the executioner’s face is always well hidden
Where hunger is ugly, where the souls are forgotten…

(A Hard Rain ‘s A-Gonna Fall)

(Tôi sẽ đi tận vào rừng sâu tăm tối
Nơi có đông dân chúng với hai bàn tay trống không
Nơi thuốc độc vò viên tràn ngập suối sông
Nơi nhà tù ướt bẩn gặp mái nhà trong thung
Và bộ mặt kẻ hành quyết bao giờ cũng giấu kín
Nơi đó nỗi đói tàn tệ còn các linh hồn thì không ai nhớ đến …)

Là nghệ sĩ-công dân trong một quốc gia đa chủng tộc, Bob Dylan đứng về phía dân thiểu số với ý thức đấu tranh chống các vi phạm nhân quyền. Như bài ca ballad tự sự The Lonesome Death of Hattie Carroll bình phẩm vụ ông chủ da trắng Zanziger cầm gậy đập chết bà đầy tớ da đen Hattie mà chỉ mang án sáu tháng tù; kẻ ở trọ nài nỉ chủ nhà gia hạn cư trú trong bài Dear Landlord, ca ngợi người hùng John Wesley Harding hai tay hai súng bênh vực dân nghèo, trong khi các bài hát To Ramona hay I Pity the Poor Immigrant giàu cảm xúc về số kiếp di dân , đặc biệt từ vùng Nam Mỹ, nhọc nhằn đuổi theo giấc American Dream khó vươn tới –

Ramona come closer
Shut softly your watery eyes…
Your cracked country lips
I still wish to kiss…

But it grieves my heart, love
To see you tryin’ to be a part of
A world that just don’t exist
It’s all just a dream, babe

(“To Ramona”)

Nhích tới gần thêm Ramona
Cặp mắt ướt át của em hãy nhắm lại
Đôi môi gái quê khô nứt của em
Tôi vẫn còn thèm hôn hít …

Nhưng em yêu ơi
Tôi đau lòng khi thấy em
Cố hội nhập vào cái thế giới hư ảo kia
Đó chỉ là giấc mộng em ơi!

Nhưng nhân vật chính, vừa đồng lõa vừa nạn nhân của Giấc Mộng Hoa Kỳ chính là dân da trắng trung lưu mà nhà thơ-ca sĩ của chúng ta rất am tường qua chính trải nghiệm bản thân. Bị kỳ thị áp bức hay bị thua thiệt gạt ngoài lề, số kiếp người lao động thấp hèn và tình cảnh đám di dân nhọc nhằn độ nhật dù sao cũng dễ cảm thông vừa yêu cầu các giải pháp xã hội-pháp luật phân minh. Nhưng các giai tầng từ trung lưu trở lên gánh vấn đề hiện sinh phức tạp hơn – họ cần khẳng định liên tục diện mạo qua thu nhập cùng hưởng thụ tiện nghi của nền văn mình tiêu thụ quá đa dạng. Các chứng stress, thần kinh rối loạn hay suy nhược vì lối sống American way of life là đề tài của các nhà tâm lý trị liệu – trong thơ văn đó là bầu khí từng ám ảnh Fitzgerald với The Great Gatsby , Nathanaël West với Miss Lonelyheart, Allen Ginsberg cùng nhóm bạn thi sĩ Beat trong nhiều thi phẩm… Để minh giải các ca khúc trữ tình chính sự của Bob Dylan, thính giả phải kinh qua lối sống thường ngày ở Mỹ, nhất là nhịp độ đại đô thị. Tiêu biểu nhất có lẽ là album Highway 61 Revisited vào khoảng 1964-65 khi Bob Dylan hiện lên như một ca sĩ kiêm nhà thơ dissident, phê phán và mai mỉa một cách trào lộng lối sống vật chất kiểu Mỹ – một kiểu đánh mất chính mình cho dù sự tha hóa ấy có phong lưu đến đâu.

You’ve been with the professors, they all like your looks
With great lawyers and scholars you’ve discussed lepers and crooks
You’ve been through all of F. Scott Fitzgerald’s books…
Yes, but something is happening and you don’t know what it is
Do you, Mister Jones?

(“Ballad of a Thin Man”)

(Ông từng quen các giáo sư và họ đều thích phong thái dung mạo của ông
Với các luật sư danh tiếng cùng các đại học giả ông từng tranh luận về bọn lừa bịp và lũ hủi
Sách của Scott Fitzgerald ông đọc không sót cuốn nào …
Vậy mà chuyện đang xảy đến ông chẳng biết trời trăng chi cả
Có đúng không, Mister Jones?

Một chữ thường hiện đi hiện lại trong các bài hát là circus (gánh xiếc) khiến những kẻ ái mộ Bob Dylan nhớ đến khoảng đời cầm ca lang bạt của ông trước khi thành ngôi sao độc sáng. Nhưng trò xiếc circus còn là ẩn dụ để ví von không gian dystopia của văn minh tranh đua vật chất trống vắng các ý nghĩa và giá trị. Một ca khúc đặc trưng là Desolation Row trong album nói trên (bạn đọc quan tâm chỉ cần tìm bài hát này trên Youtube để thưởng thức trọn vẹn một bài thơ kiệt tác) khi nghệ thuật ngôn từ được Bob Dylan trau chuốt cộng lời tự sự đan dệt thời cuộc với nhiều điển cố, danh nhân… Còn có thể trích dẫn vô vàn những câu những đoạn đầy chất thơ, xin mời bạn đọc thong thả tham khảo trên sách báo, internet càng ngày càng phong phú sau sự kiện Nobel vừa qua. Riêng cá nhân tôi, điệp khúc này cứ trở đi trở lại trong đầu từ khoảng 40 năm qua, Like a Rolling Stone

…How does it feel
To be without a home …
…How does it feel
To be on your own
With no direction home
Like a complete unknown
Like a rolling stone?

(Like a Rolling Stone)

Không nhà không cửa
Mi cảm thấy thế nào
Lúc vô phương hướng
Chẳng biết cậy nhờ ai

Mi cảm thấy ra sao
Đúng là hoàn toàn vô danh
Như đá lăn hoài lăn mãi?

Vừa sáng tác vừa biên soạn dân ca, sự nghiệp ca khúc của Bob Dylan trên dưới khoảng năm trăm bài, đề cập đến mọi đề tài trên trời dưới đất, từ cõi nhân sinh thống khổ đến các phương trời triết lý – tôn giáo siêu phàm – trong đó có nhiều bài thơ giá trị như Mr. Tambourine Man, Gates of Eden, Along the Watchtower, Desolation Row, Farewell Angelina, Lay down your Weary Tune …. Kế thừa di sản giàu có của dân ca Anh-Mỹ cùng kho tàng âm nhạc blues da đen, đứa con tinh thần của văn hóa Beat và trào lưu hiện sinh Âu-Mỹ đã vươn vai thành kẻ khổng lồ – gọi ông là The Bard thật không quá đáng vì chủ thể trữ tình sáng tạo Bob Dylan có thể sánh vai với Shakespeare, William Blake hay Victor Hugo trong cố gắng truyền đạt bằng nghệ thuật ngôn từ một ý thức nhân văn cao thượng. Bài viết này chỉ phác họa vài nét về Bob Dylan xuyên qua những sáng tác ca nhạc của thập niên 60 – chuỗi năm tháng đã khắc họa chân dung và cốt cách của một tài năng ngoại hạng. (Chủ đề lý thú khác mà tác giả bài này không bàn thêm được ở đây là Tình Ca – một thế giới tình cảm được diễn đạt bằng thủ pháp và phong cách country-folk đặc thù của Bob Dylan, cũng độc đáo không thua các tình khúc Leonard Cohen hoặc Jacques Brel, Serge Gainsbourg trong làng nhạc Pháp).

CHÂN PHƯƠNG

 

vnch_blue

MỘT THỜI ĐỒNG ĐỘI, GẶP NHAU

 

Ngày xưa bọn mình chung sắc áo
chung màu cờ chung biển chung sông.
Hôm nay bọn mình chung bàn rượu
giữa xứ người lạnh gió sầu đông.

Thuở ấy bọn mình thân trai tráng
tình rất xanh, mộng cả ngút ngàn.
Giờ tóc bạn không còn xanh nữa
ta trên đầu mây trắng giăng giăng.

Thuở ấy vui những ngày biển lặng
đêm miền tây sông nước yên bằng.
Tàu về bến hồn vui cập bến
tình theo về phố ngập tràn trăng.

Hãy quên tuổi, người cao kẻ thấp
bởi nghĩa tình đồng đội ngang nhau.
Như tửu lượng đôi khi xuống cấp
tính toan nhiều hệ lụy càng sâu.

Thời ngang dọc, xưa, không còn nữa
mà mùi phèn, nước mặn… chưa phai.
Đời lưu vong ngày vắn đêm dài
thân áo gấm khó tròn giấc ngủ!

Giờ giáp mặt bạn đồng đội cũ
những vàng son một thuở không còn.
Nhưng trong mỗi tấc lòng vẫn giữ
Tổ Quốc mình mãi mãi Việt Nam!

 

ĐỨC PHỔ

tu-cong-phung1

Phỏng vấn nhạc sĩ Từ Công Phụng, Sáng tác như một chia sẻ hạnh phúc.

 

 Trịnh Thanh Thủy thực hiện

 

 

Khi những giọt lệ nhỏ xuống cho niềm đau thăng hoa thành một thứ nguyên sinh chăm bón cho cây hạnh phúc con người trổ trái thì chúng ta có thể mang niềm đau ấy theo ta như một hành trang vỗ về cho cuộc đời. Rung một cánh nhạc buồn ;Rơi một ngấn lệ sầu ;Có ai hay người khóc trong tinh cầu lẻ loi…Gom môt chút nắng vàng ; Hát lên soi hạnh phúc trên tháng ngày đã qua(trên tháng ngày đã qua/ Từ Công Phụng ).

Từ Công Phụng đã rung những cánh nhạc, gom sương sớm, nắng mai để soi tìm hạnh phúc cho những tâm hồn rạn vỡ vì đớn đau chất ngất. Ông đã dùng cung bậc buồn của một chiếc que diêm thắp sáng hương tình đằm thắm trên những đêm sâu, những cõi buồn, ngô nghê tan hoang và tàn vỡ. Ông hát và sáng tác nhạc như một chia sẻ hạnh phúc, kể cả những hạnh phúc thấm đẫm niềm đau.

Từ Công Phụng là một nhạc sĩ Việt Nam (gốc Cham-Islam) nổi tiếng. Nói đến Từ Công Phụng, khán thính giả miền Nam Việt Nam trước 75 không quên hình ảnh và tiếng hát trầm ấm, rất đặc thù của ông trong những ca khúc do chính ông sáng tác. Giữa những dòng nhạc mới khai sinh dậy lên trong thập niên 1960, 1970 của Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên, Trịnh Công SơnLê Uyên Phương.., dòng nhạc Từ Công Phụng khi hạnh phúc khi chất ngất đau thương, lãng đãng trôi góp tiếng cùng tuôn chảy. Những “Bây giờ tháng mấy”, “Mắt lệ cho người”, “Giọt lệ cho ngàn sau”, “Trên ngọn tình sầu”, “Mùa xuân trên đỉnh bình yên” là những nhạc phẩm tiêu biểu của ông.

Nhạc sĩ Từ Công Phụng tham gia hoạt động sáng tác từ năm 1960. Ông học Luật và Văn Khoa và từng là biên tập viên đài phát thanh Tiếng Nói Tự Do(VOF). Trong thời gian học Đại học Văn Khoa, ông thường sinh hoạt ở Quán Văn trong khuôn viên Văn Khoa từ 1968, cùng thời với Khánh Ly và Trịnh Công Sơn và đã thu một Cuốn băng(Tơ Vàng 3)vào năm 1971. Ông rời Việt Nam từ tháng 10 năm 1980 và hiện đang định cư tại Portland, Oregon, Hoa Kỳ.

Trịnh Thanh Thủy: Trước năm 1975 anh cùng nhạc sĩ Lê Uyên Phương thành lập ban nhạc “Ngàn Thông, chơi trên đài phát thanh Đà Lạt, xin anh kể về hoạt động này, ngày ấy.

Từ Công Phụng: Những ngày tháng tôi sống ở Đà Lạt, vào năm 1965 tôi có chơi nhạc với anh Phương tức Lộc. Chúng tôi có thành lập một ban nhạc nhỏ tên “Ngàn Thông”, mỗi tuần 1 ngày lên đài phát thanh, thu và phát trực tiếp. Thời sinh viên ấy mà, chúng tôi chỉ chơi cho vui.

TTT: Anh hát nhạc của ai?

TCP: Đặc biệt trong quãng đời sinh hoạt văn nghệ của tôi, tôi chỉ hát toàn nhạc mình viết thôi, hiếm khi hát nhạc người khác. Anh Lộc(Lê Uyên Phương) cũng vậy.

TTT: Xin cho biết quá trình sáng tác một ca khúc của anh. Khi một ý tưởng hay cảm hứng tới anh bắt đầu một nhạc phẩm như thế nào? Giai điệu hay ca từ đi trước?Anh mất bao lâu cho một ca khúc?

TCP: Tôi sáng tác tùy lúc, tùy hứng khởi mà viết. Thường là giai điệu trước, sau đó mới khai triển và tìm ca từ sau. Hoặc có khi, ca từ thành hình trước trong đầu rồi nương theo đó mà viết giai điệu. Có hai cách như thế nên hứng đến bằng cách nào thì làm theo cách đó. Thời gian thì một ca khúc có khi mất 1, 2 ngày mới xong, khi chỉ vài tiếng đồng hồ, tùy theo cảm hứng. Bài lâu nhất mất vài tháng, vì phải chăm đi chăm lại.

TTT: T nhận thấy trong thập niên đầu mới sáng tác, dòng nhạc tình của anh có âm hưởng hạnh phúc, êm đềm, ca từ lãng mạn, tươi đẹp, yên bình. Tuy nhiên càng về sau, nội dung các ca khúc của anh có khuynh hướng đổi chiều qua những triết lý nhân sinh, lẽ vô thường và thân phận con người. Xin anh cho biết lý do về sự xoay chiều này.

TCP: Thực ra điều đó có xảy ra cũng vì nó xoay vần theo chiều hướng của cuộc sống mà phát triển thôi. Nghĩa là khi tôi còn là một sinh viên, một thanh niên mới lớn, cái nhìn về tình yêu còn lãng mạn nên khi sáng tác, nhạc tình của tôi đầy hạnh phúc. Tuy nhiên khi đã sống nhiều hơn, từng trải thì sự suy nghĩ thay đổi, xoay chiều và thuận theo lẽ tự nhiên của dòng đời trôi chảy, nên nét nhạc có thay đổi.

TTT: Thập niên 70, chiến cuộc gia tăng, đời sống học sinh, sinh viên xáo trộn, triết lý hiện sinh du nhập vào Việt Nam. Một số giới trẻ bị Âu hoá, chạy theo phong trào Hippy, sống thác loạn và bất cần ngày mai. Là một sinh viên ngành Luật, anh và dòng nhạc anh có bị ảnh hưởng không?

TCP: Với tôi giai đoạn như thế không ảnh hưởng đến tôi và dòng nhạc. Tôi quan niệm một cách đơn giản và dễ dàng lắm. Sống không phải là thác loạn, sống phải nghiêm túc, có niềm tin, dựa vào một căn bản cho đời sống mình, không được buông thả. Chính tôi cũng không thích buông thả, cái gì cũng phải đâu vào đó. Đời sống buông thả với tôi là một bệnh hoạn, nó không làm cho xã hội tốt đẹp hơn. Tôi cố giữ bản chất mình, nên đời sống của tôi bình lặng. Tôi quan niệm mang lại hạnh phúc cho đối tượng của mình, nên những gì tôi thổ lộ trong âm nhạc và ca từ của tôi, chẳng qua tôi muốn chia sẻ hạnh phúc đến với tất cả mọi người. Hơn nữa dù có gì xảy ra tôi không chán chường đến độ buông thả và giữ chừng mực cho hạnh phúc mình không bị chao đảo.

TTT: Chữ “Em”trong những ca khúc của anh có phải từ những nhân vật của những cuộc tình qua đời mình, một hình bóng, một người nữ nào hay chỉ là một tiếng gọi?

TCP: Nói chung từ “Em” trong đó có ý mông lung hoặc khi tôi nhớ lại một thời nào đó trong đời sống mình, chứ không nhất thiết là hình ảnh một người tình nào đó nhất định. Ví dụ như tôi viết “Ai chia giọt nắng se buồn, như ta rồi cũng xa nguồn, làm sao cho em biết tình ta vẫn lấp lánh trong khung trời bát ngát. Làm sao cho em biết tình ta như núi biếc, như sông dài biển rộng.” Do đó chữ “Em” chỉ là một tiếng gọi.

TTT: Trước 75, anh đã từng làm biên tập viên cho đài VOF với các nghệ sĩ nổi tiếng như Kim Tước, Hồ Đăng Tín, Lê Gia Thẩm và Hoàng Quốc Bảo. Xin anh cho nghe về sinh hoạt đời sống thường nhật đó.

TCP: Tôi có làm cho đài phát thanh VOF và cùng làm với chị Kim Tước, cũng về âm nhạc nhưng mỗi người phụ trách một chuyên mục khác nhau. Chị Kim Tước lo một chương trình nhạc Tây Phương. Chị biên tập những bài hát ngoại quốc, viết và dẫn giải về văn hoá và âm nhạc xứ đó cho tường tận. Còn tôi thì viết lời giới thiệu các bản nhạc Việt Nam.

TTT: Xin lỗi cho T ngắt lời anh, T là hậu bối nên chưa và nghe biết về đài phát thanh này, xin anh cho biết sơ qua về đài phát thanh và ý nghĩa của “VOF”. Hình như mục đích và những thông điệp nó chuyển tải có tính chính trị?.

TCP: Đài phát thanh Đài VOF tượng trưng cho Voice Of Freedom tức đài Tiếng Nói Tự Do trực thuộc Đài Mẹ Việt Nam do Hoa Kỳ tài trợ. Trụ sở của đài này đặt ở số 7 đường Hồng Thập Tự, Sài Gòn. Các trạm phát sóng của nó đặt ở Thủ Đức, Cát Lở, Vũng Tàu và Thanh Lam, Huế.

Để thực hiện chương trình chiến tranh tâm lý, đài Mẹ Việt Nam chủ trương hoàn toàn về chính trị và thông tin còn đài Tiếng Nói Tự Do phát sóng chuyên về văn nghệ và tin tức. Chúng tôi làm việc với giám đốc là ông Vũ Quang Ninh và rất nhiều văn nghệ sĩ khác như Linh Sơn, Lê Tuấn, Lữ Liên, Phạm Long, Kim Tước, Hoàng Quốc Bảo, Vũ Đức Duy, Vũ Huyến, Bạch Yến, Anh Ngọc…

Mục tiêu việc làm của chúng tôi là phát thanh về miền Bắc những sản phẩm tinh thần của người tự do cho ngoài ấy nghe để họ hiểu ở trong Nam chúng tôi có tự do. Muốn nghe loại nhạc nào, thích thì nghe, hát cũng vậy, thích loại nhạc nào thì hát loại nhạc đó. Tình cảm hay tiền chiến đều được cả. Nó cũng chuyển tải một thông điệp hay tuyên truyền về sự tự do trong lối diễn đạt tình cảm của con người, về tiếng nói tự do của trái tim và khối óc để khuyến khích tinh thần người nghe rằng “Hãy tự do lên” . Chúng tôi cũng muốn chia sẻ những sinh hoạt, những gì xảy ra trong đời sống người dân trong Nam cho ngoài Bắc biết. Chúng tôi phát thanh về Bắc nhạc tiền chiến, nhạc trẻ, nhạc Pháp và Tây Phương. Bởi vì chúng tôi nghĩ ngoài ấy không được nghe nhạc tình cảm và tiền chiến. Chúng tôi phát cả những bài nhạc tiền chiến của các tác giả quen thuộc với miền Bắc mà những tác giả này ở lại miền Bắc nhưng họ bị cấm đoán không được nghe và sáng tác nhạc của họ.

TTT: Như vậy vai trò của âm nhạc khi ấy có tính cách chiêu hồi?

TCP: Đúng vậy, âm nhạc miền Nam tự nó có tính chiêu hồi. Tôi được biết qua những người hồi chánh đã kể lại người dân Bắc vẫn nghe lén và họ rất thích dù chính quyền miền Bắc dùng mọi cách để ngăn chặn. Trước đó có đài Gươm Thiêng Ái Quốc, nó khơi dậy lòng căm phẫn của nhân dân miền Bắc đối với chế độ Cộng Sản. Còn đài Mẹ Việt Nam khơi lại lòng yêu thương của người mẹ có những đứa con đi chiến đấu không về, “Sinh Bắc, tử Nam”.

TTT: Nói đến đời sống của một nghệ sĩ, giai đoạn khó khăn nhất của anh là khi nào?  Làm sao anh có thể thoát ra? Âm nhạc có giúp gì cho anh  không?

TCP: Nói về nỗi khó khăn, mỗi người có một định mệnh khác nhau. Đến một lúc nào đó mỗi người trong chúng ta phải trải qua những thăng trầm của cuộc sống. Nó có nguyên nhân từ bên ngoài và tác động đến bên trong của mình. Cái tôi gặp trắc trở nhất trong đời là lúc miền Nam thất thủ, giai đoạn từ 1975 tới 1980. Khi ấy đời sống của tôi trở nên bất ổn. Không có gì bám víu vào mà sinh sống nên việc mưu sinh rất vất vả. Phải làm bất cứ gì có thể để nuôi sống con cái và gia đình. Thời gian này ăn còn không đủ, tâm trí đâu mà sáng tác nhạc. Tuy nhiên vì âm nhạc là sở thích của tôi nên tôi rất quí âm nhạc. Qua bao nhiêu thập niên tôi vẫn giữ được mức sáng tác tuy không nhiều nhưng vẫn đeo đuổi nó, giống như một lần tôi có nói với các bạn trẻ rằng “Nếu các bạn thích nhạc thì hãy sống với nó, sống thực tình và đeo đuổi nó, thì các bạn sẽ thành công”.

Khi có hứng, ý tưởng sáng tác đến, nhưng tôi chỉ giữ kín trong đầu, trong sâu thẳm tâm tư đời sống mình. Nếu có viết cũng không để lộ vì bị cấm. Sau này khi ra hải ngoại mới dám cho phổ biến. Khi đến Mỹ và định cư, tôi viết bài “Khi tôi đến nơi đây” là bài hát đầu tiên ở Hoa Kỳ.  “Khi tôi đến nơi đây nắng rực rỡ ngoài khoang trời xa,/ và lòng tôi thấy rộng mở những thiên đường….tôi đã thấy trái tim hiền hòa/tôi đã thấy nụ cười bao dung/ tôi nghe biết những bài tình ca của đất nước thanh bình…” Khi tôi trình bày bài này, tôi thấy khán giả xúc động và khóc, tôi cũng xúc động như họ. Từ đó tôi bắt đầu viết lại những gì tôi nghĩ khi trước và sáng tác trở lại.

TTT: Xin cám ơn anh, và chúc anh an bình cùng những sáng tác ngày càng sung mãn hơn.

 

 

 Trịnh Thanh Thủy

 

 

 

cancer_support

TẮM BIỂN

 

Những thân hình reo trong nắng
Những thân hình là người tình của biển
Một hai ba
Biển ngân nga
Vũ trụ ca
Những tâm hồn muốn thoát khỏi làm da!

Tôi thấy một cô gái ôm ghì lấy biển
Như một bình tích điện
Nước rên siết những tia phóng cực nhanh
Lòng tôi treo lắp lẻo ớ cây cành.

Anh bạn tôi nằm sấp trên cát
Nhớ cồn cào đồi ngực người yêu
Hít thở điềm nhiên
Không khi nõn từ bọt sóng
Gió trộn nắng đầy ắp những tế bào sự sống.

Một hai ba
Um bờ la
Tôi nhảy ùm vào biển
Sóng dang tay ôm tôi
Sóng vỗ về ru tôi
Thế giới quá mong manh!
Bạn ơi!
Hãy sống kin những phút giây đời của riêng mình
Hãy sống thật hồn nhiên
Như từng con sóng bạc đầu mà rất trẻ
Trong biển đời bạn nhé!

 

TRẦN THOẠI NGUYÊN

59

Tức cảm nhân ngày
Hai mươi tháng mười một 2016

 

Thượng thư Phùng Xuân Nhạ
Nguyên soái Phùng Quang Thanh
Đều là quan lớn cả
Hậu duệ của Trạng Bùng

Phùng Quang Thanh ít học
Ngu dốt cái lẽ đành
Phùng Xuân Nhạ học đủ
Sao nói lời lưu manh

Làm tư lệnh giáo dục
Mà đem con bỏ đường
Ai dày vò mặc kệ
Miễn là đời lên hương

Nói tôn sư trọng đạo
Là cái đạo dụ nào
Mấy cô giáo dạy trẻ
Không là sư hay sao ?

Hai mươi tháng mười một
Ngoác miệng ca bài chòi
Để lính mình đi khách |
Giống như là tôi đòi

Thử đem vợ thằng Nhạ
Thử biểu mẹ thằng Thiềm
Hát karao.. với lũ
Rượu bia vào lên cơn

Mấy chục đời bộ trưởng
Từ Minh Hạc ,Hồng Quân
Kể cả Đặng Vũ Luận
Không ai ngu như Phùng

Đồng lương đã rẻ mạt
Nhân phẩm bị đọa đày
Đời giáo viên đã khổ
Đã chịu nhiều đắng cay

Còn mang thêm cái nhục
Bêu xấu một nghề thầy

 

Nguyễn Hàn Chung
16/11/16

 

img_4331

TIẾNG ĐÀN XƯA

 

Em nhớ trong mơ có tiếng đàn
Bên người năm ấy lúc xuân sang.
So dây đàn dạo câu tương ngộ
Nắn phím loan ngân điệu đá vàng.
Lắng khúc Phượng Cầu vang thánh thót
Đợi chàng Tư Mã bước thênh thang.
Trăm năm hoài vọng mùa trăng cũ
Xuân đến rồi đi mộng chẳng tàn.

 

UYÊN THÚY LÂM

 

 

MẤY DÒNG DƯ ÂM

 

Tai nghe từng nốt xuân hồng,

Buông lơi phiếm bạc ngược dòng âm thanh.

ĐÔ  bình quyện khói mong manh,

Về mang âm hưởng dỗ dành thương yêu.

 

 thăng lòng nhớ Bạc Liêu,

Lắng trong tiềm thức dặt dìu tiếng xưa.

MI chùng hò hẹn cơn mưa

Bỗng nghe gió cũ gọi mùa xôn xao.

 

FA  majeur vẫy tay chào,

Ngày thơ ấu của thuở nào đã qua.

SOL  mineur tiếc thu già

Đông xao xuyến nhớ thiết tha một thời.

 

LA  sầu trên phím chơi vơi,

Vẳng bao khúc nhạc giữa trời mênh mông.

SI ngân gọi nắng xuân hồng

Tìm trên phím bạc Mấy Dòng Dư Âm.

 

Thoảng nghe tiếng hát âm trầm,

Theo thời gian vọng xa xăm trở về.

Dây tơ gợi nỗi đam mê

Chắt chiu kỷ niệm, vỗ về tương lai.

 

Tìm đâu dáng Liễu Chương Đài,

Nhạt nhoà  hạc đã xa ngoài chân mây!

Trăm năm biển nhớ sông dài,

Nghìn năm phím cũ tiếc hoài âm xưa….

 

UYÊN THUÝ LÂM & MH HƯƠNG

 

 

 

 

460_345_resize

Hương Ngoại,

 

Càng vọng động

Càng trống trãi- nhưng không hề đồng

Bóng (nhiều lần

Tôi đã nói với chính mình điều đó!)

 

Vừa 60 tuổi + thêm mấy tháng

Tóc gần trắng hết- trong khi cuộc sống

Trôi đi

Ngoài đời (mắt tôi mắt thường

Làm sao thấy nổi trầm kha va

Đập!)

 

Hồi này đâm thức khuya nhiều

Có khi thức trắng đêm

Hết đứng thì ngồi xuống/ mắng

Nhiếc- bốn bức tường

 

Thậm chí la lối

Om sòm

Còn huơ cả nắm đấm dứ dứ thiên

Địa (hữu hình!)

 

Nói về bản thân

Nói cho cùng- dù sao

Vẫn còn sống

 

Chuyện làm thơ- rõ ràng

Chí cốt làm cho mình

Nhưng khi đọc lên- nghe

Thấy

Cứ như làm cho ai kia (lắm lúc khiến khá phân vân!)

 

Một bữa- mới phát giác

Năm giây- một thằng người khác

Từ tâm phóng ra vừa bước đi

Vừa kêu “nguyệt dãi tàn nhang… ư… con sông hồ nước biếc*”

 

Ối

Lại bùa chú lấm lem miệng lưỡi

 

Hiện thời

Giọng tôi nói lan khắp mặt biển cả

Hết còn hở chút chực đòi phá vỡ phút

Giây- xum vầy

Của kiều bào

 

Không hẳn sắp tới/ mà ngay giờ

Sống

Cực ngang tàng- đéo còn ngu xuẩn đi tin

Đàn bà hễ ngoại tình

Tất sớm bỏ chồng lấy mình!

..

Vương ngọc minh.

*Chùa Đàn (Nguyễn Tuân.)

 

 

Thời Điểm Chấm Dứt Bầu Cử.

 

mỗi khi chập chờn

người tôi thường gặp luôn là con chó

giống một mảng lớn trong tiểu thuyết

thể loại hình sự

thấy như ở địa ngục có lẽ tôi được nhiều

 

hơn/ không như trên đời này

chỉ có mất

 

con chó lại là người

chỉ chốc lát/ nó van tôi hãy cột chặt nó lại

nó còn nói “I’m not your granma!”

 

tôi phải đi đổi tấm chăn bông

lấy đậu xanh

bóng đèn vàng/ máu

hòng giữ ấm sợi dây nịt

 

(size by size!)

từng bước

từng bước- lúc chập chờn con chó thường gặp vào giữa trưa

lại hóa con người

nó came out (vẫy đuôi!) with a baby

rất tiếc tôi không ở nhà

chứng kiến buổi cấn thai từ nửa trận khóc nơi cơn giông

 

vậy rồi con chó khóc

căn nhà khóc/ tôi khóc (sau bốn chục năm

ly hương!)

tại sao mỗi nội ngày nay mới gặp con người

bỗng chốc hóa con chó

 

vào ban đêm/ thủ hai cây viết chì

tôi đâm rách toạch chỉ số IQ quả bong bóng

mà ai đó đã thổi phồng

 

quả diệu kì/ bạn biết đấy

cuộc sinh nở nào (khó khăn cách mấy!)

cũng

kéo dài không quá cuộc nói chuyện

tay đôi- giữa

mặt trăng tròn với cánh tay tiềm thức

 

phải nói- con người hóa con chó- độ gang

tấc/ now

and I try to leave them alone

unless they want to talk to me

 

và tôi nghe giọng con quỉ

 

bao lâu nay ẩn dưới da

thốt “hey daddy!” nó kêu như thể tiếng từ chương

lịch sử

nơi vòm tử cung biển rớt/ dội xuống chuỗi thanh âm

cứ rờn rợn!

..

Vương ngọc minh.

 

Chiến thắng của Donald Trump có ý nghĩa gì?

chautvu

CHÂU THANH VŨ

nguồn: Châu Thanh Vũ website

Vài dòng về tác giả Châu thanh Vũ

Thông qua blog này, tôi thích suy nghĩ về các giá trị sống, các sự kiện kinh tế – chính trị – xã hội, và quan tâm đến việc nhận và truyền cảm hứng đến các bạn trẻ.

Tôi là Châu Thanh Vũ, hiện đang là nghiên cứu sinh tiến sĩ ngành kinh tế tại ĐH Harvard (Mỹ).

Tôi sinh ra và lớn lên ở thành phố Phan Rang Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Từng là học sinh chuyên Tin học trường Phổ thông Năng Khiếu (ĐHQG Tp. HCM), tôi được trao học bổng để du học tại trường UWC tại Mỹ sau năm lớp 11. Sau khi tốt nghiệp ở trường này, tôi theo học cử nhân Kinh tế tại ĐH Princeton (New Jersey, Mỹ). Nghiên cứu của tôi tập trung vào kinh tế vĩ mô và tài chính quốc tế.

Tôi có một profile hoàn chỉnh hơn ở đây.

chauthanhvu

Ngoài học thuật, sở thích của tôi bao gồm chơi guitar cổ điển, sáng tác nhạc, hát với VTone – một nhóm hát a cappella của Princeton. Tôi cũng thích đi du lịch và nhiếp ảnh, tuy không chuyên nghiệp xíu nào. Nếu bạn hỏi tác phẩm nào là ưa thích của tôi, thì tôi có thể cho các bạn xem tấm “Màu trí tưởng tượng” (“The colors of her imagination”). Đây là một bức hình mà tôi chụp người bạn Eva Jue Weng của tôi ở thành phố Vernazza (Ý). Với tấm hình này, tôi đã may mắn thắng giải nhì của cuộc thi Nhiếp ảnh Quốc tế Thường niên lần thứ 6 của ĐH Princeton (quy mô chỉ cho học sinh trong trường :D).

 

Kỳ bầu cử 2016 cuối cùng cũng đã khép lại, với thắng lợi của tỉ phú Donald Trump. Nhiều người tin rằng đây là kỳ mệt mỏi, căng thẳng, và kỳ lạ nhất trong lịch sử, khi cả 2 vị ứng cử viên tổng thống đều có nhiều khuyết điểm. Donald Trump phải vật lộn với những câu nói xỉ nhục phụ nữ, chống lại người Hồi giáo và người gốc Mỹ Latin; trong khi Hillary Clinton vẫn không thoát ra được khỏi bóng ma của vụ scandal sử dụng email server riêng cho việc quốc gia, quá khứ ủng hộ tự do thương mại, và tâm lý chống Washington của cử tri.

Nhưng cuối cùng người Mỹ cũng đã lên tiếng: họ chọn Donald Trump. Nhiều người hỏi tôi là, điều này có ý nghĩa gì, và sẽ có ảnh hưởng gì đến nước Mỹ/thế giới?

Trước hết, trong tương lai gần, không có đủ lý do ở thời điểm này để tin rằng việc Donald Trump trở thành tổng thống sẽ là một thảm họa về mặt chính sách. 

Tất nhiên, những chính sách Obama và của Đảng Dân Chủ nói chung nhiều khả năng sẽ bị bãi bỏ, từ Obamacare, TPP, hay kế hoạch tăng thuế đối với người có thu nhập trên $200,000/năm. Hơn nữa, Trump sẽ có cơ hội bổ nhiệm vị thẩm phán tòa án tối cao thứ 9, chắc chắn sẽ là một người bảo thủ thiên Cộng Hòa. Nhưng đây là điều mà bất cứ ai của Đảng Cộng Hòa cũng sẽ làm, không đặc biệt riêng Donald Trump.

Thế có gì đặc biệt trong chính quyền Trump hay không? Trump là một người rất ngẫu hứng, có tiền sử thiếu suy nghĩ, và đã từng đề xuất nhiều điều vô lý. Do đó, ông hoàn toàn có thể cố gắng thông qua một chính sách vô lý nào đó, như việc xây tường ngăn Mỹ và Mexico (nếu ông còn nhớ). Tuy nhiên, nếu Donald Trump đưa ra một chính sách đặc biệt vô lý, thì có thể dám hy vọng Quốc hội Mỹ, dù bị kiểm soát bởi Đảng Cộng Hòa, cũng sẽ có đủ suy nghĩ để kiểm soát vị Tổng thống của chính đảng mình. Ngay cả khi ông lạm dụng quyền Tổng thống của mình qua các Lệnh Thi hành (executive order) – công cụ để các Tổng thống thực hiện các chính sách của mình mà không cần thông qua Quốc hội, được sử dụng rất nhiều bởi Franklin Roosevelt hay Obama – thì cũng có thể trông chờ ở Tòa án Tối cao để kiểm soát quyền lực của Tổng thống.

Nhưng việc Donald Trump trở thành Tổng thống, theo tôi, lại có những ý nghĩa khác đặc biệt hơn là những thay đổi chính sách.

Thứ nhất, chọn Donald Trump là tổng thống là phủ nhận tất cả những giá trị nhân văn cơ bản nhất.

Cử tri Mỹ đã nói cho thế giới rằng, dù anh có là người sàm sỡ phụ nữ và thích khoe khoang về việc làm đó, có gọi người Mexico là “những kẻ hiếp dâm,” có bài xích hẳn một tôn giáo, chọc quê người khuyết tật, tạo ra một đại học giả để lừa tiền,… cũng không sao. Ngay cả khi cử tri Mỹ không đại diện cho tất cả những thói hư tật xấu của Trump, việc chọn ông làm tổng thống cũng thể hiện rằng một nửa lượng cử tri Mỹ sẵn sàng thừa nhận những điều xấu xí ấy, và đây là điều cực kỳ nguy hiểm.

Ở một nước mà còn chia rẽ màu da, sắc tộc, và tôn giáo sâu đậm như Mỹ, việc chọn Donald Trump làm tổng thống sẽ khích lệ nhiều thành phần cực đoan của nước Mỹ bộc lộ bản chất thật sự của họ. Những người phân biệt chủng tộc sẽ cảm thấy phân biệt chủng tộc cũng không là gì xấu, vì Tổng thống của họ cũng thế. Những người trọng nam khinh nữ cũng sẵn sàng gọi phụ nữ là “heo”, vì Tổng thống của họ cũng đã từng như thế.

Cũng giống như việc chọn Obama vào năm 2008 làm Tổng thống Mỹ gốc Phi đầu tiên là việc đưa sự đa dạng sắc tộc và niềm hy vọng lên ngôi, câu chuyện của năm 2016 sẽ là đưa lên ngôi sự bài xích tôn giáo, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, thành kiến giới tính,… những điều xấu xí ngược lại với các giá trị nhân văn mà nước Mỹ cố gắng gìn giữ bấy lâu.

Cũng như một số báo cáo về tình trạng hành hung người nhập cư tăng lên sau Brexit, nước Mỹ có thể trông chờ 4 năm chia rẽ sâu sắc hơn khi một bộ phận của 63% người da trắng tại Mỹ học theo vị tổng thống của mình để sỉ nhục người da màu, người Mỹ lâu năm sỉ nhục người nhập cư.

Thứ hai, Donald Trump đã chứng minh rằng chính trị dân túy (hứa hẹn) và mị dân bằng những lời nói dối cực đoan là phương án rất thành công.

Chưa bao giờ ngành công nghiệp “fact-check” (kiểm tra sự thật) lại nở rộ ra như kỳ bầu cử 2016 này; và người thường xuyên bị đánh giá nói sai sự thật là không ai khác ngoài Donald Trump.

Ví dụ như, vốn biết cử tri Mỹ giận dữ về chính quyền Washington, Trump đã vô cớ cho rằng mọi hệ thống chính trị đã bị “điều khiển” để cho Clinton chiến thắng. Dù cho FBI đã tuyên bố Clinton không phạm tội trong scandal email của bà 2 lần, Trump vẫn liên tục thông báo với cử tri rằng bà đã phạm tội, và FBI chỉ đang hùa với hệ thống để bảo vệ bà mà thôi. Trong một ví dụ khác, Trump mô tả các “thành phố bên trong” (inner city) đang bị xuống cấp trầm trọng và tỉ lệ tội phạm tăng cao; trong khi các số liệu thống kê đều cho thấy ông đang quan trọng hóa vấn đề.

Nhưng, mọi người tin Trump hơn là bất cứ số liệu nào, vì một lý do rất đơn giản: câu chuyện và những lời nói dối cụ thể của Trump là những dẫn chứng rất ăn nhập với suy nghĩ chung của mọi người rằng “nước Mỹ đang có vấn đề.”

Để dễ hiểu hơn, thử bàn về hậu quả của NAFTA và các hiệp định tự do thương mại khác mà Mỹ tham gia. Các nhà kinh tế có thể bất đồng với nhau về nhiều chuyện, nhưng tự do thương mại hầu như không nằm trong số bất đồng đó. Hầu hết các nghiên cứu với số liệu kỹ càng đều chỉ ra rằng: (1) phần lớn công việc bị mất ở Mỹ là do tự động hóa (máy móc thay người) chứ không phải do tự do thương mại, và (2) nếu cắt tự do thương mại thì người chịu ảnh hưởng đầu tiên là người nghèo, vì họ không còn mua được những sản phẩm giá rẻ nhập từ Trung Quốc nữa.

Thế rồi Trump đưa ra một câu chuyện: vì các hiệp định tự do thương mại, đặc biệt là NAFTA và thương mại với TQ, mà người Mỹ bị mất việc. Câu chuyện này rất dễ tin và có thật, đã xảy ra ở những ngành cụ thể với một bộ phận cử tri cụ thể. Nhưng đây hoàn toàn không phải là một vấn đề lớn khi chúng ta đánh giá bằng số liệu. Thế nhưng, cử tri Mỹ có vẻ không cần số liệu. Họ tin vào những câu chuyện đơn giản, dễ hiểu của Trump hơn.

Nếu chủ nghĩa dân túy bên Đảng Dân chủ – đứng đầu là Bernie Sanders – nằm dưới dạng “tất cả đều màu hồng”: hứa miễn phía đại học, chăm sóc sức khỏe,… thì chủ nghĩa dân túy của Donald Trump có thể hiểu là thuộc dạng “tất cả đều màu đen”: nước Mỹ đang đứng trước nguy cơ sụp đổ, và cần một người ngoài Washington để thay đổi gấp. Và, trong thời buổi (không quá) khó khăn, câu chuyện làm quá của ông Trump lại nghe thực hơn thông điệp đầy hy vọng của bà Clinton.

Cuối cùng, chiến thắng của Trump đặt ra dấu chấm hỏi lớn về chế độ dân chủ.

Với chủ nghĩa dân tộc nổi lên khắp mọi nơi năm 2016, nền dân chủ ở các nước phương Tây bị đưa vào thử thách. Nhiều chính trị gia cánh hữu cực đoan như Marine Le Pen của Pháp hay Norbert Hofer của Áo đã suýt giành được thắng lợi lớn ở nước họ; còn đảng UKIP của Anh lại chiến thắng với Brexit ở Anh.

Điều gì đang sai với chế độ dân chủ hay sao? Thực ra chẳng có gì sai cả. Chỉ là, một bộ phận dân chúng thuộc nhóm bảo thủ, vốn im lặng bấy lâu giờ đã quyết tâm lên tiếng. Ý kiến của họ cũng đáng lắng nghe như ý kiến của giới thượng lưu, giới trí thức, những người sống trong thành thị hay bất cứ bộ phận dân chúng nào khác. Dù lựa chọn của phần đông có là lựa chọn không tối ưu đi chăng nữa, nó cũng là lựa chọn đúng vì đã là lựa chọn của số đông. Và, đó là đặc điểm của một nền dân chủ: ai ai cũng có cơ hội cất lên tiếng nói của mình.

Tuy nhiên, nếu những lá phiếu này không thể hiện suy nghĩ, mà chỉ thể hiện những cảm xúc thì sao? Và nếu những cảm xúc này là nhất thời và không dẫn đến kết quả tối ưu thì sao?

Thử trở lại vấn đề người nhập cư. Nước Mỹ từng được gọi là “the American experiment” (tạm dịch: thí nghiệm Mỹ) vì là một nước trẻ, và luôn mở rộng vòng tay đón nhiều làn sóng nhập cư: từ người gốc Anh, Đức, đến Ireland, rồi gốc Á, Do Thái,… xuyên suốt lịch sử. Cứ mỗi lần có một làn sóng nhập cư, tinh thần bài ngoại lại tăng cao vì những người Mỹ hiện tại không dám chấp nhận sống chung với một luồng người mới. Tuy nhiên, về lâu về dài, nước Mỹ lại thừa hưởng rất nhiều từ sự đa dạng sắc tộc này, từ kinh tế đến văn hóa. Nếu cứ mỗi lần bị đưa ra phép thử, người Mỹ lại chọn cảm xúc/tinh thần bài ngoại nhất thời và đóng cửa, không chấp nhận các làn sóng nhập cư, thì liệu nước Mỹ có đến được như ngày hôm nay hay không?
(Chuyện bên lề: tất cả những người Mỹ được giải Nobel năm nay đều có gốc nhập cư.)

Tình huống tốt nhất là lãnh đạo, chính quyền hiện tại có thể giải thích, trấn an cảm xúc của người dân. Đó là điều Obama đã làm vào năm 2008. Nhưng ở năm 2016, với một ứng cử viên Hillary Clinton được cho là “thiếu cảm hứng”, còn một ứng cử viên Donald Trump lại một cách thuyết phục thổi lửa vào các cảm xúc giận dữ của cử tri này, họ cảm thấy họ nên bầu cho ông vì ông có vẻ “thật” và “hiểu cử tri”.

Nhưng, từ phương diện của người thứ ba, nền dân chủ có lẽ đã tạo cơ hội cho một người như Trump lợi dụng tình huống để nắm lấy quyền lực. (Nhà triết học Aristotle đã từng cảnh báo về khả năng trỗi dậy của những kẻ mị dân trong một nền dân chủ.) Điều này không khiến người ta đặt ra câu hỏi: dân chủ kiểu hiện tại thực ra liệu có tốt không? Hay nên có những thể thức nào (như kiểm chứng thông tin tốt hơn để tránh mị dân) để khiến một nền dân chủ hùng mạnh hơn nữa?

Tôi vẫn tin vào hệ thống dân chủ, nhưng câu hỏi trên sẽ cần nhiều suy nghĩ trong 4 năm của nhiệm kỳ tổng thống Trump.

Châu Thanh Vũ,
Harvard 9/11/2016

Những ngày tháng tới  

trantrungdao

Trần Trung Đạo

 

Dù nói ra hay không hay dù ủng hộ ai, hầu hết người Mỹ gốc Việt khi cầm lá phiếu bầu tổng thống Mỹ đều nghĩ tới Việt Nam và hy vọng qua lá phiếu sẽ đóng góp một chút gì đó, chắc chắn là rất nhỏ, vào tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.

Hôm 9 tháng 11, người Mỹ, qua phương pháp cử tri đoàn, đã chọn Donald Trump làm tổng thống (Bà Hillary Clinton thắng phiếu phổ thông nhưng không tính). Sự kiện Donald Trump là tổng thống đã tạo ra nhiều hy vọng nơi những người ủng hộ ông ta, nhưng cùng lúc cũng tạo ra nhiều lo lắng nơi những người ủng hộ bà Hillary Clinton.  

Nhắc lại, Donald Trump ứng cử với khẩu hiệu  “Make America great again” (Làm cho nước Mỹ vĩ đại lần nữa). “Lần nữa” có nghĩa đã từng là một quốc gia vĩ đại trước đây nhưng hiện nay thất bại. Khẩu hiệu này mang ý nghĩa kinh tế nhiều hơn các yếu tố văn hóa, giáo dục.

Donald Trump không phải là người duy nhất dùng khẩu hiệu này mà trước đây  TT Ronald Reagan cũng đã dùng để đánh bại TT Jimmy Carter khi các chính sách của ông ta đã đưa nước Mỹ vào tình trạng thất nghiệp cao, lạm phát cao, tiền lời ngân hàng cao và khủng hoảng năng lượng trầm trọng. Đó là chưa kể vấn nạn con tin còn đang bị giam giữ tại Iran.

Với hàm ý “lần nữa” cho thấy Donald Trump sẽ nghiêng về chính sách bảo vệ mậu dịch (Protectionism) như đã từng áp dụng trước Thế chiến Thứ Hai. Ông và các nhà kinh tế biện hộ  chính sách bảo vệ mậu dịch cho rằng các cường quốc kinh tế như Trung Cộng, Nhật đã làm giàu trên sự thiệt thòi của người dân Mỹ.

Patrick Buchanan, một nhà phân tích chính trị bảo thủ nổi tiếng đã viết trong tác phẩm Where The Right Went Wrong: “Sự giàu có của Trung Quốc phụ thuộc vào Mỹ. Người tiêu thụ Mỹ trách nhiệm cho 100% sự phát triển của Trung Quốc. Nếu hàng hóa Trung Quộc bị loại bỏ tại Mỹ, các nhà máy tại Trung Quốc sẽ đóng cửa, nhiều triệu người sẽ thất nghiệp, đầu tư quốc tế bị cạn kiệt và cái gọi là Trung Quốc bùng lên sẽ thành Trung Quốc xẹp xuống”.  

Chính sách bảo vệ  mậu dịch đặt quan hệ mậu dịch quốc tế cũng như giữa hai quốc gia trên cơ sở bình đẳng nhưng không tự do. Chính phủ dùng thuế nhập cảng để bảo vệ và kích thích kinh tế nội địa. Dĩ nhiên các nước khác cũng không để yên cho Mỹ muốn nâng thuế nhập cảng cao thấp tùy tiện mà cũng sẽ giới hạn việc đầu tư vào Mỹ và nếu thuế nhâp cảng quá cao, họ sẽ phát động các cuộc chiến mậu dịch (trade wars) chống lại Mỹ.  Quốc gia gần nhất và sẽ dễ trở thành thù địch với Mỹ nhất là Mexico không phải vì Donald Trump đe dọa sẽ xây bức tường ngăn hai nước mà vì tổng số xe nhập cảng vào Mỹ qua ngã Mexico năm 2015 trị giá đến 74 tỉ đô la.

Còn quá sớm để hiểu các chính sách kinh tế và đối ngoại của Donald Trump, trong đó rất nhiều vấn đề ông chưa giải thích sáng tỏ. Tuy nhiên điều rõ ràng nhất ông đã đáp ứng được cơn giận của nhiều người dân Mỹ.

Giận ai? Dĩ nhiên là giận dữ trước các thất bại của chính quyền Barack Obama không phục hồi nền kinh tế Mỹ đúng mức, nhân dân Mỹ đang sống trong tình trạng bất an và hệ thống chính trị không phục vụ cho quyền lợi đích thực của người dân mà chỉ phục vụ cho hệ thống.  Donald Trump như người ngoài cuộc và người Mỹ đang cần một người ngoài cuộc lãnh đạo họ.

Một lý do tâm lý mà rất ít người dám công khai thừa nhận đó là yếu tố da màu. Bà Hillary Clinton không phải là da đen nhưng bà vẫn được xem là phe cánh của Tổng thống Barack Obama và các chính sách xã hội, giáo dục, y tế của bà chỉ là các chính sách của TT Obama nối dài, không thay đổi trong đó có đạo luật y tế  nhiều tranh cãi Affordable Care Act (ACA).

Do đó, không ngạc nhiên khi một Donald Trump ăn nói lung tung, không có kinh nghiệm chính phủ đã đánh bại 16 ứng cử viên Cộng Hòa, trong đó có người giàu quỹ như Jeb Bush, giàu kinh nghiệm như John Kasich  hay tài hùng biện như Marco Rubio, một cách dễ dàng trong bầu cử sơ bộ của đảng Cộng Hòa và cuối cùng đánh bại bà Hillary Clinton.  

Trong ngày bầu cử tổng thống vừa qua, người Mỹ biết rõ mọi thói hư tật xấu của Donald Trump nhưng vẫn bỏ phiếu cho ông ta. Bởi vì, dù nói gì đi nữa, khi đặt lên bàn cân để cân trước giờ bỏ phiếu, các quan tâm về an ninh, thuế má, phát triển kinh tế, màu da nói chung là thay đổi, đã nặng hơn cá tính và tư cách của Trump.

Việc Hillary Clinton nhắm vào tư cách hay kinh nghiệm của Donald Trump không đủ thuyết phục. Dân chủ Mỹ là một hệ thống pháp trị chứ không phải như dân Đức bầu Hitler trước Thế chiến Thứ hai, muốn làm gì thì làm. Nguyên tắc đối trọng (checks and balances) giữa ba ngành được nhấn mạnh nhiều lần ngay sau khi Donald Trump đắc cử.

Trả lời báo The Guardian, một bà cử tri đã phát biểu “Tôi rời phòng phiếu trong nước mắt vì tôi không thích ông Trump chút nào. Tôi rất buồn vì đã bỏ phiếu cho ông ta. Tư cách, cá tính và việc thiếu kinh nghiệm của ông làm tôi lo lắng. Tôi ước gì có một chọn lựa nào khác ngoài việc ném lá phiếu vào thùng rác. Tôi biết khi đi ra nước ngoài tôi sẽ bị người ta ghét cũng do ông Trump. Tuy nhiên ông ta chỉ là bốn năm đầu tư thôi. Tôi tin tưởng nguyên tắc đối trọng (checks and balances) của quốc gia chúng tôi sẽ giúp ngăn chận các phán đoán vụng về của ông ta và không làm thiệt hại đất nước quá nhiều. Hy vọng là ông Trump sẽ không làm ảnh hưởng nhiều đến đời sống hằng ngày của tôi”.

Với một tổng thống Mỹ không kinh nghiệm lãnh đạo chính quyền và đang cần phải học nhiều, chưa từng công khai bày tỏ cảm tình với lý tưởng dân chủ tại các nước độc tài như Việt Nam, nhiều người đang lo lắng những ngày tháng tới các phong trào dân chủ tại Việt Nam sẽ rất khó khăn nếu không muốn nói là sẽ bị chính giới Mỹ bỏ rơi.  Những phong trào hay tổ chức đang chuẩn bị các đề án hoạt động trong không gian và khuôn khổ của  TPP (Trans-Pacific Partnership Agreement) chắc sẽ hủy bỏ vì Trump đã nói nhiều lần ông ta không đồng ý với TPP.  Trung Cộng, ông tổ của chủ nghĩa cơ hội, sẽ tiếp tục bành trướng trên Biển Đông mà không bị cản trở mạnh nào. CSVN sẽ thẳng tay đàn áp các phong trào dân chủ nhưng sẽ không được quốc tế quan tâm can thiệp v.v. và v.v..

Những lo lắng đó đều chính đáng nhưng cũng chỉ là những điều lo lắng.

Theo truyền thống, chính sách đối ngoại và nhân quyền của các chính phủ Mỹ dù Cộng hòa hay Dân chủ chỉ thay đổi trong phương pháp áp dụng nhưng không thay đổi về nguyên tắc. Nước Mỹ không chỉ là cường quốc kinh tế mà còn là cường quốc dân chủ và các giá trị tự do nhân quyền luôn là kim chỉ nam cho các chính sách đối ngoại của Mỹ. Tổng thống Ronald Reagan cứng rắn hơn vị tổng thống tiền nhiệm Jimmy Carter chủ trương đàm phán nhưng cả hai đều theo đuổi lý tưởng bảo vệ nền dân chủ và quyền lợi của Mỹ. 

Bảo thủ không đồng nghĩa với tự cô lập để rồi tự diệt. Chính phủ Donald Trump  sẽ phải áp dụng một chính sách cứng rắn, và có thể còn cứng rắn hơn cả George W. Bush và Barack Obama để bảo vệ quyền lợi của Mỹ trên Biển Đông.  Một số phụ tá thân cận của Trump đã phê bình TT Obama không đủ cứng rắn đối với Trung Cộng.  

Các nhà phân tích cho rằng một cuộc chiến tranh mậu dịch có khả năng cao sẽ bùng nổ giữa Mỹ và Trung Cộng. Nếu điều đó xảy ra sẽ có lợi cho các nước nhỏ trong vùng vì Trung Cộng buộc phải thỏa hiệp để tập trung cứu vãn kinh tế và đương đầu với Mỹ. 

Không nên quá lo lắng những gì ngoài tầm tay vói. Điều đáng lo lắng nhất là liệu những người Việt quan tâm đến tự do, dân chủ của đất nước có tầm nhìn, nhận thức và khả năng để vận dụng các chính sách của chính phủ Trump tại Á Châu nói chung và đối với Trung Cộng nói riêng có lợi cho cuộc đấu tranh dân chủ tại Việt Nam.

Năm 1990, Bác sĩ Nguyễn Đan Quế gieo hạt mầm dân chủ bằng “Lời Kêu Gọi của Cao Trào Nhân Bản” tại Sài Gòn. Khi công bố lá thư, bác sĩ Quế chắc không quan tâm tổng thống Mỹ là ai. Hai mươi sáu năm sau, qua bao nhiêu bão táp phong ba, hạt mầm đó chẳng những không chết mà đã thành cây ngày một xanh tươi và cao lớn.  Hôm nay, Việt Nam có hàng trăm phong trào xã hội hoạt động rộng khắp. Ngọn đèn chính nghĩa mỗi ngày một sáng thêm và bóng tối độc tài một ngày thêm mờ nhạt. Con đường có thể còn dài nhưng mục tiêu dân chủ và nhân bản chưa bao giờ thấy rõ hơn hôm nay.

Cuộc đấu tranh của dân tộc Miến Điện là một ví dụ. Trong cùng tuần lễ này vào năm ngoái, cuộc bầu cử quốc hội Miến Điện được tổ chức và đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (National League for Democracy) của bà Aung San Suu Kyi thắng lớn. Kết quả bầu cử tốt đẹp kia chính là những bông hoa được tưới bằng máu của nhiều thế hệ Miến đổ xuống trong suốt mấy mươi năm. Phần lớn trong thời gian đó, các anh hùng dân chủ Miến đấu tranh trong cô đơn, chết trong âm thầm không quốc tế nào để ý.

Việt Nam cũng thế. Dân chủ là một tiến trình chứ không phải là một sản phẩm được đóng thùng gởi từ nước Mỹ. George W. Bush, Barack Obama hay Donald Trump đều không thể mang dân chủ đến cho Việt Nam mà chỉ có người Việt Nam mới có thể tạo nên nền dân chủ cho dân tộc mình.  

Bức tường độc tài chuyên chính tại Việt Nam không sụp đổ bằng những cái búa hy vọng sẽ mượn được của nước ngoài mà bằng những bàn tay nhỏ tiếp tục và kiên nhẫn xoi mòn chế độ.

 

Trần Trung Đạo

 

hue

Nỗi Huế

 

 

nơi đó

thành quách nhiều hơn người

giai thoại đè lịch sử

thuở nhỏ

tôi đi dọc theo những con đường vuông

góc thành này đến góc thành kia

lớp lớp rêu bám đầy

nhẫn nhục, cổ sơ

nghiêm cẩn đến nao lòng

nhìn hoài vẫn cứ tự hỏi …

 

 

tôi giẫm bước vô danh trên những địa danh

quá khứ được ăn tiêu rất kỹ

những khu vườn có cổng chắn

tường lở nhiều chỗ

vài đoạn rào thép gai

chắp vá hờ hững

ngôi nhà thấp

chật ních kỷ vật

câu đối sơn son thếp vàng hồn nhiên ngủ kỹ

                        ngang và dọc

mục và quý phái

cũ và kiêu sa

giai thoại mọc lên từ mỗi góc nhỏ

ngày tháng co giãn 

đậm đặc nỗi tự hào

 

 

thuở thanh xuân

mân mê những livre-de-poche Ưng Hạ

đọc cọp báo Sài Gòn Mới Gia Long

tà tà Phan Bội Châu

nhìn trộm Phương Lan

dựa cột đèn Trần Hưng Đạo

            ngắm từng em từng em đi qua

            rỡ ràng phố chật

cốc cà phê Lạc Sơn chiều muộn

hơi người hơi ruốt

nhớ bâng quơ

 

 

chiều mưa giông Đồng Khánh

những con chim bồ câu

túa ra

ướt mèm áo trắng

cậu học trò không chịu về nhà

nép dưới tàn cây

                   hiên phố

ngẩn ngơ

 

 

huế rất lạnh mà rất nắng

mưa thì phùn và gió rất khô

trời mênh mang mà người thì lặng

những buổi chiều hiền

            thẩn thơ đường nhỏ

em đi như tĩnh vật

tôi rụng rời cơn mơ 

 

 

nhiều lần lang thang quanh hoàng cung

nghe gạch ngói thở

sờ đám tượng trên sân chầu

ẩn nhẩn

đìu hiu

leo lên lầu ngọ môn

                        thấm thía dòng hư tự

quan ở đâu vua ở đâu cờ quạt ở đâu

chỉ là mấy bông sứ lặng lẽ rụng

trong hồ sen ngơ ngác

hít hà chút cổ sử

ngậm ngùi thơm

 

 

đó là nơi tỏ ra rất tiện lợi

cho nhiều màn trình diễn

ngoạn mục bất ngờ

có khi trịnh trọng có khi bình dân

có khi rất chuyên nghiệp

và những tan vỡ liên tục diễn ra

thật chậm rãi

đủ để người ta thưởng thức nỗi mất mát

của chính mình

 

 

lắm khi

từ trong cái ù lì lặng lẽ

bỗng vươn vai đứng dậy

y như thể đã chuẩn bị từ bao giờ

vội vội vàng vàng

băng cờ la hét

đường phố hừng hực

khát khao thu gọn chiều dài lịch sử

 

 

dưới kia

sông vẫn lặng

đò vẫn trôi

sông còn thơm

mà đò thì chật

 

 

những ngày xuân âm khí năm nào

thành quách nín

đất đá nghẹn

cỏ cây câm

hố hầm co quắp

ngột

âm bản cuộc liêu trai

 

 

lại có khi

thành phố bồng bế nhau

vứt cả rực rỡ hè mới chớm

rùng rùng bỏ chạy

đi đâu?

không biết đi đâu

miễn là xuôi Nam

để lại một cõi lặng

không gian rỗng

sàn diễn trống trơn

những con chó mất chủ chạy rất tự do

và vô vọng

hàng phượng lạc loài

chấp chới bay

gió nắng rong chơi

vòng vèo quanh nội thành ấm ức

 

 

kiêu binh về

bắt đầu mắng mỏ nhiếc móc

thậm chí oán thù

những người đã chết

y như thể không có họ

thì đất nước sẽ thành cường quốc từ thế kỷ 18!

bỗng nhiên

mọi thứ được vội vã  hóa thân

hội hè đình đám

những ngợi khen đẫm mùi tiếp thị

phục chế/tân trang kẻ thù

đem ra bày bán

 

 

chữ nghĩa không xương

 

sorry huế!

 

đành phải ra đi

bỏ phía sau nhìn phía trước.

 

lạc lõng giữa đất trời lạ hoắc

ăn cũng huế

nói cũng huế

đi cũng huế

chào cũng huế

thương cũng huế

nhớ cũng huế

ngày huế

đêm huế

lao xao những ôn những mụ những o những dì

đám trẻ con ngỡ ngàng  

tưởng còn thời khuyết sử

cô cháu nhỏ tò mò

what’s hue, ngoai?

hue here! tôi chỉ vào bà ngoại

really, ngoai?

yes

ngoai oi, so i love hue so very very much.

 

 

tháng bảy quay quắt huế

đến hẹn

nước lại lên

nước tràn Đập Đá nước lút bến đò Cồn nước ngập Bao Vinh nước ngâm quốc lộ

…đãng trí

tôi không về

ai lội lụt thăm em

 

 

một thuở

vỉa hè/góc phố

nắng/mưa

lụt/bão

nghèo/thiếu/đói/no

tù/ngục

 

…một thuở…

 

 

thành phố thì còn

huế đã đi

 

vĩnh viễn đi!

 

Trần Doãn Nho

(8/15-10/16)

2b

MÀU JAZZ HAY TÌNH NHÂN ?

1)

mùa óng ả mở
mặt gương phía sau các lồng hộp ký ức
chính Jazz
có lúc nghe như
những lát cắt lạnh buốt sống lưng

2)

chờ giờ
cánh cửa muôn trùng hé mở
có những điều quả thật thiệt thòi trong tuổi thơ
lão già phế binh hóm hém
quệt cọ lên tấm bố
về những khúc Jazz tuổi thơ đời mình
như hình thù những căn nhà chòi bốc chá

3)

Jazz chạy rần rật
len dọc sống lưng. Ý nghĩ thật buồn cười
như thái độ trườn bò
của lũ rắn
loại rắn cực độc
đang trườn dọc sống lưng
một người đẹp nằm khỏa thân

4)

mùi quả ngo khô
cháy trong lửa chiến tranh tàn phá
mùi dĩ vãng
băng qua sườn đồi vắng lặng
Jazz
nằm chông chênh nhìn vệt trăng
ngày nhợt nhạt
như con thuyền lật úp nằm phơi lườn

5)

lúc buồn
tôi chẳng biết làm gì
ngoài việc làm bạn cùng vết sẹo
để thấy
như mình vẫn đang nằm lại trong cánh rừng
khuôn mặt những thằng bạn
vẫn như quanh đây
vẫn tràn đầy mộng mơ
hình như vẫn chưa đứa nào chết cả
Jazz
khúc tình ca tuổi trẻ của chúng tôi

6)

tôi có lúc rất ghét
có lúc lại rất điên mê Jazz
trên khói lửa chiến tranh
kẻ cuồng sát chúng tôi vẫn thét gào
trong những khu rừng quá lạnh
những tấc đất chìm ngập trong khói
máu
thây người và nước mắt
Jazz chết đi
và bỗng bất ngờ sống lại…

 

 

Chu Thụy Nguyên

 

royal-blue-marsha-heiken 

 

BỖNG ĐÊM HALLOWEEN NĂM NẦY


1)

Hốc hác nỗi cam chịu trên con phố quen bụi bặm. Triền dốc khô trợt chờ cơn mưa đuối tăm hơi. Hồn thu vừa nhập vào con trốt hốt ném đi cạn kiệt chút kỳ vọng. Chứng bong gân chửi rủa của quán xá vỉa hè đang nức mũi vì mới len lỏi chường mặt lên CNN. Hất mặt tưởng chừng được bái phục như một kỳ quan quái dị.

2)

Tâm tưởng ngã mạn toan lẻn lên mây xanh vụt bị trói gô, điểm mặt. Tiếng vỗ tay của cả hai phía, những bàn tay đen, và cả những bàn tay trắng bật dậy reo mừng cơn thúc thủ của thói khinh bạc hạ cấp.Những quân bài ém dưới chiếu bạc bỗng bị ném ra như những lời giải đáp đầy ẩn dụ.

3)

Ở một nơi khác người ta bắt đầu nói về thơ như một khí cụ giúp kịp thời giải giới cái ác. Nhóm ngôn ngữ chân phương luôn bọc quanh mình đủ vần đủ điệu. Các nhóm khác tự giải thoát mình ra khỏi trói buộc của vần điệu. Thoạt đầu từ sự pha tạp, những mảnh ráp nối mãi chẳng thể khắn khít. Phải đợi một lúc sau khi người ta quyết định loại bỏ nhiều khúc đoạn. Bài thơ sau cùng được một giọng nữ dỏng dạc đọc lên y như lời tuyên án.

4)

Thật bất ngờ mầm mống quán tưởng trong tôi lúc cố vượt qua lằn ranh lụt lội tận cổ là tiếng thét báo động về cơn hồng thủy. Từng đợt những chiến thuyền rã dần giữa dòng cũng là lúc lũ thủy quái Halloween đầu mọc sừng, tóc thắt bính, miệng nhễ nhại máu lội bì bỏm vào bờ với chiến thuật biển người.

5)

Trong đêm ma quỷ đen như mực ấy, giữa lúc con người tưởng chừng bất lực phải tự gậm nhấm, tự nhai nuốt dần những ngón tay, bàn tay, cánh tay của chính họ như cách trông đợi phép màu ngày mai mọi thứ sẽ tái sinh. Thật bất ngờ, mọi người choàng tỉnh và không tin vào mắt mình khi cơn hồng thủy từ khơi xa ập tràn vào. Và muôn triệu chông nhọn từ thế kỷ nào tận đáy biển bỗng bung vọt lên, đâm xâu táo vào lũ quỷ Halloween thắt bính. Trò chơi như những cây xiên thịt trong các quán nhậu trên vương quốc suy tàn…

 

 

Chu Thụy Nguyên

 

kd-1 

 

 

NỬA ĐÊM. NẰM THẤY BIỂN

 

tù mù

bóng

tù mù hình

màu

pha độ nhật vô

minh

kiếp người

là đêm

bay

rợp hang dơi

là ngày

tất tả phận đời

chênh vênh

ngó

trùng trùng biển

u minh

thuyền phơi

chật bãi lộng hình

tang ma

 

 

 

trầm hương

thắp

sóng ta bà

hồn

tôm cá nhập

khóc

òa biển dâu

cầu mây

đợi

bắt nhịp cầu

vân du

trời mộng canh thâu

luân hồi

ngó

kìa lồng lộng

xa khơi

một trời thiếu phụ

trăng

soi đợi chồng

một

trời bát nhã

mênh mông…

 

Chu Thụy Nguyên

 

4c-1

VẦNG TRĂNG KHÓC

( Lời Gửi Người Em Gái Quê Xưa )

 

Năm tháng bay vèo! Đâu tóc xanh?

Hỡi người em gái khóc yêu anh!

Từ ly đêm ấy vầng trăng khóc

Mộng ước đời trai cũng chẳng thành!

 

Biết bao kỷ niệm chôn trời cũ

Sáng nắng Mỹ Khê hôn má hồng

Chiều vuốt tóc Hà Nhai Vãn Độ

Ôm ghì nhau Thạch Bích Tà Dương.

 

Lời thề non nước chùa Thiên Ấn

Uống nước giếng thiêng hứa một lòng!

Thiên Bút viết vào ngàn mây trắng

Lời tình yêu ! Em hỡi nhớ không?.

 *

Em theo chồng, bởi anh chẳng thể

Hỏi cưới em khi còn trắng tay!

Em giàu có cao sang quyền thế

Thì tại đời anh kiếp mây bay!

 

Thì tại đời anh xưa bất cần

Nghiệp duyên sầu nặng túi thơ văn!

Tình yêu như trái cây vườn cấm

Sáng đẹp lung linh chẳng hái cầm!

 

Anh từng có thuở hồn điên dại

Lấy biển dâu chôn khối tuyệt tình.

Chôn kỷ niệm mùa xuân hương sắc

Một mình lầm lũi cõi vô minh!

*

Năm tháng bay vèo! Đâu tóc xanh?

Hỡi người em gái khóc yêu anh!

Chiều nay em khóc hồn đơn lẽ

Hạnh phúc cầm tay đã tan tành!

 

Đừng khóc em ơi! Đừng nói nữa!

Đời chỉ là một áng phù vân.

Anh lãng đãng ôm trăng khóc ngất

Giọt lệ thiên thu rụng trắng ngần!

 

Thôi em ạ! Mẹ giờ lú lẫn

Tâm hồn anh vắng lạnh trăng sao.

Nhẹ gót trần gian cười mây trắng

Đời chỉ là một thoảng chiêm bao!

 

TRẦN THOẠI NGUYÊN

 

mentalhealthbrain

Lắng,

 

để hai mắt lia

quét/ qua

lại (nói đến nhân cách

 

thì

mặt màn hình

laptop

một nhân cách ảo!)

 

tôi ý thức

tôi hiện hữu/ bằng cách

vòng tay gải cột sống (chữ chồng còn có nghĩa chồng lên!)

 

đồng thời nghĩ là- còn thơ

sắp tới/ có biến

mất

 

cũng thử bỏ lại

một mắt nhắm/ một mắt mở

nơi đời này

 

khi trở lui (có nghĩa đầu thai!)

sẽ lật hết các nghĩa ẩn

dưới bàn phím/ hát hệt tiếng của quạ kêu

sắp xếp lũ chữ cái

sao cho chúng đồng loạt

nhìn

 

vô thực tế/ tôi tin

chắc chắn

chúng đều biết  khi lời cầm lên rao

bán- tự khắc

 

mồ hôi bám

riết

dưới mười

đầu ngón tay/ loãng

tan

 

giữa cái hư

và cái thực

trong ý nghĩ

bây giờ / cha tôi

vừa là ngọn đèn dầu đầu nằm

vừa là con sói (lonely- theo nghĩa bóng!)

 

lúc các con đom đóm

lặp lòe

tôi nom giống cục tuyết

chảy dưới da cha tôi- vâng

tôi đang dọ

nghe

 

tiếng thơ đi/ xem phần từ ngữ

trên kia

có linh hiển (có đốt nổi nguyên ngọn núi!)

hay không- hòng

còn bày ra câu chuyện khác nữa (chuyện vợ

 

chồng/ chẳng hạn!)

..

Vương ngọc minh.

1a

Tặng J. thời XX

 

Thời lý tưởng bị ăn chia tùy ý

họ luôn nhìn thấy (kể cả) những ngọn đồi cũng có thể xảy ra mưu phản

tiếng động trong đêm hay làm ta co lại bất thường, những cái chân đạp cửa

bốn cánh tay lôi ta ra khỏi chăn mau lẹ, rồi sau màn nước mắt

những tiếng vọng vội vàng thiêng liêng li biệt

giữa bao la đồ vật bị xới tung, là ta bị đi luôn biệt tích.

 

Ở nơi họ sợ các học giả và ưa chuộng hầu hết nô lệ

nên J. phải lần mò viết để gửi tới tương lai

những lá thư hy vọng, đẹp như anh phác họa.

 

 Lê Trinh

 

 

Một bài  ca cho người đẹp

 

 

Người đẹp giả dối đây rồi

vì nàng mà thành phố này trở thành nô lệ

trước vó ngựa quân thù còn cách đây hàng ngàn dặm xa xôi.

 

Nàng nằm gọn trong chăn của lũ đầu cơ

những tên buôn lậu, các bậc tiên tri giả tay lăm lăm gươm giáo

rồi tháng năm đi qua, ta tổng kết lại… thật là

lộ ra nguyên xi một cái bẫy được đặt cho bầy cừu khốn khổ.

 

Nàng luôn được dùng  như trang sức để che đi

những vết răng nham nhở cắm vào trong máu thịt

của một thị thành liêu xiêu đến nỗi mà mùa xuân  nham hiểm

cố tô màu đến mấy, cũng chỉ là một cánh cửa mục cót két kêu gào

những giai điệu của cái chết đến đau tai.

 

Lê Trinh

Phỏng vấn chớp nhà thơ Huy Tưởng,
người “nuôi lửa tịch mịch”

huytuong-4

 

 

Tôi “gặp” ông. Người “nuôi lửa tịch mịch”, lần đầu tiên, từ một tập Thơ photocopy do một người bạn yêu Thơ ông trao tặng. Ngay khi đọc những bài thơ, những con chữ tràn ngập âm thanh, màu sắc, chuyên chở tư tưởng và cảm xúc trong ấy, tôi như chao nghiêng đi. Thơ ông như một khoảnh rừng có nhiều cây gỗ quý, ẩn hiện đâu đó những chiếc mặt nạ da người treo lơ lửng trong một mảng trời ám khói. Huy Tưởng đã nuôi lửa trong thơ mình, những ngọn lửa âm ỉ cháy qua những sợi cỏ tâm tưởng dễ bắt nhiệt. Những cụm khói cảm xúc u tịch bốc lên thành màu lam chiều cuồn cuộn, khiến thơ ông nổi lên, bật ra, quất vào trí tưởng và tim gan người đọc.

 

Chiều.ghếch nâu lên mái

Dồn dập chui qua vết nứt tháng năm

Âm vọng từng tiếng nấc khoan đêm.hố thẳm

Tha thiết tím.thầm kêu im.ước nguyện…

 

Chiều quá rợp nâu.um khói

Bóng người về.chói lọi khúc cuồng ca

Tiếng chim nát từng lời máu đỏ

Đêm mãi tràn..huyết dụ quá.lòng ta…(SONNET 34)

 

hay :

 

Lênh láng sắc hương.lênh láng chiều

Lênh láng đơm xanh đọt mầm tách vỏ

Lênh láng cung thương.ngày cũ

Lênh láng Em lênh láng tôi đày đoạn những thang âm nghịch chiếu

Lênh láng trầm thiết mộng… (SONNET 50)

 

Thơ Huy Tưởng đã nổi tiếng trước 1975 ở miền Nam Việt Nam.

Bùi Giáng yêu thơ ông, Đinh Cường luôn rung động qua tiếng thơ luôn khắc khoải mà ma mị. Bùi Giáng không những vẽ chân dung ông mà còn vẽ ông qua câu thơ “ Cám ơn thần thánh thiết tha / Vốn người xứ Quảng vốn là chịu chơi”, và xem Huy Tưởng như là “một hóa thân của Thôi Hộ về hiện diện ni cô hiện đại Việt Nam” với những câu thơ “xuất thần, nhập thánh, đáo tiên thiên!”

Huy Tưởng không những chịu chơi ngoài đời, mà trong thơ, ông cũng vét lòng minh, chơi đến cả những hạt cảm xúc li ti cùng tận.

 

Thơ vét hết lòng.thơ mất máu

Rừng cao.biển rộng.đẹp rưng rưng

Bão cuồn cuộn.cuốn.cơn hiềm oán

Một góc quê cha.quê khốn cùng !

 

Tang tóc sẽ về.câu nhắn gửi

Nắng vờn.loang loáng.kiếm sắc không

Nghe ai oán dậy.mưa thù.rót

Tiếng thét mãi ầm.vang.biển Đông !…(NHỮNG ĐÊM THÙ BÚNG MÁU)

 

Ông, tên thật Nguyễn Đức Hiệp, sinh vào tiết trọng đông, cuối năm 1942 và đầu năm 1943, cầm tinh con ngựa Nhâm Ngọ. Khởi viết từ những năm giữa thập niên 60s, và tham gia hầu hết các diễn đàn văn học nghệ thuật có uy tín thời đó; và đã cùng một số thân hữu thành lập nhà xuất bản Kinh Thi, cho ra đời nhiều tác phẩm giá trị. Riêng ông, ngoài một vài tác phẩm dịch thuật, biên dịch, ông cho xuất bản các tập thơ như : Mưa trong vườn chiêm bao, Một mùa tóc mộ, Áo nguyệt ca, Hỏi đường cùng mây trắng, Trăng kêu xanh trong đá, Người nuôi lửa tịch mịch,…hầu hết tự in và phát hành hạn chế trong  số ít thân hữu, nên hiện nay gần như bị tuyệt bản.

 

Trịnh Thanh Thủy: Là một nhà Thơ, hẳn nhiên anh luôn có, không ít thì nhiều, những điều riêng tư, những kỷ niệm,…mãi cất giữ bên lòng (như báu vật), anh có thể…

 

Huy Tưởng: Vâng, tôi rất sẵn lòng, chỉ e rằng sẽ sa đà quá làm mất thời gian của chị.Tôi mê mải và thích nói, thích nhắc đến những ngày thơ ấu giữa núi rừng suối đồi hoang dã miền Trung du. Đến giờ, tôi vẫn không sao phân biệt được ký ức thật của mình cùng ký-ức-góp-nhặt qua lời kể của Mẹ tôi. Tất cả gom trộn lại thành một món ăn, một vị thuốc bổ, một dưỡng chất tuyệt hảo hạng, nâng đỡ tôi vượt qua nhiều gian khó, thị phi nghiệt ngã, nuôi sống tôi lớn mạnh đến hôm nay.

huytuong-3

Huy Tưởng qua nét vẽ Đỗ Hoàng Tường

Tôi được hạ sinh từ núi rừng cao nguyên KonTum xuyên qua một mối tình điềm đạm mà thơ mộng, giữa cha tôi gốc người chân chất Quảng Trị, là kỹ sư và là người Việt duy nhất(còn lại là người Pháp) làm chủ nhà đèn (điện lực) thời bấy giờ, với Mẹ tôi gốc Hoàng phái, Thừa Thiên, Huế. Và rồi tôi lớn lên mộc mạc thô tháp giữa những con người và cỏ cây suối rừng ngơ ngác xao động chung quanh… đến giờ và cả đời mình, đó là giấc mơ dịu vợi không nguôi, giấc mơ huyễn ảo giữa ban ngày…

 

Tôi có thể nói hàng tháng, hàng năm về giấc mơ đó, chen lẫn hình ảnh Mẹ tôi tất tả ngược xuôi khắp sông hồ núi đồi, né tránh từng viên tia đạn, từng trận càn, từng dòng nước chảy xiết mùa đông giá trên khắp miền thượng du Trung Việt. Mẹ tôi là biểu tượng của hào hùng bi tráng, của thầm lặng cô đơn thảm thiết, của lẽ bí nhiệm giữa Trời và Đất, giữa thần linh và con người. Tôi không sao nói cho hết khi lòng không nguôi xao xuyến và quặn thắt đến nghẹn thở với hình ảnh Mẹ tôi chấp chới giữa thác ngàn vùi dập hung bạo trong đêm hôm khuya khuắt một cõi rừng thiêng hiểm độc…Những sông, những hồ ấy đã sớm dựng nên trong hồn tôi hình ảnh để lại từ các dấu chân các vị thần linh vừa mới bước xuống! Và cũng từ đó, trong tôi tràn đầy cổ tích, cổ tích chiếm hữu tôi trọn vẹn, tôi hết lòng tín cậy vào những con người hoang dã nơi đây, tín cậy vào sông hồ, cây cỏ, chim muông… các thứ. Nhưng lại bỡ ngỡ với chính mình, vẫn cứ hoài nghi về sự hiện hữu của cái tôi, đêm đêm treo bóng mình lên vách và biến đời mình thành một cuộc tra vấn liên lỉ, dù chưa biết chữ, chưa được đi học. Lòng tự ngờ vực ngày một dâng cao về bản mệnh của mình.

Xen giữa những khúc đoạn thơ mộng là bao cảnh hãi hùng, tàn bạo của những cuộc càn phá của giặc Pháp, lính Lê Dương hãm hiếp, tra tấn bà con mình không nương tay. Thực phẩm tuổi thơ của tôi là một trộn lẩn máu mặn cay xót cùng những giàn mây thênh thang trên khắp núi rừng hoang dã.

Sau cuộc lật đổ của người Nhật, gia đình chúng tôi phải tản cư, chẳng hiểu vì sao Cha và Mẹ chúng tôi lại thất lạc nhau. Cha đi về phía Quảng Nam, Mẹ đưa chúng tôi xuôi về quê nội Quảng Trị. Mẹ con chúng tôi bắt đầu những năm tháng đói khổ, không nhà cửa, nơm nớp lo chạy giặc càn từng ngày, từng đêm, mạng sống mong manh như tơ chỉ, trong khi cha chúng tôi được bổ nhiệm làm giám đốc kỹ thuật mỏ vàng Bồng Miêu. Sau nhiều năm mới liên lạc được nhau, ông dành dụm gửi tiền giúp Mẹ con chúng tôi tiếp tục vượt Trường Sơn. Chúng tôi thuê người giúp đỡ, đi theo đoàn dân công, có nhiều lúc thất lạc sắp bị thú dữ ăn thịt. Khi đến Ba Lòng, chúng tôi không còn lộ phí, đành phải ở lại. Mẹ con chúng tôi phải tự túc kiếm sống, và tôi bị sốt rét tại đó, những cơn sốt bỏng da, cóng buốt. Chúng tôi nằm giữa rừng sim, nệm chiếu cũng bằng lá sim, và thực phẩm là những trái sim, tất cả chỉ toàn sim, vì “nhà” đã bị lính Lê Dương đốt cháy hết cả rồi. Tôi nằm nhìn lên bầu trời mùa đông có con trăng nhợt nhạt chiếu rọi yếu ớt, tôi lại có cảm thức rằng từ lúc ấy, tôi như đã bước lên một chuyến tàu vô hình nào đó, và ra đi mãi mãi… Về sau, đâu khoảng năm 1967, tôi có viết mấy câu thơ gửi Mẹ, đại khái : “Vì đêm đó, lần đầu con sốt rét / Chút xương da thấm lạnh những âm hàn /Con đâu biết, Mẹ ơi ! Rừng đêm dó / giắt con đi vĩnh viễn với trăng ngàn !..”

Hơn một năm sau, Cha và Mẹ chúng tôi bắt liên lạc lại, chúng tôi được cứu tế, và lại bồng cõng nhau lên đường, ngày đêm lội suối băng rừng cùng sinh hoạt với nhiều sắc tộc thiểu số khác nhau, hồn hậu và róc rách như cỏ cây, như suối ngàn…

 

Đến đây, chúng tôi biết thêm và nếm trải một thể loại chiến tranh khác: không còn những cuộc càn trên bộ, mà là những trận ném bom như rải hoa, từ phi cơ, khạc lửa rần rộ xuống thôn làng. Lần đầu thấy nó, tôi ngỡ ngàng kêu lên thảng thốt như bắt gặp một con chim lạ khổng lồ, và khi nó khuất bóng thì kinh hoàng khi nhìn thấy những tim gan phèo phổi tay chân đầu tóc…vương vãi khắp mặt đất, trên những ngọn cây,…

 huytuong-2

Huy Tưởng vẽ bởi Bùi Giáng

 

Rồi chúng tôi cũng được đoàn tụ nhau tại xã Đức Phú (nay là Kỳ Trà, Phú Ninh). Ôi ! Chị không thể tưởng tượng nỗi cuộc gặp gỡ giữa Mẹ con chúng tôi và người Cha-trong-mơ nó như thế nào! Chúng tôi đến trong lúc ông đang còn làm việc trên mỏ vàng, chiều đến, chúng tôi vừa vui sướng vừa xa lạ rụt rè nhìn từ đằng xa, hình ảnh một người đàn ông đầy sức sống, rắn chắc và tự tin nở nụ cười bát ngát đang thong dong cỡi lên một con-vật-kỳ-lạ bằng sắt màu xám xanh : chiếc xe đạp course! Ôi chao! Kỳ bí và uy nghi đến không thể tưởng tượng được, đó là chưa kể đến cái ngạc nhiên đến sửng sốt của lần đầu tiên được nhìn thấy chiếc xe đạp course, kìa cái ghi-đông(guildon)nó lẫm liệt như chiếc sừng bò tót!

Làm sao để nói cho hết lòng ngưỡng vọng của chúng tôi lúc đó? Cho dù sau này hình ảnh vua Quang Trung trở về sau chiến thắng vang dội Ngọc Hồi Đống Đa hay một Hoàng Đế Napoléon với hào quang trận Austerlitz,…cũng không sao có thể thay thế hình ảnh Cha chúng tôi trong mắt trẻ thơ đầy cổ tích lúc đó.

Từ đó, anh em chúng tôi bắt đầu một cuộc vui chơi khác với bạn trang lứa, với mộc mạc đồng bào sắc tộc, với hoang dã sông hồ ngày đêm vang vọng tiếng núi rừng, chim muông…cho đến sau hiệp định Geneve 1954, cả gia đình dời về thị xã (nay là thành phố) Tam Kỳ, chuyển sang một đời sống…“văn minh” hơn, khiến tội ngợp thở.

Ồ! Tôi xin lỗi vì đã dài dòng về tuổi thơ nhiều quá, dù đã…tự-đục-bỏ hết chín phần.

 

TTT: Như anh vừa kể, anh xuất thân từ một gia đình không có gènes văn nghệ, thì do đâu, anh…

 

HT: Vâng, tôi hiểu ý chị, thật ra tôi vẫn thường nghĩ, chẳng có gènes nào cả, Cha tôi là một nhà kỹ thuật chuyên nghiệp, các Em tôi thụ hưởng và học hỏi được nhiều nơi ông, nhưng trong con người kỹ thuật đó, có một tâm hồn rất nghệ sĩ (mà chính ông cũng không hề nhận biết), tôi thầm lặng ngưỡng mộ và chịu ảnh hưởng từ ông rất nhiều, cộng thêm khí thiêng của cỏ cây, sông núi, ao hồ đất trời mênh mang miền Trung Du phả xuống ru dỗ tôi trong suốt cơn bi ngộ thập tử nhất sinh. Cả đời tôi, đến kỳ cùng cũng chỉ có một giấc mơ thời trẻ dại đó, nó quanh quẩn gần gụi để an ủi, dỗ dành và nuôi nấng tôi những lúc rơi vào hao hụt, biếm nhẽ hay phản trắc.   

 

 TTT: Nhưng thưa anh, nếu đó cũng là Thơ Ca, thì sao ?

 

HT: Nếu chị nghĩ đó là Thơ Ca thì cũng không sai. Có những điều, thường là trong vô thức, nó khắc chạm vào tâm tưởng mình lúc nào không hay biết, nhưng rồi hoát nhiên nó bung ra thành hình, thành chữ, thành câu,…và ta đón nhận nó trong ngạc nhiên thú vị. Nhưng tôi rất ngại phải tranh biện hay lý luận này khác. Tôi chỉ muốn viết, viết hồn nhiên với lòng tín cậy vào cảm xúc và các bầy chữ rộn ràng sinh động…

 

TTT: Nhưng anh cũng đã có một loạt bài biên dịch về Thơ Ca trên trang mạng Damau.org thật thú vị và hấp dẫn được nhiều người đọc kia mà ?

 

HT: Quả là có vậy. Nhưng tôi lược bỏ phần lý luận đầy minh triết, ghi chép chi li số liệu. Tôi thấy ông Georges Jean có cái nhìn bao quát về Thơ Ca, vừa khoa học vừa cảm thụ, nên tôi bên soạn dưới nhãn quan một người làm thơ, ước mong gửi đến các bạn trẻ đang muốn theo nghiệp Thơ Ca có dịp chia sẻ thứ “ngôn ngữ thần thánh” đó, thứ “ngôn ngữ làm vinh dự loài người”. Chỉ đơn giản vậy thôi, chứ biện luận mãi thì còn thời gian và cảm xúc đâu mà…làm thơ ? Nhiều vị cứ ra sức phô trương chất “bác học”, lồng cái trí năng vào nhiều quá, đến khi muốn hạ bút viết một câu thơ thì,…lại hục hặc với cả chính mình !

 

TTT: Trước 1975, anh cũng đã nổi tiếng…

 

HT: Xin lỗi. Cho tôi cắt ngang đây một chút. Tôi quả có một số người biết tới, nhưng không “nổi tiếng” như chị nói. Tôi vốn là người ham chơi, mê say bạn bè hơn là len lỏi, chen chúc để tìm cái danh hảo. Nhiều bậc đàn anh như MT, VKK,…luôn yêu mến và muốn giới thiệu tôi trang trọng trên các diễn đàn, nhưng tôi cứ mãi rong chơi đây đó và lơ đễnh các việc, ngay cả chính ông Th. (hiện sống tại CA) lúc ấy, vừa xuất bản vừa phát hành nhà Hiện Đại, có đề nghị tôi để nhạc sĩ Phạm Duy chọn và phổ nhạc khoảng 10 bài thơ của tôi. Tôi cũng không mấy tha thiết, nên thôi. Ngay cả Bác vợ tôi là nhạc sĩ Lê Thương cũng có nhã ý ấy, và tôi lại ước hẹn cho đến khi Bác ấy…qua đời ! Nếu ngày ấy tôi nhận lời nhạc sĩ PD, chắc giờ tôi cũng “nổi tiếng” như chị nói.

 huytuong-1

Huy Tưởng và Bùi Giáng

 

TTT: Nhưng trường hợp của Máu Biếc Xanh Và Ngực Tối, thơ HT, nhạc LUP thì sao ?

 

HT: Ái dà ! Chị có trí nhớ tốt quá ! Chúng tôi là bạn thiết của nhau, cùng sống ở Dalat. Đó là một tai nạn thú vị. Chúng tôi bốc đồng cùng viết với nhau và hát inh ỏi trong quán Luc Huyền Cầm. Tôi thấy bài hát được đưa lên Youtube, nhưng lời lẽ sai be bét, cả tiểu sử, tác phẩm cũng vậy, rầu quá nhưng tôi…măc kệ, miễn sao mình…còn sống, là được.

 

TTT: Anh khởi nghiệp từ trước 1975, xin anh cho biết bầu khí Thơ Ca thời đó ra sao và thế nào ?

 

HT: Nói thế nào cho gọn nhẹ nhỉ ? Bởi chắc hẳn chị cũng đã đọc khá nhiều người viết về nó rồi. Tôi không muốn lặp lại. Nhưng, nó vui nhộn, đa dạng, lôi cuốn, hấp dẫn và nhất là, tự do ngất trời!…từ đó tung ra nhiều trường phái, giọng điệu và sắc màu phong phú…đúng là trăm hoa đua nở thực sự mà không phải kiêng dè sợ sệt điều gì, để sau rốt nổi trội lên những tên tuổi ngời sáng, mỗi người đứng riêng một cõi, một tiếng thơ biệt lập nguy nga.

 

TTT: Được biết, anh quen biết nhiều người, nhiều thế hệ. Riêng anh, anh hẳn có những bạn Thơ thân thiết, xin anh cho nghe vài kỷ niệm.

 

HT: Tôi có được cái vinh hạnh ( đôi khi là tai nạn) được quen biết nhiều người trong giới học giả, trí thức,văn nghệ nhiều thế hệ, chẳng hạn tôi có thâm tình với thi sĩ Quách Tấn, cụ Vương Hồng Sển, cụ Toan Ánh, thi sĩ Vũ Hoàng Chương, học giả Tam Ích,…cho đến các nhà thơ còn rất trẻ hôm nay như Phan Nhiên Hạo, Nguyễn Quốc Chánh, Vương ngọc Minh, Tha Thủy, Phan quỳnh Trâm, Thận Nhiên, Bùi Chát…xuyên qua những Thanh tâm Tuyền, Bùi Giáng, Tạ Ký, Phạm công Thiện, Mai Thảo, Dương nghiễn Mậu, Thái Tuấn, …tôi có những tiểu truyện về họ, cũng vui vui.

 

TTT: Nhưng tại sao anh gọi là…tai nạn ?

 

HT: Á à! Biết nhiều thì quá tốt, nhưng cũng chẳng hay ho gì với một số người, nhất là từ những ngày sau 1975, nhiều người vì sự yếu hèn (hay vì những gì khác) đã bộc lộ những phẩm cách suy hoại đến ngỡ ngàng, khiến ta phải…choáng váng! Cho phép tôi không nói thêm vào điều này.

Trong tất cả những người làm thơ, tôi có ít nhất bốn người bạn chí cốt, đó là: Bạn vong niên Quách Tấn, thứ đến là Nguyễn Nho Sa Mạc, rồi Hoàng Trúc Ly và Nguyễn Tôn Nhan. Tất cả đều là những thi sĩ, đều đã qua đời, và đều khắc sâu trong tâm tưởng tôi. Chúng tôi có với nhau nhiều kỷ niệm, và chúng tôi giữ riêng tận đáy lòng như những báu vật, có bóng loáng chói ngời, có sù sì góc cạnh cắt đau ngọt lịm. Ồ! Suýt nữa tôi lại phạm một lỗi lớn của tuổi tác, tôi còn một người Bạn thiết đồng niên, đồng học, và là một nhà thơ-không-chịu-làm-thơ nữa, đó là thi sĩ Thành Tôn. Anh cũng là một trong những người thầm lặng góp thêm sức cho tôi mạnh mẽ đứng lên sau những ngày tối ám vừa qua. Anh ấy là báu hiếm trong đời tôi !

 

TTT: Nhân đây,xin anh cho biết những cảm nghĩ của mình về những người bạn thơ, nói chung.

 

HT: Sao chị hỏi chi mà khó khăn đến vậy ? Dễ thường như dẫm phải lửa gai.

Cũng như hết thảy mọi người, tôi kính ngưỡng và quý trọng những thi sĩ thực sự. Theo như bảng xếp hạng của Thông Thiên Học thì, Thi sỹ chỉ đứng sau những Thánh Thần Chúa Phật, ngoài ra họ đứng trên các ngôi vị khác rất xa, và dân gian vẫn tuyên xưng họ cùng với “đẹp như thơ”, thế nhưng nhà văn Nguyễn huy Thiệp đã có lần (nếu tôi nhớ không lầm), đã không tiếc lời xỉ mạ bọn nhà thơ là những kẻ gian xảo, trộm cắp và phản trắc các thứ. Mới nghe, tôi thật tình khó chịu, bực bội, nhưng càng lúc càng thấy không đến nỗi sai, dù quá đáng. Họ luôn có sẵn trên cửa miệng những lời châu ngọc, thơ mộng và tiêu xái,…nhưng hành xử thì, lắm khi trái ngược, họ bon chen, lèn ép, thậm chí nhiều thủ đoạn để biếm nhẽ, vu bịa và triệt hạ nhau thê thảm.Tôi không hiểu được và lý giải làm sao, một người vừa làm Thơ (tuyên xưng cho cái đẹp) lại  vừa toan tính hại người (âm mưu làm điều xấu) cùng một lúc(!?), một dung hợp, một song hành kỳ quái và phi lý đến…không sao nói được! Trong khi Thơ là bộ môn, gần như duy nhất, không kiếm được một lợi nhuận nhỏ nhoi nào cả như các bộ môn khác.

Cái hư danh, quả là có một ma lực khủng khiếp đến lạ thường !

 

TTT: Anh làm Thơ, và anh có “đức tin” nào về Thơ Ca không ?

 

HT: Ồ ! Chị vô tình lại đụng đến chỗ sâu thẳm nhất của tôi. Tôi luôn đặt đức tin cao nhất vào Thơ Ca.Tôi tuyệt đối tin vào sự truyền dẫn của cảm xúc và sự trợ lực tối thượng của siêu hình. Một người làm nghệ thuật mà chỉ dựa vào sự khéo tay, kỹ thuật vững vàng không thôi, không mảy may có một ám ảnh, một vọng động nào réo gọi từ tầng cao của ngùn ngụt hư vô,…thì cũng tội nghiệp như một “tín đồ” không có đức tin khi đối diện trước điện thờ mà lòng cứ dửng dưng, trơ cạn niềm tin và trống khô như ngói. Nếu bạn không có cảm xúc thì khó mà truyền dẫn đến người đọc, điều nhỏ nhặt đó, ai cũng hiểu nhưng ít người muốn nhớ tới. Không có hành trang tối thiểu đó, làm sao có thể nhấc chân lên để dọn đường cho một hành trình đày gian nan ?

 

TTT: Gian nan ?

 

HT: Chị nghĩ là dễ dàng và nhàn nhã thong dong lắm sao? Xin đừng phán xét qua hình ảnh những tài tử giàu có, dạo chơi hay viếng cảnh như chàng Bội Ngọc, chốc chốc buông vài câu đưa đẩy tình tứ …Nó không những phiêu lưu mà còn rất gian nan, bởi khi thực sự dấn mình vào chốn Thơ Ca, hay nói rộng ra là Sáng Tạo thì, chẳng khác gì một cuộc săn bắt cả đời trong rừng thẳm đầy u hiểm, nên chị đừng ngạc nhiên khi chứng kiến nhiều thợ săn đã bỏ cuộc giữa chừng, ghé chợ thịt rừng mua cái gạc nai, cái móng cọp về chưng trong phòng khách. Gã thợ săn trong Thơ Ca trang bị và hăm hở với giấc mộng bắt được con thú lớn nhất của khu rừng, nhưng rốt cuộc họ có được gì? Con thú lớn mà họ mơ tưởng vẫn còn lẩn khuất đâu đó trong rừng rậm hang sâu, hoặc trơ vơ như bộ xương cá của lão ngư ông trên biển cả, họ bằng lòng hay tự mê hoặc mình khi mang về những hươu nai bò tót…và nhường lại cuộc săn bắt lớn kia cho lớp lớp hậu duệ đang hăm hở phía sau…

 

TTT: Trong một phần giới thiệu Bốn mươi năm Thơ Hải Ngoại, anh có nói, đại ý: không biết làm gì thì…làm thơ. Xin anh nói rõ hơn, được không ?

 

HT: Xin cám ơn về câu hỏi này, vì sau loạt bài đó, nhiều độc giả cũng “ tra vặn” tôi không ít. Qua đây, tôi được phân giải, như sau: Trong loạt bài viết về Thơ Ca nói trên, tác giả Georges Jean cho rằng, nhà thơ là kẻ bận rộn vào bậc nhất (trong khi hầu hết mọi người thì nghĩ ngược lại) anh ta luôn bị vây khốn bởi mơ mộng, bởi các ám tượng, bởi những uẩn khúc…bề bộn các thứ, suốt cả ngày đêm, từ trong giấc ngủ cho đến các sinh hoạt hàng ngày, tất cả choán chiếm hết tâm hồn. Anh ta không thể làm gì khác, anh ta chỉ biết mỗi một việc duy nhất là, làm thơ. Nên thay vì dài dòng như vậy, tôi nói chệch đi và ngược lại đôi chút cho nó “vô tích sự” hóa một nhà thơ.

 

TTT: Cũng nghe nói, anh đã ngưng viết từ sau 1975, và toan tính từ bỏ hẳn khi chuyển sang định cư tại Úc Đại Lợi ?

 

HT: Đúng và chưa đúng. Sau 1975, tôi cùng một số văn nghệ sĩ còn kẹt lại được tập trung để “bồi dưỡng tư tưởng”, tất thảy không gây cho tôi một ấn tượng hay cảm hứng nào cả. Tôi quyết định về sống đời lầm lũi vô danh, không hội hè đàn đúm với bất cứ đoàn nhóm nào, lui về buôn bán phôi pha. Thỉnh thoảng làm một đôi bài thơ cho đỡ nhớ chữ, đăng trên Tạp chí Thơ, Hợp Lưu,…Nhưng như vậy cũng không yên, tôi càng thêm chán ngán khi bị tra tấn bởi lòng bội phản nơi những người thân, những người từng thọ ân chúng tôi…Nên khi dứt áo ra đi đinh cư tái Úc, tôi đã xóa, đã đốt hết mọi bản thảo, hình ảnh, còn bao nhiêu sách vở tôi đóng thùng gửi tặng hết cho một số bạn bè. Tôi ra đi tay không với lời nguyền từ bỏ văn chương!

Tôi ra đi mà không chắc mình có thể sống sót vì bệnh trụy tim rất nặng. Nếu sống sót, sẽ chỉ mong sống đời ẩn dật nơi chốn đô hội ấy để qua đời.

 

TTT: Nhưng nay, anh đã viết trở lại, như một hiện tượng, rất sung sức, vì đâu ?

 

HT: Cám ơn chị đã gợi và tạo cho tôi có dịp để nói thêm về mình (có nên & có nhiều lắm không?) Hụp lặn trong thời kỳ “thiếu dưỡng khí” ấy, tôi nghiệm ra nhiều điều, nhất là với một người luôn khát khao như tôi, nó có ý nghĩa của một cuộc trầm sát, chờ ngày tắt thở chỉ vì chịu không nổi những cay nghiệt của nhân quần, của thời thế, và tôi đã “chết” ròng rã nhiều năm tháng trong ấy. Nhưng nay, như đã nói, sau nhiều tu tập kham nhẫn và công phu, tôi thấy mình có thể trở lại và “sống”, tha thiết chung hưởng khí trời trong lành đầy hai lồng ngực cùng các ” đồng loại” của mình. Trở lại, và trở lại một cách cường tráng, mạnh mẽ, cũng là cách để trả lời(hay trả thù?) những tiêm báo ác hiểm của những bóng ma luôn lởn vởn, rình rập đó đây. Trở lại trong sáng tạo có nghĩa là tìm dưỡng khí để sống tươi vui, khoẻ mạnh, là để nuôi dưỡng mình trong công cuộc vừa làm thơ vừa làm chữ. Làm, trong tâm thức vô uý, vô cầu các thứ…

 

Thể chất tôi, đến nay cũng tạm ổn, sức khỏe rất “phồn vinh giả tạo” sau ba lần đột quỵ và “đi xuyên tường” nhiều đêm ngày, còn tinh thần có lúc tưởng như tắt ngọn, tôi phải mất nhiều năm để tu tập kiên khổ, và nay đã vực dậy được phần nào nhờ những động viên sốt sắng của các bạn bè khắp nơi. Các Bạn đã thổi vào tôi một luồng khí tươi mát, tạo nên một năng lượng đáng kể, trong đó có những thành viên trong gia đình nhỏ của tôi. Tôi nay được khỏe lại nhờ tinh thần phấn chấn, mạnh hơn cả thuốc men. Qua đây, xin các Bạn khắp nơi nhận cho tôi lời cám ơn sâu sắc nhất.

 

TTT: Vậy, sống và làm việc tại Úc và tại Việt Nam, đối với anh, có gì khác biệt lắm không, và như thế nào?

 

HT: Ở đâu thì tôi cũng tự giam mình trong phòng riêng. Nhưng cái bầu khí của xã hội bên ngoài nó quyết định và chi phối ta rất nhiều. Ngồi riêng lẻ trong đêm nhưng ta tiếp thông trọn vẹn với xã hội, với bầu khí sinh hoạt, với an bình tự do, với thiên nhiên lồng lộng phơi mở bên ngoài…ta viết với lòng đầy tin cậy, không phải kiêng dè hay sợ hãi bất cứ một ai, bất cứ thế lực nào. Cứ vươn vai hít thở cho đầy hai buồng phổi những tươi mát của môi trường thân thiện và,…làm thơ. Làm thơ bát ngát…

Đấy, cùng chỉ cách một bức tường như nhau, nhưng sự khác biệt thì…chúng ta, ai cũng rõ.

 Quê hương, phải chăng là khi chúng ta đươc đứng trên một mắt đất bằng an, và tràn đầy bầu khí của tự do?

 

TTT: Đọc thơ anh, nhiều người cùng nhận xét, anh luôn có những sáng tạo ,nhiều màu sắc, hình ảnh, đặt nặng vai trò thẩm mỹ, và nhất là khai sinh ra nhiều chữ rất mới, rất lạ, anh nghĩ sao ?Và anh có kinh nghiệm nào về sáng tác Thơ không ?

 

HT: Mỗi người có một “kinh nghiệm” riêng, khó nói, nhưng rốt cùng, kinh nghiệm là không kinh nghiệm gì cả! Cứ rong chơi, cứ suy tưởng, cứ mơ mộng,và…cứ làm thơ. Mỗi người một cách kiểu. Từ ngày quyết tâm rời bỏ “căn nhà cũ”, nói khác đi là, đứt ruột rời bỏ văn chương chữ nghĩa các thứ, tôi tay không, không sách không bút không vở, sang dưỡng bệnh tại Úc, nguyện sống đời lặng lẽ. Tôi bắt đầu lang thang hết cả những đồi cao biển thấp, núi rừng sông hồ Châu Đai Dương và nhiều nơi khác mà chẳng tơ màng gì đến Thơ ca, thì…bất giác, chữ và màu rộn rã bùng lên từ những bước chân, ôm chầm lấy tôi! Và tôi hồn nhiên làm thơ trở lại, không còn vướng bịu gì với sách vở mỏi mòn xưa. Ngồi nghĩ lại, chuyện tôi mất hết sách vở hóa ra là may mắn, như chuyện Tái Ông thất mã. Mà nghĩ cho cùng, chữ của tôi cũng có gì mới mẻ đâu, đôi khi chỉ là thứ cũ xì, sét gỉ, phế liệu,…được lau sáng lại bằng cái nhìn, cái cảm xúc tinh tươm và bỡ ngỡ trẻ thơ mà thôi. Từ năm 1967, tôi viết nhân ngày sinh nhật “Em đã thấy.nhưng nghìn năm không hiểu / Vì sao anh bệnh hoạn một màu trăng !” lắm kẻ chau mày, nhưng cũng nhiều người trầm trồ vì Thơ vẫn đem được cái mùi ê-te của nhà thương vào, rất ngọt. Chữ nào cũng rất thơ & chữ nào cũng không thơ.

Cái đẹp giúp chúng ta nhìn và sống tich cực. Và tại sao cái đẹp rất cần thiết cho Thơ ?

 

TTT: Nẩy ra từ những ý trên, có nhà phê bình nhận xét: không & thời gian trong thơ anh thường nghiêng hẳn về buổi chiều và những đêm khuya, anh có thấy và nghĩ sao về điều này ?

 

HT: Bất ngờ quá & đôi khi chính mình cũng không tự biết đến. Có phải khởi đầu tôi sinh ra trong một buổi chiều? Từ nhỏ cho đến hôm nay luôn bị vây phủ bởi nhiều “bóng tối”, và giờ sinh hoạt tốt nhất của tôi bắt đầu từ 12 giờ khuya cho đến rạng sáng. Có và không có tất cả, tôi không rõ, nhưng bóng đêm chính là máu huyết, là năng lượng và truyền nhiều cảm hứng cho tôi, lẽ ra tôi cũng đã có những bài “ngợi ca bóng tối” từ lâu. Năm 1975, nhà Kinh Thi chúng tôi cũng lên kế hoạch xuất bản tập thơ dịch thuật, có tựa đề : NHỮNG VẦN THƠ GỬI VÀO ĐÊM TỐI.

Nhưng ngay sau tháng Tư 1975 ngột ngạt, tôi cùng hai người Bạn âm thầm gom góp một số đá quý để xây một “Tháp Hòa Bình” với mong ước cho thế giới tốt đẹp hơn lên, và tôi viết trường ca NGÀY VANG LÊN ÁNH SÁNG! Tháp thì chưa thành, và trường ca cũng bị thất lạc! Giờ, xin quay về tìm lại mình trong những khuya khuắt…

 

TTT: Anh có ý kiến gì về Thơ hôm nay ?

 

HT: Câu hỏi, nghe thì dễ nhưng tôi chắc ít có ai muốn trả lời, nhất là những người làm Thơ. Thời nào và ở đâu cũng vậy, có những số đông bảo thủ và đổi mới. Những người bảo thủ luôn trung thành với những nền nếp cũ, làm thơ như một người thợ chuyên nghiệp, dụng công và chỉnh chu, khác nào các cụ ta ngày xưa học thuần thục các giáo khóa về thơ, để rồi khi ra trường thi ứng thí, thi thố làm thơ. Thơ ấy gọi là thơ cử nghiệp, đúng niêm luật…các thứ, thời nay vẫn còn nhan nhãn trên các trang thơ thù tạc. Người trẻ thì quyết tâm đổi mới bằng những “sáng tác” quá mới mẻ, tân kỳ đến…có khi kỳ quái, có người băng ngang vào thơ hậu-hiện-đại khi chưa kịp thấm nhuần các bước đầu về thơ truyền thống, chưa có ý niệm hay thẩm thấu đủ khái niệm về tiết nhịp trong thơ, chưa qua căn bản về hình họa thì đã múa những đường kiếm trừu tượng, vô dung, ghê thay ! Nhiều Bạn biết được ít nhiều ngoại ngữ, hoăc thường đọc thơ dịch, đến khi làm thơ tiếng Việt mà khi đọc lên, ta cứ ngỡ là…thơ dịch! Giọng điệu nước ngoài bằng ngôn ngữ Việt.

Các cụ thâm Nho của chúng ta ngày xưa thường làm các bài thơ theo thể Thơ Đường, Tống,… các bài thơ không chê vào đâu được, từ kỹ thuật đến ý nghĩa cao xa, tròn trịa, chỉnh chu, nhưng tiếc thay cái mơ-hồ-mà-trọng-yếu của bài thơ ta tìm mãi, không thấy đâu, ấy là cái “vị” của nó: vị Đường, vị Tống,..( hãy đọc một bài thơ Lục Bát của một người ngoại quốc giỏi tiếng Việt xem, khó tìm cho ra cái vị 6/8 mềm mại của bản tộc). Các bạn trẻ bây giờ giỏi giang và hòa nhập dễ dàng hơn với môi trường bên ngoài, nhưng tôi vẫn lo mà vẫn rất kỳ vọng.

Tôi cũng không hạp với các loại thơ ưa triết lý quanh co hay dạy đời này nọ.

Thơ hôm nay, nói thật, tôi rất lạc quan. Những người trẻ luôn ở trong một tâm thế quật khởi tươi mới, dù họ đang phải  cong mình nơi những góc tối đầy chướng khí hay những bạn khác tung tẩy và hớn hở giữa những môi trường khoáng đãng tự do lồng lộng, nơi đâu cũng là đòn bẫy vững chắc giúp họ bay cao. Tôi luôn ngóng đợi.

Sống, mà cứ bảo thủ, không biết chờ mong, hoài vọng, thì…nghèo nàn và buồn tẻ quá, phải không chị ?

 

TTT: Như trên, anh đã nói, trong những ngày đầy khó khăn sau năm 1975, anh cũng như bao người (văn nghệ) khác, phải bươn chải kiếm sống từng ngày, và anh muốn“về buôn bán phôi pha”. Nhưng anh đã buôn bán thật sự, từ một quán cafe’ bên lề đường Bà Lê Chân, Tân Định, đến Quán đặc sản FAIFÔ PHỐ HOÀI, đã ghi đậm kỷ niệm đối với rất nhiều anh em văn nghệ trong và ngoài nước, đến nay vẫn còn những dư vang. Anh có thể kể cho nghe một vài kỷ niệm tại hai nơi đó, được không ?

 

HT : Nói về thời kỳ “không thể tưởng tượng” ấy, quả thật tôi bị choáng ngợp và che phủ bởi vô vàn hình ảnh, vô vàn tiếng động, tâm thái, ngồn ngộn giữa biết bao lo sợ, khiếp đảm, chen lẫn vui buồn của kiếp người, của giao tình bằng hữu,…tôi quả không biết phải nói và bắt đầu như thế nào, nhất là giai đoạn mở đầu ở đường Bà Lê Chân, Tân Định. Nơi đây đã manh nha cho những dự phóng văn học lớn lao mà nay đã hình thành và vững mạnh ở ngoại quốc(…). Các Bạn ấy hiện là những trụ cột trên văn đàn. Nhưng hiện giờ, nói nhại theo người xưa, thì “quán xưa vẫn còn đó, mà người xưa nay đâu rồi? chỉ còn nghe đâu đây tiếng thở dài về lòng bạc bẽo của nhân thế!…”. Biết nói sao cho cạn, cho vừa những tháng ngày cơ khổ quá cùng mà cũng thơ mộng tót vời bên những bạn bè cùng khổ chung quanh! Tôi luôn tri ân các bạn hữu, và nhất là hình ảnh lồng lộng của nhà phụ diễn tài năng và thường trực nhiễu sự, gây nhiều khó khăn cho bản quán: trung niên thi sỹ đười ươi Bùi Giáng!

Định phận đã dọn chỗ cho mình thành chủ các quán, thì nay nơi chốn xa xôi này vẫn phải tiếp tục với…Quán Không !

 

                    …giã từ hàng quán xôn xao

                  vội đi.quên gửi câu chào cuối đông

                       Tôi giờ.tĩnh tịch quán không !

 

TTT: Xin cám ơn anh, và chúc anh an bình cùng những sáng tác sung mãn hơn.

 

TRỊNH THANH THỦY thực hiện.

lut2016

NỖI ĐAU TÔI THÀNH VÔ NGHĨA MẤT RỒI

 

Miền Trung thoi thóp chằng chịt lũ
Nỗi đau tôi thành vô nghĩa mất rồi
Tưởng chai sạn vạn nẻo đời nghiệt ngã
Không cầm lòng xót lắm Miền Trung ơi.

Tuyệt vọng bốn bề nước cứ lạnh lùng tuôn
Những đôi mắt kiếm tìm khắc khoải
Phút sống mong manh vỡ
Níu đi, níu đi người.

Nín đi mà, đừng khóc nữa mẹ ơi
Đừng kiếm nữa thân em bùn bao bọc
Rồi tất cả sẽ trôi về với đất
Đừng bới em lên để em ngủ giấc dài.

Đừng mất thời gian cho cha nữa con à
Quan tài nhẹ tênh cha đi trong bão
Những huyệt mộ ngập sâu trong rốn lũ
Đất nào đủ nặng để chôn một kiếp người.

Tôi cắn chặt lòng hỏi đất hỏi trời
Hỏi những thiệt hơn còn so đo cao thấp
Hỏi niềm tin của tôi ai lấy mất
Những phận người nổi nênh

Họ đi rồi tôi tiếp tục sống sao đây?

 
Nguyễn Hồng

 

lut

Văn Nghệ Boston giới thiệu một bài thơ của một học sinh miền Trung lớp 11 –

Miền Trung ngưng thở 

 

Miền Trung con biết phải làm sao

Khi vết rách còn đang hở miệng

Biển mất cá, mùa màng mất cả

Nước lũ tràn, mạng người rơi lả tả

Thân này chỉ còn da với xương

 

Đồng bào ơi, hãy động lòng xót thương

Đưa tay ra, cứu lấy miền Trung với 

Miền Trung con đang oằn mình vẫn đợi

Đến lúc nào thấy được những cánh tay

 

Con chỉ sợ ngày miền Trung ngưng thở

Thì kẻ nào sẽ gánh chịu đau thương? 

 

Minh Nghi

hanoi

HÀ NỘI KIẾN

 

“Hà Nội là tổ kiến khổng lồ
Đêm chìm trong giấc ngủ” (*)
Tôi là một con kiến nhỏ
Nhốt mình tầng sáu chung cư
Không ngủ.

Tôi ăn nước dưới đất chảy ngược lên trời
Tôi ăn rau chợ cóc khu tập thể
Tôi ăn những gì Hà Nội có thể ăn
Để lại ùa ra đường cùng đàn kiến

Ôi những con kiến bạn tôi
Những con kiến người dưng chung tổ
Những con kiến kiêu sang lam lũ
Những con kiến nhường nhau cắn nhau
Những con kiến thường dân quan dân công an tội phạm
Những con kiến không biết mình tội nghiệp

Em cũng là một con kiến ngơ ngác
Từ đâu nhập vào Hà Nội
Để đêm đêm ngủ vùi trong giấc mơ kiến
Thành công dân kiến Thủ Đô
Và tôi sắp đặt em vào bài thơ
Tổ kiến khổng lồ.

 

Nguyễn Trọng Tạo

(*) Nhận xét của Dominique Delaunay (Pháp): Nhà nghiên cứu Hà Nội.

54

BỮA Ở CẦU CÂU LÂU

 

có khi ngày ấy tôi về muộn
em đã chồng và hai mặt con
gió cũng thương tôi không thổi nữa
sao hoài nghe thê thiết trong hồn?

tôi đi tìm ngã ba Nam Phước
con đường lên nhà bạn ngày xưa
đứa còn lây lất, đứa đã chết
thị trấn chưa quen những số nhà!

biết đời mình thiệt là tệ hại
tới nơi nào cũng cạn niềm vui
chữ tình tôi cũng đang tệ hại
duyên phận em, trời đã xong xuôi…

đứng đầu cầu Câu Lâu (cầu mới)
ngó nước, hiu hiu nắng Điện Bàn
tôi lại đứng cuối cầu (cầu cũ)
nghe dật dờ thương nhớ Duy Xuyên

để chắc đời tôi không thể khác
là cả đời không thể có em.

10-2016

HOÀNG LỘC

thamvieng

Truyện ngắn Âu Thị Phục An

 

 

Lần đầu tiên cùng với Viên lên thăm đơn vị ở quân trường ngày chúa nhật chàng không được phép về, lúc ấy tôi đã là vợ chưa cưới của chàng rồi.

Ðám hỏi được tổ chức quá vội vã theo ý muốn của nhiều người, ba tôi, Vị và cả gia đình chàng nữa. Trong nhiều thư liên tiếp gửi cho tôi kể từ ngày chàng vào quân trường, Vị lập lại nhiều lần một điều muốn tôi rời khỏi Ð. để trở về làm đám cưới. Tôi chẳng hiểu sao đang còn mệt nhoài trong vòng rào quân trường mà Vị lại có thể nghĩ tới việc vợ chồng được. Ít ra, phải có một đời sống tạm gọi là thong dong người ta mới nghĩ tới và có thể tìm được yên ổn bởi đời sống chung. Thử nghĩ, Vị đang ở trong quân trường, tôi đang trong những ngày tháng cuối của chương trình cử nhân, thế cưới nhau xong chúng tôi sẽ thay đổi được cái gì xa cách, hay dù có được một tên gọi mới nhưng chúng tôi chẳng có gì thay đổi.

Trong thư viết cho Vị, tôi không hề đả động về nỗi cách xa sau khi lấy nhau, lý do tôi đưa ra để mong Vị hoãn lại một thời gian nữa là việc học. Vị và ba tôi đều không đồng ý và cuối cùng, tôi đã phải trở về. Nhưng đám cưới cũng không thể thực hiện được như dự tính vì Vị đang là khóa sinh nên không được hưởng cái phép bốn ngày như người ta đã ra đơn vị. Do đó, chúng tôi chỉ làm đám hỏi trong một buổi sáng chúa nhật Vị được về phép và đám cưới sẽ làm sau khi Vị đã ra trường. Có lẽ đây chỉ là một cái cớ mà ba tôi và gia đình Vị đưa ra để xác nhận một sự việc. Ðám cưới hay đám hỏi cũng chỉ là một sự thay đổi tên gọi. Bởi vì, dù cố gắng tôi cũng không hề nhận thấy một chút đổi thay nào sau lúc tôi đã đeo vào tay một vòng nhẫn nhỏ. Nhưng dù thế nào thì dưới mắt mọi người tôi đã trở thành vợ của Vị. Có nghĩa là, hơi màu mè một chút, tôi đã có chủ. Bữa tiệc nho nhỏ, vội vã, lại thêm một vòng nhẫn nhỏ nữa ở ngón tay áp út. Ðấy là tất cả thành trì dường như muốn ngăn chận đời sống tôi đang trải dài. Tôi bỗng như ngột ngạt. Vị bỗng như thơ thới. Những người trai quen biết cũ bỗng e dè.

Nhưng thành trì đó liệu có đủ chắc chắn ngăn tôi thoát ra ngoài, hay ngược lại chận những kẻ ở ngoài muốn vào? Ngày chánh thức trở thành vợ của Vị còn lâu, cũng khiến tôi thoải mái chút ít. Tôi nghĩ phải đợi một thời gian đủ cho da thịt và cảm giác trở về với vị trí ban đầu của nó tôi mới có thể tìm cho mình một con đường đúng nhất để trả lời Vị (dù tôi biết trước đó cũng chỉ là câu trả lời ưng thuận). Nếu bây giờ đám cưới xảy ra, tôi nghĩ một cách chua xót rằng chúng tôi đã đến với nhau bằng cảm giác, bằng môi hôn và sự kết hợp chỉ là để thỏa mãn cho nhau, một phần nào. (Làm sao chúng ta có thể chịu đựng nhau được cho đến hết đời nếu lúc nào ta cũng chỉ nghĩ rằng đời sống vợ chồng có những việc được gọi là hạnh phúc mà thật ra không phải như vậy?).

Chúa Nhật đầu tiên sau đám hỏi, Vị không được về phép. Chàng viết thư nhờ một người học chung khóa đem cho tôi chiều thứ bảy, bảo nếu tôi có rảnh thì chúa nhật nên rủ Viên cùng vào thăm chàng. Nhận được thư, tôi mới nhớ rằng chưa có lúc nào tôi nghĩ đến việc thăm chàng dù như thế có hơi đáng trách. Trước đó ít nhiều lần, Viên đã nói một cách bóng gió về việc tại sao tôi không hề có ý định đi thăm Vị ở quân trường. Cô không hề tỏ vẻ trách móc nhưng những lời nhẹ nhàng của cô cũng khiến tôi không thể nào chờ đợi thêm nữa mà không đi thăm Vị.

Dù trời đã khá chiều, tôi cũng đi chợ mua một ít đồ về nấu nướng vài món ăn sửa soạn cho sáng hôm sau sẽ vào thăm Vị. Trong bữa cơm chiều, ba tôi ngạc nhiên vì bữa ăn có vẻ thịnh soạn hơn thường ngày. Khi được biết những thức ăn đó tôi làm cho Vị, ba tôi gật gù vẻ hài lòng:

– Ba cũng đang định nhắc con nên vào thăm nó, ở quân trường không gì an ủi hơn là được người nhà tới thăm.

– Con mới được thư của anh ấy lúc chiều.

– Nó có nói gì không?

– Thưa ba, không. Sáng mai con đi sớm, ba có gửi gì cho anh ấy con đem vào cho.

– À có cái này.

– Cái gì vậy ba?

Ba tôi lẳng lặng rời bàn ăn, lên lầu. Lát sau ông trở lại và tôi suýt bật cười vì món đồ ba tôi gửi cho Vị. Tôi ngạc nhiên:

– Ở trong quân trường một cái kính cận thì giúp anh ấy được gì, ba?

– Ba đâu có ý tặng nó để sử dụng.

Thấy tôi chưa có vẻ hiểu, ba tôi giải thích rằng sỡ dĩ ông tặng Vị một món quà không thực dụng trong tình trạng của Vị thật ra là để thay cho một lời chúc cho chàng sớm được biệt phái trở về nhiệm sở cũ. Ba tôi nói, ông có nghe một vài người nói về việc này rồi, việc trả giáo chức trở về. Ba tôi nói:

– Ðến chừng đó, đem cái kính ra đeo. Có phải hay không?

– Ðể con nói lại với anh ấy những điều ba nói.

Bữa cơm kéo dài trong những câu chuyện xoay quanh việc tôi với Vị khiến lúc xong bữa trời đã tối. Tôi trở lên phòng và tự nhủ để mai sớm qua nhà rủ Viên đi cùng. Như thế thì ít nhất tôi cũng tránh được những câu chuyện không lấy gì làm vui lắm, của Viên.

Từ bến xe lam, tôi và Viên ôm đồm những thứ mang theo, chật vật chen lấn trong dòng người để vào cổng quân trường. Chúng tôi đi sớm mà vẫn có người tới sớm hơn có mặt từ trước bu kín cả khu tiếp tân. Ðứng chờ Viên vào phòng phụ trách việc thăm viếng, tôi nhìn chung quanh nơi đứng, ồn ào như một cái chợ. Người ta chen lấn, gọi tên nhau với một vẻ vội vã. Ai nấy đều muốn gặp ngay thân nhân mình trong khi tồi nhìn ngắm một cách thản nhiên.

Viên từ đám đông đi ra, mới buổi sáng mà cổ đẫm mồ hôi. Viên lắc đầu:

– Ðông quá. Chen muốn hụt hơi mới được mảnh giấy gọi anh Vị.

– Thế anh ấy đâu?

– Họ nói chừng vài phút nữa mới ra được.

Nhìn tôi chăm chú, Viên tiếp:

– Gặp chị chắc anh ấy mừng lắm.

Ðợi hơn nửa giờ đồng hồ, khóa sinh có thân nhân tới thăm mới được gọi trong số đó có Vị.

Ngay trong phút đầu gặp mặt Vị nhìn tôi lặng lẽ. Qua ánh nhìn đó tôi hiểu nếu không gặp nhau giữa đám đông chắc chắn Vị đã ôm tôi vào trong tay. Vị đỡ chiếc giỏ nặng trong tay tôi rồi đưa chúng tôi trở vào. Tôi bảo:

– Mình ra ngoài đi, anh. Ở đây ồn quá.

– Ðâu được – Vị lắc đầu – Mình chỉ có thể ngồi với nhau trong một khu vực dành cho khóa sinh có thân nhân tới thăm thôi.

Trên đường vào khu tiếp tân, tôi thấy khóa sinh cùng những người thân ngồi tụm năm tụm ba dưới những bóng mát của vài cây bã đậu. Cũng có những bóng mát tạm bợ là một vài chiếc lều được dựng vội vã nên trống trải và xiêu vẹo che dấu một cách hời hợt những cặp tình nhân nằm với nhau bên trong. Những cặp tình nhân hôn nhau, vuốt ve nhau một cách tự nhiên như chung quanh họ là một nơi riêng biệt vậy. Viên cúi đầu đi những bước dài như chạy, còn tôi thì chỉ thấy tội nghiệp cho mọi người. Có lẽ Vị cũng thèm khát nhiều thứ, từ lúc gặp nhau ngoài cổng đến giờ, Vị vẫn nhìn tôi với ánh mắt rất lạ. Ánh mắt mà một người đàn bà như tôi có thể hiểu được.

Theo Vị vào quán nước, chúng tôi chật vật lắm mới tìm được chỗ ngồi. Viên bày thức ăn lên bàn rồi im lặng một cách thừa thãi vì chẳng ai thèm để ý đến việc ăn uống. Chúng tôi im lặng nhìn nhau. Sau mấy tháng quân trường Vị chỉ thay đổi chút ít là mái tóc cắt ngắn. Nước da chàng vẫn trắng như dạo nào dù tôi biết chàng cả ngày dầm mình ngoài nắng, ở những bãi tập.

Tôi mở gói giấy lấy một cái paté chaud đưa cho Vị:

– Em nghe nói anh rất thích thứ này nên mua vào đây khá nhiều.

– Em với Viên cùng ăn chứ?

– Thôi anh ăn đi. Em no lắm.

Mà tôi no thật. Khung cảnh chung quanh khiến tôi no ứ đến tận cổ. Tuy nói thế tôi cũng cầm một cái nhấm nháp sơ sài cho Vị vui lòng trong lúc chàng ăn ngấu nghiến. Chàng khen luôn miệng tất cả những thức ăn tôi đem vào. Ðiều này khiến tôi biết đã lâu lắm Vị chưa hề có bữa ăn nào thịnh soạn.

Vừa ăn Vị vừa kể cho chúng tôi nghe về đời sống của chàng nơi này. Sáng thức dậy rất sớm, trở về phòng sau chín giờ tối. Những bãi tập, những hình phạt. Vị nói:

– Nếu em thấy cảnh anh bị phạt, có lẽ em không thể tin được sức chịu đựng của anh đến như thế. Nhưng rồi cũng chịu được.

– Bộ ở đây anh bị phạt hoài sao, anh?

– Hoài hoài. Bây giờ chỉ cần một người học trước anh một khóa thôi muốn phạt anh thì họ tìm ra lỗi để phạt ngay.

Viên tròn mắt:

– Nhưng anh đang ngồi sao họ lại có cớ để phạt được?

– Thiếu gì cớ. Phạt chỉ là một cách làm cho sức chịu đựng của mình tăng thêm để có thể theo đuổi khóa học.

Chỉ cho chúng tôi thấy phía ngoài sân nắng gắt một khóa sinh đang làm những động tác lạ mắt, bên cạnh là một cô gái ăn mặc lịch sự và sang trọng:

– Có thể anh chàng kia không có lỗi gì cả vẫn bị phạt như thường.

Vị thêm những cực nhọc mà chàng phải chịu, lâu dần khiến chàng quên mất là mình có nhớ đến ai không và một đôi lúc có ước muốn thì chỉ là những ước muốn nếu đem so sánh với ước muốn của kẻ khác thì đó quả thật là những điều hết sức khôi hài. Một giấc ngủ no đầy, không có tiếng còi tập họp ré lên lúc đang còn trong cơn say thiếp và có lẽ thèm nhất là địa vị của một người đi trước một khóa, vác ba lô ra đơn vị.

Vị nói:

– Có những điều ước chợt hiện trong trí đến không kịp tin rằng đã có lúc mình tàn tệ đến thế.

Giọng Vị bình thản, không có vẻ gì là kêu than hoặc phân bày gì cả.

Chúng tôi nói chuyện loanh quanh về đời sống phía ngoài vòng rào quân trường cho Vị nghe. Chàng nghe bằng đôi tai không chăm chú lắm như khi chú ý đến những thức ăn tôi và Viên thay phiên nhau tiếp cho chàng.

Tôi lấy thêm thức ăn cho Vị nhưng chàng gạt đi bảo để đó rồi rủ tôi về phía sau của quán nước sau khi chàng đã nhìn tôi thật lạ. Ánh nhìn nhanh và sắc. Tôi nghĩ có lẽ Vị muốn tìm một nơi nào đó kín đáo để hôn tôi chăng? Thế nên tôi quay qua bảo Viên ngồi chờ một lát, chỉ một lát thôi chúng tôi sẽ trở lại. Viên gật đầu rồi nhìn vu vơ ra chung quanh trong lúc tôi đứng dậy theo tay dắt hâm hấp nóng của Vị đi về phía nhà sau. Không biết Viên có hiểu.

Ðến trước một căn phòng tôi đoán có lẽ là phòng tắm (Cũng không phải là một căn phòng nữa, chỉ là những vách ván gỗ tạp được quây kín lại với nhau một cách tạm bợ cho ngăn cách với phía ngoài), Vị run tay mở cánh cửa và bảo, giọng như mất cái âm thanh thông thường:

– Vào đây, em.

Tôi mím môi bước vào bên trong và đủ thông minh hiểu để không hỏi han gì. Tôi nghĩ lúc này một câu hỏi có thể làm tôi hoặc Vị tủi hổ. Tôi nhìn quanh chỗ đứng. Một căn phòng tắm lộ thiên, có thùng đựng nước, có quần áo lót của đàn bà vắt bừa bãi trên dây. Tay Vị run rẩy khi đưa tay khép cánh cửa bằng gỗ tạp lại. Chúng tôi đang lẩn trốn phía bên ngoài.

Vị quay lại. Chàng hôn tôi. Bỗng tôi cảm thấy đau nhói lên ở phía sau lưng vì chiếc móc soutien bị cấn vào vách ván. Tôi dướn người về phía trước làm như đáp trả lại nụ hôn vội vàng của Vị nhưng thật ra là để tránh cho phiến lưng bị chàng ép mãi vào vách. Trong lúc trao đổi hôn như thế, tôi nhớ đến những nụ hôn chúng tôi đã trao nhau ở những nơi thanh thản nào khác và muốn nói một vài câu gì đó. Nhưng có lẽ lúc này tôi không nên nói một câu như thế nào cả dù muốn nói hết sức. Chúng tôi vẫn im lặng hôn nhau. Tôi nhắm khít mắt khi Vị yêu tôi.

Nắng rực rỡ đổ xuống, vách ván nóng cùng với hơi thở hâm hấp nóng của Vị không ngớt phả vào cổ vào mặt. Tôi cắn chặt răng để ngăn một tiếng khóc tội nghiệp. Quả thật chưa bao giờ tôi có thể tưởng tượng chúng tôi lại có lúc trở nên khốn đốn như lúc này.

Tôi sửa lại quần áo, tóc tai, dùng vạt áo dài lau những giọt mồ hôi lấm tấm ở hai bên thái dương rồi cùng Vị bước ra ngoài để trở về chỗ Viên đợi.

Hơi nóng của chỗ dựa lưng và sự mỏi rã làm tôi bước những bước lao đao như một người say rượu. May quá, khi chúng tôi trở lại thì Viên đang chăm chú đọc một tờ tạp chí đem theo lúc sáng. Ngồi xuống ghế tôi hé miệng thở dốc và uống một ngụm nước đầy trong ly nước Viên đã gọi sẵn. Vị cũng làm như thế. Tôi để ý thấy Viên dời mắt đọc báo ngẩng lên nhưng nhìn vội đi hướng khác và hai má đỏ hồng. Chắc vì những hình ảnh cô nhìn thấy trên đường đi và những điều cô đang nghĩ về chúng tôi sau hơn mười lăm phút vắng mặt. Nhưng chắc hẳn điều cô nghĩ không quá quắt như điều đã xảy ra.

 

Những câu chuyện sau đó cũng chỉ luẩn quẩn chung quanh những điều chúng tôi đã nói từ lúc gặp mặt tới giờ. Giọng Vị vẫn bình thản. Nhưng tôi, dù đang không nghe rõ giọng mình, tôi cũng có thể biết được nó không được tự nhiên lắm khi vừa đối đáp với Vị mà cứ thấp thoáng hình ảnh tội nghiệp của chúng tôi mới vừa xẩy ra.

Một người lính thuộc quân trường bước vào quán nước thông báo cho mọi người rõ chỉ còn nửa giờ nữa là hết thời gian thăm nuôi. Không khí đang chìm chìm lắng lắng bỗng chộn rộn hẳn lên. Tiếng ồn ào, tiếng khóc hòa lẫn thành một thứ tiếng động không tên gọi nhưng hẳn là buồn nản. Viên thu xếp những thứ còn lại vào cả trong một cái túi xách rồi bảo để lại cho Vị. Cô nói:

– Anh có cần gì thì nói, tuần sau em với chị Minh mang vào.

Vị quay sang nhìn tôi rồi chàng rút cây viết cùng mảnh giấy ghi một vài thức còn thiếu. Trong lúc Vị hí hoáy viết, tôi không biết mình có nên nói thật cho chàng biết đây là lần thăm đầu tiên nhưng cũng có thể là lần cuối cùng dành cho chàng? Xong việc, Vị nhìn lên:

– Tuần sau nếu không được về phép, em cùng Viên lại vào thăm anh chứ?

– Nhưng tuần này không phép thì tuần sau chắc phải có mà.

Tôi nói một câu không ăn nhập gì với những điều đang nghĩ trong đầu khiến Vị có vẻ ngạc nhiên:

– Nhưng trường hợp anh không được phép?

– Thì em với chị Minh lại vào thăm anh.

Viên xen vào. Tôi không biết phải giải bày ra sao nên im lặng cùng mọi người ra khỏi quán khi tiếng còi tập họp vang lên khắp chốn.

Vị trở về chỗ tập họp, chàng đứng lẫn trong giòng người và bộ đồ xanh làm chàng chìm trong những bộ đồ xanh khác khiến tôi quay lại nhìn cũng không nhận ra. Lấy kính đeo lên mắt tôi khóc tự nhiên trên đường dẫn ra phía cổng quân trường khiến Viên an ủi liền miệng và vẽ vời ngay cho một lần thăm viếng vào tuần tới.

Thăm viếng lần nữa à? Ồ, không ai đủ can đảm đưa tay đập vào vết thương của mình lần thứ hai. Không bao giờ. Căn phòng tắm lộ thiên. Cái móc soutien bị cấn và trăm ngàn nỗi cùng quấn trong đầu& không bao giờ. Tôi im lặng nghe Viên an ủi. Im lặng vì không biết phải phân bày như thế nào. Mà dù có phân bày chắc Viên cũng không thể nào tin được việc ấy đã xẩy ra.

Bước lên một chiếc xe lam để trở vào thành phố với Viên vẫn gần gũi bên cạnh nhưng tôi cảm thấy một cách rõ rệt rằng dù có thế nào chăng nữa, Vị, Viên những người quen biết không ai hiểu được tôi đang bước những bước như chạy trốn.

 

ÂU THỊ PHỤC AN

Bob Dylan đoạt giải Nobel Văn học 2016

672225d Bob Dylan

Nhạc sĩ Bob Dylan là nghệ sĩ sáng tác nhạc đầu tiên được nhận giải Nobel Văn học.
(Ảnh tư liệu)

 nguồn: VOA

 

Nhạc sĩ huyền thoại người Mỹ Bob Dylan đã đoạt giải Nobel Văn học năm 2016. Ông là nghệ sĩ sáng tác nhạc đầu tiên được nhận giải thưởng cao quý này.

Viện Hàn lâm Khoa học Thụy Điển nói ông Dylan được vinh danh “vì đã tạo ra những cách biểu đạt mới bằng thi ca bên trong truyền thống âm nhạc tuyệt vời của Mỹ”.

Viện Hàn lâm Thụy Điển là tổ chức mà hàng năm vẫn đưa ra quyết định chọn người xứng đáng để trao giải Nobel Văn học.

Trong những năm qua, ông Dylan nhiều lần được nhắc đến như một người có thể đoạt giải Nobel nhưng ông không được coi là một ứng viên nặng ký.

Ca sĩ kiêm nhạc sĩ 75 tuổi này tên thật là Robert Allen Zimmerman. Ông bắt đầu sự nghiệp âm nhạc vào năm 1959 với các buổi biểu diễn tại những quán cà phê ở Minnesota.

Những tác phẩm nổi tiếng nhất của Bob Dylan được phát hành vào những năm 1960, khi đó các bài hát như “Blowin’ in the Wind” đã trở thành ca khúc ruột cho các phong trào dân quyền và chống chiến tranh Việt Nam

 

sachttm

Ra mắt tác phẩm của Trần Thu Miên

 

 Chiều ngày Chúa Nhựt mùng 9 tháng 10 vừa qua, nhóm thân hữu và anh em văn nghệ Boston đã tổ chức một buổi giới thiệu những tác phẩm thi ca và CD đọc truyện của tác giả Trần Thu Miên tại Trung tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng – Viet-Aid. Với chủ đề Tạ Ơn Những Bàn tay Nhân Ái ( Thank You America For Your Helping Hands ) và đã xuyên suốt chương trình với chủ đề này.

Mặc dù trời u ám, và mưa suốt ngày ảnh hưởng từ cơn bão Matthew, những khách hâm mộ văn học nghệ thuật cũng vẫn đến tham dự và ngồi kín ghế trong khán phòng khoảng 200 người. Sau phần khai mạc do ông Lê Đăng Ân tuyên bố là một chương trình văn nghệ với những ca khúc của Trần Thu Miên hay những ca khúc được phổ từ thơ của tác giả này. Mở màn là một bài hát phổ từ thơ Trần Thu Miên được soạn theo thể loại giao hưởng ( symphony ) của nhạc sĩ Phạm Trung Vinh đã tạo một ngạc nhiên cho khán giả. Tiếp theo, một bài thơ bằng tiếng anh do Uyên Sa diễn đọc cùng tiếng sáo nền của Tấn Nhật Bích. Ngọc Diễm xuất sắc trong ca khúc Mai Này Khi Anh Chết, rồi Thế Cường với chạy Trốn Quê Nhà, Bùi Thạch Trường Sơn với Người Di Tản Buồn của Nam Lộc, Nỗi Buồn Tháng Tư ( Nguyên Long phổ ) do Nguyễn Ngọc Phong trình bày, Hoàng Thông và bạn hữu trong Cho Tôi Xin Tạ Ơn, nhạc sĩ Nhất Chi Vũ thay vì chỉ phát biểu anh đã dùng một ca khúc do anh phổ từ thơ Trần Thu Miên Như Thời Gian Qua Đi dẫn khán giả từ chỗ ngồi lên sân khấu và những lời phát biểu đầy tình cảm. Phần trình diễn thu hút khán giả của Đạt Thịnh duyên dáng với cây guitar trong ca khúc Nước Mắt Tha Hương, đặc biệt  3 cháu Edwin Tran, Emily Tran, Evelyn Tran đồng diễn: guitar, flute, keyboard với ca khúc Em Là Ai đã tạo được sự cảm mến từ khán giả, Hoàng Vân với Cô Sinh Viên UTA một ca khúc của Trần Thu Miên, Nguyễn Trọng Khôi hát một bài do anh phổ từ thơ Trần Thu Miên : Buổi Sáng Mưa Rơi. Khán giả cũng không thể quên phong cách ngâm thơ mới lạ của Trần Chí Trung – bài thơ Nỗi Buồn Tháng Tư được phụ họa bởi tiếng sáo Tấn Nhật Bích…những giọng hát chung của  Đăng Ngọc, Hoàng Hà, Chí Hiếu, Chí Trung, Kim Sinh, Huyền Chi, Thiên Kim, Mỹ Tâm, Thanh Hằng, Hồng Thi, Hồng Vân. Những tiếng đàn, trống từ các nhạc sĩ  Lý Bằng, Đỗ Lộc, Công Thành, Phạm Trung Vinh và giàn âm thanh điều khiển bởi Công Luận đã làm khán phòng thêm ấm cúng.  Cũng không thể quên người điều phối chương trình gồm: Nguyễn Thanh Trang – Chu Trí.

Ngoài phần phát biểu của tác giả nói về những thao thức trong những ngày tháng qua để hình thành những tác phẩm, thi ca, truyện ngắn và âm nhạc, ông Lại Tư Mỹ cũng dẫn giải thêm về một tác phẩm truyên ngắn của Trần Thu Miên Giã Từ Giọng Hát Em Farewell to a Temptation.
Trong phần biểu lộ lòng biết ơn với đất nước và con người đã giúp đỡ và cưu mang hoàn cảnh tị nạn của ông Trần Phúc Trưởng và Minh Xuân đã làm khán giả ngậm ngùi.

Ban tổ chức và tác giả cùng đi đến một quyết định dùng toàn bộ số tiền mà khán giả đã ủng hộ và mua tác phẩm để dành tặng cho Cơ Quan Định Cư Tỵ Nạn ( Refugee/Immigrant Services of The Boston Catholics Charities )
Bà Marjean Perhot, giám đốc Catholic Charities Refugee & Immigration Services  trong phần phát biểu đã bày tỏ nỗi xúc động vì những nghĩa cử của người Việt Nam nói chung và ban tổ chức nói riêng khi nhận số tiền hơn 4000 đồng từ tay ông Lê Đăng Ân đại diện ban tổ chức trao tặng.

Buổi giới thiệu sách và CD của tác giả Trần Thu Miên được xem là thành công đáng kể và gây được ấn tượng tốt đẹp cho người tham dự.

 

Phóng viên   Văn Nghệ Boston 

Một số hình ảnh buổi giới thiệu tác phẩm của Trần Thu Miên

Hình ảnh: Hiệp Trần

 

53

thỉnh thoảng có sự đổ vỡ

 

tôi đang rèn luyện tính kiên nhẫn

để tiêu hóa sự im lặng đớn hèn của bản thể

trườn mình qua mớ lý thuyết chủ nghĩa vong nô bẩn thỉu

chờ đợi dòng nước mắt quanh co trong bóng tối hiện hình

cùng giấc mơ xuống đường nói về điều bí ẩn của lửa tỏa sáng

 

lau chùi ngôn ngữ của chứng động kinh

đem ướp khô vào ánh sáng thời gian phơi nhiễm

em ngẩn ngơ trắng khi vừa sinh ra tôi

nhìn lại chính mình nhàm chán dục tính kêu gào phóng thích

những giọt máu nhễ nhại lăn tròn theo ý tưởng mông lung

và đêm, vuốt ve cái ngu muội từng cơn thèm khát

 

thành phố bây giờ với những ngày rất ngắn

tôi ngã xoáy chìm sâu vào ly rượu đắng

tiếng rạn vỡ mặt trời nứt ra trên sương mù ký ức

chúng ta nhìn thấy nhau qua ánh mắt ngụy trang

trên con đường của hạnh phuc người đi mua chuộc niềm tin

bóng hoàng hôn loang màu mưa suối chảy máu

những pho tượng đài gãy đổ

 

 

đời sống đang bị phẫu thuật

 

cần phải hội chẩn những âm thanh

từ nhiều phía hỗn tạp nhức óc

lách cách lanh canh rổn rẻng

rì rào rầm rập tùng tung

ma nơ canh trắng mắt dài theo phố chờ…

hở hang tính dục trơ trẻn giống cái giống đực

thời gian nhịp chỏi rỗng xám tan chậm theo kim đồng hồ

trong tán lá ngày rụng xuống tia mắt sợ hãi chạm lòng man trá

 

mây lạnh áp thấp từng hồi giọt mưa đen rơi

trôi nhanh cùng dòng chảy chui vào miệng cống

những bong bóng nước ý tưởng

thiết bị điện tử khuếch đại vang xa tiếng mõ gõ đều

theo từng lời nam mô A di đà phật

có thể sẽ khoét sâu vào lương tri đang mục rữa

từ nơi nào đó rất xa

âm hưởng những tiếng kêu gào tuyệt vọng

hoài nghi về sự cứu rỗi những hạt lúa vàng thoi thóp

 

bầu trời màu chì sấm chớp những con cá quẫy đuôi nhìn

những đôi mắt trủng sâu ngơ ngác trước lòng nhân ái

tại sao loài người đều mang cặp kính màu đen

đang chiêm nghiệm đời sống bi thảm là trò chơi của thượng đế ?

tự dán băng keo che hai mắt

tự nhét bông gòn vào hai lỗ tai

không còn thấy và nghe tiếng hét thất thanh

đời sống đang bị phẫu thuật

 

đã và đang hợp diễn

 

sản phẩm chân lý đã hóa thành lũ dòi

chúng lăng quăng trượt mình lên nhau

tranh giành miếng ăn trong thi hài lịch sử

nếu có thể phải giả định

sẽ nhìn thấy nhiều bộ mặt

nhú ra những chiếc răng sắc nhọn

không cần phải có mắt

xúc giác với thứ ánh sáng nhờn nhợt

từ máu ý thức đặc trưng sền sệt bốc mùi

 

lắng nghe tiếng kêu gào từ tận đáy hiện sinh

mọi ngôn ngữ chuyển sang dạng thức kí hiệu

những chiếc bóng con người dường như trắng toát

những bộ xương lắp ghép cử động theo nhịp thời gian

trong vòng tay giấc mơ đang hấp hối

loài chim ăn thịt sống nhìn xuống lỗ trống đen ngòm

 

loài quỷ dữ bầy đàn

ngửa mặt tiếng cười vang đến trời xanh

phát minh học thuyết chủ nghĩa tiên tiến

đã và đang hợp diễn

tước đoạt và phân phối

cướp bóc và chia chác

đều đồng nghĩa như nhau

quá khứ hay là tương lai

làm sao thay màu cho xác chết

tất cả với sự trốn chạy khôi hài

 

sự im lặng tuyệt vời

 

tháng tám.

giai điệu quá khứ đỏ máu lặng lờ trôi

chạm mùa thu sượng sần hóa thành cơn bão

những bóng ma thèm khát để được làm người

sao phải mở trừng mắt nuốt chửng đầu đạn đồng

bọc những điều ngụy tín được khuyến mãi

khi khắp cùng luôn bàn về nghệ thuật man di

hút tận cùng tủy sống giấc mơ

 

tháng tám

bọn cướp chơi đùa cùng bóng tối

bày trò so sánh con cá với những tượng đài rỗng ruột

ngửa mặt háo hức uống từng giọt ánh sáng trầm đục

nhiễu xuống từ một vì sao tím bầm

chúng nó đang thưởng thức hương vị của nỗi chết

 

tháng tám

cái chết đã truyền đi thông điệp cuối cùng

những viên đạn ngọt ngào dành tặng cho nhau

có thể dân khu đen đã chọn sự im lặng

lửa hận thù đang xoáy theo đường khương tuyến

 

Khaly chàm

 

hemingway

« Paris  est  une  fête » hay là
câu chuyện về một cuốn sách


Nguyễn  Bảo  Hưng

        

      « Paris est une fête » là tựa một cuốn sách của Ernest Hemingway bình thường chắc ít ai buồn để ý, thậm chí được nghe nhắc tới. Bản thân tôi cũng không ngờ lại có cuốn sách này trong sự nghiệp đồ sộ của nhà văn Mỹ từng được giải Nobel, nếu đã không xảy ra biến cố đó. Cái biến cố thời sự làm tôi chú ý tới cuốn sách, ấy là vụ việc trong đêm thứ sáu 13-11-2015 quân khủng bố hồi giáo IS đã mở một loạt tấn công khủng bố tại bốn  địa điểm khác nhau ở Paris, gây thiệt mạng cho 121 người và hơn hai trăm người khác bị thương. Đợt tấn công khủng bố đã làm thế giới bàng hoàng xúc động vì các mục tiêu tấn công đều là những nơi giải trí công cộng, và đối tượng nhắm bắn đều là thường dân vô tội thuộc đủ mọi thành phần xã hội, mọi quốc tịch, mọi tôn giáo. Lỗi duy nhất của họ, các nạn nhân ấy  là dám hẹn hò gặp gỡ nhau vào tối thư sáu để vui chơi giải trí sau một tuần  làm việc mệt nhọc. Chỉ riêng tại Bataclan, một sân khấu trình diễn nhạc rock được giới trẻ Paris ưa chuộng , đã có 81 người bị giết trên tổng số 121 người tử thương. Cảnh tượng xác chết nằm la liệt giữa các hàng ghế, trên các lối đi, thậm chí cả trên sân khấu đã làm lên dấy một làn sóng công phẫn trên toàn nước Pháp. Riêng tại Paris, bên cạnh  những cuộc biểu tình phản đối còn có nhiều vụ tụ tập đông đảo đặt hoa tưởng niệm các nạn nhân hoặc kêu gọi cần tiếp tục cuộc sống bình thường để trả lời thích đáng  thách thức đe dọa của quân khủng bố. Tại một buổi tụ tập này, một phụ nữ hẳn là dân   parisienne chính cống, bà Danielle 77 tuổi,  đã giơ cao trước ống kính đài truyền hình BFM cuốn sách « Paris est une fête » của Ernest Hemingway và lớn tiếng cổ động : « Rất cần phải đem hoa đến tưởng niệm những người quá cố. Rất cần phải đọc, đọc nhiều lần cuốn « Paris est une fête » của Hemingway. Bởi vì chúng ta là một nền văn minh rất lâu đời và chúng ta cần nêu cao các giá trị của chúng ta. » (« C’est très important d’apporter des fleurs à nos morts. C’est très important de voir, plusieurs fois, le livre d’Hemingway « Paris est une fête ». Parce que nous sommes une civilisation trés ancienne et nous porterons au plus haut nos valeurs ».) Lời kêu gọi của bà Danielle như có phép nhiệm màu. Nội ngày hôm sau, cuốn sách của Hemingway, bấy lâu  vẫn nằm ngoan ngoãn trên các quầy sách bỗng dưng biến sạch. Khách mua đọc nhiều đến độ nhà xuất bản Gallimard phải cho in lại  tựa sách mấy đợt  liền trong collection Folio mới kịp đáp ứng yêu cầu. Về phần tôi, lần tới vài tiệm sách gần nhà, nơi nào cũng bị khách phỗng tay trên hết thảy. Mò ra thư viện, lại được trả lời phải chờ dăm ba người đã ghi tên trước mới đến lượt mình. Mãi khoảng trung tuần tháng năm tôi mới nhận được giấy thông báo có thể ra thư viện lấy sách. Cuốn sách cầm về, tôi háo hức đọc. Nhưng chỉ sau có vài trang, tôi đã rơi ngay vào tình trạng hụt hẫng. Càng đọc tiếp, tôi càng hụt hẫng để cuối cùng thất vọng cay cú như khi bị tháu cáy thua đau trong một ván bài ba lá. Thất vọng, bởi vì khi nhìn cuốn sách mang tựa « Paris est une fête » được bà Danielle giơ cao, tôi liên tưởng ngay tới xen ấn tượng của bộ phim « Le soleil se lève aussi » phỏng theo cuốn truyện cùng tên của Hemingway, tôi được coi trước đây. Đó là không khí sôi động của một cuộc thi đấu bò (fiesta) tại Tây Ban Nha khi cao thủ đáu bò tức toreador xuất hiện oai phong lẫm liệt đúng lúc trổi lên những nốt nhạc thúc giục rộn rã của bản Espana Cani giữa những tiếng vỗ tay cổ võ cuồng nhiệt của đám khán giả đông ních hội trường. Sự liên tưởng này khiến tôi đinh ninh thế nào Hemingway chẳng thuật lại một vài cảnh lễ hội đặc sắc của Pháp. Nào là cuộc diễn hành trọng thể trên đại lộ Champs-Elysées nhân ngày quốc khánh. Nào là hào quang rực rỡ muôn ngàn ánh sao trong đêm bắn pháo bông trước tháp Eiffel. Lại còn không khí vui nhộn của các đêm bal musette tại mỗi khu phố nữa chứ. Thay vì những cảnh lễ hội đó, cuốn sách đã cho tôi được đọc những gì ? Ngay trang đầu là khung cảnh Place de la Contrescarpe, nơi ông trú ngụ. Đó là một khu phố tồi tàn với quán cà phê hồi đó còn mang bảng hiệu « Les Amateurs » là nơi tề tịu của dân vỉa hè nam nữ say sưa tối ngày. Quán cà phê ở ngay đầu phố Mouffetard, còn được mệnh danh là « đầu hầm cống » (le tout-à-l’égout) do mùi hôi hám bộc ra từ dân tứ xứ bám trụ  khiến người thường ít ai dám lai vãng. Cách quán cà phê chỉ vài chục thước là con phố Cardinal Lemoine với một nhà trọ rẻ tiền ngay đầu phố  nơi Hemingway mướn một căn phòng để cùng vợ làm nơi trú ngụ. Từ căn phòng tận lầu chót, mỗi sáng Hemingway có thể nhìn thấy chiếc xe hốt phân với bình chứa lớn hình ống lọc cọc do ngựa kéo từ dưới phố đi lên mang theo mùi hôi thối nồng nặc. Cũng từ căn phòng này mỗi sáng Hemingway lại xuống phố lần theo các con đường tới một tiệm cà phê Place de Saint-Michel ngồi để viết bài suốt ngày. Đó quang cảnh và không khí sinh hoạt của Paris trong những năm đầu sau Đệ nhất Thế chiến mà Hemingway không  ngại phơi bày trước mắt ta. Bức họa về một Paris hãy còn khốn khó này ông lại đưa ngay vào chương đầu mang tựa « Un bon café, place Saint-Michel » (Ernest Hemingway, Paris est une fête. Coll. Folio, édit. Gallimard 1964 et 2011, pp.41- 48) như để mào đầu cho cuốn sách. Cố gắng đọc  tới trang chót, tôi không tìm nổi một sự kiện nào đáng gọi là « fête » theo tôi nghĩ cả. Quanh đi quẩn lại vẫn chỉ mấy khu phố thuộc quận 5, quận 6 Paris với một vài quán cà phê ông thường lai văng hay một vài địa chỉ thân thuộc với ông. Như tiệm sách Sheakspeare and Company, số 12 rue l’Odéon của cô Sylvia Beach, người vẫn thường cho ông mượn sách về đọc. Hoặc tư gia bà Gertrude Stein số 27 rue Fleurus, nơi được coi là một salon littéraire do nữ chủ nhân thường đóng vai mạnh thường quân đối với nhóm văn nghệ sĩ gốc anglo-saxon. Ngoại trừ vài địa điểm vừa nêu, người đọc chẳng một lần tìm thấy tên Montmartre, Tour Eiffel hay Champs-Elysées nằm đâu cả. Thậm chí các phòng trà ca vũ lừng danh quốc tế tiêu biểu cho lối sống vui nhộn của đời sống Paris như Moulin Rouge hay Folies Bergères với vũ điệu French Cancan cũng không hề được nhắc tới. Đọc riết, không tìm ra được vết tích nào đáng gọi « lễ lạc » (fête) như tôi nghĩ, tôi quyết định đem trả cuốn sách, thâm tâm vẫn thắc mắc về lời nhắn nhủ của bà Danielle.Thắc mắc này chắc khó đường  giải tỏa nếu trong tháng bảy lại không liên tiếp xảy ra hai vụ khủng bố mới. Đó là vụ trong đêm 14-7-2016 tại Nice một tên khủng bố đã dùng xe tải hạng nặng phóng lên hành lang dọc theo bờ biển cán bừa đám đông khán giả đi coi bắn pháo bông đang lũ lượt ra vê. Vụ tấn công thô bạo này gây thương tích cho 202 người, 84 người thiệt mạng trong số có 10 trẻ em. Không đầy hai tuần sau, khoảng 9 giờ 30 sang thứ ba 26-7-2016 hai tên khủng bố lại bất ngờ đột nhập nhà thờ tại Saint-Etienne du Vouvray, một thị trấn nhỏ gần Rouen giữa lúc cha Jacques Hamel 84 tuổi, đang làm lễ cho một cặp vợ chồng ngoại thất tuần với sự tham dự của ba bà sơ. Chúng thẳng tay sát hại cha Hamel và gây thương tích cho ông chồng 76 tuổi. Chỉ có bà vợ cùng mấy bà sơ là thoát nạn. Xét về mặt tổn thất nhân mạng, thì vụ sát hại tại nhà thờ gần Rouen coi như không đáng kể so với vụ thảm sát tại Nice. Nhưng vụ tấn công sau này lại mang một ý nghĩa  đặc biệt : Nó chính là biến cố cho thấy dự báo của Samuel Huntington từ cuối thế kỷ trước về một cuộc xung đột giữa các nền văn minh (« The Clash of Civilisations and the Remaking of World Order », Samuel HUNTINGTON, 1966) đang trở thành hiện thực. Ý nghĩa biểu tượng của hành vi sát hại này làm tôi nhớ lại lời phát biểu của bà Danielle, nhất là khi bà kêu gọi cần phải bảo vệ nền văn minh truyền thống. Lời kêu gọi  làm tôi sực tỉnh, nghĩ rằng cuốn sách của Hemingway chác không để chỉ nói về lễ lạc, mà còn chuyển tải một nội dung ý nghĩa nào đó. Thế là tôi quyết định phải ra thư viện mượn sách đọc lại. Nhưng trước khi đọc, tôi có ý tới thăm một vài địa điểm Hemingway đề cập trong sách, đặc biệt là khu phố ông từng cư ngụ. Biết đâu cuộc thăm dò này  chẳng giúp tôi có thêm yêu tố để hiểu sâu hơn, hiểu đúng hơn nội dung cuốn sách của ông. Thế là tôi đã dành gần trọn một ngày để làm cuộc hành trình thăm viếng. Đúng như điều tôi dự liệu : cuộc hành trình đã đem lại cho tôi nhiều phát hiện thích thú bất ngờ.

Lộ trình thăm viếng của tôi khởi đầu bằng một chuyến du hành bốn mươi lăm phút trên chuyến xe lửa RER A từ nhà tới trạm Châtelet-les-Halles. Sau Châtelet là hai trạm métro trên tuyến 7 để xuống trạm Saint-Michel. Rời hầm métro, tôi đi ngược lên khoảng trăm thước về phía bờ sông Seine để tới Place Saint-Michel, nơi có quán cà phê ông chọn làm nơi đến để viết bài. Sau một hồi quan sát, từ Place Saint-Michel tôi lại tản bộ đi xuống dọc theo lề đường phải hướng về phía vườn Luxembourg. Trên lề đường này có nhiều tiệm sách, đặc biệt là các tiệm mang bản hiệu Gilbert Jeune bày bán đủ loại sách cũ. Là bạn trung thành với thú vui đọc sách, có dịp quí vị nên ghé lại các nơi này. Chịu khó lục lọi các ô sách bày trên vỉa hè, quí vị có thể  kiếm ra một vài cuốn sách giá trị với giá rẻ dề, có một hai euros thôi, còn rẻ hơn cả tiền « bo » cho một bữa ăn tại nhà hàng. Sau khi lục lọi, tôi đã thủ cẳng được một vài cuốn sách gối đầu để, khi cần, khỏi phải ra thư viện mượn. Sau ngã tư Saint-Michel – Saint Germain des Prés có vài chục mét, nhìn sang  lề đường đối diện là thấy ngay đại học La Sorbonne với Place de La Sorbonne đằng trước. Tôi ghé lại quán cà phê mang bảng hiệu L’Ecritoire ngồi nghỉ. Ba chục năm về trước tôi thường tới ngồi tại quán này, khi còn được là sinh viên tại đây để mong tấm bằng cử nhân mang từ Việt Nam sang được công nhân tương đương với Licence de Lettres modernes của Pháp. Bình thường chỉ cần hai năm là có thể xong chương trình cử nhân. Nhưng hồi đó, chân ướt chân ráo tới Pháp, đêm đi cày ngày đi học, tôi phải dành bốn năm mới được cấp bằng. Tuy nhiên, tôi không hề tiếc thời gian phải bỏ ra theo học. Thứ nhất, vì mục đích của tôi không phải thi lấy bằng để làm cần câu cơm, hoặc để được  thêm tước vị vào tấm danh thiệp. Tiếp đến là thời gian theo học càng dài, chương trình học càng nhiều (vì cứ hai năm chương trình học lại dổi phân nửa), tôi càng thấm nhuần phương pháp tiếp cận văn học và nghiên cứu chuyên sâu với tinh thần phê phán khách quan. Thêm vào đó, thời gian học kéo dài còn là cơ hội để tôi được học hỏi thêm về một số tác giả cận đại và hiện đại Pháp tôi muốn biết như Marcel Proust, Jacques Prévert, André Malraux, Saint-Exupéry, J.P Sartre, Albert Camus v.v… Vừa nhâm nhi cà phê, vừa đưa mắt nhìn quanh, tôi bồi hồi sống lại niềm vui ngày nào thấy mình lại được làm sinh viên cho dù nhiều bạn đồng môn thương mến tôn lên hàng khứa lão. Lúc này đang là tháng tám nên khuôn viên trước đại học hãy còn vắng vẻ. Các quán cà phê cũng thưa thớt khách hàng, phần đông là du khách. Đối diện với quán cà phê, tiệm sách J. Vrin, chuyên bán các loại sách triết học, bên kia vẫn còn đó. Chính tại tiệm sách này, hồi đó tôi đã lục mua được trong đống sách cũ bày trước cửa tiệm cuốn « La révolte des écrivains d’aujourd’hui » của R.M Albérès. (Tôi đã có dịp đề cập tới cuốn sách này trong ghi chú 9 của phần hai bài viết « Dấn bước thăng trầm »). Còn lại, cảnh vật nói chung dường như không thay đổi. Tuy nhiên, khi nhìn qua phía trái quán cà phê, con tim tôi bỗng thắt lại khi phát hiện tiệm sách trước đây mang bảng hiệu Librairie P.U.F (Presses Universitaires de France), nay không còn nữa. Thay vào đó là tiệm giày thời trang mang bảng hiệu Nike Running. Phải nhìn nhận mặt tiền của Nike Running được sửa sang rất mỹ thuật, rất kín đáo, hoàn toàn hòa nhập  với khung cảnh của quartier latin văn học. Nhưng tôi vẫn không tránh khỏi bàng hoàng xúc động khi thấy tiệm sách PUF nay biến mất. Những ai từng là sinh viên trong những thập niên chót của thế kỷ trước hẳn thường nghe nhắc tới, nếu không muốn nói ít ra cũng đôi ba lần được cầm trong tay một tựa sách thuộc collection « Que sais- je ? » của nhà xuất bản Presses Universitaires de France. Không chỉ có collection « Que sais-je ? », Presses Universitaires de France còn là cơ sở in ấn nhiều công trình nghiên cứu, biên khảo công phu của các giáo sư đại học uy tín về khoa học nhân văn nữa. Vậy mà nhà sách Presses Universitaires de France nay cũng phải gỡ bảng hiệu để nhường chỗ cho Nike Running. Xét cho cùng, Librairie P.U.F có phải dẹp tiệm điều này cũng dễ hiểu thôi. Với tốc độ ngày một tăng tốc độ cải tiến kỹ thuật truyền thông ngày nay, chỉ cần mở internet nhấn vào con chuột,  là ta đã thấy bày sẵn hàng loạt thực phẩm văn hóa, đa số thuộc loại hủ tiếu ăn liền. Với điều kiện sinh hoạt văn hóa như vậy, thử hỏi mấy ai  còn chịu dành thời gian, bỏ công sức để nghiền ngẫm đọc sách nữa. Tuy nhiên, trước cảnh Librairie P.U.F đang bị rơi vào quên lãng, tôi không tránh khỏi một nỗi buồn nao nao tiếc nuối tựa tâm sự ngậm ngùi « Thăng long hoài cổ » của Bà Huyện Thanh Quan trước cảnh : « Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, Thành quách lâu đài bóng tịch dương. ».

Rời quán cà phê, dọc theo boulevard Saint-Michel tôi tiếp tục đi xuống khoảng hơn trăm mét gặp rue Soufflot thì rẽ trái hướng về điện Panthéon, nơi đặt hài cốt các danh nhân được ghi nhận có công lao với nước Pháp. Lần theo hông phải điện Panthéon cho tới khi gặp rue de l’Estrapade rồi rue Blainville, tất cả khoảng vài trăm mét là đụng điểm đến : Place de la Contrescarpe. Đó là một công trường nhỏ cỡ Place Saint-Michel hay Place de la Sorbonne với một khoảng trống ở giữa và các cửa tiệm, các quán cà phê bao quanh. Ta cũng có thể ví nơi đây như một Place de l’Etoile thu nhỏ vì là điểm hội tụ của nhiều đường phố. Kế cận với rue Blainville là rue Mouffetard, một con phố ồn ào nhộn nhịp, đày những cửa tiệm, hàng quán bình dân và cũng là một trong những còn phố còn giữ dược nét sinh hoạt đặc thù của Paris từ bao lâu. Tuy nhiên quán cà phê mang bảng hiệu « Les Amateurs » theo Hemingway mô tả nay không còn nữa. Từ rue Mouffetard ngó qua, khoảng chục thước là đầu đường Cardinal Lemoine. Ngay khi vừa đặt chân tới Place de la Contrescarpe ta có thể đi thẳng về phía Cardinal Lemoine nhờ vào bảng hiệu « Mouffetard Saigon » sơn màu vàng đỏ rất bắt mắt của một cửa tiệm bán thức ăn Á đông. Kế cận với « Mouffetard Saigon » là quán ăn mang tên « Bar à Julien – Bistrot L’époque » với bảng hiệu và mặt tiền hầu vẫn giữ nguyên như cũ. Đối diện với quán ăn này, bên kia đường là ngôi nhà  năm từng  mang số 74 rue Cardinal Lemoine, nơi Hemingway đă thuê một căn phòng ở tầng ba để trú ngụ cùng với người vợ đầu tên Hadley. Nhìn từ bên ngoài, mặt tiền hầu như không thay đổi. Trên bức tường giữa hai tầng lầu có gắn một tấm bảng đồng với các hàng chữ :

De Janvier 1922 à Aout 1923, a vécu au 3è étage de cet immeuble, avec Hadley, son épouse, l’écrivain américain Ernest Hemingway (1899-1961). Le quartier, qu’il aimait par-dessus tout, fut le véritable lieu de naissance de son œuvre et du style dépouillé qui le caractérise. Cet Américain à Paris entretenait des relations familières avec ses voisins, notamment avec le patron du bal-musette attenant. « Tel était le Paris de notre jeunesse où nous étions très pauvres et très heureux. » (Ernest Hemingway « Paris est une fête ») (Từ tháng giêng 1922 tới tháng tám 1923, nhà văn Mỹ Ernest Hemingway (1899-1961) đã cùng vợ là Hadley tới ở tại tầng ba ngôi nhà này. Khu phố, mà ông yêu mến hơn bao giờ hết, mới thực sự là nơi ông khai sinh ra tác phẩm cùng với văn phong chắt  lọc của ông.  Người Mỹ đến với Paris này đã có những mối quan hệ mật thiết với dân lối xóm, đặc biệt là chủ quán nhạc khiêu vũ musette kế cận. « Paris của chúng tôi ở tuổi thanh xuân là vậy đó, khi mà chúng tôi sống còn rất nghèo nhưng rất hạnh phúc ». Ernest Hemingway, « Paris est une fête). Tôi đứng đó, đứng đó trước ngôi nhà nơi Hemingway cùng vợ đã trú ngụ. Tôi đứng đó, hồi lâu đứng đó bất chấp sự qua lại dửng dưng của khách qua đường. Hết nhìn về phía Place de Contrescarpe, tôi lại hướng mắt lên tấm bảng đồng rồi quay sang ngó cửa tiệm còn giữ nguyên bảng hiệu cũ. Toàn bộ khu phố, nói chung, nay đã mang bộ mặt tân trang mới mẻ. Chỉ riêng có mặt tiền ngôi nhà mang số 74 rue Cardinal Lemoine và mặt tiền quán ăn với bảng hiệu « Bar à Julien-Bistro L’époque » có chỗ sơn bị tróc lở là còn nhắc nhở ta về một khu phố hãy còn nghèo nàn của Paris trong những năm đầu của thập niên 20 thế kỷ trước đây. Tôi đứng đó, tần ngần đứng đó nhẩm đọc từng chữ trên tấm bảng đồng như muốn nằm lòng từng con chữ. Cuối cùng tôi đành kết thúc chuyến viếng thăm  với tâm trạng nửa buồn nửa vui. Buồn vì nao nao tiếc nhớ, vui vì phấn khởi như vừa tìm được giải đáp cho một điều bí ẩn. Tấm bảng đồng kia,  với dòng chữ « Tel était le Paris de notre jeunesse où nous étions tres pauvres et tres heureux », chính là chìa khóa giải tỏa cho tôi sự thất vọng khi mới đọc cuốn sách của Hemingway ; đồng thời nó cũng là ánh đuốc soi đường để tôi biết cách đọc lại hầu hiểu sâu hơn, hiểu đúng hơn nội dung tác phẩm của ông.

Trong lượt đọc đầu tôi thất vọng vì chỉ chực đi tìm những điều tôi muốn Hemingway viết ra theo tôi nghĩ hay đúng ra theo nghĩa lễ lạc đình đám như trong từ điển. Tôi thất vọng bởi vì, khi ấy, nhìn vào các hàng chữ tôi chưa biết đọc cách Hemingway dùng lời để diễn tả những cảm xúc, suy tư của ông. « Paris est une fête » với Hemingway, không phải vi Paris là kinh đô của ánh sáng, vì Paris có đại lộ Champs-Elysées thênh thang tráng lệ, vi Paris còn là chốn ăn chơi vui nhộn với vũ điệu French Cancan đú đởn của các nhà hàng ca vũ nhạc Moulin Rouge, Folies-Bergères thu hút được du khách bốn phương. Nhưng  Hemingway đến Paris lại không phải vì vậy. Tới Paris với tư cách là phóng viên trẻ cho một nhật báo Canada, ông đã sớm phát hiện nơi đây một môi trường văn hóa thuận lợi cho những ai có tâm hồn nghệ sĩ tìm ra nguồn cảm hứng và phát huy tài năng của mình. Bởi vậy ông không ngần ngại từ bỏ nghề phóng viên với đồng lương bảo đẩm để dấn thân vào nghiệp văn , chỉ sống bằng tiền nhuận bút. Cũng vì chấp nhận cuộc sống  rủi ro như vậy, ông không nề hà chịu đóng đô tại khu phố Contrescarpe nghèo hèn, thuê một căn phòng lầu ba sô 74 rue Cardinal Lemoine để cùng vợ sống trong những điều kiện ăn ở thiếu tiện nghi như ông thuật lại : « Tổ ấm của chúng tôi, phố Cardinal Lemoine, là một căn phòng hai buồng, không có nước nóng, không cầu tiêu, ngoại trừ một sô nước để rửa ráy » (Notre foyer, rue du Cardinal Lemoine, était un appartement de deux pièces, sans eau chaude courante, ni toilettes, sauf un seau hygiénique. » sdd. Tr.66). Phải sống trong những điều kiện khắc khổ như vậy, ông không lấy làm buồn phiền mà còn hoan hỉ chấp nhận. Nếu đọc kỹ và chịu khó lượm lặt đó đây một vài chi tiết chí thú, ta sẽ hiểu được tại sao, với Hemingway, Paris lại là một chốn hội hè. « Paris est une fête », bởi vì tại khu phố Contrescarpe không chỉ có quán cà phê bụi đời Les Amateurs, mà sát nách nhà ông, còn có quán Bal musette để ông qua lại vui chơi và tán gẫu với ông chủ quán vui tính. « Paris est une fete » bởi vì gần kề với Contrescarpe, Paris còn có không khí văn học của Quartier Latin , với các quán Café terrasse như tại Place Saint-Michel để ngày ngày ông tới đó viết bài. Hay là quán La Closerie des Lilas gần Montparnasse, nơi ông thườg lai văng để gặp gỡ đấu láo với bạn bè văn nghệ. « Paris est une fête » bởi vì chỉ cần băng qua điện Panthéon là ông có thể tới viện bảo tàng trong vườn Luxembourg, ngắm nghía những bức tranh của Cezanne, của Manet, của Monet giúp ông quên được bữa ăn trưa vì còn chưa nhận được tiền nhuận bút. (coi chương « La faim est une bonne discipline », sdd, tr.108-119). « Paris est une fête » bởi vì chẳng xa Place de Saint-Michel là bao, có tiệm sách « Sheakspeare&Company », 26 rue de l’Odéon, với cô chủ người đồng hương Sylvie Beach hào hiệp, sẵn sàng cho ông tha hồ mượn sách đem về đọc mà không bắt ứng tiền đặt cọc. Nhờ vậy ông có dịp làm quen với các nhà văn Nga Tourneguiev, Tchekov, Tolstoi, Dostoievski… giúp ông mở rộng chân trời hiểu biết. Với một môi trường sinh hoạt  văn học thuận lợi như vậy, làm sao ông không cảm thấy nơi đây tâm hồn được mở hội như ông đã tâm sự với ta : « Phát hiện cả một thế giới nhà văn xa lạ, và có thì giờ để đọc, trong một thành phố như Paris nơi đó ta có thể sống và làm việc thuận lợi, dù nghèo, thật chẳng khác gì như khi ta được tặng cho một kho tàng vậy. » (Découvrir tout ce monde nouveau d’écrivains, et avoir du temps pour lire, dans une ville comme Paris où l’on pouvait bien vivre et bien travailler, même si l’on était pauvre, c’était comme si l’on vous avait fait don d’un tresor » (Sdd. Tr. 160). Phải chăng cái môi trường sinh hoạt văn hóa đặc thù đó, cái môi trường với những thú vui nho nhỏ làm nên hạnh phúc bình thường của đời sống thế gian đã quyến rũ Hemingway khiến ông muốn coi « Paris est une fête. » Thế nhưng cái môi trường với những nét sinh hoạt đặc thù ấy, tiêu biểu cho một phong cách sống, một nghệ thuật sống và, trong một chừng mực nào đó, ta có thể nói tiêu biểu cho nếp sống văn minh, lại bị quân khủng bố cuồng tín lên án là đồi trụy và tìm cách hủy diệt. Và, phải chăng vì muốn bảo tồn phong cách sống đó, nếp sống văn minh đó bà Danielle mới giương cao cuốn sách của Hemingway và khuyến khích ta tìm đọc.

Về phần tôi, sau khi được đọc « Paris est une fête », và mỗi lần đọc là một lần say mê thích thú, tôi rút thêm được bài học hữu ích về đọc sách như sau. Gặp một tác phẩm có giá trị, ta nên đọc với cặp mắt tìm tòi mới mẻ. Điều quan trọng là ta phải gạt bỏ mọi định kiến trong đầu nhất là những lời tán tụng phường chèo theo tập tục truyền thống « đồng hội, đồng phường áo thụng vái nhau ». Cho dù có gặp được những nhận định, đánh giá khách quan của giowsu hữu trách có uy tín, có thẩm quyền,  ta cũng chỉ nên coi những nhận định, đánh giá đó như những ánh đuốc hay bảng chỉ đường để ta biết đúng hướng mà theo. Còn thưởng ngoạn được cảnh đẹp trong cuộc du ngoạn ra sao là tùy ta có biết quan sát và phát hiện vẻ đẹp theo quan điểm thẩm mỹ của ta hay không. Sau cùng để kết thúc bài viết này, tôi xin được thêm thắt đôi hàng như sau. Từ bao lâu, Paris vẫn được coi là một trong những thành phố thu hút được đông đảo khách du lịch trên thế giới. Ngay giờ này, dù bị nạn khủng bố đe dọa, vẫn không thiếu khách từ bốn phương kéo đến, mà mục đích của đa số thường là để được một mình « tự sướng » hay để hai dứa được « « cùng sướng » (selfies) trước tháp Eiffel, hay trên đại lộ Champs-Elysées. Nhưng đến Paris để được sướng chỉ có vậy, chẳng mấy chốc không ít người sẽ vội gửi SMS về cho người yêu đại ý nhắn nhủ rằng : « Paris chẳng có gì lạ đâu em. Mai mốt anh về em ráng hãy còn ngoan… ». Nhưng nếu chịu khó tách thoát ra khỏi ảnh hưởng của những lời quảng cáo du lịch hay lời mách bảo, chỉ dãn của bạn bè để đôi lúc đi lạc vào một con phố hay một khu phố lịch sử nào đó, họ có cơ may phát hiện được một Paris khác lạ với những nét duyên dáng đặc thù cố hữu. Và họ sẽ có cơ hội chiêm nghiệm lời Hemingway muốn nhắn nhủ cùng ta : « Không hề có hồi chung cuộc với Paris và những ai đã sống tại đó đều giữ lại cho mình kỷ niệm riêng… Paris rất đáng để ta đặt chân tới và Paris sẵn lòng đãi ngộ những ai biết tìm đến với Paris » (Il n’y a jamais de fin à Paris et le souvenir qu’en gardent tous ceux qui y ont vécu diffère d’une personne à l’autre… Paris valait toujours le déplacement et on recevait toujours quelque chose de ce qu’on lui donnait ». Sđd. Tr . 345).

 

.Viết xong ngày 16 – 9 – 2016
NGUYỄN  BẢO  HƯNG

Chủ đề : CHÈO

Tranh Bùi Suối Hoa

9a

Afternoon

 

Đi ra từ mộng

nghĩ đến em

gặp nhóm du học sinh

người việt

cho bọn họ biết- tôi

cũng người việt nam

bọn họ liền quây lại

 

thành vòng tròn

nêu một lô các câu hỏi

đặt tôi vào các tình huống- xem ra

đều

dở khóc dở cười

 

tỉ như: sau chiến tranh- việc chung

đụng

thể xác đàn bà với tôi có gặp trở ngại/ có bị ảnh hưởng

bởi chất độc da cam/ có hiểu mình nói

và muốn gì/ có thường mớ

và nói lảm nhảm

khi một mình

 

có hay gặp ác mộng/ thấy bị giết

tróc/ bị truy đuổi

trong tai có thường xuyên nghe bom rơi

đạn nổ/ có vướng tâm thần

 

trước các câu hỏi

như thế- chỉ còn biết nói- vâng

tôi lấy vợ nhiều lần/ hiện tại

thì sống độc thân

 

nói về tình yêu

chả biết sao gặp tuyền xui

rủi

dẫn tới thất bại

dù khi đấy đang đem lòng nghĩ/ tưởng

– ai đấy (!)

 

còn câu hỏi nữa- không hiểu

sao

bọn họ cứ lặp đi lặp lại- rằng

tôi có chắc chắn là đã giấn thân vào cuộc chiến (!)

 

điều đó khiến

chia tay bọn họ

tôi gọi gã bác sĩ chuyên về tâm lí

ngay lập tức

gã xếp đặt cuộc hẹn cho tôi

vào

buổi trưa sắp tới!

..

vương ngọc minh.

 

 

 

Tôi Đang nghĩ về Khoảng Ấu thời Không Ứa Nước Mắt

 

tặng nguyễn thị minh ngọc.

 

thời giờ

chúng ta không nhiều

chúng ta không Có thời giờ/ cuộc đời

chúng ta hãy nên nghĩ ra một vở kịch

Nghiêm túc cũng được

cà chớn cũng được (bởi kịch bao giờ bi

hài

cũng lẫn Trong đấy)

 

và đừng đóng bất kì vai nào

trong vở

Bởi thời gian- chả đợi ai

chúng ta nên Kín đáo thay đổi các bối cảnh xảy

diễn

nơi các đoạn thoại về sống

chết/ cơm áo gạo tiền

 

liên tục càng tốt

Buộc bọn đạo diễn ra sức cho tập

dợt

Ráo riết- không để hở khoảng khắc

nào/ hòng bọn họ kịp đi câu cá- okay

Tôi hy sinh

 

vào sắm một vai vừa phản diện

vừa Chính diện- yeah- chịu

đầu tắt mặt tối

diễn trực diện Với khoảng trống

trước hư vô

 

cười

khóc

với hết thảy

Các con gián trong bóng tối

 

Là người đàn ông tinh tường

mỗi một sự vật

Việc

đầy lãng mạn

Tôi dẹp bỏ mọi khoảng cách giữa thực

giả

 

dung hòa

để Có lúc nắm

giữ

hết thảy các vai diễn

thậm chí (thi thoảng!) đóng- cái bàn thấp

trên mặt bàn

là tấm lưng/ đặt lọ hoa hướng dương

tượng trưng Đời

 

để thiên hạ

ngắm

uống trà sữa- nóng- nghe nhạc tiền chiến

(họ tuyệt đối chả nghe nhạc bob marley!) quái

 

Thơ- thường tự mãn

Đến đây

mọi người khắc đã biết nội dung vở kịch

ai không biết

Nội dung vở kịch

tôi muốn tiết lộ một chút

 

– bản thân

tướng/ hình/ cử chỉ

Không hề suy xiểng (thay đổi!)

còn chữ từ lời mỗi lần

thốt

tuyệt đối không sửa chữa

 

khi rời vở kịch

tôi sống Hoàn toàn chẳng dính dáng nhà thờ

chùa/ miếu mạo

Thần- thánh

tượng (đế!)

Hoặc cái mẹ gì đấy- đơn thuần theo thời gian

 

rồi chết!

..

vương ngọc minh.

64

KIẾP TRẦN ĐÃ TRẢ BAO NHIÊU KHÓC CƯỜI

 

Chiều hoang chạm đến chân ngày
Heo may về ngõ lưng tay che buồn
Mắt vờ hé mộng chưa tuôn
Ngõ về đã quyện cơn buồn ngất say
Sầu đi sầu những hao gầy
Thoắt trông thôi đã như mây ngang trời
Tình đâu tình đã chạm môi
Khóc người khóc cạn riêng thôi đã tàn

Tuổi đeo mang những mộng vàng
Tài xanh tóc rẫy đa mang nửa đời
Cửa về lấp lối tả tơi
Tìm gì tìm đến một đời chưa xong
Buông thôi lòng cũng như lòng
Trải ra những trận say trong tỉnh ngoài
Hoá công đâu tiếc trần ai
Trao về tài sắc thì hoài đa đoan
Chàng Kim kia tiếc phụng loan
Cũng đành ngùi ngậm đưa tang nàng Kiều
Số thôi số lắm cô liêu
Dù không quay mặt bước liều cũng qua
Chiều nay chiều vẫn chiều tà
Gom vàng lá đổ cả ba thu về
Có đâu tiếc nỗi điên mê
Trả về một trận chán chê khóc cười …

Chiêu Anh Nguyễn
9-2016

10


1.Lối thoát

 

Tôi sẽ chỉ cho bạn về lối thoát bí mật
Tôi đã cất giấu trong mùa hè
Nơi khu vườn của ngoại tôi, dưới gốc cây trứng gà
Những mùa hè êm đềm mắt nhung trong những chậu cây thược dược đỏ
Và những buổi sáng sương rưng rưng
Tôi rất nhớ những câu chuyện của ông lão mù hát rong
đã bị lấp vào ở đó
Theo gót chàng Asin tôi thở
Có cô bé cười giữa chấp chới gươm đao
Bầu trời lúc ấy có nhiều sao lắm là sao
Một ngôi sao ước
Một ngôi sao mơ
Một ngôi sao sợ
Một ngôi sao hãi
Một ngôi sao rụng
Một ngôi sao rời
Một ngôi sao rong chơi
Một ngôi sao thích đọc thần thoại rồi vụt sáng cười ngô nghê đến lạ
Rồi mất hút dưới gốc cây trứng cá

Bầu trời hôm nay không sao
Tôi sẽ chỉ cho bạn về lối thoát bí mật
Tôi đã cất giấu trong mùa hè

 

2.Chạm vào bóng tối

Xin em đừng chạm vào
Lời của ánh trăng kia yếu đuối
Giấc mơ đã ngủ trên võng nhện
Dài một thế kỷ chênh vênh

Xin em đừng chạm vào
Đôi tai của lão nghệ sỹ mù
Đang nuốt trọn khúc âm dương
Từ lời sương mù đang lắng
Từ lời Hải Hạc sầu bi

Xin em đừng
Chạm vào ngõ ngách phân ly
Lời tôi khô như mái ngói
liệt từng lớp đau thương
Xin em
Chạm vào mắt nhung
Vuốt giùm nỗi buồn tôi lần cuối
Xin em chạm vào bóng tối
Để hát
Vài lời bồng bềnh từ mái tóc khô

Xin em chạm vào bóng tối
Hát tôi nghe
Về giấc mơ của loài hoa hiên rực vàng đầy ngõ
Tôi làm sao nghe được
Tôi làm sao nuốt được
Như lão nghệ sỹ mù kia?
Tôi nghe rổn rảng
Khúc âm dương vỡ trên mái ngói
Trăng vỡ trên mái ngói
Giấc mơ hoa hiên vỡ trên mái ngói
Tôi rổn rảng
Rơi
Trên thế kỷ dài dài mắc nhện

 

3.Sự im lặng

Người đang truy điệu sự im lặng
của thế giới tôi
một bông hoa đang khát
không thể cất lên tiếng nói
người có truy điệu thế giới tôi
nhớ leo lên từng bậc tam cấp
ngước nhìn thế giới tôi
trước khi sự im lặng ngã màu

Có điều gì đó đang truy điệu
sự im lặng đang truy điệu tôi
tôi đang truy điệu sự sợ hãi
trước khi sự sợ hãi ngã màu
như củ khoai tây vừa gọt trong nhà bếp

Sự im lặng đang chảy ra từ ô cửa nhỏ
sự im lặng chảy ra từ những cái chuồng có những song chắn nhỏ
tôi không cấm được nụ cười
tôi không cấm được nước mắt
sao người truy điệu sự im lặng của tôi?

 

4.Thi sỹ

Khi nỗi cô độc đã không còn thú vị
đêm nay
sự cuồng nhiệt không còn treo trên ngọn trăng lạnh buốt
đêm nhấm nháp nhau
đuổi từng nỗi buồn chạy trốn
gã thi sỹ thôi không làm thơ
gã thi sỹ thôi không mộng mơ
duỗi dài bàn tay từng níu vào chợ tình mê điếng
bàn tay tê điếng
gã thi sỹ thôi không làm biếng
duỗi/co, co/duỗi từng con chữ từng dùng tán gái
ngày thi sỹ vật vờ ngủ ngái

Khi nỗi cô độc đã không còn thú vị
đêm nay
sự cuồng nhiệt không còn treo trên ngọn trăng lạnh buốt
gã thi sỹ thôi không còn nhìn đời dưới ánh trăng nghiêng nghiêng
gã thích thú song hành cùng đêm tối

Khi đêm tan chảy vào vạt áo gã điên
gã nhầm tưởng hạt sương rơi vỡ
gã níu vào đêm
hỏi phiên chợ tình được bắt đầu từ bao giờ
nơi ấy bây giờ có nhiều ánh mắt trẻ thơ
ánh trăng thôi không còn nghiêng nghiêng
gã thích thú song hành cùng với đêm tối

Như chiều nay gã đã không còn chờ đợi ánh trăng nằm nghiêng nghiêng
gã song hành cùng với đêm tối

 

5.Niềm tin

Khi bạn nói với tôi về niềm tin
Có thể điều đó được phát ra bằng thứ thanh âm của chiếc lưỡi
Một chiếc lưỡi làm bằng lý thuyết dẻo như mủ cao su đã được nấu lại
Những niềm tin đàn hồi

Tôi cũng thường nói với tôi về niềm tin
Trên chiếc lưỡi cứng như tấm tôn cắt vào thân cây cao su
Và mỗi đêm chiếc lưỡi chảy
Từng giọt lý thuyết sền sệt như thứ mủ trắng chưa kịp đông lại
Từng niềm tin đông cứng

Có thể bạn từng cho tôi niềm tin
Bằng những thanh âm trên chiếc lưỡi thật mềm
Có thể một ngày chiếc lưỡi biến dạng thành chiếc xẻng
Xúc niềm tin tôi mai táng
Nên khi tôi nói được với bạn về niềm tin
Là lúc chiếc lưỡi của tôi sẽ được đào lên từ nấm mộ

 

 

Nguyễn Hoàng Anh Thư

hainua

5c38cff23a669186a083cac69a8fa69b

Không ai đấu tranh cho ta được!

 

 

“Aide-toi, le ciel t’aidera!”

 

 

            Vụ cá chết ở bốn tỉnh miền Trung tạo nên một không khí đấu tranh ở hải ngoại rất xôm tụ: Hô hào, biểu tình, hội thảo, và cả… lạc quyên, như thường lệ.

 

            Ở trong nước cũng vậy, cũng đấu tranh, biểu tình, đá đảo (chính quyền) và cả thắp nến cầu nguyện, dĩ nhiên là ở các nhà thờ. Có khi người ta hát lại bài hát cũ, nghe cũng đã lắm lần, từ khi chiến tranh Pháp-Việt mới bắt đầu, mãi đến nay, tình hình đất nước càng tệ hơn xưa: “Mẹ ơi! Đoái thương cho nước Việt Nam.”

 

Tôi cũng có hát câu ấy và cũng cầu nguyện Chúa Mẹ, khi tôi là học sinh tiểu học trường Tê-Rê-Xa.

 

Tôn giáo cũng không thể đứng ngoài chính trị được, khi đất nước LÂM NGUY. Phải nói lại cho rõ, nói thiệt, không phải ngoài miệng, tuyên truyền… rằng: “Đất nước lâm nguy”.

 

Dĩ nhiên, bên cạnh những hoạt động ấy, có chính nghĩa, và cũng không thiếu hậu ý. Bỏ qua chuyện đó đi.

 

 

Vài nhận xét của bản thân

            Tôi sinh ra và lớn lên ở Miền Trung. Các làng ven biển, từ Cửa Tùng Luật, cửa sông Bến Hải (Hai) cho đến Cầu Hai, Nước Ngọt, Lăng Cô, tôi đã đi khắp. Nhận xét chung, không chỉ là nghèo, mà phải nói thẳng ra rằng: Quá Nghèo.

 

            Nói chi xa, độc giả nghe qua vài bài hát của Phạm Duy hay Phạm Đình Chương cũng thấy rõ, tôi nhờ mấy ông nhạc sĩ đó, chứng minh nhận xét của tôi.

 

                        “Quê hương tôi nghèo lắm ai ơi!

                        Mùa Đông thiếu áo,

                        Mùa hè thiếu ăn!

(Tiếng Sông Hương, Phạm Đình Chương)

 

                        Có những ông già rách vai,

                        Cuốc đất bên đàn trẻ gầy,

                        Vui vì nồi cơm ngô đầy!

(Quê nghèo – Phạm Duy)

 

 

            Tại sao họ nghèo vậy?

            Rất đơn giản: Không có nguồn lợi, ngoại trừ cá biển, hay nói rõ hơn: Sống nhờ biển, không có biển thì chết.

 

            Hầu hết nghèo nên không có tiền đóng thuyền lớn để đánh cá ngoài khơi xa được. Thuyền nhỏ, đánh bắt cào lưới cá gần bờ, hoặc câu, cào nghêu sò, ốc, hến gần bờ.

 

            Nguồn lợi nầy chỉ có trong mùa hè, trời tốt, biển không động. Đến mùa gió bão, không đi biển được thì vay mượn mà sống qua ngày, chờ mùa sau kiếm được, sẽ trả nợ.

 

            Đi dọc bờ biển, độc giả chỉ gặp những ngôi nhà tranh nhỏ, xơ xác vì gió bão. Cơm gạo thiếu. Ngay những “ngày mùa”, nhiều khi cũng phải ăn độn (khoai lang – trồng ở các bãi cát bên cạnh biển), nói chi tới mùa đông, làm gì có cơm mà ăn.

 

            Từ những cái nghèo đó, nhiều làng có “truyền thống”.

 

“Truyền thống” làm con ở, đi ở đợ. Từ của Thuận An tới cửa Tư Hiền, dọc theo bờ biển, một bên là Biển Đông, một bên là Đầm Phú Thứ, nói chung, làng nào cũng có cho con gái lên ở đợ trên Huế. Làng Mỹ Lợi, gần cửa Tư Hiền, đất hơi cao, một thời, thời xưa kia, kinh tế phát triển: Trồng cau, nuôi tằm… Sau khi Tây đô hộ, nghe nuôi tằm chết dần, vì không cạnh tranh được với hàng Tây, hàng Ấn Độ. Nghề trồng cau cũng chết dần, vì người ta càng ngày càng “văn minh”, cau trầu trong các việc cưới hỏi cũng giảm dần, ít người ăn; người ta đặt trong sính lễ, cũng chỉ chiếu lệ.

 

Dọc theo bờ biển Quảng Trị, từ Cửa Tùng, qua các làng Cát Sơn, Thủy Bạn, tới Gia Độ, Tường Vân, vô tới Gia Đẳng, Chợ Cạn, Liên Chiểu, Đồng Bào, Phuơng Lang, Cổ Lụy, Mỹ Thủy… làng nào cũng như làng nào, nghèo “mạt rệp” (Nói như vậy, không phải để mà cười, để mà thương đấy!).

 

Làng Gia Đẳng, đầu Phá Tam Giang là làng “truyền thống” nhứt trong các làng biển, vì là làng nghèo nhứt trong các làng nghèo. Nhiều chị ở, con ở cho các nhà khá giả ở thị xã Quảng Trị, là từ “làng truyền thống” nầy mà ra!

 

Không có ai giàu sao?

Có chứ! Mà lại giàu to nữa. Đó làng Gia Đẳng, làng của gia đình Đại Tướng Việt Cộng Đoàn Khuê.

 

Nghề của cha mẹ ông Đại Tướng Đoàn Khuê, nói nôm na là nghề “đầu nậu”. Đó là nghề cho vay “cắt cổ”. Người nghèo càng ngặt thì cái thòng lọng của bố mẹ ông Đại Tướng Đoàn Khuê thắt vào cổ dân nhèo càng chặt. Nói gọn lại là “Càng ngặt thì càng chặt”.

 

Khi mùa mưa gió tới, biển động, không đánh bắt cá tôm sò ốc gì được, muốn khỏi chết đói, tới vay ở nhà bố mẹ ông Đại Tướng Đoàn Khuê.

 

Vay! Hẹn tới mùa biển êm, đánh cá được, sẽ trả.

Cách vay như thế, bây giờ ở Việt Nam gọi là vay nóng.

Vay nóng lời cao lắm. Vốn cọng với lời thành vốn, lải mẹ đẻ lải con. Trả không nỗi.

 

Đó là chưa kể tới khi có quan hôn tang tế.

 

Thành ra, bố mẹ ông Đại Tướng Đoàn Khuê, càng ngày càng giàu thêm, cho con lên học trường tỉnh, vô học ở Huế, lại mở thêm tiệm cầm đồ, giặt ủi… Thành ra, anh em ông Đoàn Khuê, tên thật là Trần Bá Khuê và ông em là Trần Bá Mại (Đoàn Mại), không i-tờ đâu. Có học đấy, nhưng chưa quá cấp hai (kể theo bây giờ).

 

Nói chung, những tác phẩm như Nằm Vạ (Bùi Hiển), Nhà Quê (Ngọc Giao), Nhà Nghèo (Tô Hoài), Sống Mòn (Nam Cao),… đều có nói tới cái nghèo nầy, của dân quê, và dân biển…

 

Nghèo quá, thường phải ở đợ!

Thời chiến tranh Đông Dương Lần thứ hai (1960-75). Lính Mỹ tới Việt Nam nhiều, quán ba mọc ra như nấm, quanh các căn cứ Mỹ. Cô nào không muốn ở đợ, thì đi bán Bar, làm đĩ Mỹ.

 

Thấy cảnh “các em” đi bán Bar, đi làm đĩ, nhạc sĩ  Trần Quang Lộc, quê ở Quảng Trị động lòng kêu gọi

 

Về Đây Nghe Em

 

Về đây nghe em, về đây nghe em
Về đây mặc áo the, đi guốc mộc
Kể chuyện tình bằng lời ca dao
Kể chuyện tình bằng hạt lúa mới

Kể chuyện tình bằng nồi ngô khoai
Và về đây nghe lại tiếng xưa
Để nhớ trong tiếng vỡ bờ

 

 

 

 

Bây giờ

            Trong vụ cá chết nầy, người ta thấy có hai thành phần dân chúng khác nhau.

 

            Một là nạn nhân, tức là “người dân biển”, kể suốt bốn tỉnh miền Trung là Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên. Họ là những người chịu tai họa trực tiếp, nghĩa là họ trực tiếp bị mất nguồn sống, nói cho rõ như thế, nói quyền lợi còn mơ hồ.

 

            Trước kia, dù sống dưới chế độ Cộng Sản Bắc Việt (Hà Tĩnh, Quảng bình) hay dưới chế độ Cộng Hòa Miền Nam, không chế độ nào cho họ đủ ăn hơn, đủ ăn thôi, không nói chi tới khá giả, giàu có. Dĩ nhiên, nghèo là không nói chi tới những người có chức có quyền, người ở địa phương họ, hay người do nhà cầm quyền cắt đặt tới.

 

            Bây giờ thì không những khổ, mà cùng khổ, là cái khổ đã tới đường cùng, là “bán vợ, đợ con”, một sự kiện đã có từ ngàn xưa, và đã đi vào tục ngữ.

 

            Trước cái cùng đó, liệu họ có thoát được không? Thoát bằng cách nào?

 

            Hai là từ “tha” nhân

            -Nhờ vào tiền bồi thường 500 triệu. Vô ích, 500 triệu đã không đủ làm cho họ qua khỏi cơn cùng cực. Ấy là chưa nói tới những “tiêu cực” trong số tiền ấy.

 

            -Nhờ vào trợ cấp của chính quyền Hà Nội. Buồn cười! Chuyện “tào lao”. “Mấy đời bánh đúc có xương, Mấy đời Cọng Sản mà thương dân nghèo.

 

            -Nhờ vào trợ cấp của hải ngoại! Chính phủ Hoa Kỳ, chính phủ các nước Tự Do. Muối bỏ biển. Không hiệu quả bao nhiêu!

 

            -Nhờ vào “Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại”.

Hội cứu trợ Thương Phế Binh, mỗi năm kiếm khoảng một triệu gởi về, cũng mới chỉ là “chút quà cho quê hương.”

 

            Vậy thì nhờ ai?

 

            Không thể nhờ ai hết, họ phải tự cứu lấy họ. Họ phải tìm đường biến, như người xưa đã nói: Cùng tắc biến.

 

            Họ phải tự đấu tranh cho họ, bằng nhiều phương cách, mà cách trước nhứt là Kết hợp, Đoàn Kết.

 

            Đoàn Kết, nghe hoài cũng chán, nhưng người ta phải làm, bằng cách, muốn tranh đấu giành quyền sống, họ phải tự động thành lập, tại mỗi ấp, mỗi xóm, mỗi khu… thành một “Tổ chức Nhạn Nhân Formosa”

 

            Đó là “hạ tầng cơ sở” của “Tổ Chức Nạn Nhân Formosa”

 

            Nhiều “Tổ” của xóm, ấp, tiến lên cấp xã là “Toán” hay “Đội”, lên cấp “huyện” là “Đoàn”, Tỉnh là cấp Liên Đoàn, toàn thể bốn Tỉnh là “Tổng Đoàn”.

 

            Trong một hệ thống tổ chức như vậy, họ có trưởng, phó, có bàn bạc, có “tham mưu”.

 

            Cán bộ!

            Bất cứ tổ chức nào cũng phải có cán bộ!

            Cán bộ từ đâu ra?

 

            -Kinh nghiệm của Công Đoàn Đoàn Kết của Ba Lan.

            Cán bộ từ trong công nhân mà ra. Ngay chính Chủ Tịch Công Đoàn Đoàn Kết, Lech Walesa gốc là thợ điện và gốc của Công Đoàn Đoàn Kết là những công nhân đóng tàu tại Gdansk.

 

            Nên lấy kinh nghiệm đấu tranh của Công Đoàn Đoàn Kết.

 

            Hoàn cảnh địa lý và lịch sử của Ba Lan với Liên xô (tên cũ), so với Việt Nam có nhiều điểm giống nhau.

 

            Một nước nhỏ bên cạnh một nước lớn, không bao giờ thoát khỏi hiểm họa bị nước lớn xâm lăng. Dân chúng Ba Lan phải luôn luôn  chống lại sự dòm ngó và xâm lăng của nước Nga (về sau là Liên Xô), cũng như dân chúng Việt Nam đối với Tầu vậy. Tầu phong kiến, Tầu Tưởng hay Tầu Cộng Sản, bất cứ lúc nào cũng vậy thôi!

 

            Khi Liên Xô chưa sụp đổ, họ dựng lên một chính phủ tay sai ở đây, do đại tướng Wojciech Jaruzelski cầm đầu.

 

Công Đoàn Đoàn Kết, với chính nghĩa và sức mạnh của chính họ, và của Nhà Thờ cộng thêm với sự hỗ trợ của người Ba Lan hải ngoại, và với sự ủng hộ của giáo Hoàng Jean Paul II (người Ba Lan) và Tổng Thống Mỹ Ronald Reagan, họ đứng lên tranh đấu và thành công. Chiến thắng đó, nói như báo chí thời bấy giờ là “một nhát dao đâm trúng trái tim của Thế Giới Cộng Sản, làm cho Liên Xô sụp đổ, kéo theo sự sụp đổ của các nước Đông Âu và Trung Á.

 

            Dân chúng Ba Lan không sợ Liên Xô.

            Dân chúng Việt Nam có sợ Tầu Cộng không?

 

            Chính quyền Ba Lan không sợ chính quyền Liên Xô!

            Chính quyền Cộng Sản Hà Nội có sợ Tầu Cộng không?

 

            Không sợ nên giành được độc lập. Đó là trường hợp Ba Lan.

            Vì sợ nên phải làm theo những gì Tầu Cộng yêu cầu, sai bảo. Có phải đó là tính chất của Chính Quyền Cộng Sản Hà Nội?

 

            Người Tầu không đáng sợ!

            Nhà văn Lỗ Tấn, người Tầu, nhận xét với người Tầu như sau: “Quỷ quyệt như hồ ly, tàn ác như sư tử, nhát gan như thỏ đế.”

Nhát gan như thỏ đế là đúng. Mấy chú Ba ở Chợ Lớn, xưa cũng như nay, có bao giờ, có ai cam đảm đâu!

 

Trong vụ Formosa, nếu có vài ba anh Tầu bị người Việt nổi giận giết chết thì toàn bộ Tầu ở Formosa chạy hết. Không cần yêu cầu, ra lệnh, Formosa cũng đóng cửa.

 

            -Với Việt Nam, kinh nghiệm từ Cách Mạng Tháng Tám.

            Trước “cách mạng Tháng Tám”, nông dân ta biết gì? Sở dĩ tôi nói nông dân vì hơn 80% người Việt Nam hồi bấy giờ sống bằng nghề nông.

 

            Trong môt truyện ngắn, tác giả truyện ngắn kể: Một anh nông dân đi với vợ mới cưới. Giữa đường gặp tên “lính lệ”, lính bồi lính bếp, kéo xe cho quan, ỷ thế vô ra dinh quan, chọc ghẹo vợ anh ta, vậy mà anh ta không dám chống đối, cúi mặt làm thinh.

 

            Vậy mà trong “Cách mạng Tháng Tám”, chính họ là thành phần đông đảo trong những người cầm gậy gộc, giáo mác đi “cướp chính quyền.”

 

            Cái gì thúc đẩy họ?

            Ai thúc đẩy họ.

 

            Không có cái gì hết. Vì dốt nát, vì thói quen, họ chịu sự bóc lột của giai cấp thống trị, bọn quan lại và bọn thực dân, như là một sự đương nhiên, bình thường. Tâm, “Cô Hàng Xén” trong truyện ngắn của Thạch Lam, buôn bán tần tảo, gian khổ để có tiền đóng sưu đóng thuế (thuế thân) cho chồng. Cô Tâm than đời sống vất vả, gian nan, nhưng không có ý tưởng nào về sự bóc lột, về giai cấp thống trị, về mất nước, về “độc lập”.

 

            Những “chị ở” cho gia đình tôi, quê ở làng Gia Đẳng, biết gì về đấu tranh, nhưng về sau, trong chiến tranh Việt – Pháp, có chị ấy là du kích, phục kích, đánh Tây rất gan dạ.

 

            Ai đã làm thay đổi quan điểm, cuộc đời của họ, cuộc đời của những người thuộc giai cấp vô sản?

 

            Chính là giai cấp tiểu tư sản.

            Giai cấp tiểu tư sản, có học hành nhiều hay ít, chính họ mới biết thế nào là Thực dân, thế nào là xâm lăng, thế nào là bóc lột, thế nào là “sưu cao thuế nặng”, thế nào là vong quốc, thế nào là độc lập.

 

            Từ hiểu biết đó, về thân phận của họ, về dân tộc Việt Nam, chính họ đã đứng lên, kêu gọi nông dân, thợ thuyền đứng lên, “cướp chính quyền” năm 1945.

 

            Lấy Huế làm ví dụ.

 

            Trước 1945, Huế có nhiều phong trào.

 

Một là “phong trào hướng đạo”, đặc biệt có “Tráng Đoàn Lam Sơn” gồm những người đã trưởng thành, tốt nghiệp đại học, cao đẳng, tú tài, trung học…

 

             Thưứ  đến là  “Phong trào Thanh niên Tiền phong”. Phong trào nầy khởi đầu từ trong Nam, phát triển ra tới Huế, và là “lực lượng chính” của Bộ Trưởng Thanh Niên Phan Anh, trong chính phủ Trần Trọng Kim. Phong trào nầy là lực lượng chính, họ về các làng quê quanh cố đô Huế, vận động nông dân, thanh niên lên Huế tham gia biểu tình, cướp chính quyên. Theo ông Lê Xuân Nhuận, một thanh niên đầy nhiệt huyết thời kỳ ấy nhận xét, thì Bộ Trưởng Phan Anh đã “dọn một mâm cổ cho Cộng Sản vào xơi.”

 

            Tài liệu Cộng Sản ca ngợi Tố Hữu, năm 1945, ông mới hai mươi tuổi, lãnh tụ Cộng Sản ở Huế, đã “lãnh đạo” cuộc biểu tình, cướp chính quyền ở Huế, đe dọa để vua Bảo Đại sợ mà thoái vị. Nói như thế, chỉ là “cướp công Cách Mạng” của thanh niên Huế đấy. (1)

 

            Phong trào Thanh Niên Quốc Anh!

 

            Ngay trước ngày “Việt Minh cướp chính quyền” ở Huế, Cao Phan (không rõ về sau ra sao!), và Đặng Văn Việt, người được báo chí Pháp gọi là “Con Hùm Xám đường số 4”, người chỉ huy trận đáng Cao Bắc Lạng, mở đầu cho các chiến thắng của lực lượng Việt Minh về sau, chính hai người nầy, đã “treo cờ Việt Minh” tại cửa Ngọ môn.

 

            Cũng chính ở Huế, kỳ thi tú tài (Bộ trưởng Giáo Dục Hoàng Xuân Hãn của chính phủ Trần Trọng Kim, cho ghép Tú Tài 1 và 2 thi chung, ngưòi Huế thường gọi “Tú Tài ân khoa”), kỳ 2, tháng 8 năm 1945, thí sinh Huế, đang thi, bèn bỏ thi, nộp giấy trắng, cùng hát bài xếp bút nghiên (Xếp bút nghiên theo việc đao cung), tình nguyện “đi Nam Bộ Kháng Chiến” vì Pháp lăm le trở lại xâm lăng nước ta.

 

            Cũng xin nhắc một điều. Sau trận Trân Châu Cảng, Nhật đem quân chiếm đóng nhiều nơi ở Đông Nam Á. Họ đến Việt Nam với chiêu bài “Đại Đông Á”. Cùng với Phong trào Duy Tân, Phong Trào Đông Du và châm ngôn “Châu Á của người Á Châu”, nhiều người Việt Nam, tôn giáo và đoàn thể… có khuynh hướng thân Nhật. Đó cũng là một ngọn lửa làm bùng lên phong trào Cách Mạng Việt Nam.

 

            Đấu tranh là phải có lý tưởng, có tổ chức, có cán bộ. Đây là vấn đề cần có sự phối hợp giữa những ngưòi là “Nạn Nhân Formosa” với đồng bào trong nước, cùng với sự hỗ trợ của người Việt hải ngoại cũng như sự hỗ trợ của Thế Giới Tự Do.

 

            Trong viễn tượng đó, lực lượng chính là “Nạn nhân Formosa”; lực lượng hỗ trợ tích cực là Thanh niên, Sinh viên, Học sinh ở trong nước. Và các đoàn thể thanh thiếu niên các tôn giáo như Gia Đình Phât Tử, Công Giáo, Tin Lành, Hòa Hảo… Ở hải ngoại, ai có muốn dấn thân thì hãy về! Xin hoan hô.

 

            Cũng có thể có người cho rằng thanh niên trong nước bây giờ đã bị chính quyền làm băng hoại tinh thần, mất ý chí, chỉ biết làm giàu, hưởng thụ.

 

            Nói như thế, không hẳn sai, nhưng không hoàn toàn đúng.

 

            Khi cai trị nước ta, Thực Dân Pháp cũng xử dụng nhiều phương cách, thủ đoạn để lèo lái mục tiêu đấu tranh, làm băng hoại ý chí, lý tưởng thanh niên Việt Nam thời bấy giờ.

 

            Hơn thế nữa, Thực dân Pháp còn đầu độc thanh niên và người Việt Nam hồi ấy bằng rượu và thuốc phiện. Hai thứ nầy, người dân được xử dụng tự do, không bị nghiêm cấm, không bị truy tố. Thực dân giữ độc quyền việc mua bán để thủ lợi.

 

            Thời kỳ ấy, nhà nào có bàn đèn thuốc phiện, mới là nhà sang. Người nào biết hút thuốc phiện mới là người sang trọng, giàu có. Ngay cả những nhà giáo dục cũng hút thuốc phiện, ca ngợi thuốc phiện là “Phi Yến Thu Lâm”, có nghĩa là “Phiện thú lắm”.

 

Hoàng Long Hải

v2 

Siêu quyền lực và bầu cử Tổng Thống Mỹ

 

Lữ Giang

 

 

 

Trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm nay có rất nhiều chuyện lạ đã xảy ra. Chúng tôi đã viết hai bài nói về những chuyện lạ đó. Bài thứ nhất là “Đảng cử đảng bầu” phổ biến ngày 14.4.2016 và bài thứ hai là “Hoa Kỳ và biến loạn bầu cử” ngày 11.8.2016. Những gì chúng tôi tiên đoán đang đúng. Chúng tôi xin nhắc lại những câu quan trọng chúng tôi đã trích dẫn làm chủ đề cho sự tiên đoán:

Trong một lá thư gởi cho một cộng tác viên của mình đề ngày 21.11.1933, Tổng Thống Franklin Roosevelt đã viết:

Sự thật của vấn đề, như bạn đã biết, là yếu tố tài chánh trong các trung tâm rộng lớn đã làm chủ chính quyền của nước Mỹ kể từ thời Andrew Jackson.”

 

Huy hiệu của Siêu Quyền Lực Bilderberg Group.

Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện Liên Bang Felix Frankfurter đã từng nói:

Những người thật sự cai trị ở Washington là vô hình, và thực thi quyền hành từ sau hậu trường.”

Trong cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ năm 2000, chương trình Agenda của Mỹ ngày 28.10.2000 đã mở một cuộc phỏng vấn bình luận gia và nhà văn nổi tiếng Gore Vidal về cuộc tranh cử giữa Gore và Bush. Câu hỏi được đặt ra như sau: “Có cái gì khác biệt giữa Gore và Bush?” Gore Vidal đã phán những câu nẩy lửa như sau:

Ồ, chúng ta nắm chắc hệ thống chính trị của nước Mỹ trong 50 năm gần đây. Chúng ta có bầu cử nhưng không có quan điểm chính trị. Chúng ta có một đảng chính trị – ĐẢNG CÔNG TY MỸ QUỐC, MỘT ĐẢNG VỀ TÀI SẢN (We have one political party – the party of corporate America, the property party) – và đảng đó có hai nhánh. Một nhánh được gọi là Dân Chủ, một nhánh được gọi là Cộng Hòa. Vậy, chính yếu là cùng một người vừa tài trợ cho Gore vừa tài trợ cho Bush….”

Chúng tôi xin ghi thêm: Trong cuốn “Tragedy and Hope”, ông Carrol Quigley, Giáo sư Georgetown University, cũng đã khẳng định:

Lý luận rằng hai đảng đại diện cho những tư tưởng và chinh sách đối nghịch, một có thể là của Cánh Hữu và một của Cánh Tả, chỉ là một tư tưởng điên rồ, chỉ các nhà tư tưởng hàn lâm và giáo điều chấp nhận mà thôi! Thay vì thế, HAI ĐẢNG CHỈ LÀ MỘT. Vì thế người Mỹ có thể ‘ném bỏ bọn bất lương’ trong bất cứ cuộc bầu cử nào, mà không đưa đến bất cứ những sự thay đổi sâu sắc hay bao quát nào về chánh sách”.

Trên đây là những nhận xét của các nhân vật có thẩm quyến ở Mỹ. Thực tế đã chứng minh những điều họ nói là đúng.

KHI SIÊU QUYỀN LỰC RA TAY

Chuyện không ngờ là có rất nhiều “người Việt đấu tranh” rất thích ông Donald Trump do “bắt đúng tần số”. Có người đã nói với chúng tôi rằng phải có một người như Donald Trump mới “trị” được Cộng Sản và Trung Quốc. Obama hay Haillary Clinton quá yếu! Họ vẫn tin tưởng “chống cộng” là mục tiêu hàng đầu của thế giới ngày nay, nằm trên cả kinh tế, an ninh, quốc phòng, khủng bố, môi trường…! Họ cũng như ông Donald Trump đã lầm tưởng rằng Tổng Thống Mỹ là “đấng toàn năng”, muốn làm gì trên đất nước này thì làm!

 

Một cuộc họp của Bilderberg Group

Website chính thức của nhóm Siêu Quyền Lực Bilderberg Group tiết lộ rằng từ 11 đến 14.6.2015, 140 đại diện cao cấp của nhóm thuộc 22 quốc gia đã họp tại khách sạn Interalpen-Hotel Tyrol ở Telfs-Buchen, Áo quốc, để bàn về những vấn đề của thế giới trong năm 2016, trong đó có những vấn đề chính sau đây: Các vấn đề kinh tế hiện tại, chiến lược Châu Âu, toàn cầu hóa, Hy lạp, Iran, Trung Đông, NATO, Nga, khủng bố, Anh quốc, Hoa Kỳ, bầu cử Hoa Kỳ.

Trong bản tin ngày 8.6.2015 của InfoWars có đầu đề “Bilderberg Backs Hillary For 2016 Presidency” (Bilderberg ủng hộ Hillary ứng cử Tổng Thống năm 2016), ký giả Steve Watson cho biết tại cuộc họp nói trên, có bà Jim Messina thuộc nhóm Messina Group, cố vấn của bà Hillary Clinton tham dự. Bà cũng là người đã đứng đầu trong cuộc vận động tranh cử cho Tổng Thống Obama 2012. Vào năm 2008, Bilderberg Group cũng đã từng bí mật gặp ông Obama và bà Hillary Clinton tại Bắc Virginia và đã chọn ông Obama làm tổng thống Hoa Kỳ.

Bản tin nói rằng bà Hillary Clinton phát xuất từ giới ưu tú của Bilderberg, còn ông Clinton đã từng tham dự hội nghị Bilderberg tại Đức năm 1991 trước khi làm Tổng Thống Mỹ, và ông ta đã trở lại tham gia hội nghị này năm 1999 tại Sintra, Bồ Đào Nha. Còn bà Clinton được nói đã tham dự hội nghị Bilderberg vào năm 2006 tại Ottawa, Canada.

Như vậy cả ông lẫn bà Clinton đều là thành viên ưu tú của tổ chức Siêu Quyền Lực Bilderberg Group.

BILDERBERS GROUP LÀ TỔ CHỨC NÀO?

Những người quen suy nghĩ và hành động theo cảm tính thường RẤT SỢ SỰ THẬT và nghe ai nói gì khác với điều mình muốn đểu cho là “đồ dỏm”. Nhưng với Bilderberg Group, không thể nói là “đồ dỏm” được.  Chỉ cần vào Google đánh chữ Bilderberg Group là thấy hàng trăm bài và tin tức nói về tổ chức Bilderberg Group. Sách viết về tổ chức này cũng quá nhiều.

Nhưng đây là một tổ chức bí mật, hoạt động theo kiểu “xã hội đen”, giống bang hội của Tàu, nên khó có nhà nghiên cứu nào dám nói là đã nắm vững cơ cấu và hoạt động của tổ chức này. Tất cả chỉ là những nỗ lực khám phá và tìm hiểu.

Nói một cách tổng quát, Bilderberg Group, hay hội nghị Bilderberg, hay các cuộc họp Bilderberg, hay Bilderberg Club là một hội nghị riêng tư hàng năm gồm từ 120 đến 150 thành viên thuộc giới tinh hoa chính trị Châu Âu và Bắc Mỹ, các chuyên gia từ các ngành công nghiệp, tài chính, học viện, và các phương tiện truyền thông, được thành lập từ năm 1954.

Theo Andrew Kakabadse, Giáo sư về Quản trị và Lãnh đạo, mục tiêu ban đầu của nhóm là thúc đẩy Chủ nghĩa Đại Tây Dương (Atlanticism), tức chủ nghĩa đề cao tầm quan trọng của sự hợp tác giữa Châu Âu, Hoa Kỳ và Canada về chính trị, kinh tế và các vấn đề quốc phòng, chủ trương tăng cường quan hệ Mỹ – Châu Âu và ngăn chặn một cuộc chiến tranh thế giới khác phát triển. Chủ đề của Tập đoàn Bilderberg là “tăng cường sự đồng thuận xung quanh thị trường tự do giữa các nước tư bản Tây phương và các lợi ích của họ trên khắp thế giới“.

 

Một số khuôn mặt của các lãnh đạo Bilderberg Group

Hội nghi Bilderberg thứ 64 năm nay họp từ 9 đến 12.6.2016 tại Dresden ở Đức với chi phí lên đến 35.638.750 USD vì phải huy động hàng nghìn cảnh sát, quân đội và mật vụ Đức đến bảo vệ an ninh. Đề tài thảo luận gồm 9 vấn đề, trong đó có vấn đề Trung Quốc và các chế tài trừng phạt cần thiết, vấn đề Trung Đông… Vấn đề yểm trợ cho người sẽ làm tân Tổng Thống Mỹ trong cuộc bầu cử 2016 cũng đã được bàn đến.

DỰNG KỊCH BẢN BẦU TỔNG THỐNG

Ông George W. Bush năm 2000, ông Barack Obama năm 2008 hay bà Hillary Clinton năm nay không phải là những chính trị gia xuất sắc hay nổi bật, nhưng sở dĩ họ được Siêu Quyền Lực chọn vì biết những người này sẵn sàng và có khả năng thi hành những kế hoạch và đường lối đã được vạch sẵn. Trường hợp bà Hillary còn yếu hơn, nên nếu bà gặp một đối thủ khá xuất sắc, bà có thể bị đánh bại. Vậy muốn bà Hillary tiến đến địa vị được chọn, cần phải có một kế hoạch có hiêu quả.

Qua các diễn biến của cuộc tranh cử vừa qua và đang diễn tiến, chúng ta thấy có hai kịch bản đã được dàn dựng:

1.- Kịch bản thứ nhất: dùng du đãng đường phố để loại tất cả các đối thủ của bà Hillary.

Các nhà phân tích đều biết Donald Trump là một người mang bệnh cuồng vĩ (grandiose delusions), luôn tự coi mình là người vượt trội lên trên tất cả mọi người, nhưng lại thiếu văn hóa và thiếu hiểu biết về chính trị, nên chỉ cần thổi lên là ông ta sẽ coi trời bằng vung. Quả đúng như vậy. Ông ta đã dám tuyên bố: “Nếu tôi đứng giữa Đại lộ thứ năm (Fifth Avenue) và bắn ai đó thì tôi cũng sẽ không mất bất kỳ lá phiếu cử tri nào, okay?”.

Khi được đẩy ra tranh cử, ông ta đã xử dụng tối đa ngôn ngữ đường phố để tấn công các chính trị gia nổi tiếng của đảng Cộng Hòa nên họ phải bỏ chạy vì không muốn “dây với hủi”. Những người như Ted Cruz, Thượng Nghị Sĩ bang Texas; Jim Gilmore, Thống Đốc Virginia; John Kasich, Thống Đốc Ohio; Rand Paul, Thượng Nghị Sĩ bang Kentucky; Marco Rubio, Thượng Nghị Sĩ bang Florida…, nếu được đảng Cộng Hòa cử làm ứng cử viên tổng thống, bà Hillary khó thắng họ được. Nhưng Donald Trump đã cho tất cả “đi chỗ khác chơi”!

2.- Kịch bản thứ hai: đẩy cây cho Donald Trump tự bắn vào chân mình rồi quỵ xuống.

Donald Trump chẳng biết gì về chính trị, luật pháp, an ninh, tình báo… nên múa gậy vườn hoang. Nhà phân tích chính trị Tracy Sefl đã nói: “Ông ta không xử dụng bất cứ chiến lược căn bản nào khi tranh cử, ông ta làm theo cách của ông ấy, ông ta cũng chẳng cần phòng thủ.” Vì thế, phe đối thủ đã cho nội gián xâm nhập vào và gài bẫy hay cố vấn cho ông ta tự bắn vào chân mình.

Bà Meredith McIver, người viết diễn văn cho bà Melania, vợ của Donald Trungp, lại lấy nguyên văn một vài đoạn trong bài diễn văn của bà Michelle Obama bỏ vào cho bà Melania đọc. Khi bị tố là đạo văn thì bà ta giải thích lòng vòng. Trong một bản tin ngày 22.6.2016 phổ biến trên Prntly.com, ký giả Connor Balough cho biết một người trong nhóm Clinton đã tiết lộ những tài liệu gây xôn xao dư luận, trong đó nói rằng họ đang kiểm soát một số nhóm ủng hộ Donald Trump trên facebook và đang dò thám các thành viên của Trump để thu thập thông tin. Trong khi đó, sáng ngày 19.8.2016, ông Paul Manafort, Chủ tịch Ban Vận động Tranh cử của Donald Trump đã phải từ chức vì bị điều tra vụ nhận tiền của cựu Tổng thống Ukraine Viktor Yanukovych! Nói một cách tổng quát, trong bộ tham mưu của Donald Trump, khó mà biết được ai là “địch” và ai là “ta”.

Kịch bản thứ hai được mở đầu bằng những tượng Donald Trump hoàn toàn khỏa thân mang tên “Hoàng đế không có tinh hoàn” do nhóm INDECLINE trình bày tại New York, San Francisco, Los Angeles, Cleveland và Seattle. Ginger, người thiết kế bức tượng, cho biết ông muốn tạo ra một “vẻ ngoài khó ưa” cho ông Trump. Nhóm này cũng đã tung ra video mô tả quá trình tạo ra các bức tượng trên. Đây là chuyện chưa hề xảy ra đối với các cuộc bầu tổng thống trước đây. Những màn tiếp theo sẽ được trình diễn trong giai đoạn tới.

Người ta ước lượng số tiền tranh cử bà Hillary thu được sẽ gấp 10 lần của ông Donald Trump. Họ huy động cả một hệ thống truyền thông to lớn để lèo lái dư luận một cách tinh vi.

NẾU BÀ HILLARY ĐẮC CỬ?

Luật Hoa Kỳ cho phép phê phán các ứng cử viên một cách dễ dãi mà không bị truy tố về mạ lỵ phỉ báng (defamation), vì thế khi ra tranh cử, các ứng cử viên đều phải chấp nhận trò “chọi đá đường rầy xe lửa” từ bốn phía. Điều đáng quan tâm là những người it am hiểu về luật pháp, kể cả những người có tiến sĩ nọ hay tiến sĩ kia, thường lầm tưởng mọi lời tố cáo đều là bằng chứng của sự vi phạm pháp luật (evidence) nên bám lấy nó, và cuối cùng sẽ thất vọng.

Một câu hỏi được nhiều người đặt ra: Bà Hillary sẽ đưa nước Mỹ đi về đâu nếu bà đắc cử tổng thống?

Khẩu hiệu của ông Obama khi ra tranh cử năm 2008 là “CHANGE” (thay đổi), nhưng sau 8 năm cầm quyền ông ta chỉ làm được đạo luật Obamacare thay đổi chế độ ý tế của nước Mỹ, còn hiệp ước TPP để ngăn chận sự bành trước mậu dịch của Trung Quốc cho đến nay vẫn chưa được nước nào phê chuẩn. Nước Mỹ theo chế độ tam quyền phân lập chứ không phải như ở Thổ Nhĩ Kỳ hay Philippines, Tổng Thống muốn bắt ai thì bắt, bắn ai thì bắn. Ngoài ra, Tổng Thống Mỹ còn phải thực hiện các kế hoạch do các tổ chức quyền lực đứng đàng sau đã vạch sẵn.

Đọc bản Cương Lĩnh của đảng Dân Chủ biểu quyết hôm 27.7.2016, chúng ta thấy vị tổng thống kế tiếp sẽ tiếp tục thực hiện những kế hoạch căn bản của nước Mỹ mà ông Obama chưa hoàn tất và xúc tiến các kế hoạch mới đã được hoạch định.

Hội nghi Bilderberg năm 2008 tại Westfields Marriott hotel ở Chantilly, Virginia, từ ngày 05 đến 08.6.2008, đã cử ông Obama làm Tổng Thống Mỹ và giao cho tiếp tục thi hành kế hoạch “Một Trung Đông Mới” (New Middle East) được Tổng Thống Bush cho công bố ngày 17.8.2006, và chuyển từ “chiến lược can thiệp bằng quân sự” (military intervention strategy) qua “chiến lược chiến tranh ủy nhiệm” (proxy war strategy) để có thể bán được nhiều vũ khí hơn.

 

Tài liệu cho biết cả ông Obama lẫn bà Hillary có đến gặp một số nhân vật trong hội nghị nói trên, nhưng không phải gặp tại hội nghị mà gặp sau đó ở Northern Virginia. Bà Hillary trong nhiệm kỳ tới cũng chỉ là người nối tiếp công tác của ông Obama.

Nước Mỹ đã có 44 đời Tổng Tống, nhưng chỉ có hai Tổng Thống không do Siêu Quyền Lực chỉ định, đó là Tổng Thống Abraham Lincoln (1861-1865) và Tổng Thống Kennedy (1961- 1963). Cả hai đều đã bị ám sát chết. Chỗ nào dành cho Donald Trump “chống cộng”?

Mạnh Tử bảo: “Nhất ẩm nhất trác giai do tiền định, vạn sự phận dĩ định”, có nghĩa là từ cái ăn cái uống đều do Trời định trước, mọi việc đều đã được số phận an bài. Nhưng trong các cuộc “bầu cử dân chủ” Tổng Thống ở Mỹ, “tiền định” không phải là ông Trời mà là Siêu Quyền Lực!

 

 

Lữ Giang.
Ngày 25.8.2016

sad

GÕ CỬA

 

tình nhân bỏ đi

nắng quay quắt nóng

cơn hừng hực vàng quái con đường 

38 độ

 

cánh cửa đóng lại

những gian dối đóng lại

mùa hè bay theo gót chân vội vàng

bụi bặm bay lên thành phố nắng 

 

kẹt giữa những cuồng ngông

rền vang âm thanh 

ta cô đơn trước cánh cửa lòng 

không còn rộng mở

 

tiếng rúc rích của gió

cũng không còn êm êm vuốt ve 

những trưa hè quấn quít

 

gõ mãi cánh cửa quá khứ

chỉ rơi xuống chân nổi buồn

người bỏ lại.

 

Âu Thị Phục An

48

Ở Thời Danh Giá.

 

đang câu

thúc

tôi- về ý niệm thơ- thì

từ ngăn kéo chật

chứa nắm tàn

tro

tôi men theo lộ cái

bước hình xoắn trôn ốc

 

đi lên dốc giữa một ngọn đồi

đầy cây thánh giá gãy

chắn lối

mùi hoa hồng thoảng

đậm đặc

nơi hơi thở ra của em (những

ẩn dụ

trong bài thơ này mỗi tôi/ em

biết- nhớ nhé!) và

 

tôi phải ghìm con chó thọt

còn ba chân

cho nó đứng hít hà

ngửi

nước đái chó cái dưới gốc cây thược dược

 

gió ném ngược lên tóc

nắm

nắm

tuyền u uẩn

hễ nom phía sau lưng em

một hồi

tôi muốn phạm tội- yeah

 

phải co cụm

đúng chất kẻ lưu vong (sách

vở!)

 

chiều qua

trên vạt áo phai

hai cái bóng chạy trối chết

nhịp đập của biển (là chỗ bọng đái!)

đến đêm lại thao thức

 

tháng/ năm cứ dồn

đuổi

đến trước miệng hố thẳm

thấy

phía dưới trơn

tuột- chẳng khác khúc ruột già

 

tôi đã cưỡng lại

đã trở lui

lúc ngang khu chợ âm phủ

ngó tấm bảng đề

mì ramen đang bán

3 gói/ 1 đô- la (do chữ ngâm quá lâu trong mồm

hay sao

lũ quạ réo ầm ĩ!) biên cương ở

 

tâm tưởng

hàng loạt dây nhợ giăng

mắc

chả biết sao lần ra chỗ đầu mối

em nói bài thơ tình này

đăng

anh kiếm áo giáp mặc- đi

tìm đường trên trời đi

 

ôi

chưa bao giờ chúng ta thôi

ăn tiết canh vịt bằng vại

uống bia làm bằng táo

 

việt gian việt cộng/ việt kiều

ba thứ gộp lại diệt tiêu nước nhà

hai câu- giở đọc

hết còn nghe tiếng rào rào của tiền

ném

 

Juda phải bán Jesus để ngài được kêu chúa* vì không thể đợi

lâu hơn nữa

em hỏi “mê cung đã mở

chăng (!) làm cách nào hòng trở nên thánh!”

 

tôi nhắm nửa mắt

dùng lưỡi

dò người cùng tần số với mình- ngay nền thơ

tự do hôm nay

nói cho biết

 

có ngóng cao cổ

cách mấy

cũng chỉ độc nghe chuỗi rè

ré!

..

 

 

vương ngọc minh.

*một ý của thơ lê minh chánh.

logo

KHOA TỬ VI VÀ BẦU CỬ TỔNG THỐNG HOA KỲ.

Tác giả: LÊ ANH.


 

Bài viết chủ yếu chia sẻ ý kiến về học thuật Tử Vi, nên không quan tâm đến các vấn đề khác… Bài viết có 2 phần. Phần kiểm số và Xem xét Ai thắng Ai vào Nhà trắng.

1

  • PHẦN KIỂM SỐ:

 

Kiểm lại sự khả tín của lá số Ông Trump sinh giờ Tỵ qua vài điểm đặc biệt sau:

( Ông Donald Trump:  Sinh ngày 15 tháng 5 năm Bính Tuất (1946)- giờ Tỵ ).
Lá số của Ông Trump được cách Nhật-Nguyệt cư Sửu, sinh ban ngày, với nhiều cát tinh đắc cách hổ trợ như Xương-Khúc, Lộc tồn, Hóa Khoa (tất cả đều bị Triệt/Tuần cản trờ) + Việt chiếu Mệnh/Khôi tọa Thân, Thiếu Âm trợ cho Nguyệt/Thiếu Dương trợ cho Nhật khi tuổi thành Thân. Cung an Thân (là cái ta hành động) lại hội Quyền-song Lộc (có điều kiện vì Lộc tồn bị Triệt). Cả hai Mệnh-Thân song Hỷ, vô sát tinh…thật là Mệnh quý hiền.

Vậy lục sát tinh nằm ở đâu ?

– Lục sát tinh phân đôi, chia nhau nhập vào cung Nô và cung Điền trạch. Cho nên, ta đã biết Ông Trump là một đại gia kinh doanh địa ốc và cũng đã trải qua nhiều lần khai phá sản… bởi cung Điền hội Đà la, Địa Kiếp, Hư-Phá, xung Linh tinh, ngô Triệt (Triệt phá Thiên La nhưng cũng đáng tiếc làm hư Tử Tướng) . Thế cung Điền là thế Tử-Tướng, một thế lớn, nhưng bị Triệt và lại nhập Mộ với Phá-Hư-Hao/ Đường phù-Quan phủ-Thái tuế (là chực chờ hầu tòa)… Vậy cung Điền trạch ắt có vấn đề…Từ đây, sự nghiệp gian nan, không bền và phải nhiều lần ra hầu tòa…là vì vậy.

Ngoài tài sản giàu có, Ông Trump còn tỏ ra có tài viết văn và làm Show truyền hình (do ảnh hưởng của Khoa, Xương-Khúc chiếu Mệnh tại vài thời điểm). Đây là 1 đặc điểm tài năng đa dạng của Ông Trump. Tuy vậy, không thấy Ông tỷ phú nào lại quá keo kiệt (?) như Ông Trump (Lá số có Lộc tồn tọa cung Quan, xung cung an Thân, chiếu cung Mệnh thì khác nào Lộc tồn tọa thủ Mệnh Thân), mà người có Lộc tồn thủ Mệnh thì thường rất bảo thủ tiền bạc hơn là thích chia sẻ, phát tán tài lộc đây là đặc điểm thứ hai.

(Giữa những người Mệnh có Lộc tồn và Mệnh có Địa Kiếp, cả hai giống nhau ở chỗ rất cẩn thận về tiền bạc nên dễ mang tiếng hà tiện, ích kỷ nhưng khác nhau ở thật tế tài lộc. Một người Mệnh nhập Không-Kiếp thì tiền bạc èo uột; thất thường. Nếu nghèo thấu xương thì tiền bạc lấy ở đâu mà hào phóng, rộng rải với ai …

Ở lá số Ông Trump, Lộc tồn chiếu Mệnh-Thân hội Nhật-Nguyệt  còn chủ về giàu có tiền bạc nhưng phải gian nan, vất vả…)

Đặc điểm độc đáo thứ ba toát lên từ bản tính của Ông Trump, là loại người ăn nói kỳ dị, hay nổ; dễ tạo nghiệp thù oán với người khác cũng như thích nói thẳng sự thật… đó là tập hợp các sao tọa và hội vào Mệnh như: Thiên hình, Y-Riêu, Phá toái, Trực phù, và trong khi đó, nếu cung Di giáp hợp Sát+Kình-Kỵ, Hỏa-Địa Không  thì cung Tật Ách (Liêm hóa Kỵ+Hóa Kỵ,…) cũng vừa xung lưu niên TH (2016) cư Dần vừa bị lưu Thái Tuế kích động (nên mọi người chỉ biết nhiều đến tật ách của Ông Trump trong năm nay).

Ngoài ra, đã còn có 2 biến cố đặc biệt xảy ra trong đời Ông Trump cũng làm dễ dàng cho việc kiểm số, đó là: thời điểm Cha chết năm 1999 và vấn đề Hôn Nhân.

 

*-Cha Mất Năm Kỷ Mão (1999):

Năm 1999 này thuộc Đại Hạn (45-54t) cư Tỵ và năm Kỷ nên Văn Khúc hóa Kỵ. Năm này Xương -Khúc không còn trợ sinh cho người Nhật-Nguyệt thủ Mệnh nữa mà Kỵ còn làm mờ Nhật (là người Cha).Vậy Cha Mẹ ắt có vấn đề.

Cả hai Đại hạn và Tiểu Hạn (1999) đều cùng hội chiếu vào Nhật-Nguyệt (đây là vấn đề nổi bật của Tiểu hạn). Năm này lưu Phụ Mẫu chuyển dịch đến cung Tuất gặp ngay tam Sát (Linh+Đàla, Địa Kiếp) và Xương-Kỵ hội trong trường hợp này chính là gặp đại tang người Cha vậy.

 

*- Vấn đề Hôn Nhân:

-Ông Trump cưới Vợ lần đầu năm Đinh Tỵ (1977-32t) cư Hợi, thuộc ĐH cư Mão. ĐH và TH tam hợp nhau nên hôn nhân dễ xảy ra đúng như sách vỡ và nghiệm chứng. Nhưng sau đó đã ly hôn vào năm 1991-46t, thuộc đầu ĐH (45-54t) cư Tỵ.

-Ông Trump cưới Vợ lần hai năm Quý Dậu (1993-48t), thuộc ĐH cư Tỵ và sau đó đã ly dị vào năm 1999-54t, tại cuối của ĐH cư Tỵ này.

Như vậy trong cùng một ĐH (45-54t) cư Tỵ đã có 2 lần ly hôn (Ly dị lần đầu năm 1991-46t với người Vợ đầu, và ly hôn lần sau năm 1999-54t với người Vợ thứ hai).  Sự khác nhau về phương diện lý số Tử vi trong cùng một ĐH chính là vai trò Đóng/Mở huyền ảo của Triệt/Tuần với lưu Thái Tuế năm Tân Mùi (1991).

-Ông Trump cưới Vợ lần thứ ba vào năm Ất Dậu (2005-60t) và hiện đang sống chung nhau hạnh phúc cho đến hiện nay…

Ông Trump Thân cư Thê nên hãy nhìn vào cung Thê cư Hợi thật đẹp với Thiên Đồng nhân hậu, vui vẻ tọa thủ hội cùng Quyền-Lộc và Khoa xung (bị Triệt) …thật là tuyệt đẹp và bề thế của giới thượng lưu. Nhưng có ai ngờ rằng đàng sau và bên ngoài chỉ là  hư Triệt và đầy sóng cồn đại hải!

 

Tóm tắt: lá số Giờ Tỵ bên trên là lá số Tử vi của Ông Trump.

2

 

 Kiểm lại sự khả tín của lá số Bà Clinton sinh giờ Thìn qua vài điểm đặc biệt sau:

( Bà Bill Clinton: Sinh ngày 13 tháng 9 năm Đinh Hợi (1947)- giờ Thìn ).

 

Lá số Bà Clinton thuộc cách cục “Cơ Nguyệt Đồng Lương” với Mệnh Thiên Cơ cư Ngọ hội nhiều cát tinh  như: Khoa, song Lộc, Văn Xương, Tả-Hữu, Linh tinh, Tướng-Ấn/Thai  -Cáo, ngộ Tuần.“Tuần lâm hỏa địa” nơi đây không phá hư cách cục của lá số (Bà Clinton Mệnh Thổ với tinh đẩu Thiên Cơ thủ Mệnh) mà lại hóa hay vì còn có tác dụng ít nhiều gây cản trở cho lũ sát tinh (Địa Không, Kình dương) bên cạnh từ cung Mùi và từ xung cung (Cự-Phi liêm-Hóa Kỵ). Nhưng Bà sẽ khốn khổ vì chúng khi Tuần bị/được Mở (khi Đại Hạn nhập xung cung-cung Tý…sẽ nói sau)

Vấn đề còn lại là sao Linh tọa Mệnh. Linh tinh (hỏa) là ác tinh nhưng ít khi hại người mạng hợp hành và không khắc chính tinh thủ Mệnh, nên nói chung: sao đắc địa này ít tác hại đến cách cục của lá số Bà Clinton vì những kếp hợp xấu của nó về sau này.

Với cách cục “Cơ Nguyệt Đồng Lương” hội nhiều cát tinh, Mệnh lại có Khoa tọa, song Lộc hội chiếu; vô sát tinh làm hư hại…thì quả thật đây cũng là số mệnh lớn quý hiếm.

Vậy lục sát tinh nằm ở đâu ?-

Lục Sát tinh (Kình-Đà/Linh-Hỏa/Không-Kiếp) là các sao làm hư cách cục của Mệnh hay Vận; chúng phá nát cuộc đời của con người và dìm họ xuống đáy bùn đen, kể cả cái chết thãm. Lục Sát tinh là 6 sao hắc ám mà mỗi sao là một con quỷ ác độc với sở trường chuyên biệt.Vậy mà Mệnh Thân của Bà Clinton né tránh được sự hội tụ của chúng ngoại trừ sao Linh tinh sáng (đã nói bên trên) và 2 sao Kình-Đà hội chiếu vào cung Tật Ách.

Cũng cần nói thêm về cung Tật Ách nơi đây hội tụ Kình-Đà+Hỏa tinh, cộng với bên cạnh còn có Cự-Kỵ-Phi liêm, Thiên không (phát tác bất chợt/bất ngờ). May là tập hợp 3 sao xấu (Kình-Hỏa khắc kỵ/chế hóa lẫn nhau) chỉ còn lại một Đà la (thâm trầm thủ đoạn, cản trở). Cung Tật Ách là phía bóng tối của con người. Bà Clinton đã bị nhiều tai tiếng không tốt như  đã  biết… cũng bởi vì đối Mệnh là tập hợp các sao Cự-Đà-Kỵ-Phi liêm (Phi liêm tượng là con gián. Đà+Phi liêm ẩn tàng mưu kế chơi bẩn trong bóng tối). Rõ ràng đây là cái ách tật của Bà và cũng là 1 đặc điểm nổi bật trong lá số giờ Thìn.

Đặc điểm độc đáo thứ hai toát lên từ cung cách điềm đạm đối xử với Phu quân.

Đàn bà nào không ghen. Với Bà Clinton, cung Tật Ách có Thiên Tướng thủ cung là chúa ghen tương, lại còn tọa chiếu Hỏa tinh (nóng như lửa cháy) – Kình+Kỵ (là đố kỵ, chống đối dữ dội…) cho thấy Bà cũng là loại ghen thứ dữ chứ nào khác với ai !. Nhưng Bà đã tỏ ra rất mềm mỏng, lịch sự (ít ra là ở bên ngoài, bên trong nội bộ gia đình mấy ai biết được sự thật vì Bà vốn dĩ khéo che dấu (Đà la chiếu Tật Ách)) với Ông Chồng hào hoa quá cỡ và Bà Clinton (lúc bấy giờ đang là Vợ của một Tổng Thống siêu cường) đã biết đặt lợi ích tương lai, phẩm giá trên tất cả…Phải chăng chỉ có nữ Mệnh với Thiên Cơ+Hóa Khoa (khôn ngoan, khéo léo và mưu lược) cư Ngọ (là cung Vua) nên phải biết ứng xử sao cho tốt đẹp mặt Chồng (Thái dương cư cung Phu chính là Ông cựu Tổng Thống Bill Clinton).

Đặc điểm thứ ba, đó là: để kiểm số Bà Clinton thì phải quan tâm đến thời kỳ Ông Bill Clinton làm Tổng Thống. Bà Clinton đương nhiên trở thành đệ nhất phu nhân Tổng thống Hoa Kỳ. Trong giai đoạn này, ĐH (42-51t) cư Tuất (lại là cung Quan-Quan là Chồng) của Bà quá tốt (Nhật-Nguyệt+Quyền-Lộc, Tướng Ấn, Thai-Cáo) + TH năm Quý Dậu (1993-47t) ứng với lưu Quan thế Tử-Phá cư Mùi. Nhưng tại cuối nhiệm kỳ II Tổng Thống của Ông Bill Clinton, Vận Hạn của Bà thuộc ĐH (52-61t) cư Hợi (ĐH tưởng xấu tệ hóa hay vì vô ác sát, lại giáp Lộc-Kỵ) và TH năm Tân Tỵ (2001-55t) cũng tại cung Mùi với nhiều cô độc, buồn phiền và bất mãn.

Bà trở thành Thượng Nghị Sĩ  2 nhiệm kỳ kể từ năm (2001) và có vinh dự được 1 tạp chí uy tín Forbes bình chọn là 1 trong 100 phụ nữ quyền lực nhất thế giới vào năm (2006-60t) cư Dần, là năm rất tốt với lá số giờ Thìn với Âm-Dương, Quyền-Lộc và đầy ơn phúc

Tóm tắt: lá số Giờ Thìn bên trên đích thực là lá số Tử vi của Bà Clinton.

 

Cả hai lá số Bà Clinton -Giờ Thìn và Ông Trump -Giờ Tỵ đã được kiểm chứng qua vài biến cố thật tế xảy ra trong đời sống của họ. Ngoài ra, còn có thể kiểm số bởi áp dụng “Thần Khê Định Số” qua hình tướng/tính tình để dự đoán hành vi…Cũng đã còn có nhiều cách khác nhau để kiểm chứng một lá số về giờ sinh…

   Bởi cách an sao trong khoa TửVi, yếu tố giờ sinh sẽ xác định nơi đến của cung an Mệnh-Thân và một số sao quan trọng như: Hỏa-Linh (quan trọng cho Tham tọa Mệnh), Không-Kiếp (quan trọng cho cách Sát Phá Tham với nhiều cát tinh) , Xương-Khúc (rất cần cho Mệnh Nhật-Nguyệt đồng cung), Thai-Cáo, Quang -Quý, và Đẩu quân . Cho nên: chỉ cần đơn giản xem xét 4 hung thần Không-Kiếp/Hỏa-Linh từ giờ sinh là có thể xác định phần lớn Mệnh số tốt-xấu/cao-thấp của các cách cục.

 

  • Xem Xét Ai Sẽ Vào Nhà Trắng ?

Để biết sự việc thành bại hay Ai thắng Ai, tất cần xem xét thêm ít nhất 3 việc:

*1/-Xem xét cách cục từ 2 lá số, đặc biệt so sánh qua Vận Hạn hiện tại của 2 lá số.

*2/-Xem xét câu Phú về bất hiển công danh vì Mệnh Nhật-Nguyệt tại Sửu Mùi.

*3/-Xem xét Ngày Bầu Cử 8/11/2016.

 

1/-Xem Xét Cách Cục:

Xem xét lá số Bà Clinton:

Mệnh-Thân đều nằm trên trục tam hợp Hỏa, cung an Mệnh có Cơ-Khoa tọa đế cung với Linh-Xương khắc tiết. Tuần là cái bức tường hay rào cản hạn chế giao tiếp trong ngoài…nên nhìn thoáng qua là thấy Bà cô đơn ghê gớm với tài năng và tham vọng của riêng Bà, mà cũng chẳng mấy ai thích tìm đến với Bà (vì Hỏa khí rất vượng).

Cung an Thân cư Dần với Đồng-Lương+Hóa Quyền lại bị Triệt ngăn cách trong ngoài.

Cung Dần là cung Mộc nhưng tàng hỏa khí (Bính). Cả hai cung Mệnh và cung an Thân đều nhiều khí hỏa…nên đây là vấn đề.

Lá số Nữ Mệnh mạng Thổ sinh Tháng 9 âl. Hỏa khí đã nhập Mộ, Thủy khí Quan đới, Kim vào Suy và Thổ tứ quý là Thổ vượng đắc lệnh nên rất cần lấy Mộc tiết khí thổ và Thủy nhuận đất. Kỵ gặp Hỏa sinh ra Thổ.

Từ đây: để Mệnh đắc dụng hay thành đạt vươn lên với đời thì Mệnh này cần Vòng Đại Hạn thuận lợi với các tinh đẩu thủ cung thích hợp.

Nghiệm chứng thật tế là: số này có Vòng ĐH thuận lợi khởi từ lúc ấu thơ tại phương Nam (hỏa), chuyển qua Tây phương (kim) rồi đi lên phương Bắc (thủy) cuối đời với các tinh đẩu thủ cung tương ứng.Vậy Mệnh này có nhiều thành đạt và cơ hội vươn lên với đời . Hãy xét nghiệm vài ĐH thì rõ thôi:

-ĐH (42-51t) cư Tuất tuy vào đất Thổ táo nhưng được tinh đẩu Thái Âm (thủy) đắc dụng. Đây chính là ĐH cộng với Tiểu hạn năm 1993/cung Mùi đã đưa Bà vào Nhà trắng.

-ĐH (52-61t) cư Hợi là vào vùng Thủy vượng. Tuy Liêm (Hỏa)-Tham (thủy) là 2 chính

tinh thủ cung khắc chế nhau (làm Bà thấy mệt mỏi lắm) nhưng Mộc khí sinh ở Hợi (Mộc

trường-sinh ở Hợi), Mộc tiết khí Thổ, Thủy nhuận đất, làm điều hòa ngũ hành bản Mệnh.

Bà đắc cử TNS tại năm 2001-55t, sau khi Ông Chồng chấm dứt nhiệm kỳ TT lần II.

-ĐH (62-71t) cư Tý là nơi Thủy cực vượng. Với tinh đẩu Cự môn (Thủy)+Hóa Kỵ (thủy) tọa thủ. Hành Thủy là dụng thần Tửvi của Mệnh số Bà Clinton. Đây chính là ĐH đắc ý nhất của Bà vậy.

Năm 2008-62t: Tuy thất cử TT, nhưng Bà làm Bộ Trưởng Ngoại Giao của chính quyền Obama.

(Sao HóaKỵ tốt/xấu hay lợi/hại tùy thuộc vào thổ ngơi và tinh đẩu tọa cùng.Vì vậy, Hóa Kỵ cũng ít tác hại với cung có tinh đẩu đồng hành và tọa nơi vượng Thủy như Tý, Hợi)

-Năm bầu cử 2016 rơi vào cung Thìn (khố Thủy)  với Thái dương (hỏa) thủ cung….là Bà có 1 Năm thuận lợi (là thế thời và môi trường sống như ý) nhưng có tinh đẩu không thích hợp (là ý chí tranh đấu bản thân và lòng người phù trợ nhiều khó khăn/thăng trầm). Tuy vậy, ĐH (10 năm) đã cực tốt + 1 Năm cũng tốt thì sá gì những phân chia thăng trầm của lòng người trong tranh cử  chính trị.

Xem xét lá số  Ông Trump:

Cung Mệnh nằm trên tam hợp Kim cục, Mệnh có Nhật-Nguyệt đồng cung cư Sửu (là đất ướt)

Cung an Thân nằm trên tam hợp Mộc cục với Thiên Đồng (thủy) cư Hợi (là nơi vượng Thủy). Chiếu về còn có Cự (thủy)-Cơ (mộc). Vậy cả 2 cung Mệnh-Thân  đều vượng Thủy. Với người Thổ mạng, Thổ Cục thì bản thân bị tiết khí thái quá…nên đây là vấn đề.

Lá số Nam Mệnh mạng Thổ sinh Tháng 5 âl. Hỏa khí Đế Vượng, Thủy khí vào Thai, nên hành Hỏa, Thổ quá nóng và quá khô. Vì vậy:  Hỷ Thủy và Kim sinh trợ, Kỵ Mộc trợ Hỏa và lại Kỵ Thổ khô táo.

Từ đây: để Mệnh đắc dụng hay thành đạt vươn lên với đời thì Mệnh này cần Vòng Đại Hạn thuận lợi với các tinh đẩu thủ cung thích hợp.

Trong thật tế: số này có Vòng ĐH nghịch chiều (là thế thời và môi trường sống gặp nhiều khó khăn/thăng trầm) khởi từ phương Bắc (thủy), chuyển qua Đông phương (mộc), rồi đi xuống phương Nam (hỏa) cuối đời. Tuy vậy, may nhờ các cung Đại Hạn có tinh đẩu thích hợp (là ý chí tranh đấu và lòng người phù trợ) nên số cũng có nhiều cơ hội vươn lên với đời… Hãy xét nghiệm vài ĐH thì rõ thôi:

-ĐH (45-54t) cư Tỵ là đất Hỏa nóng với Thiên Lương (mộc) thủ. Mộc- Hỏa bất lợi.

Năm Tân Mùi (1991-46t) cư Sửu với Nhật-Nguyệt oánh lộn nhau nên khai phá sản Trump Taj Mahal. Trong cùng ĐH này, Năm Nhâm Thân (1992-47t) cư Dần với Tham lang (thủy) thủ cung. Một Năm tuy được tinh đẩu nhưng đã có ĐH (10 năm) xấu kỵ nên cũng hỏng. Đã khai phá sản Trump Plaza Hotel. /

Năm Kỷ Mão (1999 -54t) cư Dậu: Cha ruột qua đời vì bệnh.

-ĐH (55-64t) cư Ngọ là đất Hỏa vượng với Thất Sát (kim) thủ. Đã khai phá sản Trump Hotel và Casino Resorts năm Giáp Thân (2004-59t). Cũng trong ĐH này, năm Kỷ Sửu (2009-64t) đã khai phá sản Trump Entertainment Resorts.

-ĐH (65-74t) cư Mùi là nơi khố Mộc, đất khô. ĐH vô chính diệu lấy Nhật-Nguyệt  làm nền, có Tuần là hố đen hãm cát tinh nên cũng bất lợi. Chiếu về là  Cự-Cơ (từ cung Phúc đức) và Thiên Đồng (từ cung Thê: rõ là chính Bà Vợ này đang cố gắng giúp ích cho Chồng).Tuy đây là một ĐH có khá hơn trước nhưng cũng là ĐH không thật sự là tốt.

-Năm bầu cử 2016 rơi vào cung Dần (mộc) tàng hỏa khí với Tham lang (thủy) thủ cung.

Năm này không phải là một năm tốt (vì cả cung và tinh đẩu đều là mộc sinh cho hỏa, là ẩn tàng dư khí). Ngoài ra, Hạn nhập cung Dần, là đất kim tuyệt, nên thế thời và môi trường sống lẫn lòng người đã không thuận lợi như đã thấy…

ĐH (10 năm) đã không tốt gặp 1 Năm cũng là xấu kỵ thì lấy gì mà tranh hơn với người.

(Với lá số Ông Trump, lưu Mệnh (năm 2016) cư Dần xung 2 Hóa Kỵ từ cung Tật Ách , với Tham gặp song Hao là sự kỳ cục, lập dị đáng ghét… cứ lập đi, lập lại hoài).

 

Vậy khi so sánh sự cao thấp của 2 lá số, đặc biệt qua Vận + Hạn hiện tại thì  kết quả khá rõ ràng. Bà Clinton với cách cục đẹp là: Vòng ĐH thuận chiều và đắc tinh đẩu thủ cung tương ứng (ngược lại là Ông Trump, với cách cục giá trị kém hơn). Tại Năm Bầu cử (2016), Bà Clinton đã có được một ĐH tối ưu, kể cả tại Năm bầu cử (tốt nhất trong đời) và có 1 Ngày Bầu cử  như ý… thì Ông Trump với ĐH VCD (đã là Vô chính diệu thì không thể nào ngang bằng với có chính diệu) và cũng có 1 Năm khá xấu  thì chuyện cách cục cao thấp đã rõ. Muốn thành đạt cực cao thì phải có kết hợp cực tốt giữa Mệnh và ĐH.

 

   (Trong Tử bình, bát tự của Ông Trump là: Bính Tuất- Giáp Ngọ-  Kỷ Mùi-  Kỷ Tỵ

 ĐV: Bính Thân/Đinh Dậu/Mậu Tuất/Kỷ Hợi/Canh Tý (57-66t)/Tân Sửu (67-76t)/Nhâm Dần …

Nguyệt lệnh Lộc Kiếp thấu Ấn tất Nhật nguyên vượng, Giáp Quan tinh tuy lộ nhưng vô căn (là Quan không có gốc, là vô duyên với Quan trường) và còn bị khí Hỏa Thổ toát lên áp bức phải tòng theo. Nếu nói dụng Quan, mà Quan thế cô lại không có phụ trợ, cách cục càng thấp, khó mà lấy Quý. Vậy chỉ có thể lấy Tài sinh Quan  mà không sợ Thực-Thương làm hại vì có Ấn, cũng không sợ Tỷ-Kiếp làm hung vì Trụ thấu chính Quan.

Vận Nhâm/Quý cuối đời không thể dùng; Vận Tỷ-Kiếp Trung niên, tuy không quá  tệ , cũng phải 2 lần khai phá sản tại cuối Vận.

Vận Thương Thực thì lấy Ấn chế Thương để hộ Quan làm dụng, nhưng Ông Trump hình như biết mình mà không biết Người (nên ngay cả những công thần, trưởng lão trong đảng CH  cũng không chấp nhận Ông và kể cả nhiều người uy tín chính trị bên ngoài nữa…) thì làm sao Ông tiến thân trên Quan lộ.?!

Cái ách nạn của Ông Trump chính là :

    Toàn Trụ toát khí Hỏa-Thổ, không chút Kim-Thủy thấu ra, lại là hóa thần vượng. Trụ có Giáp Quan nhưng bị hỏa đốt tiêu (khó làm Quan chức, làm ngành nghề khác thì thuận lợi hơn). Đây là số quý hiển hơn người, tiếc rằng Vận Hạn không thuần nên cuối đời lao đao giảm phúc, không như ý…       

  Hai  Đại Vận sau thời điểm lập Thân (37t) toàn khí hỏa thổ thấu xuất có dư, nên là Vận rất gian nan, cuối chu kỳ phải khai 2 lần phá sản. Kể từ Vận Canh Tý là Vận Hỷ Thương quan vươn lên được (gặp Thương xem Ấn, dụng Thương cần phải tĩnh), nhưng Canh chẽ Giáp Quan nên cũng khó xoay sở quan trường (Vận này còn thêm 2 lần phá sản nữa. Tại HK, khai phá sản chưa chắc đã nghèo đi mà các đại gia chỉ giảm giàu, giảm Tài Lộc).

“…Thương quan kiến Quan, tâm địa uốn khúc, quỷ quyệt đa trá, kiêu ngạo khinh người, thường thấy người trong thiên hạ không ai bằng mình, quý nhân kỵ sợ,…” UHTB.

   Vận Tân Sửu (67-76t) là Vận cuối đời, bắt buộc phải công khai múa kiếm…là Vận Hỷ nhưng lại là Vận Thực (Thực không thích Ấn, tối kỵ Kiêu) nên bản thân xung đột nặng nề với những người bảo trợ ngay trong đảng CH, và với cả những bậc trưởng lão trên chính trường HK. Năm 2016 là Bính Ấn và Năm Đinh Dậu (2017) là 1 loại Kiêu thần.Vận Thực -Hạn Kiêu (dù có hợp chi địa) thì cũng khó thể nói Hạn này là cực tốt cho số Ông Trump.

Vận Nhâm Dần (77-86t) là Vận tốt nhất ở đầu Vận, gặp Dụng thần, nhưng thời gian và con người ở thế giới khác rồi…). Rõ là: “Làm Chúa thì thừa nhưng làm Vua thì thiếu”.)

 

*2/-Xem xét câu Phú về bất hiển công danh vì Mệnh Nhật-Nguyệt tại Sửu Mùi.

Xã hội VN hay Trung hoa ngày xưa đào tạo phái nam ra làm Quan, tham chính đề cai trị nước và an dân, và chỉ duy nhất chiều hướng này, con đường  này mà thôi. Vì thế, cách nói “Bất hiền công danh” từ câu Phú Nôm có chủ ý xác nhận rằng: Người có Nhật-Nguyệt đồng cung tọa Mệnh thì khó  có thể là Vua hay là Quan tột đỉnh (Tể Tướng) hay là lãnh tụ chính trị số Một (Tổng Thống hay Thủ Tướng) như thời hiện đại ngày nay. Nào đã có mấy Vị Vua hay Chúa tể nào có số Mệnh với Nhật-Nguyệt đồng cung Sửu Mùi !.

Nói cách khác, Ông Trump có thể là đại gia thành công số 1 của ngành địa ốc; có thể mộng thành thủ lãnh của đảng phái chính trị hay của tập thể quần chúng nào đó nhưng không thể là người số Một của các con số 1 trong Quan trường hay làm chính trị.

Tại sao? – Tại vì Phú nói thế: Người có Nhật-Nguyệt đồng cung tọa Mệnh thì “chính không bằng chiếu”. Nghĩa là: số Mệnh không phải là thượng cách !.

Ngoài ra, Mệnh Nhật-Nguyệt đồng cung tranh huy, tự cách cục đã có khiếm khuyết (nên là cách kém nhất trong các cách Nhật hay Nguyệt thủ Mệnh) nên rất cần hội tụ cát tinh và các thế giáp tốt đẹp. Người Nhật-Nguyệt đồng cung thường có tiền Vận lao đao nhưng về hậu Vận lại có cơ hội mát mặt (đây là lý do vì sao Ông Trump chọn ra tranh cử tại ĐH Thiên Di dù tuổi Ông đã  thành lão rồi – nếu biết tự điều chỉnh bản tính của mình cho thích hợp hơn thì may ra … hùm chết để lại da, hồi ký người chết viết còn có tiếng).

Hãy nhìn vào thế đứng của Nhật-Nguyệt cư Sửu Mùi mà suy diễn ra thêm…Tóm gọn lại là: Mệnh này khó phát Quan (vì Lương-Khoa hãm Triệt); Tài VCD vì Âm-Dương mông lung (Cự-Cơ thiếu song Hao); Tình cảm Thê Nhi thay đổi nhiều lần (dù rằng cung Thê ở tứ duy có Quyền-Lộc, xung Khoa thì có số ít nhiều cũng nhờ Vợ). Cung Thê là chỗ dựa an toàn và ích lợi nhất (để vận động phái Nữ và di dân…) thì chẳng may mới ra quân ngày đầu đại hội đảng CH thì đã bị tỳ vết, kém hay (có lẽ cũng bởi vì phúc bạc).

Mệnh Nhật-Nguyệt đồng cung thì phải nhờ vào cung Di  nên có thể dự đoán được rằng: Ông Trump chưa chắc thắng phiếu được tại quê nhà NewYork, là ngay nơi Ông đang sinh sống, chỉ vì  đối với Nhật-Nguyệt thì “chính không bằng chiếu” Mệnh.

Cách cục sợ nhất là Mệnh-Thân vô ỷ (không chỗ dựa) mà cái Ta hành động của Ông Trump lại làm cho người khác thương thì ít và có nhiều thêm kẻ thù (đây cũng là Phúc bạc vì “chính không bằng chiếu” nên đầu óc Nhật-Nguyệt tranh tối tranh sáng).

Môi trường và hoàn cảnh thật tế là vậy!.

 

*3/-Xem xét Ngày Bầu Cử Nov/8/2016.

Ngày Bầu cử tại HK là ngày (dl) Nov/8/2016=(âl) ngày mùng 9/10/Bính Thân

Ngày này vô cùng quan trọng trong thật tế, vì đây là mức đến tranh nhau kết quả bầu cử là thành hay bại. Trong khoa Tử vi, nấc thang giá trị tính từ ĐH là quan trọng nhất, kế đến là TH (lưu Niên), giảm lần xuống Tháng, Ngày, Giờ. Toàn thể hệ thống giá trị được an định bởi âm dương, ngũ hành,và các tinh đẩu để từ đây phân ra tốt xấu. Có thể hiểu là:

Ngày/Giờ chỉ là một trong những hệ luận tất yếu của Tháng/Năm/ hay Đại hạn (10 năm).

Năm/Tháng/Ngày hoạnh phát #1 phải nằm trong một đại vận thích hợp, phải tương ứng với  Mệnh-Tài-Quan-Phúc và còn vài yếu tố khác nữa (mồ mả, phong thủy)

 

Trường hợp Bà Clinton:

  Ngày Bầu Cử nhập cung Dậu và liên hệ đến các cung Thìn /Tuất/và cung Mão (bị Triệt)

   [ Cung Dậulưu Nô/Điền, cung Thìn là Phu/lưu Mệnh, cung Tuất là Quan/lưu Di ]

Trong ngày Bầu cử, Bà Clinton mong chờ các nổ lực trong quá khứ chủ yếu đến từ :

-Cung Nô (là tầng lớp cử tri; từ những người cộng tác, thân hữu, và từ đảng DC,….)  +

-Cung Điền (là toàn bộ sức mạnh/khả năng của guồng máy và chính sách tranh cử ,…) +

-Cung Di và Quan (là những tác động ảnh hưởng đến từ môi trường bên ngoài chủ yếu là từ tài năng vận động (cung Quan) và từ người Chồng (Quan cũng là  Phu quân của Bà)…

 

Trường hợp Ông Trump:

   Ngày Bầu Cử nhập cung Dần và liên hệ đến các cung Hợi/Mão/và cung Thân. 

[ Cung Dần là lưu Mệnh/Phụ-Mẫu, cung Hợi là Thê/lưu Tử, cung Mão là Phúc/lưu Phụ-Mẫu, và cung Thân là Tật Ách/lưu Di ]

Trong ngày Bầu cử, Ông Trump hy vọng kết quả đến từ các nổ lực chủ yếu như:

-Cung Mệnh (là tài năng và sự lôi cuốn của cá nhân chính mình…) +

-Cung Phụ Mẫu (là guồng máy vận động của đảng CH với những người bảo trợ…) +

-Cung Tử và Thê (là sự lôi cuốn và tác động hổ trợ của ngườì Vợ và các Con, Cháu) +

-Cung Tật Ách (là sự lôi cuốn và tác động của lập trường và thông điệp của bản thân) +

-Cung Phúc đức (là ảnh hưởng của những tác động nhân quả trong quá khứ và hiện tại…)

 

*-Nhận Xét: Với góc nhìn của khoa Tử vi, sự huyền diệu đến mọi ngỏ ngách liên quan của ngày Bầu cử TT HoaKỳ từ 2 lá số trên đã được phơi bày… Hẳn nhiên, trong ngày Bầu cử, Bà Clinton có nhiều thuận lợi tốt hơn Ông Trump (phối hợp các tinh đẩu của từng lá số rồi so sánh thì rõ. Xin không được nêu ra đây).

Tại đây, người viết bài này muốn nhấn mạnh đến ý nghĩa xuất hiện từ cung Tật Ách và cung Phúc mà Ông Trump đang muộn màng cần đến.

 

-Cung Tật Ách lục hại cung an Thân cư Thê: Cung Mệnh và cung an Thân  là 2 cung riêng biệt nhưng tuy hai mà là một. Cung Mệnh và Tật Ách liên hệ nhau, cung nào đều có vai trò đó, nhưng cung Tật Ách còn là nơi mà dòng nghiệp quả chảy qua. Tính chất tiên thiên của Tật Ách chỉ là một biến số, cùng với nhiều biến số khác,  nằm trong một phương trình đời sống thành bại mà mỗi giai đoạn thời gian (thể hiện qua Vận hay Hạn) là kết quả có sự đóng góp hổ tương nhân sự. Cung Tật Ách (mang tính họa nạn nhiều hơn phước lành) ở thế hại cung an Thân (là cái Ta hành động) thì đây là khuynh hướng của 1 luồng nghiệp xấu đưa đẩy …mà Ông Trump đang thể hiện (Bà Vợ Melania đã bị văng miểng cũng chỉ vì ÔngTrump) Mệnh chủ là Ta nhưng biết tai biến thì còn ở trong TậtÁch

trump_clinton

-Cung Phúc ảnh hưởng đến tương lai :

Trường hợp của Ông Trump, cung Phúc ở thế lục hại sao Vua (Tử vi); sẽ quyết định gia hay giảm ảnh hưởng tốt/xấu hay thúc đẩy vô hình  quyết định bỏ phiếu của cử tri HK và những nỗ lực riêng của chiến dịch vận động tranh cử Tổng Thống HK.

 Cung Phúc là mặt gương đàng sau của Mệnh-Thân vì tam hợp Phúc (Di-Phúc-Thê) bao giờ cũng đối xứng/đối nghịch với Mệnh (Mệnh-Tài-Quan). Mối liên hệ của Mệnh-Phúc như hình vớì bóng. Nhìn cung Phúc có thể biết phần lớn mệnh số sang hèn, hung cát của một đời người

 Phúc cung như một lu nước. Nếu một người chỉ biết lợi dụng Phúc tốt của riêng mình mà thụ hưởng nhưng không biết tu bổ, bồi đắp thêm thì lu nước đến ngày nào đó sẽ cạn kiệt lợi ích…

  Những chỉ dấu Phúc bạc có thể đoán biết được phần nào qua cố gắng đương đầu với những thử thách trong đời sống….mà tai họa cứ dồn dập vương vấn lên người.

 Ông Trump đã cố gắng toàn diện, nhiều mặt mà mặt nào cũng gặp nhiều trở lực, không như ý. Ông Trump đã có tiền bạc, danh vọng hầu như ngất trời… nhưng chỉ có một điều mà Ông hình như chưa có, đó là Phúc dư hay dư Phúc đức!.

 Nếu quả thật Phúc của Ông Trump đã cạn thì tuổi thọ cũng tàn theo chỉ vài năm nữa thôi.

Bài viết này nhìn vấn đề thời sự qua Tử vi. Do bởi đây là diễn đàn đại chúng nên bài viết không thể đi sâu vào chi tiết học thuật mà cần dễ hiểu, và đơn giản. Phương pháp luận số cũng vì thế được xào nấu theo cung cách “Mì Ăn Liền”.  Khoa Tử vi chỉ chính xác tương đối và những tín hiệu tốt/xấu trên lá số Tử vi giống như đèn Xanh/đèn Đỏ của hệ thống đèn lưu thông (đây chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ). Khi Bạn lái Xe vượt đèn đỏ, nào ai dám chắc rằng Bạn sẽ gặp tai họa ngay tức thì (?!) ./.

Mong tất cả mọi người an lành và may mắn…

 

Lê Anh  (tháng 8/2016)

Đoàn Minh Đạo: Dòng Thơ Trí Tuệ

 

Trần Thu Miên

LuoiMua

Lưới Mưa (2016) là thi phẩm thứ hai sau khi ông cho ra đời Trầm Tích Biển (2015). Cả hai tập thơ đều phát xuất từ một dòng tâm thức tràn ngập chữ nghĩa của trí tuệ.  Việc giới thiệu thơ Đoàn Minh Đạo, với tôi, rất khó vì hai lý do. Thứ nhất vì ông thầy giáo của tôi thời trung học ở tu viện Châu Sơn, Đơn Đương, và, thứ hai vì chữ nghĩa cùng tư tưởng trong thơ ông ở một vị trí cao hơn khả năng ngôn ngữ thi ca của tôi, một người xa lìa Việt Nam đã hơn 4 thập niên.  Tuy nhiên, khi nhận được hai món quà văn nghệ của thầy mình tôi hãnh diện và rất vui. Trong bài giới thiệu ngắn này, tôi sẽ bàn về dòng thơ Đoàn Minh Đạo dựa trên thi phẩm Lưới Mưa (2016).

 

     Thi tập Lưới Mưa gồm 19 bài thơ không nằm trong các thể loại thơ quen thuộc từ hình thức, ngôn ngữ đến tư tưởng. Thơ ông không đi ngay vào trái tim người đọc dễ dàng, nhưng đòi hỏi người đọc sự suy tư trên từng dòng và từng con chữ.  Để kể lại một nơi chốn cũ đã tan nát vì bom đạn trong chiến tranh, ông không kể như Trịnh Công Sơn, “Đại bác đêm đêm dội về thành phố,” nhưng qua thơ ông ta vẫn cảm nghiệm được ẩn hiện lác đác trên dòng chữ cô đọng nét hoang tàn đổ vỡ và những nỗi khổ cùng cực của chiến tranh:

 

Những thân tàu bong tróc ống khói và cần trục gỉ sét

Giương những cánh tay kêu cứu mệt nhoài

Thành phố nát nhàu những con đường thống thuộc

(Lưới Mưa, tr. 9).

 

     Cũng trong bài Lưới Mưa, ông diễn tả sự nghèo đói cơ cực của một miền quê xưa (có lẽ Quảng Trị).  Dù tôi chưa đến nơi chốn này, nhưng đọc kỹ những dòng thơ ông viết, tôi đã hình dung và cảm nghiệm được sự đói rét nghèo nàn của người dân:

 

Dáo giác cơn rét luồn về đất Quảng

Ngập ngụa bùn mưa Cam Lộ

Xoay chiều chiếc áo tơi lá

(Lưới Mưa, tr. 10)

 

     Chiếc áo tơi, theo mẹ tôi kể khi tôi còn bé, là áo che mưa của dân nghèo được dệt bằng lá cỏ loại dùng lợp mái nhà.  Người Việt Nam sinh ra và lớn lên ở thành thị hay từ giữa thế kỷ 20 đến nay có lẽ chẳng ai nhìn thấy chiếc áo tơi bao giờ.  Trong vài câu thơ trên Đoàn Minh Đạo đã vẽ lại được hình ảnh lịch sử thời bóng văn minh cơ khí và thị trường chưa phát triển ở Việt Nam.

 

     Từ hình ảnh quê hương cũ ẩn hiện qua ngôn ngữ thi ca, ký ức ông vẫn còn đầy kỷ niệm để ôm giữ, để ôn lại, nhưng ông cũng biết rằng những thương nhớ có dầy đến đâu đôi khi chả còn là gì:

 

Hoài niệm trân châu đôi khi là bụi đất…

(Và),

Giữ cũng từng là buông bỏ em ơi

(Lưới Mưa, tr. 11)

 

     Một bài thơ tôi yêu thích trong thi tập Lưới Mơ là bài “Tưởng Niệm, tr. 12-15). Bài này, tôi nghĩ, Đoàn Minh Đạo nói về một biến cố lịch sử rất đau thương bi đát của dân Miền Nam, Việt Nam, đó là ngày 30 Tháng Tư, 1975.  Nhưng, không như vố số những bài thơ bài văn đã được viết về bi cố lịch sử này, ông dùng ngôn ngữ đầy ẩn dụ:

 

Tháng Tư

Bằng trí nhớ cánh hạc đập vào khoảng lặng

Bất chợt là vùng mây bão

Tâm bão vịnh giả định

Lửa dập thẳng vách trường sơn

Đêm hoả châu mù mờ tung trên thành phố

Chiến tranh cứ vinh danh sự rẻ rúng con người

(Tưởng Niệm, tr. 12)

 

Và hậu quả quốc nạn 30 Tháng Tư được ông diễn tả tinh tế:

 

Man rợ phun đầu độc một khoảng trống thơ

Bằng những công trường mù

Dằn đầu ngọn roi sắt sau lưng

Mặt nạ cứu tinh biến hình khuôn chiếm đoạt

(Tưởng Niệm, tr. 13)

 

     Bài thơ “Khi Tôi Trở Về” (tr. 37), theo tôi, là một vẫn nạn về đức tin tôn giáo và quyền lực thần linh. Độc giả tín đồ Công Giáo hay người có chút ít kiến thức về tôn giáo này sẽ nhận ra ngay một nghịch lý giữa đức tin, giáo điều tín lý và logic đời thường. Làm sao một người với khả năng tư duy và lý luận khoa học lại có thể uỷ quyền phán xét lương tâm mình cho một con người?

 

Khi tôi về giữa đời vùi dập

Thần linh lột hết hành trang…

…………………………….

Đích thị lời phán quyết trang trọng thật sự

Đích thị trên toà phán xét

Đích thị ngồi toà giải tội

Băn khoăn nỗi thụ tạo lại quá quyền năng….

(Khi Tôi Trở Về, 37)

 

     Từ tôn giáo sang tình yêu, Đoàn Minh Đạo làm thơ như đạo sư ban bài sấm giảng. Chẳng hạn như trong bài Lòng Hoa (tr. 21-23). Ông viết:

 

Chuyến xe băng đèo

Trên vai người sửng sốt nhập hồn thu (tr. 21 )

 

     Hai câu này làm tôi liên tưởng đến đoạn đường đèo Đà Lạt qua Trạm Hành xuống Đơn Dương dù có thể ông tả về một nơi chốn khác, nhưng chẳng sao cả. Và ông phán tiếp:

 

Thị trấn liêu xiêu cao ốc dựng đều kẽm núi

Con đường đổ lại dòng sông

Trú ẩn cửa mật ngôn

Mở ra vừng ơi dẫn lời cứu rỗi…(tr. 22)

 

     Những hình ảnh trên thì hơi lạ, khó tim thấy ở quê nhà hơn 40 năm trước, tuy nhiên ta vẫn hình dung ra đoạn đường núi đồi nào rất xa và cũng rất gần. Dường như, không, chắc chắn là con đường ven biển từ Los Angless lên vùng Cựu Kim Sơn. Ở giữa cảnh núi đồi lạ lẫm nhưng gần kề ấy ông nói nhỏ với người yêu:

 

Hãy nói bằng những lời chim chóc

Xa mãi tuổi thơ cây cỏ núi rừng

Em yêu đừng thả tôi lạc lõng bên đường (tr. 22)

 

Đẹp quá hình ảnh người tình ông trong ba câu thơ sau:

 

Thương mãi em về lại phố

Nắng còn vương vai áo lụa

Xôn xao hồn cỏ mây hồng (tr. 23)

 

     Ở nơi chốn xa lạ, ông vẫn níu giữ hình ảnh “vai áo lụa” của hiện tại, nhưng cũng là từ một quá khứ, xa, có lẽ rất xa.  Cách đây vài năm, thầy tôi gửi tôi đọc bài thơ Thiền của ông, tôi vội chuyển ngay đến Nhất Chi Vũ nhạc sĩ bạn tôi, và nghĩ thầm, thế nào NCV cũng soạn thành ca khúc.  Quả nhiên bài thơ “Thiền Và Chiêm Niệm” nguyên bản đã thành ca khúc với dòng nhạc ẩn ấp chút dân ca Việt Nam, và cũng, ngất ngư vài âm giai Jazz. Bài thơ có những lời thơ nghe như Thánh Vịnh Kinh Thánh:

 

Từ ngoại thành cẩm chướng

Từ tảng đá góc tường

Từ nỗi đời dao động

Từ vật vã mù sương……

(Và rồi:),

Từ phán tán chảy vào ngày vĩnh quyết

(Thiền và Chiêm Niệm, Nhạc Nhất Chi Vũ, Boston)

 

     Thơ trong Lưới Mơ đề cập tới những khía cạnh gần gũi cuộc đời, nhất là cuộc đời một người biệt xứ.  Dù thi từ của ông không là ngôn ngữ đời thường, nhưng người đọc chiêm niệm ra được những mất mát, băn khoăn, hoài nghi, ray rứt về cuộc sống ẩn hiện sau những ẩn dụ trên từng dòng thơ và từng con chữ của tác giả, và dĩ nhiên, cũng là của chúng ta.

 

     Sau cùng, thơ Đoàn Minh Đạo cũng mở ra cho chúng ta cánh cửa hy vọng để bước qua những hoài nghi quằn quại của kiếp người. Vì, cho dù ta có thắc mắc hoài nghi về thân phận làm người chẳng có gì tuyệt đối hoàn hảo:

 

Tại sao ta mãi lớn lên quặt quẹo

Tại sao ta cứ lượn lờ trong hẻm ám ảnh mù câm

(Đất Hưu Canh, tr. 72)

Nhưng ta vẫn phải:

Đánh thức những câu thơ say ngủ đêm qua

Tiếng kèn và đàn dây như thúc giục chúng ta

(Đất Hưu Canh, tr. 72)

 

(Vì):

Một ngày mới sẽ mở sang trang viên nàng ngập nắng

(Đất Hưu Canh, tr. 77)

 

     Trân trọng mời bạn đọc đi vào cõi thơ Đoàn Minh Đạo, một cõi tràn ngập ngôn ngữ ẩn dụ trên dòng trí tuệ.  Bạn có thể tìm thơ Đoàn Minh Đạo trên các trang nhà thi ca như: Gió O: http://gio-o.com,  và Phố Văn: http://phovanblog.blogspot.com.

 

Trần Thu Miên
Boston College, cuối hè 2016

ThienVaChiemNiem_1page

Xebanhmi2

 

 

“Có phải Em là người không bao giờ tôi gặp,

Mới là người tôi ấp ủ trong tim”

(Tôi tìm em, – Tạ Hữu Thiện)

 

Gởi Phạm Quang Chiểu, bạn tù

hlh

 

 

Tôi “rửa lon”, – chuẩn úy lên thiếu úy –  nhằm Tết Trung Thu, đành bấm bụng mà đãi mấy xếp bánh Trung Thu và uống Champagne.

 

Dĩ nhiên, ngoài mấy ông lớn, không có đám “đệ tử” của tôi, là mấy hạ sĩ quan, binh nhất, binh nhì làm chung phòng. “Đệ tử” cũng không ai dám lai vãng ở câu lạc bộ, khi thấy mấy ông lon lá đầy mình tập trung ở đó.

 

Tối đó, nhằm phiên “sĩ quan trực”, xuất hiên ở phòng trực xong, tôi xuống câu lạc bộ, uống càphê với “lính lác”, cùng trực với tôi.

 

Trời chạng vạng, Hạ Sĩ Đảnh tới. Anh chàng tài xế nầy là người thường lái xe đưa tôi đi công tác Saigon hay các đơn vị phụ cận Saigon. Tôi khoái đi với tài xế Đảnh, nhắm chừng, anh ta cũng khoái lái xe cho tôi đi. Có lẽ vì vui!

 

Chuyện vui thứ nhất là anh ta thường vượt đèn đỏ.

Saigon hồi ấy, cuối thập niên 1970, đèn đỏ không nhiều, nhưng ưa vượt đèn đỏ là cái tính nghịch ngợm của anh ta. Có lần tôi nói: “Coi chừng đụng xe có ngày!” Anh ta bảo, “Chuẩn úy yên tâm. Tài xế ngon lành mà!”

 

Cũng có lần bị “đệ tử của Cò Dung” (Cảnh Sát Công Lộ) thổi còi, Hạ Sĩ Đảnh dừng xe, xin lỗi: “Tôi phải đi “hỏa tốc”. Ông Trung Sĩ Cảnh sát Công lộ không chịu, đòi lập biên bản, không thì gọi Quân Cảnh tới.

 

Đảnh nói: “Ông Cò muốn chi cũng được, nhưng tui đi “hỏa tốc”, chậm một chút là “chết cả đám.”

 

Nói xong, Hạ Sĩ Đảnh lôi trong xe ra một cái phong bì nhà binh, màu rơm, ngoài đóng dấu “HỎA TỐC”, nói:

 

-“Tui không nói ông cò làm khó, ông coi nè, quả tình tui đi “hỏa tốc”, bắt tui chờ đây cũng được, nhưng làm ơn ký tên vô mặt sau bì thư nầy, để có trễ hạn, tụi có cớ trình với thượng cấp.”

 

Tưởng thiệt, Thầy Trung Sĩ Cảnh Sát nói: “Thôi anh đi đi, việc quân như… cứu hỏa mà.”

 

Xe chạy rồi, Hạ Sĩ Đảnh và tôi nhìn nhau cười.

 

Tôi hỏi:

 

-“Ông” xài cái mửng nầy bao lâu rồi!”

 

-“Ông Thiếu Úy Chương bày cho em đó. Ông ấy là “luật sư”  bị động viên. Gặp đèn đỏ, ông bực mình, ông bày mưu vượt đèn đỏ cho lẹ.”

 

Tôi cười:

-“Bác sĩ dạy người ta vệ sinh, nhưng bác sĩ ở dơ thấy mẹ! Luật sư thì bảo vệ luật, nhưng ưa làm chuyện phạm pháp. Buồn cười thật!”

 

Không ít lần tôi đi công tác ở Chợ Lớn, “ma chay” mà, nghĩa là vô tận nhà tử sĩ, vô hẽm quẹo hai ba lần mới tới, để rồi “Báo tin người tử trận cho thân nhân”. Thanh niên Ba Tàu có cái lạ, một là vô cùng nhát gan, chạy chọt khỏi đi lính hay làm “lính ma lính kiểng”. Còn tình nguyện thì đi thứ dữ: “Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Cọp Ba Đầu Rằn, v.v…  Tôi phải đến “gia đình tử sĩ” không ít lần, sau khi lo cho thân nhân đâu đó xong xuôi, mới an tâm, có dư chút thì giờ mà “nghịch ngợm”. Thầy trò tôi, “ham vui”!

 

Chợ Lớn không thiếu con gái Tầu, đẹp hay không, không cần biết, nhưng “lạ”. Nhìn là biết ngay “gái Tầu”.

 

Có hôm tôi hỏi Đảnh – Đảnh sinh đẻ ở Chợ Lớn, nhưng cha mẹ thì Tầu “rặc”. Ba Đảnh còn nói được chút ít tiếng Việt, còn mẹ anh ta thì “mù câm”, nói chuyện với người Việt, thường phải có “thông dịch viên”:

 

-“Muốn chọc mấy con nhỏ nầy thì nói sao mậy?”

-“Thì “ông” cứ nói “ngộ ái nị”. Đảnh trả lời!

-“Ngộ ái nị” là tôi yêu cô?” Tôi lại hỏi.

-“Đúng rồi!” Đảnh nói.

Tôi cười, nói:

-“Nó chưởi cho mà nghe!”

-“Không đâu – Tụi nó hiền lắm! Có đứa nó nhăn răng cười lại nữa. Ông cứ chọc đi cho vui.”

 

Nghe lời Đảnh, tôi diễn cái trò “Ngộ ái nị” nhiều lần; cũng vui. Mấy cô Tầu Chợ Lớn đang đi bên lề đường hẽm, bỗng thấy một sĩ quan ngồi trên xe Jeep, ngoái cổ ra nói vậy, họ ngạc nhiên. Thường cúi mặt tiếp tục đi, e thẹn; có cô trố mắt nhìn, ngạc nhiên; có cô cười tủm tỉm.

 

“Cầm dao lâu ngày đứt tay”. Mẹ tôi dạy như vậy, nên có hôm tôi bị “tổ trác”.

 

Đúng ra, tôi không nên nói câu ấy với cô nàng nầy. Trông qua, thấy hơi khác, không phải cách ăn mặc như gái Tầu Chợ Lớn, nhưng vì quen thói, tôi nói bừa: “Ngộ ái nị!”

 

-“Phải không đó! Tôi không phải Tầu đâu nhá.”

 

Tôi tái mặt, nói với Đảnh: “Dọt lẹ! mầy! Không phải Tầu.”

Hai chúng tôi lại cười ngất nga ngất ngưởng. Không lo. Cô ta đi bộ, chúng tôi đi xe, làm sao cô ta theo kịp mà chưởi chúng tôi.

 

 

&

 

 

Tối đó Đảnh cùng trực với tôi, anh tìm tôi ở câu lạc bộ. Đưa cho tôi ổ bánh mì nguội gói giấy báo, Đảnh nói:

 

-“Tui mua ổ bánh mì mừng ông thầy lên lon.

Tôi hỏi:

-“Uống càphê hay bia, tui đãi ông?

-“Một càphê đá”, Đảnh gọi vào bếp. Thấy tôi đang bẻ đôi ổ bánh mì, Đảnh nói:

-“Ông thầy ăn hết đi. Đừng bẻ cho em.”

-“Ngon không mầy?” Tôi hỏi.

-“Ngon lắm!”

 

Dù mới ăn cơm chiều ở nhà xong, tôi vẫn ăn hết ổ bánh mì thịt nguội. Tôi khen ngon.

 

Đảnh nói:

-“Thiếu úy biết xe bánh mì nầy không? Khi nào đói, ghé lại mua mà ăn!”

-“Ở đâu?” Tôi hỏi.

-“Ngã năm Chuồng chó” này nè! Xe nầy mới xuất hiện hơn tháng nay. Người ta mua đông lắm. Cô bán hàng cũng… đẹp. Ra trễ là hết hàng.” Đảnh ca tụng xe bánh mì.

-“Để tui ghé lại coi!” Tôi nói.

Đảnh chọc quê tôi:

-“Mua bánh mì chớ không phải nghía cô chủ đâu nhé! Tranh không lại đâu!”

-“Tui chưa vợ mà “ông”, hơn thua cũng phải lo kiếm vợ chớ!” Tôi vừa nói đùa vừa cười.

 

 

&

 

 

“Ngã Năm Chuống Chó” nằm ngay trên đường tôi đi/ về mỗi ngày. Bên kia ngã năm là “Trại Cẩu Cẩu”. Chúng tôi nói đùa như thế thay cho cái tên “Trại Quân Khuyển”; bên nầy là “Xe Bánh Mì Thịt Nguội”.

 

Cái xe thì cũ, chủ nhân thì mới. Để tiết kiệm, chắc người chủ mua lại cái xe của ai đó.

 

Khoảng 6 giờ chiều, trời mùa hè, còn sớm, cái xe bánh mì đã xuất hiện với hai hoặc ba người bán hàng: Một người đàn bà lớn tuổi, có lẽ là mẹ, – Tôi đoán đúng, sau nầy tôi nghe hai cô con gái cùng bán gọi bằng má. Dáng dấp của bà, trông có vẻ là một cô giáo hay công chức, thư ký, không phải là người lao động chân tay. Hai cô gái thì một cô là chị, 17 hay 18 tuổi, không đẹp, nhưng nhìn vào biết ngay là người phúc hậu, – giống mẹ – và cô em, 14 hay 15 tuổi gì đó. Tuổi nầy thì dành cho mấy anh sắp tốt nghiệp trung học hay mới vô đại học. Tuổi tôi thì phải “chọc” cô chị mới xứng đôi. “Nồi nào úp vung nấy”.

 

Ban đầu, chiều nào tôi cũng ghé mua bánh mì. Trên đường vô trại thì đem vô trại ăn. Trên dường về nhà thì mua về nhà, ai ăn thì ăn. Mua bánh mì là cái cớ để “ngó” cô chị. Trước khi cầm ổ bánh mì lên xe, bao giờ tôi cũng tần ngần, hay giả bộ tần ngần. Khi nào đông khách, cô chị mới không thấy cái vẻ “đi không đứt” của tôi. Khi vắng khách, dĩ nhiên cô ta thấy mà thấy rõ nữa. Tôi đóng kịch hay lắm, hồi còn đi học, văn nghệ hay lửa trại, thế nào cũng có màn kịch hài của tôi và bạn học.

 

Có lần tôi còn lục ví kiếm tiền, giả bộ “sĩ quan nghèo”. Bọn con gái mới lớn, hay thương người nghèo, như “Gia Huấn Ca”: “Thấy người đói rách thì thương.”

 

Sau lần tôi diễn trò “sĩ quan nghèo” đó, cô chị nói: “Từ nay, mỗi lần, Hạnh bớt cho thiếu úy một đồng một ổ.” Tôi mừng! Thế là cô ta “trung kế” của tôi. Sau đó, tôi tìm cách hỏi chuyện khi vắng khách. Mua hơi trễ thường vắng khách:

 

-“Hạnh có nghĩ tên Hạnh thì được hạnh phúc không?”

-“Sao lại không? Hạnh là tiếng trước của Hạnh Phúc mà!” Cô ta trả lời, với một sự tin tưởng mạnh mẽ, lộ trên mặt.

-“Xin lỗi!” Tôi nói. “Tên cô làm tôi nhớ cái chuyện ngắn “Hạnh” của Khái Hưng trong “Hai Buổi Chiều Vàng.”

 

Mặt cô ta xịu xuống. Có lẽ cô ta đã đọc truyện ngắn đó. Chương trình Việt Văn lớp Đệ Nhị phải học “Tự Lực Văn Đoàn””.

 

Thấy vậy, tôi nói, giọng hơi hốt hoảng:

-“Chết! Tui vô ý quá, xin cô đừng buồn. Nhưng cái truyện ngắn nó ám ảnh tôi dữ lắm, tôi thấy thương những người tên Hạnh. (Phần nầy tôi nói hơi chậm lại một chút, ít ra, cô ta phải nghe rõ mấy tiếng “Tôi thấy thương những người tên Hạnh). Xong, tôi lại rối rít xin lỗi một lần nữa, rồi vội vàng cầm ổ bánh mì lên xe dọt mất.

 

Làm như vậy là “đúng bài bản đấy”. Mình gây cho người ta một ấn tượng gì đó, rồi vội vàng xin lỗi mà dọt lẹ. Chắc chắn, người đó không thể không nghĩ về mình: Ghét, thương, giận, vui…

Cái gì cũng được, nhưng phải để lại một ấn tượng. Đó là “nghệ thuật cua gái”, nhiều nhà văn, nhà thơ hay dùng đòn phép nầy! “Nghệ thuật” nầy, tôi “học lóm” bên Pháp, khi tôi học luật bên ấy, do một số bạn bè qua Tây “truyền nghề” lại cho. Con gái Paris đẹp, dễ “cua”, nhưng phải có “nghệ thuật”. “Nghệ thuật” nầy có từ lâu đời của dân Paris chính hiệu.

 

Tối hôm sau, tôi lại ghé mua bánh mì!

Hạnh làm bánh mì cho tôi, sau khi chào tôi qua loa. Tôi đoán chừng trong lòng Hạnh cũng “đánh lô-tô” đấy. Vẻ bình tình bên ngoài, tố cáo những ngọn sóng trong lòng. “Đưa người ta không đưa sang sông, Sao có tiếng sóng ở trong lòng”. Thâm Tâm bảo có sông mới có sóng. Ở “Ngã Năm Chuồng Chó” nầy, làm gì có sông, nhưng chắc cũng có “sóng trong lòng” đó.

 

Tôi lại đóng kịch như các hôm trước, tay cầm ổ bánh mì, chân “rời rả” đi ra chỗ dựng xe. Bỗng tôi nghe Hạnh gọi tôi: “Thiếu úy!”  – Tôi dừng lại chờ đợi. Hạnh nói: “Thiếu úy muốn nói chuyện với Hạnh, mai mốt đến giờ nầy hay trễ hơn một chút.”

 

Bấy giờ tôi mới để ý thấy trước xe bánh mì không còn khách.

 

Tôi quay lại, nói, trầm tỉnh: “Thế nào rồi tôi cũng đi xa. Nếu Hạnh và tôi có nói gì đôi điều với nhau, cũng là một kỷ niệm.”

Hạnh nhìn tôi, hơi ngạc nhiên, vì câu tôi nói: “Tôi cũng đi xa”. Tôi cúi đầu chào Hạnh, miệng lí nhí: “Tối mai tôi lại ra mua bánh mì.”

 

 

&

 

 

Trong chiến tranh, gia đình nào cũng có nhiều điều lo lắng. “Em nghĩ tới một điều em không dám nghĩ, nghĩ tới một người đi giữa chiến tranh”. Tô Thùy Yên hay Trần Thiện Thanh nói vậy, hát vậy. Đối với những gia đình có người thân ngoài tiền tuyến, có bao giờ hết lo lắng.

 

Gia đình Hạnh là gia đình cố cựu, một “tiểu công chức” của đất Gia Định nầy. Thân phụ cô làm ở Ty Bưu Điện. Mẹ là cô giáo tiểu học. Nguồn gốc chắc cũng không phải là nghèo. Ngôi nhà họ đang ở, tuy là nhà cũ, ba gian, hái chái, lợp ngói âm dương, trong một khu vườn có trồng nhiều cau, bên cạnh đường Lê Quang Định cũ, là cái nét chung của những gia đình cố cựu khá giả nơi nầy.

 

Nếu không có chiến tranh, gia đình nầy có thể sống no ấm, êm đềm. Tuy nhiên, một phần vì xã hội phát triển, con cái cần phải tốt nghiệp đại học, nên chi tiêu gia đình tăng lên. Đó là điều vất vả thứ nhất cho cha mẹ.

 

Thứ hai, gia đình Hạnh lại chỉ có một con trai cả, tiếp sau là ba em gái, Hạnh là chị gái lớn nhứt. Anh của Hạnh, Luận, đang học Luật, bỗng nhiên tình nguyện nhập ngũ. Từ khi Luận vô quân trường, cho đến khi anh ra đơn vị đóng ở Bình Định, sợ con không đủ sống vì tiền lương nhỏ, ba má Hạnh phải lo “tiếp tế” cho con trai. Gánh nặng tài chánh, đã nặng, lại nặng thêm. Ba má Hạnh, nhất là bà mẹ, phải vất vả. “Xe Bánh Mì Thịt Nguội” nầy xuất hiện, là cái mục đích kiếm thêm tiền cho gia đình và cho cậu con trai đang ở ngoài chiến trường.

 

Ba Má Hạnh thương con trai, dĩ nhiên, vừa là con trai độc nhứt, lại vừa “đang ở lính”. Hạnh và các em Hạnh cũng rất thương Luận; anh trai mà! Đứa con gái nào lại chẳng muốn có một người anh trai, mà Luận thì vui tính, hay chọc ghẹo cho các em gái cười. Hạnh nói: “Anh ấy đi lính rồi, nhà trống trải lạ lùng. Nhiều khi đi học về, không thấy ảnh, muốn khóc luôn.”

 

Tôi hỏi: “Ở nhà ổng quậy dữ không?”

-“Cũng có, nhưng mà vui thôi. Đám bạn Hạnh, không cô nào không bị anh ta ghẹo. Ghẹo nhưng lịch sự lắm. Con nhỏ nào cũng nói “Ghét anh mầy ghê!” Nhưng ảnh đi rồi, con nào cũng hỏi thăm, hỏi hoài. Anh là người vui tính, đem nụ cười lại cho tụi nó mà!”

 

-“Bồ nhiều không?” Tôi lại hỏi.

-“Anh ấy mà yêu ai! mà ai chịu ảnh được, ngoài bọn em gái ảnh.”

-“Không yêu ai?” Tôi hỏi.

-“Hình như ảnh nghĩ ảnh sẽ đi lính, nên không muốn “dây dưa”.

-“Tại sao lại cứ nghĩ chuyện đi lính. Con trai độc nhứt. Cha mẹ già 60 tuổi, có điều kiện mà! Bộ ưa làm ông tướng chắc!” Tôi nói, như có vẻ cằn nhằn.

 

-“Đừng nói vậy” Hạnh nói – “Nghe được, ảnh buồn đó! Ba má Hạnh chưa tới 60 tuổi, mà ảnh thì hình như có cái máu “Nam Bộ Kháng Chiến”, ngày trước thì người ta hăng hái chống Tây, ngày nay thì hăng hái chống “ngoài kia xâm lăng” mình. Thiếu úy nhớ Lục Văn Tiên không?”

 

Tôi đọc: “Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha!” Rồi tôi nói tiếp: “Đúng rồi! “Lòng trần còn tơ vương khanh tướng” mà làm chi!”

 

 

&

 

 

Mấy hôm sau, lại trúng phiên trực. Ký tên vào sổ trực ở “Phòng Trực”xong, tôi lại xuống câu lạc bộ, tay cầm hai ổ bánh mì, một cho tôi và một cho Đảnh. Hạ Sĩ Đảnh thường trùng phiên trực với tôi.

 

Chúng tôi hai người cầm hai ổ bánh mì mà “ngoặm”, Đảnh hỏi:

-“Dính chưa?”

-“Dính gì mầy?” Tôi hỏi.

-“Cô bán bánh mì đó!” Đảnh trả lời.

Tôi cười:

“Thưa rằng đừng lấy làm chơi!” Con nhà đàng hoàng đó mậy! Không giởn mặt được đâu!”

-“Em có nói “ông thầy” giởn đâu. Cô ta con nhà đàng hoàng. Còn ông thầy bộ không là gì chắc? “Môn đang hộ đối” chớ gì nữa.” Đảnh nói.

-“Thôi! “Lỡ khi mình không về, thì thương người…” Tôi cũng bị ám ảnh bởi câu chuyện của Luận, do Hạnh kể lại nên trả lời bằng cách đọc câu thơ của Hữu Loan.

 

-“Ông nói cười không! Học luật bên Tây về, làm việc ở “Bộ Chỉ Huy”, làm sao ra tác chiến. Chữ “thọ” to tổ bố mà còn…”

 

Tôi không trả lời Đảnh!

Tốt nghiệp ở bên Tây, “Me” tôi bảo đừng về, về là bị gọi động viên. Ba tôi không nói gì cả. Về chưa bao lâu thì tôi nhận lệnh gọi, vào quân trường.

 

Máy IBM cũng lạ. Cũng như mọi người, tôi cứ nghĩ là tôi sẽ trình diện Nha Quân Pháp, hay ít ra cũng “Quân Cảnh”. Vậy mà tôi lại “đi Thiết Giáp”, học lái xe “tăng” M-41, Thiết vận xa M-113, V.100, học bắn đại bác, đại liên, đội hình tác chiến, di hành, hộ tống, lội nước…

 

Có lần Đảnh hỏi tôi: “Học đại học bên Tây, trường ốc to lớn đẹp đẽ, bộ không hơn chui vô xe học lái M-113 hay sao?”

 

Tôi cười:

-“Do mình thích hay không thích. Sinh viên mà học đại học bên Tây thì còn gì bằng. Còn như học lái xe “tăng”, cũng có cái vui lắm chớ. Ngồi trên M-113, lõ mắt ra mà tìm một nơi cho xe xuống nước mà không bị mắc lầy. Ra giữa sông lại hồi hộp, qua bên kia cầu Rạch Chiếc, tìm chỗ để lên cho gọn, cũng thú lắm chớ. Nó cho mình những cái cảm giác lo lắng, hồi hộp, căng thẳng…”

 

Đảnh cười:

-“Ông thầy đúng là người ưa cảm giác. Em thì nhắm làm liều cho xong, chớ có thú vị gì đâu!”

 

Tôi nói:

-“Ông” nói vậy là không đúng đâu. hồi học trung học, tui cãi với ông thầy khi ông nói: “Cầm dao giết người, người ta cũng thấy cái thi vị của nó”. Sau, học lên nữa, tui thấy ông thầy có lý. Ông “Tự vệ Việt Minh” thấy khoái khi cầm mã tấu chặt đầu một người mà anh ta cho là “Việt Gian”. Trong Thập Tự Chinh, người Tây cũng thích thú giết một người Hồi Giáo. Tụi “ba K” cũng thấy sướng khi đốt nhà người da đen.”

 

Tôi phải giải thích thêm cho Đảnh các ví dụ trên vì trình độ học vấn Đảnh không cao.

 

Nghe những chuyện lịch sử như tôi kể, Đảnh thích tôi lắm.

 

Tôi học tà tà, miễn xong thì thôi. Ra trường đậu trên trung bình, chọn đơn vị xong, lại có sứ vụ lệnh về trình diện Bộ Chỉ Huy, do một động cơ có “mùi nhang trầm thứ thiệt”. Ông Tướng Vùng quen thân với ba tôi, sợ tôi “Tổ Quốc Ghi Ơn” bèn gọi về “Đơn vị không tác chiến”.

 

Về đây, tôi “đụng” ngay một chuyện làm tôi hơi chột dạ. Hôm lên trình diện Đại Tá Tham Mưu Trưởng, ổng nói, rất từ tốn, như bản tính của ông vậy: “Mình ở đây, không tác chiến, không cần phải đeo “lon” ngụy trang chuẩn úy à!”

 

“Lon” ngụy trang là “lon” màu đen. “Lon” thông thường là màu đồng.

 

Trong hai năm phục vụ ở đơn vị không tác chiến, tôi cứ “lấn cấn” hoài. Ở đây, từ các ông sĩ quan già lon nhỏ cho đến các sĩ quan “lon” to, “lon” nhỏ, ông nào cũng phải ít ra hai năm ở “đơn vị tác chiến” mới về đây. Có ông “đánh đấm triền miên”, “thừa sống thiếu chết”, “sẹo đầy mình”. Vả lại, tôi còn trẻ, còn thanh niên, suốt ngày dạ, dạ, thưa, thưa mấy ông lớn… mệt lắm, vì ở đơn vị chỉ huy, ông lớn thì nhiều mà ông nhỏ thì ít. Quanh đi quẩn lại, lon lá như tôi, đếm chưa đủ năm đầu ngón tay.

 

Thế rồi một đơn vị mới, – cấp trung đoàn -, được thành lập, vùng hoạt động là quanh Saigon hoặc rộng hơn chút ít, không phải đi xa. Ông Thiếu Tá Trưởng Phòng Nhân Viên, biết tính tôi, hỏi: “Sao? Ưa ở đây hay ra Thủ Đức. Đơn vị đóng ở Thủ Đức đó!”

 

Tôi giấu Ba Me tôi, và tôi xin đi! Đơn vị đóng ở Thủ Đức, cũng đi đi về về Saigon, tuy ít về hơn. Ba Me tôi không hay biết gì cả.

 

 

&

 

 

Tôi ghé vào Xe Bánh Mì gặp Hạnh, nói: “Còn gặp Hạnh nhiều lần nữa, nhưng không phải mỗi ngày. Tôi lên Thủ Đức.”

 

Hạnh nói:

-“Anh Hai mấy lâu nay không về phép. Có anh, Hạnh nói chuyện cho vui. Nay anh lại đi rồi…”

-“Đành vậy! Biết sao! Tôi cũng như anh của Hạnh vậy, đàn ông con trai mà! Đâu chịu ở yên!”

-“Đàn ông con trai”! Tiếng ấy nghe sao mà buồn vậy, cứ bỏ đi xa hoài, hết người nầy đến người khác.

 

 

&

 

 

 

 

Tôi cứ tưởng đơn vị còn đóng ở Thủ Đức lâu. Công việc tà tà, hành quân tà tà, khỏe chán!

 

Ai ngờ!

Bỗng “Mùa Hè Đỏ Lửa”. Nhân “Ngày Quân Lực 19 tháng 6”, Tổng Thống ra lệnh, ba tháng phải chiếm lại “Cổ Thành Quảng Trị”. Toàn bộ đơn vị tôi chuyển ra Trung, tăng cường cho “Chiến Trường Trị/ Thiên”, xe lớn, xe nhỏ xuống Vũng Tầu, lên tầu thủy ra Đà Nẵng, từ Đà Nẵng ra Huế rồi chia nhỏ, yểm trợ cho các đơn vị Dù và Thủy Quân Lục Chiến đang tiến chiếm Cổ Thành. Vậy là không những hành quân “mút mùa Lệ Thủy” như các đơn vị bạn mà chiến trường thì mù mịt khói bụi, cát bay, núi lỡ…

 

Tôi triền miên theo đơn vị. Con đường thì không dài, chỉ 60 cây số từ Huế ra Quảng Trị mà xe tăng đi chậm dữ: từ 19 tháng 6 đến 16 tháng 9 mới tới nơi, cũng may, chưa tới ba tháng như Tổng Thống ra lệnh.

 

Dĩ nhiên, sau chiến công, tôi được ông Trung Tá đơn vị trưởng gọi lên. Ông bảo:

-“Cậu về phép, một tuần.”

Tôi cãi:

-“Em có xin phép đâu!”

-“Tôi biểu cậu đi phép thì cậu đi đi!” Ông Trung Tá hơi to tiếng.

 

Tôi làm thinh. Hiểu rồi. Ba Me hay bạn bè Ba Me “vận động” đây. Hôm sau, tôi thay bộ đồ nhà binh còn ngon lành, lên ban chỉ huy nhận giấy phép. Ba tháng hành quân liên tục, tìm được một bộ đồ ngon lành, không dễ đâu; khác với hồi còn ở Saigon.

 

Ông Đại Úy Chi Đoàn Trưởng Chỉ Huy Công Vụ nói với tôi: “Tôi xin máy bay rồi đấy! Tôi cho xe đưa thiếu úy đi Phú Bài, tới ban Chuyển Vận, đưa giấy phép ra là có máy bay.”

 

Về tới Saigon lúc gần nửa đêm, tôi nhờ xe quân sự, ra Saigon rồi đi taxi về nhà, “gặp Ba Me và các anh chị em”.

 

Nghỉ xã hơi hai ngày, tôi lấy xe hơi của ba tôi, về thăm bạn bè, lính lác ở đơn vị cũ.

 

Đang lái xe trên đường Lê Quang Định, qua khỏi Xóm Gà, tôi thấy một “cô nường” đang chạy xe PC bên đường. Cô gái có thân hình khá đẹp, eo ót rõ ràng. Qua khỏi cô ta, tôi nhìn lại. Té ra Hạnh. Đầu cô bịt khăn tang. Tôi tấp xe vô bên đường, mở cửa xe bước ra, chờ cô ta tới, kêu to: “Hạnh!”

 

Cô ta dừng lại, hai tay cầm ghi-đông, cúi đầu xuống rồi… khóc nức nở. Hạnh khóc giữa đường làm tôi hết sức bối rối. Chưa kịp hỏi cô ta để tang cho ai thì cô ta nói, cùng tiếng khóc: “Anh Hai em tử trận rồi.”

 

Tôi tưởng như trời sập! Thương Hạnh quá!

 

Hết sức xúc động, tôi để tay tôi trên bàn tay cô còn ở ghi-đông xe: “Chia buồn! Anh thành thật chia buồn. Cái điều mà mình lo, mình sợ, cuối cùng rồi cũng tới!”

 

Bỗng dưng tôi nhận ra một điều. Không như trước kia, cô ta xưng tên, bây giờ, cô ta xưng “em”. Còn tôi thì buột miệng xưng “anh”. Không biết cô ta có nhận ra điều đó không!

 

Tôi mời Hạnh vào cái quán sinh tố bên đường. Hai người uống hai ly. Muốn hỏi thăm mà không biết hỏi chuyện gì. Hỏi về anh Hai, sợ làm cô ta khóc, đành hỏi bâng quơ cha mẹ, thăm sức khỏe…  rồi cũng chẳng biết nói gì hơn, bối rối quá!

 

Tôi vốn là người, như me tôi nói: “Lanh mồm lanh miệng”, vậy mà tôi không biết hỏi hay nói cái gì. Chữ nghĩa, ý tưởng bỗng dưng trốn đâu mất biệt khỏi trí óc tôi. Hạnh cũng vậy, cô ta cũng không nói gì, ngoại trừ câu: “Anh Hai chết rồi, má em bỏ bán bánh mì, không cần việc ấy nữa.” Tôi biết, bán bánh mì là để kiếm thêm tiền cho con trai. Nay con trai qua đời rồi thì Má Hạnh dẹp xe bánh mì là đương nhiên. Nghĩ thì nghĩ vậy, mà nói thì không nói được.

 

Rồi tôi và Hạnh chia tay. Hạnh cho địa chỉ nhà, tôi đến thăm một lần. Không khí trong nhà buồn bã vì người con trai tử trận chưa lâu. Bàn thờ có hình Luận, có nhang đèn thắp sáng, nhưng sao mà âm u quá vậy?! Ba má Hạnh chào hỏi xong, để tôi và Hạnh ngồi nói chuyện với nhau.

 

Bây giờ thì buổi chuyện trò bớt buồn hơn, nhưng tôi cũng không dám đi xa hơn về tình cảm giữa tôi và Hạnh. Người ta đang buồn, sợ nói ra… lạc đề, đợi có dịp về phép nữa, bày tỏ mấy hồi, tôi nghĩ vậy. Rồi tôi kể vài chuyện đánh giặc, suýt chết ở ngoài Trung. Hạnh thì kể chuyện được bổ làm giáo sư ngay tại Gò Vấp, sau khi đậu tú tài.

 

Một tuần lễ ngắn ngủi trôi qua, chưa kịp thăm Hạnh lần thứ hai thì… hết phép. Tôi xin máy bay trở về đơn vị ngoài kia, hy vọng có kỳ nghỉ phép kế tiếp sẽ về Saigon, lại đến thăm Hạnh.

 

Mọi việc không như tôi hy vọng. Sau Hiệp Định Paris 73,  phía Cộng Sản vi phạm hiệp định liên tục, “lấn đất giành dân”. Tôi bị ông Trung Tá đơn vị trưởng gọi liên tục, đi theo ông, góp ý với ông, khi hai phe tranh cãi việc vi phạm hiệp định. Đến khi Cộng Sản Bắc Việt “tổn tấn công” vào đầu năm 1975, thì đơn vị tôi được lệnh rút, từ Diên Sanh, Quảng Trị về Thuận An, Thừa Thiên và “tan hàng” ở đó. Tôi theo đám tàn quân đi dần về Nam, rồi vô trại cải tạo. Cấp bậc trung úy, chức vụ: Chi Đoàn phó,  tương đương với 5 cuốn lịch tù.

 

&

Khi tôi đi tù về thì mọi sự … đều tan hoang. Ba tôi qua đời khi tôi mới vô tù được hai năm. Tôi không về chịu tang cha được. Me tôi và các anh chị em đều… vượt biên, định cư ở Mỹ.

 

Không đến nỗi đói khổ như các bạn tù khác, tôi sống tà tà và không có tương lai. Và dĩ nhiên, tôi tìm về nhà Hạnh ở Gò Vấp. Nhà đã đổi chủ, người mới là hai ông bà cán bộ Bắc Kỳ. Gia đình Hạnh nhờ một cơ may nào đó, di tản vào những ngày cuối cùng, khi miền Nam còn thoi thóp.

 

Tôi cũng như nhiều người, ra Sở Ngoại Vụ, lo việc “đi HO”. Điều buồn cười là bản thân tôi có “nhiều vé trống”. Điền tên ai vô bây giờ cho người ta đi cùng.

 

Bấy giờ thì tôi cũng đã già. Bên Tây về, tôi cũng đã quá tuổi 25. Bao nhiêu năm lính, bao nhiêu năm tù qua đi. “Sáu mươi năm cuộc đời”, tôi đã “xài” mất 40 năm. Hai mươi năm còn lại, đâu còn bao nhiêu, để “yêu ai”! Tình yêu chỉ là khi còn trẻ thôi, như khi tôi gặp Hạnh, mà vì chiến tranh, “Kỷ kiến hữu nhân hồi”, tôi cũng như Luận, anh của Hạnh, còn không nghĩ tới chuyện yêu nữa, huống chi bây giờ. Đôi khi chải tóc, tôi thấy có lắm sợi bạc rồi. Có thể vì đời tù gian khổ mà tóc mau bạc, mà cũng vì bốn mươi rồi còn gì!

 

Thế rồi một người bạn học, mà cũng là đồng ngũ, “đồng tù” nói với tôi: “Mầy lấy con Nhung đi. Chồng nó tử trận hồi 1974, để lại hai đứa con. Nhà nó nghèo, buôn bán tất tả nuôi con. Cứu ba mẹ con nó, còn hơn mầy xây cả chục cái chùa mầy à!”

 

Tôi ừ! Không chần chờ, không suy nghĩ, không vì Nhung đẹp hay xấu, không vì Nhung già hay trẻ. Tôi cho việc làm nầy còn hơn Me tôi đi chùa cả đời Me nữa.

 

Và rồi tôi dắt ba mẹ con lên máy bay đi Mỹ, tôi vui như mọi người, với một “gia đình nhỏ”. Gặp Me ở Mỹ, chắc Me tôi cũng… ngạc nhiên vì tôi có vợ và có… hai con. Riêng về tôi, ở một góc nhỏ nào đó trong trái tim tôi, vẫn là hình ảnh của Hạnh, một người tôi yêu nhưng chưa bao giờ nói với nhau tiếng “Yêu”!

 

Hoàng Long Hải

Bão

 

Cơn bão nghiêng đêm
Cây gãy cành bay lá
Ta nắm tay em
Cùng nhau qua đường cho khỏi ngã
Cơn bão tạnh lâu rồi
Hàng cây xanh thắm lại
Nhưng em đã xa xôi

Và cơn bão lòng ta thổi mãi.

(1957)

Tế Hanh

 

ConBaoNghiengDem

 

Nghe nhạc: Thơ Trần Trung Đạo, nhạc Võ Tá Hân – trình bày: Bảo Yến

Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười

 

19a

Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười

 

 

Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm Mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi

Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương

Tiếng Mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao vói
Biết đến bao giờ trông thấy nhau

Đừng khóc Mẹ ơi hãy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ
Đau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười

 

Trần Trung Đạo

 

 

 

17a

BÓNG MẸ

 

Tháng Bảy Mùa Vu Lan. Bóng Mẹ
trong hồn con lãng tử chưa về.
Đêm qua say đọc thơ vô kể
Vần điệu cài bóng hạc trời quê!

Lòng thương nhớ không thể đo đếm
Không thể đổi được tấm vé tàu xe!
Tôi đấm ngực trái tim tôi khóc
Bóng mẹ mong con đứng trước hè.

Tôi gọi phôn,Mẹ cười Mẹ khỏe
Tay chưn Phật độ vậy thôi mà.
Nghe tiếng Mẹ ấm lòng đất khách
Thấy sáng lừng trời phía quê xa!

Tôi đến chùa tọa thiền cầu nguyện
Trần gian vui trên ngực bông hồng.
Bóng Mẹ trong hồn tôi hiển hiện
Nụ cười hiền con mãi tây đông!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

DaDieu_Man

Ngụ ngôn con đà điểu

tặng G
con đà điểu rất tinh khôn
chui đầu vào cát để còn tồn sinh
nó quên sướng được phần mình
còn thân thuộc biết điêu linh cõi nào

con đà điểu rất mưu cao
mặc cho chim chích chào mào tanh banh
một mai ổ lót ngon lành
chân cao đà điểu xí phần công cao

rủi như tan nát phong trào
đầu chui dưới cát ai đào bới đâu
khôn lanh không mất công hầu
mặc ai lội trước đi sau tháo giày

cần gì phải cất cánh bay
gặp cuồng phong sẽ nát thây , điên à !
một đời rúc hưởng hương hoa
tựu trung khôn lỏi một đà điểu thôi

muốn làm đà điểu nhưng tôi
lỡ làm con cóc bên trời nghiến răng

Nguyễn Hàn Chung
13/8/16

Thơ Nam Dao

5c38cff23a669186a083cac69a8fa69b

Biển ngộ độc

 

 

Sóng lăn theo tay

cát lăn theo chân

người lăn theo lăn theo người

biển sụp

triều dâng bóng xế sóng bạc đầu

 

&

Sóng vỗ đêm đen

tóc trắng hơi men

mùa say lúy túy

biển ngộ  độc

hàng trăm hàng ngàn con cá chết  ngạt giạt vô  bờ

 

&

Sóng khóa trái tay

cát ngáng chéo chân

bóng tà chao nghiêng

cuộc tình lỡ dở

con dã tràng trên bờ

quên về xe cát

biển đông, ới  hỡi biển đông

 

&

Bãi biển trải dài

chẳng còn một ai

Lưới cá thả dài

nào đâu còn cá

ngư phủ vò đầu 

mắt tròn  bỡ ngỡ

biển đã vỡ

non nước rồi sẽ ra sao

chẳng  lẽ người  người  trơ  mắt  ngóng chiêm bao ?

 

Nam Dao

102456960242195754kg57bFVGc

Cận Cảnh Giấc Mộng.

 

nhắc tới thời kì cách mạng 

tháng tám 

chả khác nhắc tới bọn du côn 

du thủ du thực 

 

thời đó bố tôi đã chết 

rồi 

liền sống lại

tôi thì ngày/ tối trước nguyên dấu hỏi (?) to

 

mật thám tây hễ bắt việt minh 

là treo lơ lửng 

bọn việt gian thanh toán nhau 

tuyền mã tấu

 

vợ bé năm cam 

đứng hẳn trong mộng 

nhìn đồng hồ (ả kêu đổng!) chốc chốc báo

tôi hay- bọn sớm đầu tối đánh- di chuyển 

từ hàng ngũ cách mạng ra

nhiều vô kể (tụi ưa đánh đồng- mẹ 

vào quê hương/ xứ sở 

 

tụi ba xạo 

cạn đề tài 

nửa mùa- mua vui không đủ trống canh!)

 

tôi được chuyển sang công tác giật dây

các cơ sở 

nghe ba duẩn đọc báo cáo 

chính trị- tôi nói 

chả có cơ sở để giải thích tại sao- ta 

lại trước nguyên dấu hỏi (?) to

 

tụi du côn 

du thủ du thực hay khịt

khịt- mũi 

tưởng chúng khinh bỉ cách mạng 

nhưng đếch phải

 

tôi chả để bụng 

thuở ấy tranh giành địa bàn hoạt động 

giữa cách mạng với du côn

du thủ du thực chém xong hè nhau cướp của 

uống rượu

 

tôi đã sống với tình trạng 

luôn đột nhiên dậy cảm tưởng- mình đang trong 

lòng cách mạng 

từ cổ 

trở xuống bụng 

thành một cái ống rỗng- có lần bất thần nhìn 

chỉ thấy đen ngòm

 

vốn hay lo 

vớ vẩn

bất kể gì trên đời có tính động- từ bé 

vào thời kì cách mạng tháng tám 

đụng mặt ai tôi đều thủ thế

 

ôi cha 

cái thời bọn du côn 

du thủ

du thực- lộng hành 

hở chút trùm bao bố

thanh toán 

 

đéo biết trong cái ống 

rỗng 

đen ngòm- từ cổ trở xuống bụng 

chứa những ai (hồ!)

và nguyên dấu hỏi (?) to

trước mắt

mang ý nghĩa gì

(hay đấy chỉ như ba dòng chảy 

cách mạng!)

 

xin lỗi tôi chẳng giỏi giang 

ngồi 

giải thích bất kì chuyện gì có đầu 

có đũa (dẫu chỉ cất tiếng suỵt 

suỵt!) mãi đến nay 

 

nhắc tới thời kì cách mạng 

tháng tám

có thể nói- khi đó trong hàng ngũ du côn 

du thủ du thực 

cơ man kẻ đội lốt cách mạng 

 

vâng- tôi vẫn nghĩ- thời buổi

nào

chả lẫn lộn trắng/ đen

qua cái thời cách mạng tháng tám

đảng sản sinh một đám tuyền khốn nạn

mất dạy

 

lắm lúc- đối đế

tôi có nói sống không nổi thà chết quách

cho xong

 

yeah- có sống lại- tôi thề

vào tháng tám

tôi sẽ cứ tựa hư huyễn í!

..

vương ngọc minh. 

 

tumblr_nlmitmniTG1s8cusno1_500

CĂN NHÀ NẰM MƠ

 

Chúng ta sẽ cất nhà
Rất đơn sơ vật liệu
Kèo cột không đi tiểu
Lên trí tuệ con người
Anh cần chiếc giường đôi
Hai đứa mình cùng thở
Chia nhau nỗi xấu hổ
Mà ông bà cắn răng

Đất nước bốn ngàn năm
Rộng dài như văn hiến
Đêm anh đi thấy điếm
Lợp nhà cạnh gốc cây
Ngày thấy lũ con lai
Căng lều ngay xó chợ
Vợ chồng mướn nhà trọ
Yêu nhau như ngoại tình

Căn nhà mới tượng hình
Đã tan theo cơn đói
Anh dắt em lên núi
Không đủ giấy tờ về
Anh dắt em thăm quê
Định làm chàng Tô Vũ
Định làm một gã hề
Căn nhà không địa chỉ
Anh lợp hoài trong mê

Trời sinh anh yêu em
Mà không sinh hộ khẩu
Con chim có chỗ đậu
Con chó có nơi nằm
Anh và em lưu vong
Như người không quốc tịch
Đất nước giàu diện tích
Cho châu chấu cào cào
Nỡ đâu nghèo lý lịch
Với những người yêu nhau?
Bùi Chí Vinh

belanger109

Độc hành 1

 

Các dãy số lớn sụp đổ trong một khúc xương

những con bọ mang ánh trăng óng ánh chui vào

nở cánh hoa lẻ loi như ngôi đền vĩ đại

dòng sông đưa lời kinh về phía đông

song sóng bước lữ hành.

 

Mắt nàng đẹp long lanh dịu dàng nhóm lửa

giữa trái tim gần thoát tục của ta.

 

Độc hành 2

 

Xung quanh cây đèn là kinh nguyện

một mùa hoa tự hủy an nhiên

những bài ca chửa hoang vượt mặt

trong cái nồi tối sẫm hồng hoang.

 

Đại ngàn đi lắc lư êm dịu

trái tim tôi hư ảo chênh vênh

rung lên những bước thú hoang phiêu bạt

niềm đam mê ngắt đoạn đến vô cùng.

 

Lê Trinh

 

 

0xDE90412A0EE8223BB9F02B2B2914FB03

BÌNH MINH NÀO CHO ĐOÀN NGƯỜI PHẲNG NÃO

(trường ca)

Tác giả : Minh Vũ

KHÚC 1:


hãy theo ta

Lũ người ngu dốt

Bỏ vùng đất tăm tối

Đói ánh mặt trời

Hãy theo ta săn bắt vầng chân lý

Các ngươi sẽ no nê vì trái hạnh phúc

Bội mùa khát khao

Đến tận đời đời con cháu”

Từ khoang miệng của những tên đồ tể

Lũ mỹ ngôn đeo mặt nạ/xếp hàng

Với chiếc cọ kết tinh từ gian dối

Bọn họa sỹ trá hình say sưa vẽ/ tương lai

Bầy người dị bản

Cởi bỏ lớp áo may bằng chất vải phồn thực

Bất chấp cái chết

Bất chấp máu đổ

Dẫm đạp

Cấu cào nhau

Như bầy chó đói

Quyết dành giật một chỗ đứng

Trong khán trường

Muốn triệu chiếc đầu cúi/chân/khẩn

Nuốt chửng mọi lời phỉnh gạt

Như miếng bánh gato thơm phức!

“tự do và hòa bình

ở đâu?

ở đây!

ở chính đôi tay chúng tôi

những đôi tay nhân danh đấng khai sáng!

Hãy tung hô

Hãy tôn thờ

Người anh hùng kiệt xuất

Đưa đến cho các bạn

Thứ huyết tương  bình đẳng  vĩnh hằng!

Tôi nói: mọi người nghe rõ không!”

-“rõ !

Thưa đấng khai sáng

Thưa những bậc trí huệ siêu phàm

Mắt chúng tôi như được mở ra

Và mặt đất bấy nhiêu năm

Dày đặc loài cỏ dại

Hôm nay bỗng mọc lên những nụ hoa/thuần khiết như sữa mẹ

( Đọc tiếp…)

 

Muop

Giàn Mướp Quê Nhà-Giàn Bầu Xứ Xa

 

Trần Thu Miên
summer 2016 và anh N.Ng. P.

 

     Sáng nay lúc bình minh chưa kịp đến, tôi ra vườn sau ngồi một mình, lặng yên, nhìn đăm đăm vào những dây leo màu xanh uốn mình trên lưới thép của giàn bầu còn mới tinh. Đã hơn 40 năm rồi, tôi chưa từng đứng một mình, ngắm nhìn giàn mướp hay giàn bầu bên sân nhà như lúc này. Nhìn giàn bầu trước mắt, và chợt nhớ giàn mướp bên giếng nước quê nhà năm xưa.

 

     Năm tôi 12 tuổi, bố mẹ tôi gửi tôi vào tu viện Châu Sơn ở Đơn Dương học. Bên cạnh lý do đơn giản là làng tôi không có trường trung học, bố mẹ tôi còn muốn tôi học để trở thành một tu sĩ, và trên hết là một linh mục Công Giáo.  Việc này có lẽ cũng na ná như việc các chú bé theo đạo Phật được gửi lên chùa làm chú tiểu vừa giúp việc nhà chùa vừa học tu. Dù là một đứa bé mang tiếng phá phách trong làng từ việc dẫn trẻ chăn bò phá làng phá xóm đến đánh lộn với lũ trẻ làng bên cạnh thường xuyên, những đêm mới xa nhà, tôi đã chui đầu trong chăn khóc vì nhớ nhà.  Và chiều nào đứng ngoài sân đá banh, tôi cũng nhìn mông lung đoán xem nhà mình ở phương nào.

 1

    Sau ba tháng xa nhà, chúng tôi, học sinh nội trú của tu viện còn gọi là đệ tử, được cho về nhà nghỉ lễ Giáng Sinh rồi trở lại tu viện ăn Tết ta. Phương tiện di chuyển duy nhất thời ấy từ tu viện về làng tôi là xe Lam (Lambretta) 3 bánh. Nhà tôi nằm bên cạnh con lộ liên tỉnh chạy qua làng nên xe dừng ngay đầu ngõ. Vừa bước xuống xe, vai đeo túi quần áo, tôi nhìn thấy mẹ đang ngồi rửa rau bên giếng nước và chợt oà lên khóc. Mẹ nghe tiếng xe đầu ngõ ngẩng mặt thấy tôi về vội chạy ra đón. Đấy là thời chưa có phương tiện liên lạc thư từ hay điện thoại trong làng tôi nên việc tôi về nghỉ lễ coi như là việc bất ngờ.

     “Sao lại khóc, bị đuổi học phải không?” Mẹ hỏi vậy vì tôi đã từng bị đuổi học hai ba lần khi còn học trường làng.

     “Không! Con về nghỉ lễ Gáng Sinh.”

 

     Hình ảnh mẹ ngồi bên giếng nước và giàn mướp dây leo lá xanh, hoa lấm tấm vàng hôm ấy đã hằn sâu vào ký ức tôi, và sau này bỏ nhà đi xa, mỗi lần bất chợt nhớ nhà tôi vẫn nhìn thấy mẹ ngồi rửa rau bên giếng nước và giàn mướp hoa vàng trong trí nhớ mình dù đã cạn dần theo năm tháng tuổi đời. Tôi ghi lại cảm giác nhớ nhà trong câu thơ viết thuở mới bỏ nhà ra đi.

 

     Chiều nay con đứng ở ven đồi

     Nhìn khói nhà ai tựa mây trôi

     Ngỡ rằng quê mình là nơi ấy

     Mẹ nấu cơm chiều đang đợi con…..

 

     Tôi không nhớ là nhà tôi có giàn bầu. Nhưng giàn mướp thì luôn luôn được trồng  ngay bên bờ giếng. Gọi là giàn, nhưng chỉ là những cành cây khô được bố tôi mang về từ ven rừng dựng lên cho dây mướp leo.  Có lẽ bố tôi không làm giàn bầu vì mướp, hình như, có vị thơm và ngọt hơn bầu. Ngày bé khi nhà có việc gì quan trọng như họ hàng đến thăm, hay lễ lớn, bố thường hay bắt con gà ngoài vườn về làm tiệc. Và bộ lòng gà bé nhỏ được chị tôi hay mẹ tôi cẩn thận rửa cho sạch để nấu nồi canh mướp. Ôi! bát canh mướp nấu với lòng gà, thời tuổi thơ, sao ngọt ngào quá. Giả như tôi có sống vài trăm năm nữa, chẳng cách nào, tôi được ăn lại bát canh mướp nấu lòng gà ở quê nhà thời thơ dại.

 

2 

 

     Dù xuất thân từ ruộng đồng, nhưng tôi không thích và cũng chẳng có “khiếu” trồng hoa quả trong vườn. Lý do đơn giản: lười. Lúc tôi định cư ở Claremont, California, có lần sân nhà tôi hoa dại mọc đầy nên hàng xóm kiện lên thành phố. Khi tôi nhận được lá thư cảnh báo về việc để hoa dại mọc đầy vườn, tôi nóng tiết điên người cầm điện lên gọi vào toà hành chính thành phố “chửi đổng.” Bằng một giọng rất cao bồi, tôi hạch hỏi tại sao thành phố lại gửi tôi thư cảnh báo láo lếu thế? Vườn nhà tôi chứ đâu phải công viên. Người trả lời điện thoại chậm rãi giải thích.

     “Luật thành phố đòi hỏi cư dân phải giữ vườn tược trước nhà sạch sẽ. Sân nhà ông hoa dại mọc đầy và nhiều hàng xóm đã than phiền.”

     “Nhưng tôi là người yêu hoa cỏ dại.”

     “Tốt lắm, ông nên bán nhà dọn đi nơi khác.” Câu trả lời làm tôi ngậm miệng. 

 

     Rời Cali về lại Boston, chúng tôi ở căn nhà nhỏ ven đồi có vườn cỏ rộng.  Nhiều bạn bè cứ hỏi tôi vườn rộng sao mùa hè không trồng rau? Phải thú thật là tôi thuộc loại con nhà nông không biết trồng khoai. Có lần, trong buổi họp mặt trên sân gạch đỏ sau nhà, nơi thỉnh thoảng, vào mùa nắng ấm, những người bạn thân thiết của gia đình tôi vẫn họp nhau uống rượu ăn thịt nướng và đàn ca, anh N.Ng.P., một vị đàn anh của chúng tôi, nẩy ra ý nên trồng một giàn bầu trong sân để đến mùa ra trái hái nấu canh ăn cho bớt nhớ quê nhà. Tôi đã đáp lời anh không chút đắn đo.

     “Anh cứ làm bao nhiêu giàn cũng được. Vườn nhà tụi em chỉ có chim, thỏ, sóc và nai trên rừng vãng lai thường xuyên.”

      Tôi tưởng anh P. đùa, nhưng anh làm thiệt. Anh đã một mình ra xưởng gỗ mua những thanh gỗ thông loại dùng để kiến thiết nhà về dựng lên thành một cái giàn rất hiện đại và vững chãi.  Sau khi những thanh gỗ được đo, cắt cho vừa tầm, anh đóng xuống đất theo hai hàng ngăn nắp rồi giăng dây thép thành mạng lưới  cho dây bầu leo lên. Sau khi thiết kế xong giàn bầu rất công nghệ, anh mới khám ra rằng đất vườn nhà chúng tôi không thể trồng rau được vì lá thông và rễ thông lâu năm đã làm hại đất. Nghe anh nhận xét vậy, tôi cũng hơi buồn vì từ lúc anh cho biết ý làm giàn bầu tôi đã tưởng tưởng sẽ có những buổi chiều mùa hè ra ngồi uống rượu nhìn những đàn ong bướm bay vờn hút nhị khi giàn bầu đơm hoa. Nhưng anh P. không bỏ cuộc, anh đã quyết định trồng bầu vào một chậu cảnh loại lớn thay vì trồng xuống đất.  Anh lấy một chậu cảnh bằng nhựa, đổ đầy vào chậu loại đất đã được chế biến công nghệ để trồng hoa trong vườn chứ không phải đất tươi đào từ vườn. Hạt giống bầu được anh P. ươm tại nhà cho tới khi nẩy mầm rồi cẩn thận mang sang nhà chúng tôi trồng vào chậu để dễ lên.  Lần đầu bị thất bại. Không biết tại sao.  Tôi đổ tội cho những con nai đói bụng từ rừng ghé thăm vườn xơi hết ngọn bầu non của anh P.   Lần thứ hai mầm bầu trong chậu được bảo vệ bằng những thanh gỗ dư của cọc giàn bầu cắm xung quanh chậu để cả thỏ lẫn nai đều không thể đút cổ vào xơi đọt bầu non, ngọt.  Lần này thành công, và trong vài tuần, những dây bầu đã âm thầm leo lên giàn và ngọn dây bầu cứ tủa ra như những cánh tay mềm mại, nhưng vững chắc giơ lên lần mò tìm bám vào lưới thép.

 

 

     Sáng nay ra vườn, tôi đã thấy vài bông hoa bầu vừa nở. Lần đầu tôi mới để ý là hoa bàu màu trắng chứ không vàng như hoa mướp. Thấy hoa bầu nở vừa vui vừa bùi ngùi nhớ giàn mướp quê nhà. Biết đâu khi giàn bầu ra trái, tôi cũng sẽ được ăn bát canh bầu ngọt ngào do vợ mình nấu ở xứ người. Nghĩ vậy, tôi lẩm bẩm đọc câu ca dao học ngày thơ bé.

 

Đầu tôm nấu với ruột bầu,

Chồng chan, vợ húp, gật đầu khen ngon.

 

Trần Thu Miên