Feeds:
Posts
Comments

bolai

p h ư ơ n g   t r ư ợ n g

 

 

Mùa hè bốc lên những cơn lốc nồm

thổi phồng quả bóng nhân loại

rõ ràng anh thấy em đi dưới bầu trời thủy tinh

vậy mà bỗng chốc anh lùi về nơi chốn hồng hoang dự trữ

thời tối tăm đại cổ sơ

như tình yêu ở đó những con thú long tiền sử

vẫn kêu hoài tiếng kêu mất mẹ

bầy chim luýt chuýt ôi linh xưa !

vẫn người gù lửng lơ trên tháp chuông

rùng mình cây đổ xuống từng con chiên dối thánh múa hát quanh đám lửa tàn

rõ ràng anh vừa thấy em bên ngoài hành lang

đã khuất nẻo biến mất vào bên trong những siêu thị đại cồ bàng

cánh dang to khuất mắt anh đi vào mê cung quày hàng xú chiêng đồ lót mốt

những chiếc còng số 8 miên man

nai nịt rùng rùng thời đại

lũ hình nhân trần truồng nhăn miệng cười

có con mắt nháy (hình như)

ôi ai như em hình như anh thoáng nghe em cười

đâu đó

 

 

anh đi tìm em nơi nhồm nhoàm miệng mồm khu ăn uống ngợp ngời thức ăn tây tàu mỹ nhật ấn độ cà ri cay cũng có mà ơi hỡi em rồi nơi đâu biết tìm đâu ra một quả ớt nhồng ban trưa sừng sững mùa hè dưới quê gập mình cây trái

 

 

mùa hè mùa hè ầm vang những cuộc diễu binh

phương trượng tung lên giời

picasso erotique nơi trưng bày vú mọc ngược lên đầu

tiếng đàn thoát ra nipples thời hồng

áo quần bên trong nhạc hội jazz ngoài trời

mở cửa tự do vòm đen của nắng

hoa con mắt anh tìm em trên cao một người nào huýt sáo tình tang

không có ai ôm mặt blues tiếng kèn thời xanh non dạ

những chiếc dương cầm bò lê

xin bấm vào dấu lặng sau cùng tổ khúc

người xạ thủ hô to đã tới

giờ đóng cửa

rõ ràng anh mất

hút em .

 

Hoàng Xuân Sơn

 

ROMANCE PERDUE –  Người Tình Paris

ca khúc Chân Phương – Nguyễn Trọng Khôi trình bày

 

NguoiTinhParis

landcape2

TRỌ. TRONG CHIỀU ĐẦY HƯƠNG BAY.

 

 

Ghé một lần. Và rồi vụt xa

Và em mang. Hồn ta ta bà

Mang cho tình. Đôi lần đầm thắm

Mang cho đời. Chân vội phong ba

 

………………………………………………….

 

Trọ ở đâu ? Sao trọ chốn nầy ?

Trọ vai gầy ? Trọ hương tóc bay ?

Nơi an trụ. Là trăm năm cũ ?

Trăm năm nầy ? Nơi nào vui khuây ?

 

……………………………………………………

 

Người phương nao ? Sao người chợt đến ?

Đã bây giờ ? Hay từ hư vô ?

Gọi rong rêu. Vui buồn cuồng nộ

Ái ân tàn. Một đời cây khô

 

……………………………………………………….

 

Ghé một lần. Và rồi tắt nắng

Ôm hình em. Nhân ngải phù hoa

Ôm bóng lụa. Bóng tha thướt quá

Ngước bên đời. Một trời sao xa

 

………………………………………………………….

 

Trọ ở đâu ? Chiều rồi tâm thức

Trọ trong em ? Giấc trọ thu miên ?

Nơi đến trọ. Và nơi hằng trụ

Vệt khói nào ? Tịch tà vô biên…

 

 

Chu Thụy Nguyên.

( 07 – 2017 )

 

Dan

ĐIỆP KHÚC THÁNG BẢY

 

tháng bảy

rong rêu trời quá khứ

ngọn lửa

hân hoan nở nụ cười

ngoài kia

một tàn dư lệ

đêm . nhốt tiếng thở

giữa trời lặng gió

ngày . buông trôi theo

mây bão kéo ngang đầu

tóc phai màu thế kỷ

phố buồn như sương phụ

núi ngậm bờ môi em

tôi . ngao du một thời trên răng dưới dế đoái hoài hạt mưa mau

đại lộ nghiêng nghiêng từng bước đá rêu xanh mà tưởng nhớ

một linh hồn điêu đứng chết chưa chôn giữa trời bát ngát . em

chẻ tóc vào đời trên những nhánh sông trôi ngoài sương gió đợi

đêm giao thoa nghe mưa xô vô tận số thời gian thêm đau thương

đôi cánh cửa linh hồn là mắt môi em xanh miết với trăng sao

liễu dựng những cơn buồn soi mặt bóng hoàng hôn đẫm cuối trời

hư vô tôi hoang tàn như ăn co goát ăn co thom một thời đá dựng

vườn xếp lá me bay hoa ôm đến rũ xác trong lăng tẩm hoàng thành

em còn nhớ hay em đã quên tôi lột xác em trên ngũ giác đài?

làm tình xanh óng dưới trăng tháng bảy một điệp khúc buồn

và . đêm mò mẫm vào ngực thở em với dư âm rã rời nhân thế

sầu muôn năm nghe một khúc đàn trầm cho đá ngậm lời kinh

 

cho mi ướt biển sâu

cho gió ngàn thu đợi

cho mắt biếc nở hoa

cho trời xanh vô tận

cho sa mạc hoang vu

 

tôi . làm thân con thiêu thân

em . tóc rủ bóng rèm thưa

 

một thời lửa chảy

sụp đổ pom pê ./.

 

VÕ CÔNG LIÊM
(ca.ab.yyc.  7/2017)

 

thơ Lê Anh

CallaLily

Thế Giới Này Có Em.

 

Ta ở đây người cũng bên ta        
Thời gian không đủ tháng năm nhòa
Con tim vẫn ý tìm về mộng
Đời lại thấy sầu nở thành hoa

Đâu dễ quên vì chỉ là duyên
Ngàn thu biển lặng tựa như thiền
Sóng tình dẫu khuất mùa giông bão
Cũng tạt bọt bèo theo trăng lên

Ta đã từ lâu muốn được yên
Từ tâm bỏ hết chuyện ưu phiền
Những nẻo chân đi lòng dẫu động
Mặc tàn cát bụi hắt hiu bên

Vậy mà trong tĩnh mịch có em
Rừng thiêng ngơ ngẩn dáng huyền đền
Ngày chưa đề bạt, trời chưa nắng
Chim đã bay về tụ chốn quen

Em thấy mặt ta lạnh như tiền
Ta thấy được người tim đảo điên
Biết trong hiện tại tàng mây nước
Ai nợ nần ai ? -Ta nợ em

Bóng tâm chân thật dường như ngã
Tướng hiện hình vui có chút người
Trong biển đời qua ai cần độ
Nhìn nhau yêu hết cả hổ ngươi

Tình đây còn vẫn quanh mộng mị
Đêm về soi bóng chỉ lặng thinh
Em đến chẳng riêng gì kinh kệ
Kinh cũng là em, là chân kinh

Mặc nhiên thế giới này có em
Yêu em Ta đã trở nên hiền
Biết trong tự tại mình là một
Một dấu đời dường như đã quen.

Lê Anh.

 

TỜ THƯ BÊN KIA SÔNG 

thơ Hoàng Lộc, nhạc Nguyễn Trọng Khôi



 

 

ToThuBenKiaSong_1

 

ToThuBenKiaSong_2

MH

Anais Nin

 

Võ Công Liêm chuyển ngữ

 

MỞ: Đây là một trong mười lăm truyện ngắn ở tập: “Tam Giác Vệ nữ” hay còn gọi là ‘Thổ ngơi của nữ thần Ái tình / Delta of Venus’ của văn sĩ Anais Nin. Nổi tiếng về truyện khiêu dâm. Bà là tình nhân của nhà văn dung tục Henry Miller của Mỹ. The Boarding School / Nội Trú là truyện ngắn hay nhất của tác giả; truyện được liệt vào văn chương đương đại của nước Mỹ. Những gì có tính chất gợi dục là thực với đời và khai mở một sự trụy lac buông thả. Hân hạnh giới thiệu đến bạn đọc một khám phá mới cho văn chương ngày nay.(Người dịch: vcl)

                                                                                                              *

    Chuyện kể về cuộc đời đã xẩy ra nhiều năm qua ở nước Ba Tây; thuộc vùng sâu, xa phố thị nơi đây còn giữ tập tục nghiêm khắc của đạo Công giáo mà vẫn còn lưu truyền. Những thằng con trai có phúc sanh ra đây đều được gởi vào học nội trú thuộc dòng Tên và tiếp tục mục vụ theo lề thói thời Trung Cổ. Những thằng học trò ngủ trên những chiếc giường gỗ, mỗi lần bình minh dậy đều đi lễ trước khi ăn điểm tâm, xưng tội hằng ngày và kiên tâm trông chừng từng lúc, từng khi. Một không khí khắc khe và nghiêm cấm. Những linh mục ăn những phần ăn riêng và tỏ vẻ ngoan đạo xung quanh bọn học trò. Các cha làm dáng, kiểu cách mỗi khi phát biểu. Giữa lớp học cha dòng với lớp da thâm nâu, pha chút máu Da Đỏ, bảng mặt như mặt dê xồm, tai bự dán cứng vào đầu ông, đôi mắt trũng sâu, miệng với đôi môi trề tợ như thèm uống nước, tóc rậm đen và bốc hơi mùi thú vật. Dưới cái áo dòng thụng dài màu sậm nâu những thằng học trò thường chú ý một cái gì nhô ra dưới bụng mà những đứa học trò nhỏ tuổi không thể nào hiểu và giải thích cái gì nhô ra thẳng đứng nơi ông, mấy đứa lớn che miệng cười sau lưng thầy dòng.

Đây là cái nhô đội quần hiện ra ngoài ý kiến ở giờ dạy học –trong lúc lớp học đang nghe đọc bài Đồng Qúi Xốc (Don Quixote) hoặc là Ra-Bờ-La (Rabelais) hoặc một đôi khi ngó chừng vào đám học trò, và; một thằng học trò trông có vẻ đặc biệt với mái tóc mượt mà khác vớì những đứa trong lớp, mắt và da mặt như con gái mới lớn.

Cha già tợ như muốn tránh xa ở chính ông và chỉ cho thằng con trai những cuốn sách mà ông đã cất giữ riêng tư. Những cuốn sách bao gồm những lời giới thiệu về đồ gốm vùng Inca* mà trên mỗi thứ họ vẽ những người đàn ông đứng dựa vào ở mỗi thế khác nhau. Thằng học trò sẽ hỏi những vấn đề đó mà vị linh mục già đành phải trả lời nhát gừng. Những khi khác thì nói ra không chút ngại ngùng; cùng lúc đó một số khác hiện quanh giữa người cha dòng và thấu hiểu những gì khác nhau sau ý nghĩa đó.

Ở lúc xưng tội thì đây là dịp ông cha trả lời những vấn đề cho thằng con trai. Nhiều điều vô tội mà họ tỏ rõ ở đây. Ông ta đưa vấn đề gần gũi trong thâm ý đen tối ở ‘cái hộp’ xưng tội nhỏ bé này. Những khi xưng tội mấy thằng học trò qùy gối và có thể không nhận ra linh mục, người đã ngồi khuất xa. Giọng trầm xuống xuyên qua khe cửa sổ nhỏ; đoạn hỏi: “Con đã từng khi nào mơ màng dâm dục không? Con có nghĩ về đàn bà? Con đã có lần muốn cưới người đàn bà ở truồng không? Thế thì có hành động thủ dâm trong đêm trên giường ngủ không? Con có từng đụng chạm, sờ mó ở chính con chưa? Con đã từng vọc, mơn trớn, vuốt ve ở chính con chưa? Rứa thì con làm chi cho mỗi sáng thức dậy? Dương vật có thường cương cứng không? Con có khi nào nhìn những thằng bạn học trong những khi thay quần áo không? Hoặc khi tắm chung?”.

Thằng học trò không biết chi mô răng rứa, sớm muộn hắn học được những bài học vở lòng về luyến ái, những gì mà hắn mong đợi từ lâu và là những gì cha tinh thần đã đặc những câu hỏi về hắn. Thằng con trai biết thêm nhiều điều thích thú, thỏa mãn trong khi xưng tội, thêm nhiều chi tiết xúc động và nhiều mộng mơ. Từ đó đêm nào cũng mơ với mộng. Hắn chẳng biết đàn bà là cái giống gì mà sao họ làm cho người ta mê mệt. Nhưng; đã có lần hắn thấy người Da Đỏ làm tình bằng nắm lông mềm con hươu la-ma (vicũna)* tợ như cái gì dòn và mỏng nơi con dê cái. Và rồi hắn mơ làm tình cái dòn, mỏng nơi con dê cái và làm cho hắn thao thức mỗi sáng ngủ dậy. Vị linh mục già khuyến khích và căn dặn những lần xưng tội. Hắn lắng nghe và kiên tâm vô cùng. Hắn bị ấn tượng lạ như hình phạt. Thằng con trai tiếp tục thủ dâm như thúc đẩy, hắn đi vào trong nhà Nguyện mỗi khi không có ai xung quanh, nhúng dương vật trong chậu nước thánh và coi như đã thanh tẩy. Đây là nghi thức thoát khỏi những ấm ức trong đêm tối.

Ở đó có những thằng con trai rất hoang nghịch trông giống như hoàng tử Moorish* mặt bôi đen với nét phong trần đặc biệt, một cổ xe hoàng gia và một thân hình tuyệt đẹp, quá mềm mại không xương cốt đã nhận ra, mảnh khảnh và bóng láng như tượng đồng đen.

Đấy là thằng con trai bất trị, hỗn loạn chống lại cái tục lệ xưa cũ đã phủ lên trên cái áo choàng bên ngoài. Hắn thường ngủ truồng, và; khoát áo ngủ làm hắn ngột ngạt, cong cứng khó chịu. Vì vậy mà đêm nào cũng quấn vào như những thằng bạn học khác và rồi hắn kín đáo hất tung ra khỏi người, thò tay xuống dưới cho tới khi ngủ thiếp không quần không áo.

Hằng đêm ở dòng Tên xưa cũ này như vây quanh lấy hắn, rình rập, canh chừng không để một thằng nào lén lút qua giường của hắn, hoặc thủ dâm hoặc nói thì thầm trong bóng đêm bên giường kế cạnh. Mỗi khi đến với giường ngủ là trở nên kẻ bất tuân, hắn chậm rãi và  hết sức thận trọng lật tung áo phủ ngoài và nhìn trân vào thân hình trần truồng của hắn. Nếu như có một thằng nào báo thức hắn, quở trách hắn: ‘tao đến để thấy; nếu mầy ngủ không có áo khoát lần nữa!’ Nhưng; nếu thằng đó không đánh thức hắn thì đồng ý cho hắn liếc mắt vào thân hình thằng trai trẻ đang ngủ. Thời không có chi phải quở.

Có một lần trong lúc học về cơ thể con người khi đó hắn đứng trên bục giảng cùng với cha dòng và một thằng trai giả gái đội tóc vàng ngồi ở cuối làm cho hắn giật mình; có một cái gì nhô ra dưới áo dòng của vị linh mục làm cho cả lớp thấy rõ ràng.

Thầy dòng hỏi thằng con trai đội tóc vàng: ‘Có bao nhiêu xương nơi cơ thể người đàn ông?

Thằng con trai giả gái trả lời hết sức nhu mì: ‘Hai trăm linh tám’.

Tiếng của thằng học trò khác từ phiá cuối lớp: ‘Nhưng cha Dobo có tới hai trăm lẻ chín’.

Chốc lác sau khi xẩy ra chuyện bất ngờ đó cả lớp học đưa đi dạo quanh vườn cây sinh thái thực vật. Mười đứa trong bọn chúng lạc đường về. Trong số đó có cả thằng con trai mảnh khảnh tóc vàng. Người ta tìm thấy bọn chúng trong rừng, xa một khoảng từ nơi những thầy dòng và xa cả trường nội trú. Họ ngồi xuống nghỉ chân và đặc vấn đề về sự cố xẩy ra. Họ bắt đầu ăn dâu, táo. Sao lại có chuyện đó, không một ai biết; nhưng sau đó thằng con trai giả gái tóc vàng ném ra giữa bãi cỏ, không quần không áo, đưa cái bụng ra và chín thằng khác bước qua khỏi hắn, chuyển hắn đi mà coi hắn như con đĩ, một cách dã man. Qua khám nghiệm hậu môn của hắn có dấu vết của sự đòi hỏi dục xác; trong khi khám xét thấy xướt da giữa hai đôi chân của thằng con trai đó, tất cả thịt da nhủn xuống như thân thể đàn bà. Bọn chúng nhổ nước bọt vào tay và chà xát lên dương vật của mỗi đứa. Thằng giả gái đội tóc vàng hét lên, vừa đá, vừa khóc, nhưng cả đám dằn hắn lại và xử sự cho tới khi bọn chúng thỏa mãn  ./.

 

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. cuối 5/2017).

 

Anais Nin: (1903-1977) Người Mỹ gốc Cuba. Một thời sống ở Pháp , Tây Ban Nha và sau cùng ở Mỹ cho tới ngày qua đời.

Henry Miller: (1891-1980) Người Mỹ Sống ở Pháp một thời gian dài. Trở về Mỹ và chết ở Big Sur.USA.

Ghi thêm: Điạ danh và chứng tích trong truyện cho rõ ý tác giả muốn miêu tả nơi vùng đất hoang sơ ở Ba Tây (Trung Nam Mỹ).

* Inca: Vùng đất liên hệ với những bộ lạc Da Đỏ nơi đã bị thống trị bởi Peru mãi tới khi Tây Ban Nha chinh phục và làm thuộc điạ.

* Vicũna: Giống hươu Ở Nam Mỹ, mình thon dài lông mịn như len, tìm thấy ở rặng Andes. Có tên gọi là Lama vicugna.

* Moorish: Nhóm người Tây Ban Nha xâm lược và chiếm đóng được phong như hoàng tử ở tk.thứ 8.

ĐỌC THÊM: Những truyện dịch sau đây:

– Cụm Hoa Cúc Sao của Octavio Paz (Văn thi sĩ Mễ Tây Cơ (Bản Anh ngữ)

– Người Khách Lạ của Albert Camus (Nhà văn Pháp (Bản Anh ngữ).

– Đứa con hoang Trở về của André Gide (Nhà văn Pháp (Bản Anh/Pháp ngữ).

– Mallorca/Ma-Yô-Ca của Anais Nin. (Nhà Văn Mỹ (Bản Anh ngữ)

– Lời Sám Hối của người đàn bà ở đền Kiyomizu (Nhà văn Nhật Bản Akutagawa Ryùnosuke. (Bản Anh ngữ)

– Trẻ Đồng Hoang của Charles Baudelair (Nhà Thơ/văn Pháp (Bản Anh/Pháp ngữ).

– Con Đĩ Khả Kính của Jean-Paul Sartre (Nhà văn Pháp (Bản Anh / Pháp ngữ)).

– Ngàn Cánh Hạc của Yasunari Kawabata (Nhà văn Nhật Bản (Bản Anh ngữ) )

– Thiền truyện/Tuyết Trắng của Yuko Akita (Nhà văn Thiền Nhật Bản (Bản Anh ngữ)

Những truyện ghi trên của võcôngliêm chuyển dịch hiện có ở một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo đ/chỉ đã ghi.

TRANH VẼ:  Portrait of Anais Nin’ Khổ: 12” X 16”.Trên giấy cứng. Acrylics+Mixed+House-paint..
Vcl.

AnaisNin


 

 

 

 

DSCN4590_2

bất chợt giọng nói của ngày

 

ý tưởng hiện khởi con chữ hóa thân

với hàm ý chỉ là bọt bóng mơ hồ bay ngược về trời

lũ chim sẻ nâu không cần biết về những thể nghiệm

tiếng hót ban mai như lời hứa tinh khôi trên vòm lá

hạnh phúc từ cỏ khô được kết dính dưới những mái nhà dọc phố

 

người lướt ngược chiều qua nhau lung linh hư ảo

bầu trời mở ra trong mắt ánh sáng chảy tràn xuống bước chân

những hình dung từ cơn mộng mị tự nó giải thoát khỏi cái bóng

bầy kiến quán tính vội vã nào hay cúc dại đã nở hoa

cát bụi của ngày hôm qua vẫn mặc nhiên tôn tại trước điều bí mật của thời gian

 

xin cứ tự nhiên tiên đoán

bao tiếng chuông ngân mang linh hồn chiếc lá tuyệt vọng tan nhanh vào đất

gió không hề biết vuốt ve những câu thơ mù lòa đậm sắc màu ước lệ

thành phố đã nói rằng mùa thu dường như đang về đâu đó

có thể nào chúng ta đã đánh mất sự tồn lưu ký ức

bất chợt giọng nói của ngày nhắc nhớ trong tiêm  thức

tôi và em đừng ngốc nghếch trước niềm tin tình yêu thật sự luôn vĩnh cửu 

 

Khaly Chàm

 7/2017

 

 

 

hild2

Cái chết của một người nhặt rác

 

 

Gương mặt của em không hắt chút ánh sáng cuối đường

Dù cơn mê làm nỗi đau nghỉ ngơi đôi chút

Trước khi về với cái chết dưới chân.

 

Đôi mắt em hai đóa hoa dần khép lại

Những kỷ niệm lưu vong

Những tháng năm ném đầy trái đắng

Của lầm than, cô độc, u buồn

Đôi tay gầy còn rớm máu đỏ tươi

Đôi tay chưa từng gặt được một vài quả ngọt.

 

Dưới chân cầu đen ngòm thành phố

Không thầy tu, bác sĩ, người thân

Chỉ vài người số phận như em

Lã chã tuôn dòng nước mắt đưa đường.

 

Xin đặt lên em hoa của bốn mùa

Xin hãy khắc lời ca lên bia mộ:

“Nơi yên nghỉ của một người nhặt rác

Người đã tỏa sáng trên con đường đang chết”.

 

Lê trinh

37da5b4deee8d21b9cb26179ca01219f

Về dân chủ.

 

quả thực

tôi không còn biết phải xử lí như nào

với giấc ngủ tối nay- khi có quá nhiều thông tin về cái chết của nhà đấu tranh

dân chủ cho nhân dân trung quốc- lưu hiểu ba

được loan tải đánh vào đầu

(giấc ngủ ngày còn okay) nhưng chỉ giấc đêm

nội đêm nay

 

mặc dù mỗi đêm

vừa nằm xuống tôi đều nghe tiếng chân phụ nữ

về

đòi

lấy xác tôi cho bằng được

 

phải nói không biết bao lần tôi đã cố hình dung

xem khuôn mặt

người phụ nữ ấy là ai? nhưng chịu

giờ lại phải hình dung cách xử lí giấc ngủ đêm nay- như nào

(với quá nhiều thông tin về cái chết nhà tranh đấu dân chủ cho nhân dân trung hoa

lưu hiểu ba- đánh vào đầu!)

 

tôi muốn nói

– ở đây

phụ nữ họ thích nghi giỏi lắm

lấy tấm chồng/ bất kể người nước nào

theo về quê chồng khuôn mặt họ đổi khác ngay

để thích nghi và sống cực tốt

 

không giống đàn ông- nhất là đàn ông

như tôi

sống xứ người mấy mươi năm vẫn chả bao giờ thích nghi nổi

luôn ạch đụi!)

 

một điều làm tôi thắc mắc

dẫn đến nghi ngờ- rằng- giữa tiếng chân bước về

mỗi đêm

của người phụ nữ đòi lấy xác tôi cho bằng được

với cái chết nhà đấu tranh dân chủ cho nhân dân trung hoa- lưu hiểu ba

người phụ nữ ấy thì chắc còn trinh tiết/ chứ không? tại sao lại biết rõ giờ

giấc

tôi nằm xuống

 

còn cái chết của lưu hiểu ba

với khá nhiều thông tin đánh vào đầu tôi- quả

rõ ràng là cách ông chết do bị dồn cùng đường/ bị tù tội

vướng bệnh tật

 

cứ thế tôi thả cho trí tưởng lang thang

một cách vô định

nhưng rốt cùng thì sao? chắc chắm giờ đây mỗi đêm tôi lại bật dậy thắp nhang

cầu khấn/ tôi cầu khấn giời ạ (ít nhất

năm sáu lần

cũng có thể suốt cả đêm

đêm!)

 

chính vì thế- ya

tôi không còn biết xử lí với giấc ngủ đêm nay

như nào- là vậy!

..

Vương ngọc minh.

thơ Lê Anh

NHO

TÌNH NHỚ

 

Em có bao giờ nhìn lưng biển

Nghe xa từng nỗi nhớ về nhau

Thời gian đủ làm thành ly biệt

Mỗi đêm dài như mỗi đêm thâu

 

Ai còn đây vẫn tình chết lịm

Màu tang lòng đã tím mùa yêu

Ta vẫn chờ cho dù đây đó

Hoàng hôn lên thành phố mấy chiều

 

Chuyến tàu qua cũng từng năm tháng

Góc đời xưa sao khuất bóng tìm

Nhìn theo mắt…nhìn quen sương xuống

Bến ga chìm trong phố đêm im

 

Ta thấy buồn thời gian héo đợi

Tình phân kỳ từ  cuối ra đi

Mịt mù nhau bóng chim tăm cá

Nửa hồn đau mòn mỏi chia ly

 

Trách chi nhau đã giờ biền biệt

Những yêu thương ướt một đời ta

Tóc xanh có lần mềm da thịt

Tình em nghe se sắt gần xa

 

Nhìn chân mây như nhìn lưng biển

Sóng đời cao chùng chập bạc đầu

Ta ôm nhớ về em nhòa nhạt

Chắc không còn được gặp nhau đâu!.

 

Lê Anh.

 

 

 

 

Như Chiều Mưa Vội.

 

Tôi cùng em về

Con đường bụi nhớ

Những dấu chân che

Dưới lá đêm hè

 

Nhưng mưa nhạt nhòa

Xóa ướt chân qua

Tôi buồn tiếc mất

Hương huyền ngày xưa

 

Hôm bên phố cũ

Bóng đổ lưng trời

Dấu chân hò hẹn

Lấp đầy lá rơi

 

Tôi ôm nỗi nhớ

Em ở đâu rồi

Tôi còn đây đợi

Chiều vẫn mau trôi

 

Em ở đâu nơi 

hay phiêu bạt đời

Như chiều mưa vội

Làm ướt tình tôi

 

Chiều mưa thấm đất

Mang cả tình tôi

Xuôi về cuối trời

Con đường vắng người                               

Giờ đọng mưa rơi.

 

 

Lê Anh.

 

co-gai-ly-son-1452271504

với trăng

                  

cùng hồ đình nghiêm, hành trang

 

 

 

gọi một vầng trăng cổ sơ

lắng nghe thiên thủ đôi tờ nguyệt thơm

biết vì đâu mây vang lừng

tà huy rúng động mầu ngưng pháp thiều

ngồi lặng với chùm phong rêu

dát vào thính thị mùa khêu gợi cùng

diễn trần vun vút không trung

chờ phiên lãng thuỵ gối đồng xuân tươi

tờ mộng nguyên thẩm thấu cười

lóng xương trừ bị còn hơi thở nồng

búng rạng ngời chữ không không

khoanh tay ghì ấm chút lòng khoa nghi

 

 

hoàng xuân sơn

16 juillet 2017

Thế giới phản ứng sau cái chết của Lưu Hiểu Ba

 

13/07/2017
nguồn: VOA

5Người dân Hồng Kông biểu tình trước Văn phòng Liên lạc Trung Quốc tại Hồng Kông, bày tỏ lòng thương tiếc nhà tranh đấu Trung Quốc Lưu Hiểu Ba qua đời, ngày 13/7/2017.

 

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Rex Tillerson hôm thứ Năm 13/7 lên tiếng về cái chết của nhà tranh đấu cho nhân quyền Trung Quốc Lưu Hiểu Ba.

“Hôm nay tôi cùng với người dân ở Trung Quốc và trên khắp thế giới để tang Khôi nguyên giải Nobel hòa bình năm 2010 Lưu Hiểu Ba. Ông qua đời trong khi đang thọ án tù lâu năm chỉ vì đã lên tiếng thúc đẩy cải cách dân chủ một cách ôn hòa. Ông Lưu đã cống hiến trọn đời mình ra tranh đấu để đất nước và nhân loại được tốt đẹp hơn, theo đuổi công lý và tự do.”

Ngoại Trưởng Tillerson nói thêm:

“Tôi xin gửi lời chia buồn sâu sắc đến bà Lưu Hà, vợ ông Lưu Hiểu Ba, và tất cả những người thân yêu của ông. Tôi kêu gọi nhà nước Trung Quốc hãy phóng thích bà Lưu Hà khỏi tình trạng bị quản thúc tại gia, và cho phép bà ra nước ngoài, theo nguyện vọng.

Người đứng đầu Ủy ban Nobel ở Na Uy nói chính quyền Trung Quốc phải “chịu trách nhiệm nặng nề” về cái chết của khôi nguyên Giải Nobel Hòa Bình Lưu Hiểu Ba.

Bà Berit Reiss-Anderssen nói:

“Chúng tôi quan ngại sâu sắc về việc ông Lưu Hiểu Ba không được thuyên chuyển đến một cơ sở y tế nơi ông có thể được điều trị đúng mức trước khi căn bệnh trở nặng không cứu chữa được. Chính phủ Trung Quốc phải chịu trách nhiệm nặng nề về cái chết quá sớm của ông Lưu.”

Ông Lưu, một học giả Trung Quốc sau này trở thành một nhà bất đồng chính kiến, tranh đấu cho dân chủ, qua đời ở tuổi 61, vì bệnh ung thư gan.

Các nhóm bênh vực nhân quyền nhanh chóng lên tiếng ca ngợi những thành tựu và di sản của ông Lưu trong khi kêu gọi cộng đồng quốc tế điều tra cái chết của các nhà hoạt động dân chủ trong thời gian bị cầm tù, và kêu gọi Trung Quốc ngưng đàn áp các nhà hoạt động.

Bà Sophie Richardson, Giám đốc đặc trách Trung Quốc của Tổ chức Human Rights Watch nói:

“Ngay giữa lúc căn bệnh của Lưu Hiểu Ba trở nặng, chính phủ Trung Quốc vẫn tiếp tục cách ly ông với gia đình, đồng thời không cho ông được tự do chọn cách điều trị. Sự kiêu ngạo, sự độc ác, và sự cố chấp của nhà nước Trung Quốc thật sự gây sốc, nhưng sự nghiệp tranh đấu của ông Lưu cho một nước Trung Quốc tôn trọng nhân quyền và dân chủ sẽ tiếp tục.”

Người đứng đầu Tổ chức Nhân quyền LHQ, Hoàng Thân Zeid bin Ra’ad Zeid al-Hussein, bày tỏ “nỗi đau buồn sâu sắc” trước cái chết của ông Lưu Hiểu Ba, nói rằng phong trào nhân quyền đã mất đi một “nhà vô địch kiên định.”

Ông Salil Shetty, Tổng thư ký của Tổ chức Ân xá Quốc tế nói ông Lưu Hiểu Ba đã để lại một di sản vô tận cho Trung Quốc và cho cả thế giới.

 

Lưu Hiểu Ba, người bất đồng trực ngôn

 

4Người biểu tình ở Hong Kong khóc thương ông Lưu Hiểu Ba, 13/7/2017

 

Ông Lưu Hiểu Ba, nhà tranh đấu cho nhân quyền Trung Quốc bị bỏ tù, vừa qua đời trong một bệnh viện Trung Quốc sau một thời gian chống chọi với bệnh ung thư. Nhà văn đồng thời là nhà hoạt động 61 tuổi, đã được trao giải Nobel Hoà bình năm 2010 vì “đấu tranh lâu dài và bất bạo động cho các quyền làm người cơ bản ở Trung Quốc”. Ngay cả những ngày cận kề cái chết, ông vẫn là đối tượng của nhiều tranh luận. Phóng viên Natalie Liu của đài VOA ở Washington cho biết thêm thông tin.

Ông Lưu Hiểu Ba, 61 tuổi, qua đời tại một bệnh viện ở Thẩm Dương, nơi ông được chuyển đến từ nhà tù để được điều trị ung thư giai đoạn cuối. Những ngày cuối cùng của ông gắn liền với một cuộc tranh cãi trong công chúng về việc Bắc Kinh từ chối yêu cầu của gia đình ông, xin phép đưa ông sang Hoa Kỳ hoặc Đức để được chăm sóc.

Từ lâu, ông Lưu đã nổi danh là một nhà bất đồng chính kiến trực ngôn. Là một giảng viên đại học và nhà văn nổi tiếng về phê bình văn hoá Trung Quốc truyền thống, sự nghiệp đầy hứa hẹn của ông đã rẽ sang một bước ngoặt lớn khi ông tham gia cuộc biểu tình quy mô do sinh viên dẫn đầu tại quảng trường Thiên An Môn vào năm 1989.

Sau cuộc đàn áp dữ dội của quân đội, trong sự cố được gọi là vụ thảm sát Thiên An Môn, ông bị quy là thành phần tội phạm “bàn tay đen” và bị bỏ tù.

Sau khi được phóng thích năm 1991, ông tiếp tục kêu gọi cải cách chính trị.

Ông Lưu Hiểu Ba nói:

“Nếu có tiến bộ gì về xã hội và chính trị yso6 Trung Quốc trong 20 năm qua, tất cả là nhờ các công dân đã thúc đẩy sự thay đổi. Rốt cuộc, thay đổi sẽ xảy ra khi mà các vấn đề vẫn tồn tại và có đủ những người quan tâm”.

Năm 2008, ông Lưu và các nhà bất đồng chính kiến khác đã công bố một văn kiện có tên Hiến chương 08. Văn kiện kêu gọi chấm dứt chế độ độc đảng của Trung Quốc và thành lập một nước cộng hòa dân chủ mới.

Ông Lưu Hiểu Ba nói:

“Đối với những người trong sô chúng ta trong phong trào chống đối dưới các chế độ độc tài, một phần công việc của chúng tôi là phải đối mặt với cảnh sát, và đi tù. Như vậy, một nhà bất đồng chính kiến không chỉ cần học cách chống lại áp bức, mà còn phải đối phó với các cuộc trấn áp, và bị cầm tù”.

Ông Lưu bị kết án 11 năm tù hồi năm 2009. Một năm sau, tên tuổi của ông được toàn thế giới biết đến.

Chủ tịch Ủy ban Nobel Na Uy Thorbjorn Jagland:

“Ủy ban Nobel Na Uy đã quyết định trao giải Nobel Hoà bình năm 2010 cho ông Lưu Hiểu Ba vì đã đấu tranh lâu dài và bất bạo động vì nhân quyền cơ bản ở Trung Quốc”.

Giải thưởng ghi nhận vai trò của nhiều người Trung Quốc ở trong lẫn ngoài Trung Quốc trong việc xác lập nhân quyền phổ quát.

Ông Lưu Hiểu Ba nói:

“Nhà cầm quyền có quyền lực trong tay, họ có thể bắt giữ người, chúng ta không có quyền lực như vậy, nhưng chúng ta có thể nói chúng ta không ủng hộ điều này, chúng ta chống đối điều này”.

Khi ông Lưu qua đời, ông còn 3 năm nữa nữa mới mãn hạn tù. Người vợ chung sống với ông trong 21 năm, bà Lưu Hà, đề cập tới cuộc đời của hai vợ chồng trong một bài thơ:

“Ta thích vẽ cây, vì sao vậy?
Vì thích hình ảnh cây đứng thẳng
Người nói sống mà đứng thẳng hẳn rất mệt mỏi
Ta trả lời đúng thế
Nhưng ta vẫn phải như vậy”

 

Khôi nguyên Nobel Hòa Bình Lưu Hiểu Ba qua đời

LuuHieuBa

nguồn: VOA

Nhà hoạt động chính trị người Trung Quốc, nhà văn, Khôi nguyên Nobel Hòa Bình, Lưu Hiểu Ba, qua đời tại một bệnh viện thuộc thành phố Thẩm Dương, Trung Quốc, hưởng thọ 61 tuổi. Sở Tư Pháp thành phố Thẩm Dương ra thông báo chính thức cho biết.

Ông Lưu Hiểu Ba qua đời do căn bệnh ung thư gan, vốn được phát hiện vào tháng Năm, và được công khai hồi tháng Sáu.

Được biết đến với chiến dịch trường kỳ đấu tranh cho tự do, dân chủ của Trung Quốc, nhiều người coi ông Lưu là bậc anh hùng, trong khi ông lại là cái gai trong mắt chính quyền Bắc Kinh.

Trong suốt thời gian dài, ông đối mặt với sự sách nhiễu, quản thúc và giam cầm từ phía đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 2010, ông Lưu Hiểu Ba được trao tặng giải Nobel Hòa Bình, trở thành người Trung Quốc trong nước đầu tiên nhận giải thưởng danh giá này, đồng thời cũng là một trong ba người nhận giải trong lúc bị giam giữ, sau ông Carl von Ossietzky quốc tịch Đức (1935) và bà Aung San Suu Kyi người Myanmar (1991).

Lưu Hiểu Ba sinh tại Trường Xuân, Cát Lâm, năm 1955 trong một gia đình trí thức. Ông phải trải qua những năm tháng đầy biến động của nước Trung Hoa hiện đại.

Khi phong trào đấu tranh dân chủ Thiên An Môn nổ ra vào năm 1989, ông đang là học giả thỉnh giảng tại đại học Columbia, New York. Ông Lưu sau đó trở về quê hương, tham gia phong trào vốn bị đàn áp dã man bởi chính quyền Cộng sản Trung Quốc.

Ông Lưu và những nhà hoạt động khác được ghi nhận là đã có công trong việc hạn chế bớt qui mô của cuộc tàn sát bằng cách thương lượng với các binh lính có vũ trang, mở một đường thoát trong hòa bình cho hàng ngàn sinh viên đang có mặt tại Thiên An Môn.

Ông Lưu sau đó bị bắt với tội danh “đứng đằng sau giật dây phong trào Thiên An Môn.” Mặc dù không phải chịu án hình sự và được phép đi ra nước ngoài, ông Lưu bị đuổi khỏi trường đồng thời bị quản thúc tại gia nếu vẫn tiếp tục sống trong nước. Ông Lưu Hiểu Ba được chính phủ Úc cấp quy chế tị nạn, nhưng ông từ chối.

1a

Ảnh Reuters

Sau sự kiện Thiên An Môn, ông Lưu bị giam tổng cộng ba lần, nhưng vẫn tiếp tục tranh đấu cho những cải cách chính trị. Kể từ năm 1999 đến 2008, ông dành toàn bộ thời gian của mình cho việc viết văn, cũng như giúp thành lập Trung tâm Văn bút Độc lập trung Quốc, một diễn đàn cho phép các nhà văn, nhà báo tự do bày tỏ chính kiến của mình. Ông Lưu từng ba lần được bầu làm chủ tịch của tổ chức này.

Năm 2008, Lưu Hiểu Ba giúp soạn thảo “Hiến Chương 08”, kêu gọi cho nhân quyền, tự do bầu cử. Hiến chương này được cho lưu hành vào đúng ngày 10 tháng 12, ngày Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, cũng như kỷ niệm 60 năm ngày phát hành Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền.

Ngay trước khi Hiến chương 08 được phát tán, Lưu Hiểu Ba bị bắt với tội danh nghi ngờ khích động lật đổ quyền lực nhà nước, chịu án 11 năm tù. Tháng 10 năm 2010, ông được trao tặng giải Nobel Hòa Bình. Tại lễ trao giải, Hội đồng Nobel của Na Uy đã đặt một chiếc ghế trống trên sân khấu thay mặt cho Lưu Hiểu Ba, do ông không được phép tham dự.

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã chỉ trích bản án mà Trung Quốc dành cho Lưu Hiểu Ba, cho rằng việc kết án những tiếng nói chính trị ôn hòa đã vi phạm những quyền con người cơ bản được quốc tế công nhận.

Liên minh Châu Âu, Đức, Pháp và nhiều nước khác cũng đồng thời bày tỏ mối quan ngại tương tự. Nhiều tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế, cùng với cựu Tổng thống Nam Phi Nelson Madela và 15 khôi nguyên Nobel Hòa bình khác, cũng đã lên tiếng yêu cầu Bắc Kinh trả tự do cho Lưu Hiểu Ba.

Năm 2009, lãnh tụ tinh thần lưu vong của Tây tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma, một khôi nguyên Nobel Hòa bình, cho rằng việc tù đày một người chỉ đơn giản thực hành quyền tự do biểu đạt đã đi ngược lại hoàn toàn các công ước quốc tế về quyền con người.

Ông Lưu Hiểu Ba vẫn bị giam trong tù khi tình hình sức khoẻ có những chuyển biến xấu, và chỉ được đưa vào bệnh viện vài tuần trước khi ông qua đời. Gia đình ông nhiều lần lên tiếng yêu cầu chính quyền Trung Quốc cho phép đưa ông sang Mỹ hoặc Đức để chữa trị căn bệnh ung thư gan, tuy nhiên đều bị từ chối.

Khôi nguyên Nobel Hòa bình Lưu Hiểu Ba qua đời ở tuổi 61.

(Bài viết được chuyển ngữ từ bản Anh Ngữ của ban Quan Thoại, VOA)

 

 

 

Giới Thiệu E-Book:

 

BiaThoQuynh

THƠ QUỲNH

 

Văn Nghệ Boston vừa nhận được một e-book THƠ QUỲNH tác giả Hoàng Xuân Sơn.
Xin giới thiệu cùng quý anh chị em văn nghệ và độc giả.

Anh chị em có thể download tập thơ – file PDF này qua đường link:

Thơ-Quỳnh-HXS-final

 

Xin cám ơn nhà thơ Hoàng Xuận Sơn .  Chúc anh chị em một ngày bình an

VĂN NGHỆ BOSTON

 

 

 

pho-mua-dong

CÕI TÀN PHAI

 

Thôi nhé em yêu! Chiều đã tắt!
Nắng tàn phai rụng dưới chân ngày.
Thương nhớ một đời như sương khói
Hoa mộng đầu nở trắng hai tay!

Anh không thể níu mùa xanh lại
Tóc huyền xưa mắt biếc môi hồng
Nghe tiếng gió: “Mình yêu nhau mãi”
Vòng tay ôm: Một bóng chiều không!

Sương tuyết thời gian đùn cỏ mộ
Đưa nhau về trong cõi tàn phai.
Trên đỉnh thu sầu màu trăng vỡ
Đường nhân gian lạnh buốt đêm dài!

Người yêu hỡi! Trăng vàng suối ngọc
Cát mịn màng…sóng vỗ biển dâu.
Khoảnh khắc tình nồng thơm muôn thuở
Lời trăm năm vọng mãi nghìn thu!

 

Trần Thoại Nguyên

July4th

VoDe2

VỌNG ÂM BUỒN

 

Mưa phương nào tôi che người phương ấy

Chiều dần tàn trên mái ngói rêu xanh

Bầy quạ nhỏ đưa đêm về ái ngại

Lời chia tay,

muốn nói…

cũng không đành!

 

Tôi lơ đãng trao người cây Thánh Giá

Người đa mang từ buổi ấy lên đường

Nghe sóng vỗ trong lòng con ốc nhỏ

Và quanh tôi-

muôn thuở,

vọng âm buồn-

 

Khi không thể chia cùng nhau khổ nạn

Thắp cho người ngọn nến cháy rưng rưng

Từng giọt nến rơi vào đêm tan nát

Mái hiên khuya-

gió tạt…

buốt căn phần-

 

 

TÔN NỮ THU DUNG

 

ĐÊM CHỜ QUỲNH HÉ NỤ

 

Em đừng cởi áo vô minh

Thiền sư,

Thi sĩ

bất bình… hạ sơn

trong cuộc lữ cô đơn

Xin

muôn lượng kiếp

hoá thân tìm người

Sát na ấy,

ngỡ suốt đời

Đăm đăm diện bích

triệu lời vô ngôn

Em đừng xé bỏ càn khôn

Ngàn lau trắng vẫn cội nguồn băn khoăn

Em đừng vội nhé,

Quỳnh hương…

 

 

Thiền sư cởi áo che quỳnh

Nghe trong khuya khoắt…

trở mình,

hạt sương


TÔN NỮ THU DUNG

BXP

tranh Bùi Xuân Phái

 

Kể Em Nghe

 

 

Em chở tôi đi ngang phố Phan Đình Phùng

Em bảo

Hà Nội bây giờ chỉ có phố này là đẹp nhất

Còn bóng hai hàng cây xanh 

Nơi tôi sống 

Tôi đã tự hào hơn Hà Nội 

Thành phố trầm mặc nỗi buồn 

Vẫn thỉnh thoảng ác mộng về cơn điên bệnh tật

Về những năm tháng chiến tranh 

Hàng cây xanh 

Mỗi sớm mù sương 

Cờ ô đại nội 

Mùa hè phượng đỏ ối 

Áo trắng vẫn hiền lành dưới bóng xanh ươm

Hà Nội em

Bây giờ tôi đến 

Câu hát xưa bất chợt mênh mang  

“Cây cơm nguội vàng cây bàng lá đỏ…”

Bây giờ nơi nao?

 

Hà Nội của em

Nơi tôi đến 

Hồ Gươm xanh đậm hơn 

Giữa buổi chiều mùa hạ 

Người vẫn yêu đời đùa vui phố xá 

Ngồi bên gốc me xanh 

Tôi không quen 

Mùi nước rất tanh 

Đưa tay bụm mũi 

Như thể kẻ nhà quê quá xa lạ với phố phường 

Tưởng tượng mùi cốm làng Vòng 

Tưởng tượng mái ngói thơm 

Đang ở nơi nào đó 

Xa xăm 

 

Hà Nội của em 

Hà Nội trong tưởng tượng của tôi

Vẫn đẹp

Giữa lưng chừng bài hát 

Hà Nội bây giờ 

Là rác

Là khói bụi

Là trơ trụi

Là cao ốc

Là kẹt xe

Là 

Người 

Người 

Người 

Đông nghẹt 

Mưu sinh và chờ chết 

Hà Nội vẫn còn đó

Nhiều người bạn của tôi

Đáng yêu và hiền lành 

Cụ già ngồi đọc tờ báo cũ 

Em bé cầm trên tay chiếc bánh cam ngọt lịm 

Những chiếc xe đạp chở bốn mùa hoa dạo bán 

Thành phố vẫn thơ

Dưới làn bụi mờ

Dưới những con đường trơ trọi 

 

Tôi ghé vào quán bún ốc

Người nhạt

Giữa phố xá thênh thang 

 

 

 

Nguyễn Hoàng Anh Thư

7

THỪA THÃI CĂNG LÒNG.

 

 

1)

tôi

nhập vào em

đêm tháng ba

phù sinh trẩy hội

đóm

hoan ca

bủa vây trùng khiếp

đời

khô mộng

lầm lũi giang hồ

ta

dắt ta.

 

 

 

2)

buồn

rớt từ cây

xuống cội già

lưu vong

nên

mọi thứ ra ma

nghĩ

không phương chước

suy

không tới

nên

cứ người dưng

tưởng

ruột rà.

 

 

 

3)

mộng

đã đi hoang

chửa thấy về

một đời

bóng

ngả miết về quê

thóp thoi

ray rứt cầu ao

thừa thãi căng lòng

nhớ

ủ ê…

 

 

Chu Thụy Nguyên

 

 

 

 

CHÂN THẤP CHÂN CAO BÓNG GIỠN HÌNH.

 

 

1)

Có khi. Là mầm trong giấc kén.

Là tơ. Dệt mỏi giấc bình minh

Chỗ ngồi. Buông bỏ chân hoang bước

Là tôi. Xiêm áo tưởng rập rình.

 

 

2)

Là tôi. Bỉ ngạn chiều thê thiết

Cuộn chảy. Mơ hồ ngợ dáng em

Lên đồi. Khóc lớn cùng mây gió

Là lúc. Trăng mờ tôi thảo nguyên

 

 

3)

Viết nữa. Cùng mây tôi nhập trăng

Nhăng nhăng. Cuội cuội mộng sang đàng

Kìa cô. Em nhỏ son hồng gót

Biết đã. Bao giờ nợ chiếu chăn ?

 

 

4)

Lắm lúc. Vay đời chung rượu lạt

Là duyên. Hay nợ thật không màng

Lục bình. Phơi cạn nguồn cơn khát

Đối ẩm. Lâu rồi tiệc cũng tan

 

 

5)

Là tôi. Vin kiếp chênh vênh ấy

Là một ? Là hai ? Bóng giỡn hình

Lưng chừng. Hiu hẩm ai đồ họa ?

Méo xệch. Nhìn ta chẳng giống mình…

 

 

Chu Thụy Nguyên.

 

56

LÝ LỊCH : TÔI

 

tôi con sâu khát vú cỏ 
mùa xuân
một đời hoang núm nhớ
tái ngắt dòng sông tư tưởng
bạc môi ru ngày giọt máu thay màu

tôi trứng nắng những mùa không sinh nở
tuyển dụng nỗi buồn
khâu biển bơ vơ

tôi 
chong mắt đêm cào rách nụ hồn
chờ bình yên mọc từ mầm sương hoại tử
ban mai
xơ xác sầu cánh kiến

 

THUỞ TA VỀ LAU BÓNG THỜI GIAN 

(cho N…)

 

ta lau mặt trời
cho tuổi em thơm mãi hai mươi
trên luống thời gian
mái tóc em ngan ngát mùi đồng nội

ta lau mặt trăng
cho hồn em xanh ngắt miền sông huyền thoại
tháng sáu buồn du dương
thoai thoải dốc tình em 
ta nhặt lá thiết tha

đời cốm 
giòn tan như ngực trẻ
ta lăn vào em
viên sỏi tím thiên đường

 

VIỄN TRÌNH 7

 

tôi lẻn vào căn nhà yên tĩnh của đêm
ăn cắp giấc mơ của lá
vượt qua hàng rào gió
bắt gặp cơn mưa đi tuần

đứng trú dưới mái ngực hi vọng
lặng nhìn nụ hôn năm tháng ướt nhòe
người đàn ông của những lời hứa
lướt bàn tay xám qua miền tương lai tôi
làm đổ gãy những mầm non bình yên mới chớm.

 

 

Trương Đình Phượng

Giới Thiệu Sách Mới

NgMinhNuu2

Tập truyện ký:

THƯƠNG QUÁ SAIGON NGÀY TRỞ LẠI

 

Văn Nghệ Boston vừa nhận được tập truyện ký của tác giả Nguyễn Minh Nữu do nhà Văn Nghệ ấn hành năm 2017.
Sách có tựa đề: Thương Quá Saigon Ngày Trở Lại  là tập truyện ký trình bày những kỷ niệm của tác giả với những người bạn và khung cảnh xưa, tập trung hầu hết là Sài Gòn trải dài 264 trang.
Bìa sách trình bày trang nhã với tranh sơn dầu của Trương Vũ, phụ bản Đinh Cường, Đinh Trường Chinh.

Chân thành cám ơn tác giả Nguyễn Minh Nữu và xin được giới thiệu đến quý anh em văn nghệ cùng độc giả.

 

Văn Nghệ Boston.

Perform Solo

tranh Võ Công Liêm

 

GIỮA CHIM VÀ NGƯỜI

 

con chim quái cất cổ hót

tôi . một thời rất đảo điên

giữa trời sa mạc vô hình

hoang vu gió

mây ngàn hú

một mùa giông

bão tới tắp

xô ngã đời

theo cát bụi

con chim quái cất cổ hót

em . bỡ ngỡ một đông tàn

mà dòng đời thì phôi pha

dưới hiên trăng theo mây hứng

một đời thừa bạt gió mưa

con chim quái cất cổ hót

xin một lần

với dã thú

trên ngọn đêm

với đa đa

đưa em vào mộng ảo chơi vơi đêm trăng sao chờ đợi

để thấy mình là đá buốt chiều sương ướt gió leo cành

con đường rám nắng da đen cánh cửa ngập ngừng vỗ cánh

cho mắt môi em sân quạnh trăng đầy huyền hoặc mưa dâu

những hạt nắng khua đêm nghe vọng từ thiên nha tuổi nhỏ

đêm bò vào vũng sâu dưới trăng khỏa thân tinh khiết trắng

trên nhánh sông trôi những cụm hoa là mây trời lãng đãng

điệu kèn rít dã man trong ngăn kéo hộp đêm ngập khói cười

dìu em lên sàn nhảy ngọn đèn lấp lánh mắt môi ngọn lửa thèm

ôi . ‘mái tây hiên nguyệt gác chênh chênh’* đường đời ai có hay?

 

con chim quái

cất cổ hát

 

giữa đêm về

một âm vang ./.

 

VÕ CÔNG LIÊM
(ca.ab.yyc. 10/6/2017)

* Dựa ý thơ: Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu.  

 

 

 

thơ Lê Anh

Hani-Mazhar

THƯƠNG VỀ CỐ QUẬN

 

 

 

Cố quận nằm bên liên tỉnh lộ

Người đi xa cố quận lâu rồi

Như sông chia nhánh thành hai ngã

Một ngã đường mơ, một ngã đời

 

Người đi bỏ lại sầu non nước

Cố quận nằm trơ dấu đạn cày

Ngày qua bóng đổ che bờ bạc

Hương khói cơm chiều lạnh lẽo bay

 

Cố quận thương về hiu hắt quá

Một ngày sao lại kiếp bèo thôi

Chiến tranh im hẳn từ dạo ấy

Còn vẫn chút gì vương vấn nơi

 

Nhìn nhau thoảng hoặc nhìn nhau biết

Chút lửa trong tim đủ ngậm ngùi

Cố quận riêng gì ơn xưa cũ

Chập chờn bến mộng nỗi buồn vui

 

Quán gió chân cầu bên cố quận

Còn ai đây nhớ chuyện thế nhân

Ly rượu khơi tình anh lính chiến

Nghe hoài năm tháng lúc dừng quân

 

Khói quyện mây chiều từng vết nhạt

Nhà ai cơm tối vắng người ngồi

Những kẻ ngày qua còn đâu đó

Chờ nhau làm ấm những lẻ loi

 

Cố quận chiều nay tàn nắng rụng

Bóng chìm trơ dấu bụi thời gian

Người đi lâu lắm từ xa thẳm

Biết kiếp duyên nào nhắn thế gian.

 

         

Lê Anh.

 

 

 

 

LỜI CHÀO TẠM BIỆT

 

 

 

Khi thời gian đứng lại

Có nhiều điều khó thể nói

Không phải là tất cả đều chấm hết

Không bởi vì tôi đang khóc…

Cứ mỗi lần thời gian qua mau

Tốt hơn là nói lời chào tạm biệt

Vì mỗi trái tim lớn đều có nỗi buồn ở lại

Những gì tồn đọng

Đều làm đau buốt ngày mai

Và ước muốn hiện về như một giấc mơ

 

Quá khứ không là tương lai

Nhưng con ngưới cần hiện tại

Mỗi kỷ niệm làm đẹp thêm sức sống

Như hoa quả cuối mùa

đều mang hương thơm nhiều cách đến cho đời

 

Tôi không đang khóc

Không bởi vì thời gian vốn vô thường

mà vì đâu đó còn vương sức sống

như giọt nắng chiều trên đầu ngọn lá non

Tốt hơn là nói lời chào tạm biệt…

 

 

Lê Anh.

 

SÁCH MỚI

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI:

Văn Nghệ Boston vừa nhận được sách mới:

Bánh Mì Ai Cập, Cá Việt Nam
KHÁT VỌNG CON NGƯỜI

BanhMi_Ca

 

Sách bao gồm 75 bài chính luận và tâm bút của tác giả TRẦN TRUNG ĐẠO

Do nhà Cổ Loa ấn hành năm 2017

Khổ sách 6 x 9 inch dày 617 trang, trình bày trang nhã

Văn Nghệ Boston xin giới thiệu đến quý anh chị em văn nghệ cùng quý độc giả trong và ngoài nước

————————————————————————————————————————————-

Giới thiệu tác  phẩm

 

BÁNH MÌ AI CẬP, CÁ VIỆT NAM, KHÁT VỌNG CON NGƯỜI

 

Tác giả: Trần Trung Đạo

1

 

Gồm 75 Chính Luận và Tâm Bút, dày 630 trang của Trần Trung Đạo tập trung vào bốn chủ đề:

  1. KINH NGHIỆM THẾ GIỚI: 23 bài về kinh nghiệm Liên Xô, Đông Âu, Phần Lan, Tây Tạng, Nhật Bản, Singapore, Miến Điện, Nam Hàn, Bắc Hàn, Mông Cổ, Latvia, Lithuania, Estonia, Campuchia, Trung Cộng, Ai Cập, Cu Ba, Hoa Kỳ v.v..

 

  1. LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ: 28 bài về kỹ thuật tuyên truyền, phản tuyên truyền, để thắng được Trung Cộng, chủ nghĩa dân túy, quan hệ Mỹ-Trung, nguồn gốc của bịnh sợ, bịnh lười, bịnh nghiện, đất, biển, đảo, rừng, cây, cá, chim và cơ chế cs v.v..

 

  1. TÌNH DÂN TỘC: 14 bài về nỗi đau Việt Nam, nỗi nhớ Sài Gòn, tình yêu nước, tổ quốc, niềm tin vào lịch sử, mất mát tuổi hai mươi, một ngôi đền có tên Việt Nam, Việt Nam có một thời thừa máu, đừng mệt mỏi, hãy làm một giọt nước v.v…

 

  1. TÌNH NGƯỜI: 10 bài về hạnh ngộ đầu năm, tình mẹ, tình bạn, tình người, mùa xuân, mùa thu, sông, biển, tâm sự của tử tù v.v..

 

Tựa: Gs Nguyễn Ngọc Bích (Phát biểu tại DC và Dallas)
Bạt: Ts Bạch Xuân Phẻ
Biên tập: Trần Trung Tín
Thiết kế bìa: Uyên Nguyên
Trình bày nội dung: Đặng Hoàng Lân – Trần Nghi Hạ
Nhạc Nguyễn Trọng Khôi – Phan Ni Tấn
Cổ Loa xuất bản lần thứ nhất tại Boston, Hoa Kỳ
Tác giả giữ bản quyền
Copyright @ 2017 Trần Trung Đạo
All rights reserved.

2

 

MỤC LỤC

  1. KINH NGHIỆM THẾ GIỚI

 

  • Suy Nghĩ Bên Đèn Đỏ Ở Nara
  • Latvia, Sức Mạnh Của Niềm Tin
  • Hiểm Họa Trung Cộng Và Bài Học Latvia
  • Ngày Cuối Cùng Cùng Của Chế Độ Cs Liên Xô
  • EstoniaVà Cách Mạng Hát Hùng Ca
  • Hiểm Họa Trung Cộng Và Bài Học “Phần Lan Hóa” (Finlandization)
  • Hiểm Họa Trung Cộng Và Bài Học Tây Tạng
  • Lý Quang DiệuVà Chính Sách Ngăn Ngừa Cs Tại Singapore
  • Chuyện Từ Vùng Biên Giới Bắc-Nam Hàn
  • Kim Jong-Un Thử Bom Nguyên Tử Và Phản Ứng Của Tập Cận Bình
  • Springsteen Và Barack Obama, Hai Cánh Én Tự Do
  • “Dân Cần Minh Bạch” Qua Kinh Nghiệm Mông Cổ
  • Tham Vọng Và Nỗi Lo Của Tập Cận Bình
  • Đảng 50 Xu Tại Trung Cộng
  • Viện Khổng Tử, Cơ Quan Tuyên Truyền Và Tình Báo Trung Cộng
  • Tại Sao Thảm Đỏ Đối Với Các Lãnh Đạo Cs Thường Là Một Vấn Đề Quan Trọng?
  • Trò Hề “Phát Biểu Trước Quốc Hội” Của Tập Cận Bình
  • Tập Cận BìnhChủ Trương Độc Chiếm Biển Đông
  • Bài Học Tranh Chấp Biên Giới Giữa Trung Cộng Và Bắc Hàn
  • LeninVà Chính Sách “Tuyên Truyền Tượng Đài”
  • Nguồn Gốc Cộng Sản Của Ngày Quốc Tế Phụ Nữ 8 Tháng 3
  • Sáu Lý Do Giúp Chế Độ Cs Tồn Tại
  • Bài Học “Thoát Nga” Của Lithuania

 

  1. LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

 

  • Trung Cộng Không Đáng Sợ
  • Để Thắng Được Trung Cộng
  • “Quyền Lịch Sử” Của Trung Cộng Trên Biển Đông Là Quyền Gì?
  • Mao Và Chiến Dịch Tiến Chiếm Hoàng Sa 1974
  • Mao Và “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam”
  • Lãnh Đạo Csvn Trong Quan Hệ Mỹ-Trung
  • Mười Lý Do Nhân Dân Việt Nam Không Chào Đón Tập Cận Bình
  • Nhìn Lại Chiến Tranh Việt Nam
  • Tháng Tư: Gọi Tên Cuộc Chiến
  • Đừng Tưới Nước Lên Gốc Cây Rã Mục
  • Qua Cái Chết Của Ông Lê Hiếu Đằng, Nghĩ Về Chọn Lựa Của Hôm Nay
  • Kỹ Thuật Tuyên Truyền “Người Thật Chuyện Giả” Dưới Chế Độ Cs
  • Đất, Biển, Đảo, Rừng, Cây, Cá, Chim Và Cơ Chế Cs
  • Tìm Đâu Ra Minh Bạch?
  • Tôn Nữ Thị Ninh, Đại Biểu Xuất Sắc Của “Trí Thức Xã Hội Chủ Nghĩa”
  • Bệnh Sợ Dưới Chế Độ Cộng Sản
  • Đoàn Xe Tang Trên Đường Phố Hội An
  • Ai Sợ Ai?
  • Lãnh Tụ Và Thời Đại
  • Tượng Đài Cs, Một Gia Tài Không Ai Muốn Nhận
  • Việt Nam Không Phải Là Miến Điện
  • Nhìn Sang Miến Điện, Nhìn Lại Việt Nam Đang Thiếu Ai?
  • Fidel CastroChết, Nên Vui Hay Buồn?
  • Chủ Nghĩa Dân Túy Mỹ Và Donald Trump
  • Bệnh Nghiện Rượu Dưới Chế Độ Cộng Sản
  • Bệnh Lười Dưới Chế Độ Cs
  • Bánh Mì Ai Cập, Cá Việt Nam, Khát Vọng Con Người
  • Tổng Thống Trump Và “Chính Sách Một Trung Quốc”

 

III. TÌNH TỰ DÂN TỘC

 

  • Niềm Đau Madrid, Nỗi Nhớ Sài Gòn
  • Không Gì Thiêng Liêng Hơn Tổ Quốc
  • “Thay Đổi Nhận Thức, Thay Đổi Tương Lai”
  • Hãy Làm Một Giọt Nước
  • Nỗi Đau Sẽ Không Dứt Nếu Không Biết Tại Sao Đau
  • Đừng Để Lại Một Ngôi Đền
  • Phải Chăng Lòng Yêu Nước Đã Tới Hồi Mệt Mỏi?
  • Hãy Vững Tin Vào Lịch Sử
  • Món Nợ Tuổi Hai Mươi
  • Những Ngày Tháng Tới
  • Tiếng Hát Lộc Vàng
  • Bối Cảnh Việt Nam Qua Phim The Shawshank Redemption
  • Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Ai Sẽ Nói Thay Em?
  • Việt Nam, Một Thời Thừa Máu.

 

  1. TÌNH NGƯỜI

 

  • Hạnh Ngộ Đầu Năm
  • Thì Thầm Với Mùa Thu
  • Tình Bạn
  • Tình Người Như Mùa Xuân
  • Lễ Thọ Giới Của Một Tử Tù
  • Hai Tử Tù Và Tình Mẹ
  • Sự Im Lặng Của Biển
  • Nguyện Ước Rất Là Thơ Của Mẹ
  • Tâm Sự Với Mùa Xuân
  • Bắt Đầu Từ Đó

 

 

Tác phẩm  BÁNH MÌ AI CẬP, CÁ VIỆT NAM, KHÁT VỌNG CON NGƯỜI cũng được xem như là Chính Luận Trần Trung Đạo II. Chính Luận Trần Trung Đạo I, dày 600 trang, đã được xuất bản vào tháng 7, 2015. Để nhận một hay cả hai tác phẩm, xin liên lạc Nhà Xuất Bản Cổ Loa theo địa chỉ email: nhaxuatbancoloa@gmail.com

 

 

Nữ Thi Sĩ Minh Đức Hoài Trinh qua đời

1

Nữ Thi Sĩ Minh Đức Hoài Trinh vừa thất lộc tại miền Nam California, Hoa Kỳ.

Thọ 87 tuổi.

Tác giả 2 bài thơ, được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc “Kiếp nào có yêu nhau “và “Đừng Bỏ Em Một Mình” vừa từ giã thế gian ngày thứ Sáu ngày 9 tháng 6 năm 2017 tại Huntington Beach -California.

Đôi dòng tiểu sử thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh.

Minh Đức Hoài Trinh tên thật là Võ Thị Hoài Trinh, bà thường lấy các bút hiệu là Hoàng Trúc, Nguyễn Vinh, Bằng Cử. Bà sinh ngày 15 tháng 10 năm 1930 tại Huế, sống ở Pháp từ năm 1953 đến 1964. Sau đó bà đến định cư tại quận Cam, Hoa Kỳ từ năm 1982.
Tên tuổi của Minh Đức Hoài Trinh không ai trong giới văn học không biết. Bà sinh tại Huế, con quan Tổng Đốc Võ Chuẩn, Ông Nội bà là Võ Liêm, Thượng Thư Bộ Lễ của triều đình. Năm 1945 Bà tham gia phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp, sau đó Bà biết sự lợi dụng của phong trào nên bà bỏ về Huế tiếp tục học. Năm 1964 bà đi du học tại Pháp về ngành báo chí và Hán văn tại trường ngôn ngữ Đông Phương La Sorbonne, Paris đến năm 1967 bà ra trường và làm phóng viên cho đài truyền hình Pháp ORTF, lúc đó bà đi làm phóng sự nhiều nơi sôi động nhất như: Algerie và chiến trường Việt Nam. . . Năm 1972 bà được cử theo dõi và tường thuật cuộc hòa đàm Paris. 1973 Bà sang Trung Đông theo dõi cuộc chiến Do Thái, một thời gian sau bà trở về Việt Nam giảng dạy khoa báo chí tại Viện Đại Học Vạn Hạnh năm 1974-1975.
Sau biến cố 1975 bà trở lại Paris cho xuất bản tạp chí “Hồn Việt Nam” và trở lại cộng tác với đài phát thanh ORTF với chương trình Việt ngữ để tranh đấu cho những nhà cầm bút, những văn nghệ sĩ Việt Nam bị cộng sản cầm tù. Bà đứng ra thành lập Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và vận động để được công nhân hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế tại Rio de Janeiro, Ba Tây vào năm 1979.
Bà đã dùng ngòi bút và khả năng của mình thường xuyên tranh đấu cho các văn nghệ sĩ bị cộng sản giam cầm phải được trả tự do, ngoài những bài báo, bà còn sáng tác hơn 25 tác phẩm giá trị, trong đó có truyện ngắn, thơ…
Nhà Văn Nguyễn Quang đã thực hiện 1 tập sách rất công phu khá đầy đủ những tài liệu, bài vở và hình ảnh với tiêu đề: “Văn Nghiệp Và Cuộc Đời Minh Đức Hoài Trinh.” Nhà Văn Nguyễn Quang có đoạn viết: “Sau khi đọc quyển sách nầy người ta tự hỏi làm sao Minh Đức Hoài Trinh một con người nhỏ bé lại có thể hoàn thành trên nhiều lãnh vực trong thời gian đen tối nhất của lịch sử Việt Nam. . .Bà đã đi trên khắp 5 lục địa, bà đã vào những vùng chiến tranh lửa đạn. . .” Những đóng góp của bà với một cuốn sách nhỏ nầy chắc chắn không diễn tả hết được những gì bà đã làm cho quê hương cho nền văn học Việt Nam.

 


Các tác phẩm của bà đã xuất bản gồm có:
Lang Thang (1960), Thư Sinh (1962), Bơ Vơ (1964), Hắn (1964), Mơ (1964), Thiên Nga (1965), Hai Gốc Cây (1966), Sám Hối (1967), Tử Địa (1973), Trà Thất (1974), Bài Thơ Cho Ai (1974), Dòng Mưa Trích Lịch (Thanh Long Bruxelles, 1976), Bài Thơ Cho Quê Hương (Nguyễn Quang Paris 1976), This Side The Other Side (Occidental Press USA 1980), Bên Ni Bên Tê (truyện dài, Nguyễn Quang USA, 1985), Niệm Thư 1 (tái bản 1987), Biển Nghiệp (Nguyễn Quang USA, 1990).

 

Thơ HHiếu

noiloan

Lý Lịch nổi loạn

chúng tôi không là cách mạng chẳng là triết gia
chỉ là đám trẻ nhẹ dạ
chưa lấy được ngón cái ra khỏi cửa miệng
đã vội bôn ba
trong những chiếc giày
của người lớn
.
chúng tôi không là hậu quả cũng chẳng là nguyên ủy
chỉ là những sinh vật đang hoại tử
bị rơi vào giữa sự cố
và bị lũ người cầm trên tay lắm lá số tử vi
kiềng vào cổ
một lý lịch quái gỡ
của một dạng sinh vật
biết nói tiếng người
.
chúng tôi chẳng là thắng cảnh không là di tích
chỉ là những chướng ngại vật
chưa đủ lớn để thui thành than
đã vội trổ lá giương cành
cản trở sự phát triển
của đô thị mới
.
chúng tôi chưa là lăng tẩm của điển tích
chỉ là bức phù điêu bỏ dở
chưa chạm nổi được một mộ sử
đã tự nhang khói
trong những chiếc lư đồng
của người chết
.
chúng tôi không bầy đàn
chỉ dăm chai bia
cũng đủ viết lại vài trang
thời sự cũ rích, thủa nhà in chưa biết đánh bóng hình ảnh và
màu mè chữ nghĩa
.
chúng tôi chẳng bè lũ
chỉ là dăm hình nhân cổ quái của một trò múa rối nghèo nàn
vừa đủ khuyến mãi một câu chuyện
thất tán huyền thoại, thủa nhà xuất bản chưa hề tái bản lắm
trò đùa quái quỉ.
.
chúng tôi cũng chả màng thời cuộc
chỉ vui miệng nhắc lại dăm trang văn học sử
mà hội nhà văn thành phố đã tiện tay làm mồi châm lửa tẩu thuốc phiện
không bút mực nào có thể tả xiết
nên chẳng cần bàn viết
các thứ được đặt để trên bàn nhậu
nhậu bây giờ là thói quen của hậu hiện đại
khi mọi cảm giác đang bị chai đít
như thuyết darwin
khi mọi cảm giác đã bị cải cách
như thuyết karl marx
khi mọi đời sống đều bị quy hoạch
như thuyết cộng sản ba đình.
.
chúng tôi đám côn trùng rộng cánh
quẩn quanh bay
đời sống là một khoảng trời bần tiện lý tưởng, ngoại trừ
ngọn đèn thiêu thân ở cuối đường hầm
lao vào nó
chúng tôi tìm thấy nơi đó
những đá tảng ngoài không gian
.
chúng tôi tự thân là những diêm sinh hạt nhân muộn màng
cụm lửa khổng lồ từ môi trường biến thái
phún thạch của cuồng nộ
sức nóng của bất mãn
độ bung của sự nhẫn nhục bị nén ép tận cùng
đáy địa ngục
dĩ nhiên, sẽ thiêu đốt chúng tôi trước
nhưng chắc chắn, chúng
những thứ dễ bắt lửa bức xúc
cũng sẽ cháy rụi
.
càng đi gần hết con đường
chúng tôi càng thấy nhiều chúng-tôi
không nằm theo thứ tự hàng lối như các mộ bia trong nghĩa trang
lại vất vưởng hỗn loạn theo nhu cầu mưu sinh
lũ chúng tôi nằm chồng lên nhau
một lớp lịch sử hổn mang úng nước.

HHiếu

1

tranh Hoàng Hồng Cẩm

KHI ÔNG HỌA SĨ THẤT TÌNH

(thơ cũ đề mới)

 

  1. cắt băng phòng triển lãm này
    em xem họa phẩm tôi đầy bóng ai ?
    xin lỗi, em thầm đoán sai
    vì người mẫu chẳng giống ai hai lòng
  2. ngón tay nhúng cốc bia vàng
    vẽ em lên một góc bàn quạnh hiu
    lòng ta chỉ có bấy nhiêu
    mà nghe trĩu nặng trăm chiều nhớ nhung
  3. máu em đỏ thắm hay hồng
    ta pha màu chẳng vừa lòng em đâu
    gắng hòa một chút hơi nhau
    cho hồn họa phẩm ngàn sau sống còn
  4. đêm đêm ngồi vẽ một mình
    thương cho sơn cọ thật tình hiểu ta
    còn em, huyền hoặc dáng ma
    sống trong nét cọ mà xa ngàn trùng
  5. chân dung em vẽ xong rồi
    cả phòng vẽ bỗng sáng ngời ánh trăng
    lòng vừa rụng nỗi băn khoăn
    em còn hay mất, lạ quen, cũng thừa
  6. chín năm em ngủ khỏa thân
    đường cong nét lượn nhập tâm, thuộc lòng
    vậy mà vẽ mãi không xong
    cái man dại ngát trong vòng tay xưa
  7. em chưa chết đã là ma
    ta chưa chết đã thành nhà quàn em
    chong đèn bôi xóa suốt đêm
    tranh đời ta, một màu đen lạnh lùng
  8. lót màu đã mấy tuần nay
    bức tranh định vẽ loay hoay chưa thành
    hình như ích kỷ để dành
    dáng em lồng với hồn mình thiên thu
  9. phóng tay định vẽ tranh xuân
    phác ra vài nét, lạ lùng : vẫn em
    chắc sơn cọ có trái tim
    hay là em sống trong tiềm thức tôi
  10. ta là họa sĩ hạng tồi
    cứ cho màu sắc nhiều lời như thơ
    hồn ta thất lạc cõi nào
    khi em trừu tượng từ giờ trở đi
  11. cầm dao định chặt ngón tay
    may ra bỏ tật cả ngày vẽ em
    bàn tay đâu có tượng hình
    trái tim mới đáng chịu hình phạt thôi

 

Luân Hoán.
(Mời Em Lên Ngựa)

 

 

KHI ÔNG THI SĨ THẤT TÌNH

1.

khi ông thi sĩ thất tình
hồn thơ xác chữ lình bình khắp nơi
lấp lánh nắng treo trên người
mưa dán râu tóc đổ xuôi xuôi chiều

hai tay quờ quạng khẳng khiu
đứng ngồi hương rượu phiêu phiêu bềnh bồng
người chung quanh có như không
ngoài ông và ả ông yêu lừ đừ

ả thanh thoát dáng tiểu thư
tâm hồn nhan sắc y như Phật bà
thánh thiện hơn Mẹ chánh tòa
trên cao bát ngát mùi hoa tuyệt vời

còn ông ngang ngửa ghế ngồi
thi tiên thi thánh trên đời lâu nay
vũ trụ trong lòng bàn tay
vo tròn hạt nhỏ vãi bay mù trời

đạp mây ông vác tình đời
vừa than vừa dạy nên chơi thế nào
dẫu trầm lặng hay kêu gào
ông thoát không khỏi lòng hao hụt tình

ông thành một bậc thánh linh
thơ cho đời, buồn cho mình… lai rai
ít nhiều cũng chạm cái chai
hương nồng vị đắng sầu phai nhạt tình

2.

rất may, khi ngó lại mình
làm thơ vớ vẩn tôi hình như chưa
thành danh thi sĩ thượng thừa
thất tình bất chợt chỉ vừa vừa đau

ngớ ngẩn một vài bữa đầu
lơ viết bậy bạ, đi đâu đi hoài
từ xấu trai thành được trai
mùi hương vóc dáng của ai đậm dần

tôi thành bức tượng toàn thân
và yên phận giữ ngôi phần mộ riêng
mươi năm sau nếu có duyên
sẽ đem ra viết thành thiên chuyện lòng

tình yêu như một cây bông
nở đi nở lại hoa nồng nàn hương
bấy giờ càng thấm nỗi buồn
dù khi ngồi viết như tuồng dửng dưng

tôi thất tình lạ vô cùng
nhờ chưa chính thức ông trùm làm thơ

 

Luân Hoán
7.20 sáng 06.6.2017

dem

tranh Đinh Cường

 

Hành trình cuối cùng

 

 

Thế là cây bàng trước ngõ đã nguyên màu rực rỡ

Một màu vàng như phủ kín vòm cây

Mới đó lác đác vài chiếc lá

Ào ào cơn mưa vàng mới đây

Rồi đây chỉ còn những cành khẳng khiu trơ trụi

Mùa thu đã chết rồi

Ta cũng chết theo luôn

Con thuyền chở ta xuôi theo dòng chảy

Một con sông dài nhiều bến sang ngang

Ta thường lỡ bước những lần đón đợi

Và hôm nay lại là một chuyến đi xa

Trên trời có một cánh chim tung vòng lượn

Cất tiếng kêu tìm tổ gọi bầy

Nơi ta đến có tên Bến Lạ

Không tổ, không bầy chỉ một cô đơn.

Trong số khách tiễn tôi co mời riêng hai nghệ nhân cho một bài hát.

Bài Biệt Ly

Bởi lần này đích thực là Ly Biệt

Một chuyến đi không có cuộc trở về.

Với cây đàn trùng dây lạc phím người chồng đệm cho giọng hát đã khê của một ca nương đã xế chiều.

Bài hát là nhịp điệu cho sự xê dịch của con thuyền

Cho sự dừng lại của một không gian là sự chết

Và cũng là giây phút lưu luyến cuối cùng với cuộc đời.

.

 

Phan Vũ

Không gian cũ

2.6.2017

fe7b2e9dc2032ae45f8960a881c4a8f6

phạm trù của những ngôi sao

 

 

khi anh thả những cánh chim vào thơ

là khi anh biết mình ngã bệnh

không thể nào đếm xuể

thiên hà co cụm những vì sao li ti

chùm bóng nhân sinh hồi tị

nhác thấy bên đời

từng khối u rờn rợn

cu gáy ngoài đồng khan

giọng đất trùng thẳm

những con dốc năm nào ơi ới

bạn mình chúi ngửa

đo đạc chỉ là sự chiêm nghiệm chuỗi ngân hà đôi co

quét buốt rát

bụi.  và không thời

khoảng cách giữa tranh sáng

và điều huỷ hoại

có cả cây rừng chặt đốn

vườn nhà lung lay

chúng ta giống nhau khác nhau ở chỗ

không hề lý tới sự tranh tụng của thời gian

biết khóc

biết sống tràn trề quá vãng

chui rúc trong lớp vỏ hoài nghi thực tại

bọc lấy cảnh đời

có những loài chim ngưng tiếng hót

những cánh đồng áo nâu

và rừng thông bạt não

 

 

hoa luời biếng tay cầm

khi anh không còn viết được nữa

sẽ đọc bằng nỗi câm lười

những con đinh tán long óc

 

 

 

hoàng xuân sơn

cuối tháng ba 2017

 

 

t ị n h  s ắ c

 

 
ướt giùm
một hạt mưa sa
tôi về hạ giới
ôm
tà nguyệt đau
thở qua
trì giác không màu
làm sao vẽ được
ngàn sau
nhục hình
một tờ thân
nhẹ
như kinh
cũng về theo gió bất bình
thở
than
mai sau
hạt giống khô vàng
còn tôi. còn?
với trần gian
họa hoằn

 

hoàng xuân sơn

trích Lục Bát Hoàng Xuân Sơn

RusudanKhizanishvili_TheWinterSShine

Chút tâm tình

Thương nhớ thi sĩ Việt Phương

Giữa cung cấm anh chỉ ngồi ghế xép
ghế đầu sai
giúp việc
triều đình không có ghế cho thơ

Đại sự quốc gia tuôn qua tay anh
soạn thư
thảo hịch
ho ra bạc
khạc ra tiền
thét ra lửa
em là bài thơ mà anh là tác giả (*)
vô danh

Chỉ làm thơ anh mới được là mình
giữa trang thơ anh thành chính chủ
ghế phụ hóa ngai vàng
vua quan làm con chữ
vỡ ra rằng thơ là đấng quyền năng

Vỡ ra rằng khi anh nằm xuống
hơn với thiệt hỏa táng
chức với sắc hỏa táng
mọi thứ đều danh hư
mộ chí giữa đời một tước hiệu
Nhà Thơ.

Nguyễn Duy

(Sài Gòn, 9.5.1017)

__________________

 (*) Một ý thơ của Việt Phương

 

Cái gốc 

Phúc chu thủy tín dân do thủy (*)

Thượng sách muôn đời lấy dân làm gốc
nhân dân đây
cái gốc quốc gia này.

Bán mặt cho đất
bán lưng cho trời
nhân dân mẹ cha
nhân dân ông bà
nhân dân tổ tiên
nhân dân nguồn cội
hột gạo củ khoai nuôi nấng cả giống nòi.

Mảnh đất truyền đời
chát mồ hôi
đắng máu
lớp lớp anh hùng áo vải
lớp lớp xác người giữ đất
vẫn nhân dân.

Sao nên nỗi người cày không có ruộng
luật hoang vu hoang hóa nhân tình?

Sao có kẻ sống mọt đời vắt vểu
ăn quả trên cành tè axit gốc cây?

Ai ủ cái ung mủ tanh khoang mũi
ngửi hoa hồng sặc một mùi hôi?

Ai nuôi cái mù lòa đáy mắt
nhìn nhân dân ngấp ngoáng bóng thù?

Ai lăm lăm đẩy dân sang phía địch
tự biến thành thù địch trước nhân dân?

Lai tỉnh
hỡi lương tri
lai tỉnh!

Nguyễn Duy                                                                             
(Những ngày đau trong bệnh viện, tháng 4.2017)

____________________

(*) Lật thuyền mới biết dân là nước
  (Quan hải, Nguyễn Trãi)

Phân Ưu

PhamNgocLuPhanUu

 

HÌNH ẢNH TRONG ĐÁM TANG

GiadinhPhamNgocLu
Từ trái: Vợ Phạm Ngọc Lư, con gái và con trai

 

ĐÔI DÒNG VỀ NHÀ THƠ PHẠM NGỌC LƯ

Phạm Ngọc Lu_2

Nhà thơ Phạm Ngọc Lư sinh ngày 6 tháng 4 năm 1946 tại một làng nhỏ vùng Phá Tam Giang xã Vinh Xuân huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông học trung học tại trường Quốc Học, cựu sinh viên Viện Hán học thuộc Đại học Văn Khoa Huế. Sau khi tốt nghiệp sư phạm Qui Nhơn năm 1967, ông về dạy học ở Tuy Hòa đến năm 1975. Sau 1975 ông bỏ nghề dạy học, làm đủ nghề để mưu sinh, lòng vòng ở miền Nam. Đến năm 1995 ông một mình về Đà Nẵng, được một người bạn thơ, Ông Nguyễn Văn Gia, lúc đó là Giám độc hay Chủ nhiệm của Trung tâm Anh ngữ Đà Nẵng nhận vào dạy Anh văn. Khi đã có công việc tạm ổn định ông đưa vợ con về Đà Nẵng, mua nhà ở. Được vài năm, Trung tâm ấy giải thể. Ông mở lớp dạy Anh văn tại nhà, vợ buôn bán nhỏ, sống đắp đổi nhưng khá trọn vẹn với THƠ cho đến ngày nhắm mắt vì căn bệnh ung thư.  Bài thơ được nổi tiếng của Nhà thơ Phạm Ngọc Lư là bài Biên Cương Hành. Trong một bữa họp mặt văn nghệ thân thiện tại Huế, (năm 2009?) Nhà thơ Phạm Ngọc Lư đã đọc bài Biên Cương Hành và được Nhà phê bình Đặng Tiến nhận xét tại chỗ là một trong những bài thơ hay của thế kỷ 20.

Những ngày lâm bịnh hiểm nghèo, anh được anh Trần Hoài Thư vận động, tập hợp một số bài viết của anh chị em văn nghệ trong và ngoài nước, cho ra đời tập san Thư Quán Bản Thảo 70 chuyên đề Phạm Ngọc Lư – Biên Cương Hành – Tháng 6-2016.

Anh qua đời ngày 26-5-2017 tại Đà Nẵng, để lại Vợ, chị Nguyễn Thị Quý, người Bình Định và hai con Phạm Thị Quỳnh Thư (con gái) và Phạm Hà Giao (con trai) cùng với 2 cháu nội, ngoại.

 

Tin từ nhà thơ Uyên Hà

Mandolin

Người đàn ông đàn mandolin

Jun’ichirō Tanizaki

 

 Hà Vũ Trọng dịch

 

NHÂN VẬT:

Người đàn ông đàn mandolinngười đàn ông mù
Ukikovợ ông
Người đàn ông bí mật

Cảnh Một

(Nội thất căn phòng có vách tường trắng dày gây ấn tượng về một căn hầm. Một cửa sổ bên trái sân khấu và hai cửa sổ ở trung tâm đều được phủ rèm màu lục. Bên phải sân khấu là cửa ra vào. Cạnh cửa sổ bên trái là bàn giấy và cái ghế. Khoảng giữa hai cửa sổ trung tâm là một kệ sách nhỏ có chiếc đồng hồ báo thức. Một ghế bành đặt giữa phòng. Một bàn nhỏ và ghế sofa bên phải. Đồ đạc đơn sơ và khá cũ kĩ.

Khi rèm sân khấu kéo lên, tiếng đàn mandolin đang chơi một bản dạ khúc thanh bình. Một đêm mùa thu. Trên bàn có ngọn đèn thắp sáng với chao đèn màu lục. Bên phải, đối diện với vợ là Người Đàn Ông Mù ngồi bên thành ghế bành đang gảy mandolin. Ông mặc quần dài đen với áo thun xám. Vợ ông dựa lưng sofa như thể đang nghe tiếng đàn mặc dù nàng đang đọc một cuốn sách bìa hồng. Nàng mặc chiếc kimono mùa đông giản dị với chiếc áo khoác. Cạnh nàng trên sofa là hai cái gối tựa và một cái mền trắng, một đầu mền sổ xuống sàn nhà.

Người đàn ông mù (ngưng đàn) Đêm nay anh chơi đàn nghe hay hơn thường lệ. Có lẽ chỉ là do anh tưởng thế thôi. (Người vợ im lặng tiếp tục đọc sách. Nàng lật từng trang rất khẽ sao cho không nghe ra tiếng). Em biết không, đôi khi anh có ấn tượng vào một đêm như thế này – anh chắc là đêm nay trăng rất sáng – có một kẻ ở bên ngoài đang nghe tiếng đàn mandolin này. Anh chắc có kẻ đã chèo thuyền ra mặt hồ và nhìn lên những ô cửa sổ này. (Người vợ vẫn im lặng).Ukiko, em cũng có cảm giác đó chứ? Anh dám chắc tiếng mandolin có thể nghe thấy từ trên mặt hồ.

Vợ (mắt rời cuốn sách một lúc) Không thể nào.

Người đàn ông mù Em có thật tình nghĩ thế?

Vợ Nhưng nói gì thì nói…

Người đàn ông mù Không. Anh chắc có thể nghe thấy tiếng đàn, và trong thâm tâm em cũng cho rằng có thể nghe thấy chứ?

Vợ Ô, thôi đừng nói những chuyện này nữa! Các cửa sổ đều đóng chặt. Không còn gì để lo ngại. Gảy em nghe lại bản nhạc đó đi!

Người đàn ông mù Em có chú tâm nghe không? Không nghĩ gì khác?

Vợ Em đã lắng nghe, chẳng có ý nghĩ nào khác trong đầu cả.

Người đàn ông mù Anh đang hồi tưởng thời anh chơi bản nhạc này cho em nghe lần đầu. Vậy đó, không còn gì khác.

Vợ Vâng, em đang nhớ đến tất cả. (Người đàn ông mù chơi lại bản nhạc, người vợ kín đáo tiếp tục đọc sách. Tạm ngưng một lúc tương đối lâu).

Người đàn ông mù (thình lình ngưng đàn) Em đang làm gì?

Vợ Gì thế?

Người đàn ông mù Em đang nghe chứ?

Vợ Dĩ nhiên em đang nghe. (Người đàn ông mù đặt mandolin xuống, đứng dậy, dò dẫm đến chỗ vợ. Trong khi đó nàng gấp sách lại và giấu nó dưới tấm mền. Người đàn ông mù lượn bàn tay lên người vợ, rồi sờ soạng quanh mặt sofa đến khi ông dò ra cuốn sách).

Người đàn ông mù (chỉ vào cuốn sách) Cuốn sách gì đây?

Vợ Cuốn sổ tay dạy đan móc.

Người đàn ông mù Giấy tốt thế này – thật là xa xỉ đối với một cuốn sổ tay dạy đan móc! (Vợ giữ im lặng) Ukiko, em biết rằng, ba năm nay kể từ khi bị mù anh đã học cách phân biệt hầu hết mọi thứ bằng bàn tay, bằng cảm giác với chúng. Trang bìa cuốn sách này màu hồng.

Vợ Màu hồng thì có gì không ổn?

Người đàn ông mù Đây là một tập thơ. Em đã lén đọc vừa hồi nãy khi anh đang chơi đàn.

Vợ Không phải. Em đọc nó vào một lúc khác.

Người đàn ông mù Anh giữ cuốn sách này lại. (Nói xong, ông đi tới tủ sách. Lấy chìa khoá từ túi quần ra, mở một ngăn tủ rồi cất cuốn sách vào. Ông khoá lại. Rồi đi lại ngọn đèn và đứng đó dường như đang đo khoảng cách giữa ngọn đèn và vợ). Ukiko, cái bóng của em có in lên màn cửa không?

Vợ Cửa sổ thì tối om. Còn cái chụp đèn thì ngăn hết ánh sáng rồi.

Người đàn ông mù Tuy cửa sổ tối om, em có chắc rằng không có bóng mờ nào hắt lên đó?

Vợ (quay đầu nhìn cửa sổ) Không, không chút bóng nào.

Người đàn ông mù Mọi rèm cửa đã kéo kín không chừa một khe hở nào chứ? Và cũng không được để lại nếp nhăn nhúm nào? (Nàng nhìn chằm vào ông căm ghét). Sao em không nói gì?

Vợ Chứ anh không tin em tới mức đó sao?

Người đàn ông mù Chẳng phải anh không tin em. Anh sợ bất cứ kẻ nào ở bên ngoài. Có một gã đàn ông đang bí mật dòm lén qua cửa sổ vào trong căn phòng này.

Vợ Nhưng ngôi nhà này nằm ở ven hồ, lại ở trên đỉnh một vách đá cheo leo.

Người đàn ông mù Anh cam đoan rằng hắn tới ven hồ này bằng thuyền, rồi trèo lên vách đá.

Vợ Làm gì có kẻ nào trèo lên đây được? Nơi này cao ngất như một tháp pháo đài.

Người đàn ông mù Để đối phó với hắn anh đã chắn song sắt ngoài cửa sổ, nhưng đó là một cách dở. Nếu có ai thả sợi dây thừng từ song sắt xuống thì hắn có thể trèo lên được. Đêm nào anh cũng gặp ác mộng này.

Vợ Ôi chao, sao anh không khám song sắt xem có sợi dây thừng nào buộc vào không?

Người đàn ông mù Anh biết em khinh anh vì anh không có can đảm mở cửa sổ nên em mới nói thế.

Vợ Cho dù có kẻ ngoài cửa sổ tìm cách trèo lên, hắn làm được gì? Những song sắt trên cửa sổ – chẳng khác gì một nhà tù.

Người đàn ông mù Anh biết chính xác hắn sẽ làm gì. Vì vậy anh phải chắc chắn cái bóng của em không được phản chiếu lên màn cửa. Thường thường trong giấc mộng, anh nghe thấy tiếng súng lục nổ.

Vợ Vâng, tất cả đều ở trong giấc mộng của anh.

Người đàn ông mù Nhưng có khi anh cũng nghe thấy tiếng động không phải trong mộng. Kìa, từ vách tường kia kìa. (Ông chỉ vào khoảng giữa hai cửa sổ trung tâm). Hằng đêm có những tiếng kèn kẹt.

Vợ Em đã nói anh rồi đó là tiếng chuột.

Người đàn ông mù Anh đã nghe tiếng động đó hơn một năm nay. Cứ khi trời về khuya, chẳng đêm nào trôi qua mà anh không nghe. Tiếng động giống như có kẻ nào đó đang kiên trì cắt bức tường dày này từ bên ngoài.

Vợ Làm sao có kẻ cắt xuyên được những bức tường dày như thế? Chúng như một cái hầm.

Người đàn ông mù Nếu hắn cắt từng chút từng chút một, cứ hằng đêm đằng đẵng một năm trời thể nào hắn cũng phá xuyên được. Chẳng phải tiếng chuột đâu, mà là một loại dụng cụ sắc bén đang đục vào bức tường.

Vợ Đấy chỉ là ảo giác của anh thôi.

Người đàn ông mù Bộ em không cầu mong đấy không phải là ảo giác của anh hay sao?

Vợ Chúng ta đã nói xong chuyện này trước đây rồi… (Nàng đặt bàn tay này lên bàn tay kia, tựa lên tay vịn sofa và ngả đầu xuống. Người đàn ông mù ngồi xuống ghế bành).

Người đàn ông mù Em cho rằng đó thuần là ảo giác giả tạo của anh thôi, chỉ là đầu óc lệch lạc của một người mù?

Vợ Vâng, em chắc chắn như vậy. Không nghi ngờ.

Người đàn ông mù Anh không thấy em nhận ra hắn ta kiên trì tới mức nào.

Vợ Anh đang sợ chính chiếc bóng của mình.

Người đàn ông mù Chính tại hắn mà anh mất đôi mắt. Chỉ mới gần đây thôi anh mới nhận ra điều này. Nhưng đó mới chỉ là cú trả thù đầu tiên, còn bây giờ hắn đang thực hiện cú trả thù thứ nhì.

Vợ Không đúng. Không đúng. Anh đang bịa đặt mọi chuyện. (Nàng vẫn gục đầu, có vẻ đang âm thầm khóc. Tạm ngưng)

Người đàn ông mù Mấy giờ rồi? Em xem đồng hồ đi.

Vợ. Dạ. (Nàng đáp rõ tiếng để ông không biết mình đang khóc. Nàng đứng dậy mệt mỏi nhìn cái đồng hồ trên kệ sách). 12 giờ 25.

Người đàn ông mù Tới giờ ngủ rồi. Năm phút trễ hơn thường lệ. (Nàng thở dài, ủ rũ dựa vào lưng sofa. Người đàn ông mù đi đến kệ sách và mở cửa bằng chìa khoá. Ông lấy từ kệ ra một cái chai đựng bột trắng. Ông lại bàn giấy, lấy một tờ giấy trên mặt bàn rồi trở lại cái bàn nhỏ. Trong khi người vợ vẫn ngồi đó, đầu gục xuống, không nhìn vào ông, hệt như nàng đang chờ bị xử hình. Những cử động của Người đàn ông mù tính toán cẩn thận và cần đến thời gian. Ông đặt tờ giấy lên bàn, mở nút chai, và rắc một chút bột lên tờ giấy. Lúc này người vợ ngẩng đầu lên nhìn).

Vợ. Làm ơn, thế đủ rồi.

Người đàn ông mù Không, thêm một chút… đêm nay cần thêm một chút. (Nói thế rồi ông tăng liều lượng).

Vợ Em ngủ được mà, không cần nhiều thế đâu.

Người đàn ông mù Chỉ hai gram thôi. Thuốc dễ mất tác dụng trừ phi em tăng liều lượng.

Vợ. Anh bắt em uống thuốc ngủ nhiều quá làm em cảm thấy loạng choạng cả ngày. Em chắc chắn là do tác hại của thuốc.

Người đàn ông mù Chẳng việc gì em phải lo lắng về loại thuốc này. Có thể tác hại một chút, nhưng nó không giết chết được em. Anh không muốn em chết, chỉ vì chưa muốn.

Vợ Bao giờ em mới được phép chết?

Người đàn ông mù Năm năm, mười năm – ai biết? Có thể hai mươi năm nữa. Chừng nào anh còn đây đó thì anh vẫn để em sống. (Xong việc chuẩn bị thuốc, ông cất cái chai trở về kệ sách và khoá lại. Rồi ông đi lại cách cửa bên phải, lấy chìa khoá ra mở. Ông đi ra ngoài rồi khoá cánh cửa sau lưng lại. Tạm ngưng một lát. Người vợ vẫn bất động trong phòng. Chẳng mấy chốc ông trở lại với một cốc nước, khoá cửa và đi về phía nàng. Ông đặt cốc nước lên bàn, đặt tấm giấy vào lòng bàn tay rồi kiểm tra liều lượng lần nữa). Đứng dậy. (Nàng đứng dậy quay mặt lại phía ông và mở miệng ra. Một tay bóp lấy cằm, tay kia dốc thuốc vào miệng nàng. Ông lắc đi lắc lại, rồi cho nàng uống cạn hết cốc nước). Đủ rồi. Giờ nằm xuống. Em có thể ngủ yên nhờ liều thuốc này.

Vợ Hi vọng em sẽ không thức giấc dậy nữa.

Người đàn ông mù Chắc em muốn nói là cho đến sáng mai! (Đôi bàn tay che mặt, nàng lảo đảo trên ghế sofa và ngả lưng nằm xuống, đầu nàng nghiêng sang bên trái sân khấu. Người đàn ông mù kê đầu nàng bằng cái gối dựa và đắp tấm mền lên lên tới cổ nàng. Nàng nằm yên, mắt nhắm lại. Ông vuốt ve vợ qua tấm mền, rồi trở lại cái ghế bành, cầm cây đàn mandolin lên). Nghe bản nhạc này nhé, dù là nghe trong giấc mơ. Em sẽ không nhìn thấy hoặc nghe bất cứ gì khác. (Ông bắt đầu chơi đàn, và thường hay dừng lại để nghe tiếng thở của vợ. Một hồi ngưng tương đối lâu. Ông khẽ đặt mandolin xuống, và bước chân rón rén, lại bên sofa. Ông chăm chú nghe hơi thở của vợ, rồi lay người của nàng, thoạt đầu một cách rón rén, nhưng về sau lay như điên cuồng. Nàng không động đậy.(Quỳ gối xuống, ông giữ khuôn mặt nàng trong hai bàn tay và vuốt ve đôi má). Ukiko, tha thứ cho anh. Anh không muốn làm tổn thương em. Chỉ vì anh quá đỗi sợ em sẽ trốn theo hắn. (Ông lại vuốt ve má nàng và sửa lại cái gối dưới đầu nàng cho dễ chịu hơn. Tay ông di chuyển xuống tà kimono của nàng và ôm đôi chân nàng. Sau đó, ông lật tấm mền lên một chút, ông cởi đôi vớ vải linen rồi chà đôi má vào mu bàn chân nàng. Một hồi sau ông đứng dậy).Ngủ cho say nhé… Có đúng là em đang ngủ không? (Ông nhặt đôi vớ lên, nhét chiếc này vào trong chiếc kia. Ông bỏ chúng vào trong túi quần, rồi kéo mền lại). Đợi anh nhé. Giờ em đã ngủ, anh cũng sẽ lên giường. Chốc nữa anh quay lại và mang em vào trong phòng anh. (Ông trở lại ghế bành, vặn dây đàn mandolin cho chùng xuống, mở cánh cửa bên phải rồi đi ra ngoài, để cánh cửa mở. Ngưng hồi lâu. Một âm thanh kèn kẹt nghe từ phía bức tường giữa những cánh cửa sổ. Tiếng động ngưng một lát rồi bắt đầu lại. Tiếng kèn kẹt dần dần càng trở nên rõ rệt hơn. Người đàn bà nằm bất động trên sofa, như thể nàng đã chết. Người đàn ông mù, mặc bộ pyjama trắng, trở lại đúng lúc tiếng kèn kẹt ngưng. Ông để cánh cửa mở. Tới bên vợ, kéo tấm mền ra và đỡ nàng lên. Ngay lúc đó bức tường bắt đầu có tiếng động. Ông nhẹ nhàng đặt đầu nàng trở lại gối và rón rén đi tới bức tường để nghe ngóng. Tiếng động càng lúc càng trở nên ồn hơn. Ánh trăng chiếu sáng qua khung cửa sổ làm cho bóng của song sắt vạch lên màn cửa. Ngay lúc đó chiếc bóng của một người đàn ông xuất hiện trên ô cửa sổ phía bên phải. Chiếc bóng như bị mắc kẹt giống con thằn lằn trên song sắt. Người đàn ông mù lắng nghe chăm chú. Đặc tính của âm thanh dần dần thay đổi rồi trở thành một tiếng vỡ nứt. Một phần của bức tường gần cửa sổ bên phải bắt đầu đổ xuống). Hắn tới rồi! (Ông hét lên, co rúm lại rất dữ dội, gần như lăn mình tới bên sofa. Ông bám chặt lấy vợ, dường như cầu cứu, và lay người nàng thật mạnh). Ukiko! Ukiko! Cuối cùng hắn đến rồi! (Thậm chí khi bức tường đổ xuống, toàn bộ khung cửa sổ bắt đầu lắc lư, rồi dần dần tự tách ra khỏi bức tường. Cuối cùng nó đổ ập vào căn phòng, song sắt vẵn gắn chặt. Một sợi dây thừng buộc vào song sắt treo lơ lửng bên ngoài căn nhà. Qua khoảng trống vuông mở toang còn lại bên cánh cửa sổ, Người-đàn-ông-bí-mật nhẹ nhàng, không gây tiếng động, bò vào bên trong. Người đàn ông mù nhảy lui khỏi sofa và núp mình sau cái ghế bành. Người-đàn-ông-bí-mật thình lình vồ lấy ông ta như con chim săn mồi và lập tức bóp cổ ông). Ukiko! Ukiko! Cứu anh với! (Người-đàn-ông bí-mật xô ông càng lúc càng lùi xa đến khi ông ngã ngửa lên khung cửa sổ trên sàn. Y cưỡi lên người đàn ông mù, rút một sợi dây thừng nhỏ từ trong túi ra, rồi xiết cổ ông. Sau một hồi vùng vẫy, người đàn ông mù chết. Ánh trăng ùa vào cửa sổ rọi một vòng sáng quanh thi thể ông. Người-đàn-ông-bí-mật sau khi cầm chắc rằng ông ta đã chết, y đứng dậy, đi ngang qua ghế bành tới chỗ người đàn bà đang ngủ. Bàn chân của y va trúng cây đàn mandolin đang nằm trên sàn, sợi dây đàn bật ra âm thanh. Người đàn ông giận dữ nhặt cây đàn lên quật cho gãy cần, rồi đập tan ra từng mảnh trên sàn. Y quay đầu, như thể chợt nhớ điều gì, trở lại phía cái xác, cởi sợi dây thừng đã buộc vào khung của sổ kéo về phía mình, rồi buộc vào khung cửa sổ bên trái. Y nhấc người đàn bà đang ngủ lên vai và ra ngoài xuống dọc theo sợi dây thừng qua khoảng vỡ của bức tường. Sân khấu tối dần).

*

Cảnh Hai

(Bờ hồ. Phía bên trái, trên đỉnh một vách đá, một toà nhà trắng với ô cửa sổ vỡ có sợi dây thừng treo lơ lửng xuống vách đá. Cửa sổ hoàn toàn tối đen. Đêm trăng sáng đẹp. Người-đàn-ông-bí-mật ngồi ở giữa con thuyền nhỏ trên hồ. Ukiko đang ngủ, đầu nàng tựa vào lòng ông).

Người đàn ông bí mật Ukiko à, không còn gì để lo buồn nữa. Giờ mọi chuyện đã qua!

Ukiko (đột nhiên mở mắt) Anh đã trừ khử kẻ thù của em rồi ư!

Người đàn ông bí mật Anh đã trừ khử hắn rồi, kẻ thù đáng căm ghét của cả hai ta.

Ukiko Anh đã giải cứu em khỏi ngục tù.

Người đàn ông bí mật Anh đã cắt bức tường kia suốt hơn một năm trời để vào ngục cứu em ra.

Ukiko Em đã đợi anh, thời gian sao dài đến thế… Em đã thôi hi vọng, nhưng vẫn chờ đợi. Nhưng giờ đây lời cầu nguyện của em đã được khứng nhận, em không màng bao lâu nữa mình chết. (Hai người ôm nhau. Từ cửa sổ của căn nhà trên vách đá nghe thấy tiếng đàn mandoline. Đó là giai điệu người đàn ông mù thường hay chơi. Cả hai sững sờ, sợ hãi). Ô – hắn vẫn còn sống, vẫn còn…

Người đàn ông bí mật (nhìn lên cửa sổ) Đây là sự trả thù của ngươi ư? Nhưng chúng tôi không sợ ngươi đâu. Ta sắp đem người đàn bà này, người vợ quý báu của ta, đến một nơi sẽ không còn nghe tiếng đàn của ngươi nữa.

Ukiko Nhanh lên! Mang em theo cùng! Chừng nào còn sống, chúng ta vẫn còn nghe bản nhạc đó. Đi thôi, nhanh lên! (Người-đàn-ông-bí-mật nhổ neo khỏi đáy hồ. Ông ngồi ở giữa và cầm lấy tay nàng).

Người đàn ông bí mật Ukiko!

Ukiko Anh yêu!

Người đàn ông bí mật Nắm chặt lấy anh! Chúng ta sẽ chẳng rời nhau nữa.

Ukiko Ôi, chúng ta có thể chết bên nhau! Anh và em, bên nhau…

(Con thuyền dần dần chìm khuất. Tiếng mandolin tiếp tục chơi cho đến khi con thuyền mất dạng. Rồi thình lình im bặt).

Hạ màn

________________

Jun’ichirō Tanizaki (1886-1965) tiểu thuyết gia hiện đại lớn nhất của Nhật Bản, ông cũng nổi tiếng là nhà soạn kịch, gồm vở Người đàn ông  đàn mandolin (Mandorin-no hiku otoko; 1925) đã được dựng thành công trên sân khấu và điện ảnh. Bản dịch Anh ngữ của Donald Keen đăng trên tạp chí New Directions 24 – An International Anthology of Prose and Poetry, 1972

DanChimNho

dem2

MẮT CHIỀU

Thôi em ạ đừng gồng mình thế nữa
Đặt xuống đi em gánh nặng cuộc đời

Những buồn vui đắng đót phận người
Em cứ nghỉ, đôi vai dường đã mệt

Giấc mơ xanh thuở xưa còn nguyên nếp
Em xếp gọn gàng dưới đáy riêng tư

Ngày buồn tênh vừa thực vừa hư
Tan cơn mộng em kẹt vào ngày cũ

Anh nhặt lại ánh mắt em liễu rũ
Nỗi muộn phiền câm nín thiên thu

Tháng năm ơi chiều tím ngắt giăng mù
Đôi vai nhỏ gánh thời gian trĩu mỏi

Ánh mắt em chiều nay như dấu hỏi
Có nơi nào thế chấp nỗi cô đơn?

Để em vay một chút giận hờn
Một chút ngọt ngào bình yên nông nổi

Để anh đi suốt một chiều gió thổi
Vẫn không ngoài ánh mắt em tôi…

Hồ Thị Hải Âu

 

NgManNhien2

tranh Nguyễn Man Nhiên

yếu tính được khẳng định

 

 

gió hoang vu

ngân vang chuỗi âm cổ xưa tinh tuyền giai điệu

có thể nhìn thấy một cuộc đời khác

các vết tích ngậm giọt lửa mặt trời

di hài của thời đại rực rỡ trong sự im lặng

đứng tựa vào thời gian

giấc mơ loang xám bay ra từ cửa mộ

 

lời nguyện của tàn tro

theo ngọn gió khởi sinh cuộc sống khác

dường như cái bóng tôi sáng lên niềm kiêu hảnh

không thể nói với hình ảnh ký ức

về huyễn hoặc trong nỗi tuyệt vọng cuối cùng

 

trên cánh đồng cỏ khát

nắng dại tôn nghiêm nghi lễ cầu gọi mùa xanh

khi mặt người biến dạng

âm hưởng mạch ngầm siêu nhiên

mang hơi trầm cố thổ chảy về miền cổ tích

 

hãy hoan lạc đi tôi ơi!

cùng những hồn linh du ca

hát ru phận người qua những tháng ngày quy phục

 

khaly chàm

 

 

 

ý tưởng tôi từng giờ mở mắt

 

như hình nộm. mang nhãn hiệu thánh thần

được cầu chứng bởi thứ ánh sáng nhiễu loạn thần kinh

chẳng biết xấu hổ là gì khi cơn khát thèm nhạy cảm

mùi đàn bà thuần tính tạo ngữ âm rạo rực trong thanh quản

leo lên mặt tôi cấy trồng loài thưc vật thẫm đen cảm xúc

 

em bật khóc bằng sự rực rỡ của vi lượng ấu trùng

có phải là niệm khúc vuốt ve nghệ thuật cụt đuôi niềm kiêu hãnh

ảo giác chui vào hơi thở tỏa nhiệt thì thầm

dường như thuộc tính là dấu thánh ban tặng phút giây bội phản

khi vết ố nhục thể trừu tượng hình quả chuông ngả màu rỉ sét

 

vòng quay trái đất vụt vù hay chậm rãi

chờ ngày sinh nở con mắt mặt trời đỏ máu

cuộc biến hình cứu chuộc sắc màu dục tính

có lẽ nào tình yêu đã chết trong mõm chó sủa ngày

ý tưởng tôi từng giờ mở mắt

 

khaly chàm

 

 

ý tưởng được hình dung

 

định dạng

khuôn mặt thời gian

lý thuyết ánh sáng

thơm hương trong tia mặt trời

bình minh và hoàng hôn

tự cuốn xoắn vào nhau

sản sinh từng giọng nói cám dỗ

dư vang cuối cùng mở toang cánh cửa

bóng tối ban tặng hồng ân

sự im lặng

 

từ lâu rồi

giấc mơ tôi đã mọc cánh

dị dưỡng những chiếc lông

màu phế tích ủ mùi nỗi chết

vỗ cánh điên mê trên bầu trời kí họa

khi đánh rơi nhiệt lượng hơi thở

tôi nhìn thấy niềm tin

cùng tín điều run rẩy trong mắt con chữ

và con người đang lao nhanh vào cơn mưa đen

                                                                    

ghép lại những sợi tóc rụng

em nghĩ đến ánh sáng nứt vỡ trong bóng mình

với ngày tháng bấu víu vào gương soi

vọng tưởng cách tân quá khứ

loang lổ vết phấn son ảo giác nụ cười ẩn dụ

cảm nghiệm được mùi đàn bà

thuần khiết tan vào thời gian tái sinh

 

khaly chàm

Nhà văn Việt có nhất thiết phải viết thứ văn gần gũi với người Việt?

Bài phỏng vấn nhà văn Trần Tiễn Cao Đăng

Nguyễn Hoàng Anh Thư thực hiện

NHAT3

Nhà văn Trần Tiễn Cao Đăng, tác giả cuốn tiểu thuyết kỳ lạ Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian, chia sẻ những suy nghĩ về cuốn tiểu thuyết mới nhất của mình, quan niệm của riêng anh về văn chương và thế giới.

TranCaoTienDang3

nhà văn Trần Tiễn Cao Đăng

Anh là người dịch một số tác phẩm rất quen thuộc với bạn đọc, vậy khi viết anh có chịu ảnh hưởng của văn phong một tác phẩm dịch nào đó không? Anh từng nói: “Tiểu thuyết của tôi không thuộc về số đông”, nhưng cái nhan đề anh đặt cho tiểu thuyết “Người tình của cả thế gian” lại có vẻ rất “câu khách”, anh thử lý giải cho người đọc về điều này được không?

– Nhà văn Trần Tiễn Cao Đăng: Tôi dịch khá nhiều tác phẩm văn chương nước ngoài, và đọc văn chương nước ngoài nhiều hơn văn chương trong nước, cho nên văn tôi viết nghe có vẻ “Tây” là điều dễ hiểu. Điều này diễn ra tự nhiên – không phải tôi chủ ý viết như vậy. Trong cách tư duy, trong tâm trí, tôi luôn cảm thấy mình phần lớn không bị ràng buộc trong khuôn khổ dân tộc Việt, không “thuộc về” người Việt. Đồng thời với ý thức mình là người Việt, tôi luôn có cảm giác rõ rệt mình thuộc về một nơi khác. Ngôn ngữ của tôi phản ánh điều đó. Nhan đề Người tình của cả thế gian, cũng như bản thân câu chuyện, đến với tôi một cách tự nhiên. Sự thật là, trong khi viết cuốn sách và trong khi nghĩ đến nhan đề ấy, tôi không nghĩ đến chuyện người đọc là ai. Cuốn sách được viết ra do nhu cầu tự thân nó. Một khi nó đã tượng hình đầy đủ và có đó giữa thế gian rồi, người đọc “lý tưởng” của nó sẽ xuất hiện.

NguoiTinhCuaCaTheGian_2

Bìa tiểu thuyết Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian

* Tiểu thuyết này anh viết chủ yếu dựa vào hư cấu, ít trải nghiệm thật, nhưng thế giới trong đó tràn đầy cảm xúc thật, mỗi nhân vật, mỗi tình huống đều được anh hình dung và thể hiện bằng ngôn ngữ rất chi tiết. Tuy nhiên đôi khi người đọc không khỏi băn khoăn vì đó là một thế giới quá xa lạ với đa số người Việt hiện tại. Anh lý giải ra sao về điều này?

– Tại sao bạn thích đọc văn chương nước ngoài? Phải chăng một nhà văn Việt thì nhất thiết phải viết thứ văn gần gũi với người Việt? Văn chương đích thực là một cõi vô biên giới, như tôi đã nói ở một chỗ khác. Tôi thích phản ứng của một số người đọc trẻ. Họ hoàn toàn không thấy những sự “khác lạ” trong tiểu thuyết Life Navigator… là điều gì đặc biệt. Họ tiếp nhận những thế giới trong tương lai, những đảo vũ trụ kia như là chuyện bình thường, đương nhiên. Họ mang tính “quốc tế” cao hơn hầu hết người đọc lớn tuổi. Theo nghĩa nào đó, cuốn tiểu thuyết của tôi dành trước hết cho những người đọc trẻ.

* Nếu chắp nối những giấc mơ của cô gái, người đọc sẽ nhận ra tình yêu của cô lớn dần lên, đang biến đổi theo chiều không gian lẫn thời gian, có cả những điều không tưởng vẫn có thể xảy ra trong những giấc mơ đó. Những hình ảnh đẹp và buồn, những “chữ nghĩa quý phái”… Theo anh, để viết được như vậy thì đòi hỏi nhà văn phải có tư chất lãng mạn, thông minh và chất tài tử, điều này có chịu ảnh hưởng từ nền tảng văn hóa của gia đình không?

– Chắc hẳn có. Cả cha lẫn mẹ tôi hồi còn trẻ đều là những nhà thơ không chuyên. Đặc biệt, tôi chịu ảnh hưởng có tính quyết định từ mẹ tôi. Bà là người dịu dàng, tinh tế, hơi lạc lõng giữa đời thường. Tôi thừa hưởng từ bà tình yêu tự nhiên đối với văn chương và nghệ thuật nói chung.

* Có vẻ như anh là một nhà văn có tính cách lập dị qua những quan niệm thơ văn mà anh bày tỏ trên Facebook. Ví dụ: “Trong thời văn hóa nghệ thuật đạo đức xuống cấp như Việt Nam hiện tại, khi mà mọi thứ xấu xí tràn lan và giành quyền thống trị, thì nghệ sĩ, hơn bao giờ hết, cần phải kiên trì, bướng bỉnh, lì lợm tiếp tục làm ra cái đẹp. Trong hoàn cảnh đó, làm ra cái đẹp là hành động chính trị của nghệ sĩ. Vũ khí của cô/anh ấy là cái đẹp, với quyền năng và sự bất diệt của nó”. Tôi muốn hỏi thêm, người phụ nữ đẹp theo anh là người như thế nào?

– “Lập dị”, bản thân điều đó không có gì xấu. Vấn đề là anh khác đám đông ở vấn đề nào, và khác như thế nào. Còn về phụ nữ đẹp, tôi có trả lời phỏng vấn như sau cho tạp chí Esquire: “Phụ nữ thế nào là lý tưởng với tôi ư? Nàng đẹp, thông minh, tinh tế, mạnh mẽ, “đầy nhục cảm”, dịu dàng, vị tha. Xác suất rất cao là cả đời bạn không gặp nàng. Nhưng nàng có thật. Một điều kỳ diệu, có thể nói vậy. Điều quan trọng hơn thế là ta cầu chúc hạnh phúc và bình an cho cả những người phụ nữ chỉ gần với chỗ lý tưởng, những người chiếm số đông nữ giới. Và yêu họ chẳng khác gì họ là những phụ nữ lý tưởng, bởi vì chính họ, những phụ nữ “bất toàn” đó, mới là phần cơ bản của thực tại. Con người cần như vậy: luôn mong nhớ cái toàn hảo và luôn biết hòa hợp với cái bất toàn”.

* Đến thời điểm này, cuốn tiểu thuyết đã xuất bản được gần tròn một năm. Anh cảm nhận được điều gì về phía độc giả? Có sự ghi nhận nào thật khác biệt, anh có thể chia sẻ được không?

– Không có nhiều người đã đọc và đọc hết được cuốn tiểu thuyết, đó là điều có thể đoán trước được. Tuy nhiên, trong số ít những người đã đọc trọn cuốn tiểu thuyết, có những người hiểu và thấu cảm với nó một cách sâu sắc. Và đó không phải là một nhà phê bình, một nhà văn “đàn anh”, một nhân vật “có thẩm quyền” nào trong giới văn chương, mà là một người đọc bình thường, trẻ tuổi, “vô danh” (cho dù thật ra không hoàn toàn vô danh). Những người đọc “vô danh” này có cái mà nhiều người khác không có được: họ có khả năng thấu cảm, sự khiêm nhường và tâm trí cởi mở, không bị trói buộc bởi định kiến, những phẩm chất cần có của một người đọc “cừ khôi”. Một nền văn chương mạnh thì cần có không chỉ những người viết cừ khôi mà cả những người đọc cừ khôi. Tôi tin ở những người đọc như thế.

* Anh viết về thế giới loài vật bởi anh nói “đã quá chán thế giới của con người”. Thế giới loài vật chạm tới cảm xúc sâu sắc nhất của anh. Anh có thể chia sẻ những cảm nhận ấy của anh không, đặc biệt là tình cảm yêu thương của thế giới đại đồng mà anh bắt gặp được ở đó?

– Tôi tin chắc rằng nấc tiến hóa cao hơn mà loài người, hay ít nhất là một bộ phận loài người cần phải vươn tới là thấu hiểu được, thực sự đối thoại được với mọi loài sinh vật khác và đối xử với mọi loài khác giống như cư xử với đồng loại của mình. Loài người cho đến bây giờ về cơ bản vẫn là một chủng loài ích kỷ, chỉ quan tâm đến bản thân mình và chỉ tôn trọng bản thân mình mà thôi (khi nói điều này, chúng ta tạm thời bỏ qua những khác biệt và xung đột trầm kha giữa những bộ phận khác nhau của bản thân loài người, vốn tự nó là một vấn nạn lớn, mà chỉ nói về loài người như một tổng thể).

Loài người cần học được cách làm sao có thể tiếp tục tồn tại và phát triển nền văn minh của mình mà không phải trả cái giá đắt là sự hủy diệt Mẹ Trái đất đã sinh ra mình cùng với các loài sinh vật khác vốn là anh em của mình.

Hiểu, tôn trọng và yêu thương các loài khác, những sinh vật hiển nhiên yếu hơn con người, đó là một phẩm chất mà hầu hết chúng ta không có hoặc có rất ít, và cần phải có nếu chúng ta thực sự tin rằng loài của mình là loài ưu việt nhất. Loài ưu việt nhất không phải là loài thẳng tay hủy diệt các loài khác một cách không cần thiết và không suy nghĩ, mà là loài thực sự hành động để giữ gìn các loài khác trong khi vẫn tiến tới trên con đường tiến hóa của mình, một loài thực sự trưởng thành và có ý thức trách nhiệm.

* Cá nhân anh có tin vào sự tồn tại của những thực thể giống như Life Navigator không?

– Tôi hoàn toàn tin rằng có những dạng tồn tại mà khoa học chưa biết tới. Nếu khoa học chưa biết tới chúng, thì nghĩa vụ của nhà khoa học không phải là phủ nhận chúng, mà là nhẫn nại và khiêm nhường theo dõi chúng, quan sát chúng, cố tìm hiểu chúng được chừng nào hay chừng đó.

* Chương Phụ lục với các nhân vật di dân cho thấy một viễn cảnh đầy bi quan về tương lai của loài người: Trái đất bị hủy hoại đến mức không còn có thể ở được, loài người phải di cư lên các đảo vũ trụ quay quanh trái đất, mà cũng chỉ là một bộ phận rất nhỏ của loài người mới có được may mắn đó mà thôi. Anh không tin rằng có thể có triển vọng tốt hơn cho loài người sao?

– Cũng như nhiều người khác, tôi chân thành mong muốn có triển vọng tốt cho tương lai của loài người. Mặt khác, khi nhìn vấn đề bằng lý tính, tôi biết không có nhiều cơ sở thực tế để tin rằng tương lai con người sẽ tốt đẹp. Nói gọn, tôi không tin vào chuyện loài người như một tổng thể có khả năng tự cứu mình, tự vượt qua bản tính vị kỷ và sự ngu dốt của mình. Nhưng tôi tin rằng một số ít cá nhân thì có khả năng ấy. Và số ít cá nhân này có cứu được toàn bộ giống loài mình hay không, điều ấy không quan trọng. Họ cứu được bản thân mình, nâng được bản thân mình lên cao hơn giống loài, vậy là đủ.

* Có những cú nhảy đầu đời rất khó khăn cho người cầm bút. Theo anh, người cầm bút phải có phẩm chất gì trước tiên?

– Tôi nghĩ, phẩm chất đầu tiên mà nhà văn phải có là nhu cầu nhìn và nghĩ về mọi thứ theo một cách khác, và bên cạnh đó là nhu cầu nói với mọi người về điều này theo cách của mình: bằng cách kể chuyện. Nhà văn bẩm sinh có thể ngại nói trước đám đông nhưng không ngại viết ra những gì sâu thẳm nhất bên trong mình. Một ca sĩ bẩm sinh có thể hát hết mình nơi bãi biển vắng tanh, như thể có hàng ngàn người đang lắng nghe họ và thấu cảm với họ. Một nhà văn bẩm sinh cũng vậy, viết hết mình trong đơn độc hoàn toàn, như thể có hàng ngàn người đang đọc họ, sẽ đọc họ và thấu cảm với họ.

* Cám ơn anh về cuộc chuyện trò thú vị!

 

 

 

Nguyễn Hoàng Anh Thư thực hiện

 

KhanhKiet

KHÁNH KIỆT

 

Có những tao ngộ buồn
Như trời chiều mù sương
Có những gặp gỡ như chuyến tàu lướt qua ga nhỏ
Ánh mắt tuổi thơ
Nụ cười dè sẻn của gia tài sắp tới hồi khánh kiệt
Có quá nhiều ly biệt trên cung đường bất trắc
Cuộc tao ngộ kế tiếp sẽ gánh bao nhiêu huyễn hoặc
Bao nhiêu kí ức?

À
Ngồi nhìn trời qua khung kính
Ấy vậy thôi
Thấy mình già đến mê mải
Hoang đường
Chiếc ghế nệm lún những vết thương
Tuổi trẻ
Băng bó hoài vẫn rỉ máu
Khung kiếng rọi nắng vào nỗi đau
Chỉ muốn úp mặt vào cốc nước
Nhạt nhẽo
Tắt thở ngọt ngào

Chẳng có cuộc tao ngộ nào giống nhau
Chẳng có nỗi buồn nào như nỗi buồn lần đầu
Nhưng vệt máu vẫn sẫm khi nhỏ xuống giấc mơ hạnh phúc

Trả giá cho thứ gọi là nước mắt
Khóc như thật
Như tình yêu lúc nở bừng ngây ngất
Như nụ hôn không phải lần đầu
Mà chia tay như thể lần thứ nhất

 

Chiêu Anh Nguyễn

 

 

 

Về !

 

 

Cốc nước lọc trong bể nước
Giọt nước mắt trong biển người
Như buổi chiều rất nhiều mây xám
Thì cô đơn, hẳn cũng vui

Đôi khi giả vờ vồn vã với đời
Giả vờ thôi
Như cốc nước cô đơn trong bể nước
Như giọt lệ rơi giữa biển người
Chiều đi không hẹn gặp
Ngày vui

Đôi khi cười với bóng gương soi
Giơ tay chào nhiệt liệt niềm vui
Chào như hai đoàn tàu ngược nhau ga cuối
Tít tận chân trời
Gió hôm nay có kèm chút nụ cười
Vung vãi trên đồi
Phía thung lũng rớt đầy âm thanh nhỏ
Ngạo nghễ tôi

Hỏi phía bên kia dãy mờ sương hơi
Có huyệt sâu bia trắng nằm chơi
Ta chào nhé một đời mỏi mệt
Về thôi!

 

Chiêu Anh Nguyễn

 

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Ni Cô

 

hư không em đổ xuống mái đầu bạc

dưới vòm họng tôi ổ trứng hạc nở

các con cái lớn thành những hồng hạc

và mồ hôi vắt kêu nghe dễ sợ..

 

..

sư ông cực kì phóng dật

buổi trưa đấy

tôi vào nằm dưới cội tùng

đọc “tropic of cancer” của henry miller

ông sư tung hê hết các ước muốn bấy lâu

tôi giấu kín trong lòng

 

sư ông còn bảo tôi bỏ ngay bức vẽ

với nhan đặt trước “mùa xuân đen” thực ra

vẽ bức tranh ấy

tôi dựa trên cảnh sống chả điêu đứng chút nào

của chính sư cụ

 

trong khi còn đang nghĩ

sư ông không quên căn dặn tôi

hãy quán tưởng về thời đại trump

cùng một đoạn đời sư cụ đã sống

rất xa hoa

sôi động/ lắm lúc cũng có ẩn dụ- nhưng

không nhiều

 

và khá hàm xúc

vì cũng chỉ loanh quanh các cuộc biểu tình

xuống đường

chống chiến tranh việt nam

 

theo tự điển “tropic of cancer” là hạ chí tuyến

buổu trưa đấy khuôn mặt sư ông bóng lộn

dâm đãng

 

khiến tôi cứ ngờ ông sư say

mãi sao mới biết rượu không hề làm sư ông say

ông sư say thứ khác- sắc

tiền (danh vọng!)

 

còn nhớ tôi có nói “hôm nay ngày xui

chẳng còn đồng (cắc) trong thẻ nợ- sư ông

sư hiểu tôi nói gì chứ!” ông sư chả nói gì

cứ cười hinh hích

 

hốt dưng tôi nghe giọng cười sư ông

cực lạ lẫm

nửa như tiếng cú/ nửa như tiếng sài lang rít

lo mình biến mất cũng nên

tôi hỏi “sư

có biết vạt áo nâu sòng

ông đang mặc

đã đổi màu!”

..

Vương ngọc minh.

 

 

 

Phat_DinhCuong
tranh Đinh Cường

Phật và Mẹ

 

 

ngày Mẹ nhằm ngày lễ Phật

Mẹ là Phật ở trên đời

Mẹ cho con hiền Phật tánh

Phật dạy con lời vô ngôn

 

 

 

chặng đời

 

ngóng nhìn cửa mỏi trời sao

hồn ai tinh tú lạc vào biên cương

ở đâu giới hạn không lường

đường chạy mãi tới thuỳ dương bãi chìm

con tầu xao xác kinh đêm

lời nguyện rền như tiếng chim vỡ đàn

một mùa lưu dấu tầm tang

tịch mịch tịch mịch mấy hàng lưu ca

vân tay ngón đụng thiên hà

ôm lấy bé mọn vào da thịt gầy

một cầu thở nhịp đông tây

phương nao về có môi đầy ngực thơm

đầy trăng nước đã vin buồn*

lung linh bóng cả đời buông ngợp ngời

nôi đưa về chốn ru hời

 

 

 

hoàng xuân sơn

9&10 tháng 5 2017

*ý, Tô Thuỳ Yên

BitMat

LẠI HỖN

 

 

Một quan to chính phủ,
Nói về vụ Đồng Tâm,
Có một câu vớ vẩn,
Láo và rất thấp tầm:

“Nếu ta có sai phạm,
Thì xin lỗi người dân.
Dân sai – xử theo luật
Và truy tố nếu cần”.

Sao lại chỉ xin lỗi?
Quan sai, phải ngồi tù.
Phải đền bù thiệt hại.
Bộ trưởng mà nói ngu.

Các bác thấy rồi nhé.
Mấy thằng quan của ta
Luôn công khai ngồi xổm
Trên pháp luật nước nhà.

Vô tình hay chủ ý,
Câu phát ngôn ngu này
Bộc lộ hết não trạng
Của lãnh đạo ngày nay.

Một não trạng phong kiến,
Còn đảng là con mình.
Với bọn chúng, luật pháp
Chưa bằng nửa chiếc đinh.

Xin lỗi, muốn văng tục.
Chúng mày được dân nuôi
Để ăn nói tử tế,
Mà nói như đầu buồi!

 

Thái Bá Tân

NgoVuongToai (2)

Ngô Vương Toại – phác thảo chì của Ng Trọng Khôi

thạch miên

              nhớ ngô vương toại

 

đá

không phải ngọc

lóng lánh lóng lánh

hồi phục

mênh mang

cọ cứa         ôi

không phải lên men

nước

ngờingời hồn vệt cắt

nám hồng

xù xì           nham

mộc

dung hương cuộc mời

không mài giũa

đau đáu hân hoan lệ tủi mừng

mõi mê cùng cực

 đá đá

ôi                đá

và ngọc

chẳng một thời lưu dấu biện vân

có biết

lúc

ngày chưa lủi

vô tranh

nhìn ta lóng ngóng

đụng thành sắc               rêu

màu sương

với ảm đạm

chiều

thành ra ai oán

chim kêu

một mình

tĩnh vật rồi

tranh

và               nghinh

tẻ ra khung họa

biến hình

vô tri

hoàng xuân sơn

bốn tháng chạp mười bốn

belanger122

TÔI VỀ TÔI HIỆN MỘNG DU

 

Tôi về đứng ngó trời mây
Biển xanh núi thẳm hồn ngây ngất hồn
Giữa nghìn thu sóng đẹp buồn
Trăng sao bất tuyệt ru hồn thế nhân
Tạ ơn khoảnh khắc vô ngần
Tôi về tôi hiện giữa trần gian vui
Biết bao kỷ niệm chôn vùi
Mùa Xuân Tinh Thể ngậm ngùi bay đi!
Tuổi xanh xưa biết nói gì
Trời Em mộng cũ vĩnh ly biệt nguồn.
Tôi về tôi hiện tôi buông
Nụ cười hoa pháp trong hồn cỏ cây
Tôi về lặng ngó trời mây
Biết đâu vô tận lòng ai vãy lòng?!
Biết đâu lòng biển lòng sông
Người ơi! Xương máu giọt hồng lệ rơi!
Lạnh hồn con sóng trùng khơi
Hoang liêu chiếc bóng mây trời hoàng hôn.
Tóc xanh thôi nhé đừng buồn
Lời yêu thương cũng tiếng buồn thiên thu!
Tôi về tôi hiện mộng du
Cùng mây tiền kiếp cõi bờ hư không!

 

TRẦN THOẠI NGUYÊN

a5084864d88e5c225f320ebbe4a0926f

Kẻ thù

 

 

Những ngày tôi sống biết bao tươi đẹp

Như mùa đông thêm đẹp một cánh hoa

Mà kẻ thù không bao giờ hay biết.

 

Họ cố sức làm cho tôi gục ngã

Họ sung sướng thấy tôi bị hành hạ

Nhưng họ cho tôi vững chãi khôn ngoan

Những người, tôi thầm lặng chịu ơn.

 

Nhưng em ơi! Nếu em không đến

Làm kẻ thù lớn nhất của đời anh

Anh ghét em và cầu mong ai đó

Làm đôi mắt em chảy lệ ròng ròng

Những tháng năm tuổi nhục như những biển mây buồn.

Dày vò lên thân xác trắng như hoa huệ của em

Làm nó toát lên một mùi hương day dứt.

 

Vì em! anh không thể bao dung

Vì kho báu mà anh dâng tặng

Vì em đã làm mặt trời trong anh tan vỡ

Vì những buồn phiền lũ lượt đến tháng năm.

 

 

Lê Trinh

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Tranh Nguyễn Trọng Khôi – SONATA – Oil on Linen 28 x 30

VĨ CẦM  / SONATA


Cảm tác từ bức tranh SONATA

Kính tặng Họa Sĩ NGUYỄN TRỌNG KHÔI

 

 

Người ngồi đó từ bao đời, thuở trước,
Bên bãi bờ êm vắng những chiều trôi.
Mặt sóng gợn gió đùa theo con nước,
Đã mờ dần, ánh sáng phía xa xôi.

Cây đàn cũ nghìn năm còn ngân tiếng,
Điệu hân hoan trong vũ hội mùa Xuân.
Nhạc thúc giục chinh nhân vào trận chiến
Nhạc kiêu hùng lộng gió buổi ra quân.

Bao khúc hát nhớ về người xa vắng
Ai đi qua để lại dấu chân đời?
Cầm tay ấm trong ngày ta ly biệt,
Người đi rồi, hồn mộng cũng xa khơi!!

Cây đàn thần của thời xưa lưu bóng,
Tiếng VĨ CẦM réo rắt khúc thăng hoa.
Đàn tấu vang triền miên trong ảo mộng,
Chuỗi thanh âm khoan nhặt phút giao hòa.

Phía xa kia chút nắng vàng hiu hắt
Bãi vào đêm triền núi xám mơ hồ.
Nghe như đá nghìn năm còn đứng đợi
Tiếng thời gian trôi mãi đến hư vô.

Em ngồi lặng trong ánh vàng xế khuất,
Phía cuối trời pha sắc tím u trầm.
Đàn vang vọng đến chân mây vách núi
Tuôn dạt dào trên sóng nước xa xăm.

Sẽ còn mãi những rung ngân thần thoại,
Dẫu trăm năm làn nước cuốn trôi đi.
Dù nghìn năm âm ba như bão táp,
Hồn PAGANINI đồng vọng khối tình si…

 

UYÊN THÚY LÂM

 

 

CUỘC TÌNH XA

Sương thu bàn bạc theo vào

Hơi thu se lạnh dạt dào hồn thơ.

Người phương cũ có tròn mơ

Kiếp người dâu bể đôi bờ thêm thương.

Ta yêu nhau giấc mộng thường

Một đời tạc dạ chung đường nào quên.

Thu phai nắng bóng chiều nghiêng

Mong qua năm tháng vẹn nguyên ân tình.

Lắm khi sóng gió bất bình

Cuộc phong ba dậy điêu linh phận người.

Cho dù tâm biệt mù khơi

Cho dù thân đã bên trời cách chia.

Người đi rồi sẽ quay về

Nghĩa tình thắm đượm chẳng nề gió mưa.

Lòng còn ghi khắc lời xưa

Thì trăm năm vẫn duyên vừa trúc mai.

UYÊN THÚY LÂM

Giao lưu cùng nhà thơ Tô Thùy Yên

ToThuyYen

nhà thơ Tô Thùy Yên qua nét vẽ của họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi

Vào tối ngày thứ sáu 28 tháng 4 năm 2017 một buổi gặp gỡ, giao lưu cùng nhà thơ Tô Thùy Yên đến từ Houston Texas được tổ chức đột xuất tại Trung tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng Massachussetts.

Buổi sinh hoạt  gọn nhẹ với chỉ hơn 40 người tham dự nhưng đã hình thành một không khí rất thân mật dầu chủ đề có phần nghiêm trọng : Chiều Tháng Tư Đen.
Chương trình được nhanh chóng sắp xếp, ngoài phần thủ tục của buổi sinh hoạt, phần giới thiệu tiểu sử  nhà thơ Tô Thùy Yên, còn có phần phát biểu của các anh em văn nghệ và thân hữu. Trong thời gian về thăm lại Boston của nhà văn Trần Doãn Nho nhân dịp này trong phần phát biểu anh cho khán giả thấy tầm quan trọng trong những bước tiến của văn học, thi ca … sự xuất hiện các trào lưu đánh dấu những giai đoạn phát triển nền văn học nghệ thuật nước nhà. Vai trò của các nhà văn nhà thơ cùng sự đóng góp làm phát triển lịch sử văn học miền Nam Việt Nam từ bước sơ khai. Những tác phẩm cùng sự khơi mở những điểm son mới lạ trong thi ca của nhà thơ Tô Thùy Yên, đồng thời cũng nhìn nhận, đánh giá ông như một nhà thơ có tầm cỡ và được quý mến nhất của miền nam Việt Nam từ những năm 60 đến nay. Cũng giống như nhà văn Trần Doãn Nho, trong phần phát biểu của nhà thơ Chân Phương, anh đã dẫn chứng những bài thơ hay của nhà thơ Tô Thùy Yên, những câu thơ đắt giá về ngôn từ, hình tượng…sự chắt lọc ngôn ngữ và những ẩn dụ đẹp đẽ.
Chương trình còn xen kẽ những câu phỏng vấn của nhà thơ Trần Thu Miên xoáy vào ba trọng điểm:
– Sinh hoạt của nhà thơ Tô Thùy Yên khởi đầu thế nào?
– Những đắc ý và sinh hoạt thi ca ở từng giai đoạn trước thời điểm 30 tháng 4 năm 1975.
– Những thời gian bị tù đày và giai đoạn định cư ở hải ngoại.

Bầu không khí được thêm sinh động bởi một chương trình văn nghệ giúp vui của các nghệ sĩ khu vực như Nhất Chi Vũ, Hoàng Vân, Minh Xuân, Ngọc Minh, và tiếng đàn của Phong Nguyễn.

Buổi sinh hoạt đã kéo dài hơn thời gian dự trù trong niềm vui của mọi người.

Văn Nghệ Boston

Vài hình ảnh buổi sinh hoạt

CHÂN PHƯƠNG những ngày câm nín

 

 ChanPhuong (5)

 

 

  • Trần Hữu Thục

 

Tập thơ bắt đầu bằng một “tin vắn” dựng lên chân dung về “tôi”, một cái “tôi” hết sức đặc thù sau ngày Cộng Sản chiếm trọn miền Nam.

Tôi là cơn điên

Còn sống sót giữa sự vật mồ côi

(….)

Là miếng giẻ nhét vào mồm

Là mảnh vải đen bịt mắt

Là vũng máu khô

Không còn nhớ những phát đạn bắn vào đầu

(tin vắn)

“Tôi” là một hiện hữu phi-hiện-hữu: câm và nín. 

Tôi chính là sự câm nín hèn hạ của các người.

            Rốt cuộc:

Tôi không còn tiếng nói

       chỉ còn hơi thở tôi và bát cơm nhỏ của con tôi

(Tuyên ngôn của tôi)

“Tôi” ở đây là một thực thể bị thu gọn, bị bần cùng, bị tước đoạt cả trong lẫn ngoài. Tự bản thân, mỗi một “tôi” là một nạn nhân, thậm chí là một/những sự vật; hay nói cách khác, một hiện hữu bị biến thành sự vật, bị sự-vật-hóa. Không còn “tiếng nói”, chỉ có “hơi thở” và “bát cơm”. Đó là một xã hội trong đó cá nhân chẳng khác gì hơn là một chuỗi chuyển động:

            …một thực quản xếp hàng đằng sau hằng hà thực quản

            …hai bàn chân di động giữa mớ tiêu chuẩn thấp cao

            …mười ngón tay quờ quạng tìm chút hy vọng khẩu phần (tôi có nói gì đâu)

            Bằng cách sử dụng hoán dụ, bài thơ khắc họa rõ nét điển hình trong một cửa hàng mậu dịch, nhưng cũng là khắc họa đầy hình tượng một xã hội, trong đó mọi hoạt động tinh thần bị thanh tẩy toàn diện! Tất cả sinh hoạt gói gọn trong những chuyển động vô cùng “sinh vật”: một con thú tìm kiếm miếng ăn. Không hơn không kém.

Cái mà cá nhân sở hữu duy nhất (nếu còn có thể gọi là sở hữu) mà bạo lực “cách mạng” (!) không thể tước bỏ: không khí.

Ba trăm sáu lăm ngày

Là độc quyền của mặt trời chủ nghĩa

….

Phần còn lại của chúng ta

Là không khí và không khí

(tần trung ngâm 1982)

Mà ngay cái “sở hữu” đó cũng không yên, vì:

làm sao mô tả cái không gian nằm ngoài mọi không gian ấy

            có bàn tay khổng lồ cầm lưỡi dao vĩ đại

                                    xắn vào miếng thịt tí hon.

                                    (mặc niệm tôi)

            Mỗi một “tôi”, mỗi một cá nhân bị hư vô hóa ngay khi hắn đang hiện hữu.

            Những dòng thơ trên đẩy hình ảnh của một xã hội toàn trị đến chỗ tận cùng bản chất của nó.

                                                                                    ***

PhuongSinh

                                    Hình bìa: Chú thích cho những ngày câm nín (Ấn bản 1992)

 

Trong không khí của những ngày tháng Tư, đọc lại “Chú thích cho những ngày câm nín” của Phương Sinh,  tôi tưởng chừng như sống lại cả cái thời kỳ lạ lùng đó qua một thứ ngôn ngữ đan kết giữa hiện thực và trí tuệ trong một cấu trúc thơ mới mẻ. Hiện thực được chắt lọc, được vắt hết râu ria, được tinh chế để lột trần ra cốt lõi của nó. Một thứ hiện thực trí tuệ hóa. Đó là thời mà từng cái “tôi” – những cái “tôi” trong “nhân dân” thuộc phe chiến bại – bị xem là kẻ thù. Cực kỳ đen tối và cực kỳ phi lý. Đến nỗi mỗi lần nhớ lại, tưởng như tất cả là một hư cấu lớn, chỉ  nằm trí óc hoang tưởng của con người.

     Phương Sinh là bút hiệu khác của một nhà thơ tại hải ngoại hiện nay, Chân Phương.[i] Theo lời giới thiệu của nhà xuất bản, Trình Bầy, anh “là một nhà trí thức trẻ tuổi, thi sĩ, người viết truyện, viết tiểu luận và nhà biên khảo.” Trong thời gian còn ở trong nước, anh “đã sáng tác hàng trăm bài thơ được chuyền tay trong giới văn nghệ và bạn bè.” Chú thích cho những ngày câm nín là tác phẩm đầu tay của anh, gồm 56 bài, “tuyệt đại đa số chính là các thi phẩm nói trên được phục hồi từ ký ức của tác giả.” Đọc tập thơ như là đọc một bản tường trình về cuộc sống. Nhưng đặc biệt là “KHÔNG có lấy một giọt nước mắt! (…) Tất cả là căng thẳng, là trực diện, là nói xiên (…) là chữ nghĩa nho nhã, hiện thực, nóng hổi,… nhưng không một giọt nước mắt,” theo nhận xét của nhà thơ Diễm Châu. (Tiền Vệ)

            Vâng, không xúc động. Nhưng chứa chan nỗi niềm. Chất ngất suy tư. Chú thích cho những ngày câm nín trước hết là cách vận dụng chữ nghĩa. Khô, trần trụi, một mặt. Mạnh, gân guốc, khỏe, một mặt khác. Như những nhát dao chém vào hiện thực. Những phát súng bắn vào đá sỏi. Không lý giải. Chữ nghĩa tự nó phơi bày cái xã hội dửng dưng, lạnh lùng, vô cảm. Nhân vật vẫn cười, vẫn khóc, vẫn đi, vẫn đứng, vẫn chơi đùa, tắm, ngủ…nhưng chỉ là cái rộn ràng của một cỗ máy khô, chết. Động mà bất động. Cõi nhân sinh là một rừng sự vật khô, chết.

 Dẫu vậy, ngôn ngữ thơ ở đây lại vẫn là ngôn ngữ thời sự, ngôn ngữ xã hội sống. Là những sự kiện nóng hổi diễn ra hàng ngày.

bọn giàu đem vàng đô la hột xoàn                  giấu

lũ nghèo đem con cháu                                   giấu

cán bộ thiếu ăn dốt nát                                    giấu    

dân đói rách bệnh tật                                      giấu

công an thích gái ham tiền                              giấu

nhà nước tham ô bất lực                                 giấu

quốc hội tòng phạm đồng lõa                         giấu

đảng có vô số sai lầm                                      giấu

tôi nhà thơ

còn chút đau khổ với lương tri                        giấu

(xu hướng tất yếu)

Cốt lõi của bài thơ nằm trong một chữ: giấu. Con chữ đơn giản này, kỳ lạ thay, giúp soi rõ hiện tượng toàn trị Cộng Sản. Có thể nói, phương sách cai trị cộng sản là Giấu. Bằng mọi giá. Thắng lợi của họ trong thời kỳ chiến tranh, chính là kỹ thuật giấu. Giấu súng, giấu cán bộ dưới hầm. Giấu thất bại, giấu khuyết điểm. Giấu cán binh, bộ đội chết. Lúc hết chiến tranh, cũng tiếp tục giấu. Nhà nước giấu. Cán bộ giấu. Nhân dân giấu. Người người đua nhau giấu. Nhà nhà đưa nhau giấu. Hãy gọi chủ nghĩa Cộng Sản là chủ nghĩa Giấu. Nếu hành trình của nhân loại đi từ bưng bít đến mở rộng, tự do, thì chủ nghĩa Cộng Sản kéo giật lùi: từ mở đến đóng. Đóng chặt mọi cánh cửa. Đóng chặt những sai trái, những bất công, đàn áp. Bằng cách đóng chặt tư duy của mỗi cá nhân.

            Trong “tình khúc mới”, nhà thơ vẽ ra bi kịch của tình yêu dưới sự kiểm soát chặt chẽ của chế độ bằng những mác-lênin toàn tập, quốc tế ca, phim liên xô, khẩu hiệu, công an khu vực, đại biểu công đoàn, lăng bác, nhật ký trong tù, vân vân và vân vân. Bi thảm nhất có lẽ là lời dặn dò:

            chỉ xin em một điều duy nhất

            từ đây đến ngày tóc bạc da mồi         

            rủi anh có say rượu hoặc nằm mơ ăn nói lỡ lời

            em nhớ đừng đi báo cáo

            Tình cũng giấu. Yêu cũng giấu. Đúng là tận cùng bằng số! Chỉ vì, nói như Lê Đạt, hàng chục năm trước đó:

đem bục công an đặt giữa trái tim người…

                                                                                                                ***

                Đặc điểm của thơ Chân Phương là ẩn dụ nghịch – nghịch dụ. Một ví von ngược giữa ý niệm và hiện thực, giữa hiện thực và hiện thực cũng như giữa ý niệm và hiện thực. Với hình thức nghịch dụ, nhà thơ làm đậm nét thêm tính cách kỳ quái, lạ lùng của xã hội. Biến tất cả thành hiện tượng trào lộng.

            Nét nổi bật nhất của tập thơ là tính trào lộng rất riêng của nó.

Lý tưởng của nhân loại mà người Cộng Sản kêu đòi biết bao nhiêu người hy sinh hết mấy thế hệ chỉ là:

bình đẳng – nàng út bị hãm hại

lẽ phải – vua già bị soán ngôi

tự do – thằng hề đang lải nhải

(kịch mới)

Một đối chiếu đầy cay đắng, giữa khẩu hiệu, chiêu bài và hiện thực. Chúng không chỉ so le mà nghịch đảo. Thậm chí, không cái gì dính dáng đến cái gì. Chữ theo đàng chữ, nghĩa theo đàng nghĩa, hiện thực theo đàng hiện thực. Bởi thế mà:    

vứt mẹ nhân phẩm đi mà sống

tốc độ xung động thần kinh làm sao đuổi kịp lạm phát gia tăng

hãy vá víu hình hài bằng những cơn say

và đến cửa hàng quốc doanh mua chịu một lời hứa

(Thư cho bạn trong nước)

            Khó khăn ư? Không sao. Tiêu cực ư? Không sao. Thời nào chả thế. Vả lại:

dù sao cũng khá hơn nhiều so với thời khuyết sử

hãy tự trang bị thật nhiều chủ nghĩa duy vật với tối đa kiên nhẫn

mày sẽ hiểu ra tính hợp lý của mấy ký gạo

khi đã được độn đầy những hứa hẹn nhân đạo

                                    (Thư cho bạn nước ngoài)

Tốt hơn thời khuyết sử, một lời ca ngợi chế độ đầy hào phóng! Vì không ở đâu, bạn được hưởng nhiều lời hứa hơn trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Những lời hứa cộng với rất nhiều kỹ thuật trị dân khác đã biến “tôi” – chủ thể tư duy – trở thành một thực thể sẵn sàng cống hiến tất cả. Kể cả chính bản thân mình:

tôi ký tên ủng hộ việc xây dựng trại tập trung

tôi ký tên tán thành phòng giam có trang bị hơi ngạt

tôi ký tên quyên góp nhẫn cưới của vợ chồng tôi

tôi ký tên ưng thuận cho kỹ nghệ xà phòng sử dụng mỡ của tôi với con tôi

tôi ký tên bằng lòng cho công nghiệp mỹ phẩm khai thác hàm răng mái tóc vợ tôi

tôi ký tên phấn đấu cho ban điều hành trại được vui lòng

tôi ký tên sẵn sàng chịu đựng những thử thách khó khăn hơn

tôi ký tên và vận động mọi người cùng ký (tôi ký tên)

            Nghe đầy vẻ cuồng tín! Vâng. Nhưng là một thứ cuồng-tín-tiền-chế. Hay nói theo ngôn ngữ Chân Phương, thuần hóa. Y như phản ứng có điều kiện của con chó trong phòng thí nghiệm của Pavlov:

té ra

đã X

thì X nào cũng thế

 

gõ một tiếng chuông

X sẽ đứng thẳng bằng hai chân sau

 

gõ hai tiếng chuông

X sẽ giơ hai chân trước lên khỏi đầu

 

gõ ba tiếng chuông

X sẽ bắt đầu nói

 

                                    TRUNG TÂM THÍ NGHIỆM THUẦN HÓA CHÚNG TÔI

                                                (lại nói về điều khó nói)

      Chắc không có ý niệm nào hay hơn để diễn đạt con người trong xã hội toàn trị.

            Trong một đất nước như thế, lòng người không thể tụ, mà tán. Người ta phải bỏ đất nước mà đi. Thảm cảnh vượt biên được diễn tả bằng một hình ảnh vô cùng ấn tượng và điển hình: chết chìm trên biển. Phút cuối cùng của một đời người diễn ra trong sự cô độc tuyệt đối: 

hãy quên huế sài gòn hà nội

hãy quên hộ khẩu chủ tịch phường

hãy quên công an khu vực giấy phép đi đường

hãy quên chèo quan họ cải lương

hãy quên khát vọng tự do

hãy quên tờ khai lý lịch

hãy quên vùng kinh tế mới những đêm mất ngủ hè đường

hãy quên vĩnh phú hỏa lò chí hòa côn đảo

hãy quên nước mắm gỏi bún rau thơm

hãy quên vàng đô la kim cương

hãy quên tất cả

để từ từ

chìm

xuống

                       lần thứ nhất

 

rồi

thong thả nổi lên

kiểm tra lại

chẳng còn gì ràng buộc

với thế gian

đoạn

chìm

                                   lần thứ hai

 

thanh thoát hoàn toàn

sau đó

nếu không tìm được chỗ nào

để tắp xác vào

thì đây

 

 

khoảng trống nhỏ hẹp

cuối bài thơ này

 

 

                       mày có thể

 

           lênh đênh                                                        lênh đênh

 

                                               lênh đênh mãi mãi

                                                                        (văn tế)

           

            Theo tôi, văn tế là một diễn đạt cực kỳ tinh tế, và cực kỳ bi thảm của thảm nạn vượt biên vượt biển sau tháng 4/1975. Không khí bài thơ là không khí của một trạng thái bình tĩnh đến lặng người. Không mảy may dao động, cuống quýt. Hồn nhiên như chẳng thể hồn nhiên hơn. Đoạn đầu bài thơ là một mô tả sống động cái xã hội bỏ lại đàng sau. Đoạn cuối bài thơ là một kết hợp giữa ngôn ngữ và các khoảng cách, cho ta cảm giác của một trôi nổi bập bềnh, bập bềnh đến vô tận!

            Cũng là trào lộng. Một trào lộng đau đớn !

           

 

 

 

NhöngNgayCamNin

Hình bìa: Chú thích cho những ngày câm nín (Ấn bản 2, 2005)

Chú thích cho những ngày câm nín  ra đời vì cảm hứng? Không. Vì xúc động? Cũng không. 

            Đây là những bài thơ đầy ý thức. Thoát thai từ những trải nghiệm chua chát. Của một nhân chứng. Của một phán xét. Hơn thế nữa, một cảnh giác.          

Ghi nhận cuối cùng của người đọc :

Trong tập thơ đầy cả bức bối, trào lộng, có lúc, tôi tìm thấy một quãng lặng. Nhẹ nhàng. Hồn hậu. Ngôn ngữ đột nhiên nghe mềm, non, nhẹ. Trong nỗi bức xúc vì bị tước mất tất cả đó, cũng có lúc, nhà thơ dịu giọng. Đó là lúc – và chỉ lúc đó thôi, rất hiếm hoi – anh tìm thấy lại một điều tưởng chừng cũng đã bị guồng máy toàn trị nghiền nát: ước mơ.          

những đêm tối trời

tôi đã âm thầm vùi chôn như thế nào

mớ trứng non vào cát lạnh

hy vọng một ngày rực nắng

chan hòa gió mặn trùng khơi

                                                            (tự họa)

            Nhất định nắng sẽ rực.

            Và đất nước sẽ chan hòa gió.

Mặn.

Trùng khơi!

Trần Hữu Thục        

4/2017

(viết trong những ngày tháng Tư và nhớ Boston)

[i] Có thể xem tập thơ ở trang mạng Ăn Mày Văn Chương

http://amvc.fr/Damvc/ChanPhuong/ChuThichChoNhungNgayCamNin/ChuThichChoNhungNgayCamNinTab.htm#_Toc249690292

hoặc ở Tri Âm Club:

http://triamclub.blogspot.com/2014/11/tho-chan-phuong-9.html

 

Trúc Tiên: Dáng Quê Hương In Bóng Xứ Người

Nhất Chi Vũ & Trần Thu Miên thực hiện

Mời bạn đọc tham gia vào cuộc điện đàm và bút thoại giữa Nhất Chi Vũ (NCV), Trần Thu Miên (TTM) và nhân vật chính là nghệ sĩ Trúc Tiên, người nữ gốc Mỹ Tho ( hiện đang sinh sống tại Paris ) đã đem dân ca Nam Bộ hay dòng nhạc Blues miền Nam Việt Nam sang Âu Châu và thế giới.

 

Dáng em chèo, nhớ thương theo

Đàn Ca Tài Tử bến đò Mỹ Tho

Giờ xa xôi ở phương nào

Nghe như ai hát câu hò ru nhau

(NCV)

CD __Dạ__-Trúc Tiên

NCV: “Chúng ta cùng nâng ly mừng Trúc Tiên rồi bàn về đĩa CD dân ca Miền Nam sắp phát hành tại Paris. Ông đã nghe hết các ca khúc do Trúc Tiên hát chưa?”

TTM: “Nghe rồi và có nhiều thắc mắc thú vị.”

NCV: “Nghĩ gì?”

TTM: “Thật ra trên phương diện nghệ thuật thì khó bàn vì không có căn bản.  Nhưng về mặt tình cảm văn hoá thì đây là một công trình đáng ca ngợi và ủng hộ.  Người Việt Tỵ Nạn nói riêng và Người Việt Hải Ngoại nói chung nên nhìn lại và cách tân những việc làm văn hoá quý báu như công trình thu âm của Trúc Tiên.”

NCV: “Đúng vậy. Theo tôi việc thưc hiện CD Đàn Ca Tài Tử của Trúc Tiên diễn đạt được một Dáng Đứng Ca Cổ Nhạc Việt Nam nơi Xứ Người, trong thời “vật chất hiện đại” hôm nay.”

TTM: “Ông cho độc giả biết tựa đề và vài nét về tác phẩm và tác giả.”

NCV: “Đĩa nhạc CD mới phát hành mang tựa đề “Dạ” của giọng ca Trúc Tiên. Tên tuổi rất Việt Nam, Trần Thị Trúc Tiên – Tôi gọi đùa vui là “ Chị-hai-xinh… Ca sĩ Trúc Tiên”. Giọng hát và Người và Cung cách son trẻ tha thiết “trải niềm tâm sự” ấy, kêu gọi người phương xa, nức lòng, dẫn đưa tôi về quê tôi thời sinh trưởng sông nước miền Nam, kỷ niệm biết yêu và biết… dễ thương, ớ-ơ ầu-ơ gần gũi thân thuộc, không bao giờ xa lạ đường về.  Thật là vui thích, trước khi tôi biết người ca sĩ này sang Pháp lúc 11 tuổi – tôi đã nghe đi nghe lại nhiều lần và dành giờ nghe từng bài, theo cái cảm tình đầu tiên, rất lạ, như được nghe một người ngoại quốc ân cần vui vẻ chào hỏi mình rất tự nhiên bằng Tiếng Việt.”

TTM: “Cái tựa đề rất lạ “Dạ,” có âm hưởng gì từ Dạ Cổ Hoài Lang không?

NCV: “Ẩn dụ, ý tứ, dí dỏm. Có lẽ nên dành cho Trúc Tiên trả lời câu này. Mặc dù mình đoán chừng, người làm thơ say mê Đoạn Trường Tân Thanh Nguyễn Du thế nào, thì, người viết nhạc cũng mộ mến Dạ Cổ Hoài Lang Cao Văn Lầu như thế.

Nhưng theo tôi, đĩa nhạc mang tựa đề “Dạ” mang theo cả tài năng và tâm tư của quý soạn giả Trần Ngọc Thạch, Hoàng Song Việt, Mộng Vân, Nguyễn Phương, Hoàng Thu Diệp và Ban nhạc là góp phần tối quan trọng. Các ngón đàn ứng tác sống động của Tứ tuyệt Duy Kim, Văn Môn, Huỳnh Tuấn và Thanh Hoàng. Giọng hát truyền cảm như gửi đi (phương trời thương nhớ) trọn cả tình ý Tác phẩm và cảm xúc từ trái tim Người sáng tác theo tinh thần Đờn Ca Tài Tử.

Vẫn, giọng hát sông nước miền Nam gần gũi thân thuộc không xa lạ ấy, đã nâng cao ngôi vị ca nhạc trên đất khách của giọng ca Trúc Tiên lên tươi mới hồn hậu, hiếm hoi lạ thường. Xin hỏi Trần Thu Miên trước khi nghe Trúc Tiên, ông nghe Đàn Ca Tài Tử bao giờ và đã được cuốn hút đậm nét nhất?”

TTM: “Đọc thì có nhưng nghe dường như chưa.  Lần đầu tiên tôi nghe tiếng đàn nhị cầm (đờn Cò) biểu diễn theo các điệu Đờn Ca Tài Tử là nhờ được mời tham dự một đại lễ tại Thánh Thất Cao Đài tại Boston.”

NCV: “Ah, sao lại thế?”

TTM: “Tôi đã tham dự các buổi đại lễ của nhiều tôn giáo, nhưng riêng với buổi đại lễ kỷ niệm ngày đạo Cao Đài được sáng lập đã để lại nhiều ấn tượng đẹp. Tôi không chỉ đến tham dự như một người khách nhưng đã thật sự tham gia vào các nghi thức từ đọc kinh, đến việc bái lạy như các đạo hữu khác trong thánh thất.  Đặc biệt trong buổi đại lễ hôm ấy có một nhạc sĩ Cao Đài (mời từ VN) ngồi trên ghế, một chân làm điểm tựa cho cây nhị cầm một chân thả lòng xuống sàn nhà và ông ta đã nhắm mắt kéo dây đàn theo tiếng cầu kinh của đạo hữu. Cuối lễ tôi đã lân la đến hỏi vị nhạc sĩ về thể loại nhạc ông biểu diễn trong đại lễ và được biết là ông đã đệm đàn theo các cung điệu của Đờn Ca Tài Tử.”

NCV: “Thế ông nghĩ gì về các cung điệu này?”

TTM: “Thành thực mà nói, vì trong đại lễ hôm ấy chỉ có một nhạc khí đơn sơ, đơn âm nên nghe lâu thấy ý nhạc lặp lại nhiều lần và giảm đi sự thu hút so với tính dân tộc trong buổi lễ.  Rất tiếc là chỉ có duy nhất một nhạc khí đệm nền cho buổi cầu kinh hôm ấy.  Giả như có thêm nhiều nhạc khí cả Ta và Tây thì hay biết mấy.  Nhưng mình nên trở lại vấn đề đang bàn về giọng hát Trúc Tiên và các ca khúc trong CD Dạ.  Theo ông thì CD này có sắc thái nào nổi bật?”

NCV: “CD “Dạ” cho thấy một nét một vẻ đặc sắc, rất riêng – như tôn lên một biểu tượng sống động nỗi niềm tâm sự trong đĩa hát. Ta nghe thấy nỗi niềm tâm sự ấy rất gần và càng gần hơn, nhờ giọng hát có âm sắc trung thực sáng gọn, hồn nhiên vượt ra khỏi kỹ thuật thanh nhạc “đóng khung” cảm xúc để đưa diễn cảm đến trọn phần “tâm linh” rất cao và quí của phong cách Đàn Ca Tài Tử – song hành nương theo tâm lý Nguyệt cầm (đờn Kìm), Song lan và các nét đặc trưng của âm giai điệu thức, trải qua bao đời, ví dầu… xa mặt mà không cách lòng.

TTM: “Về nhạc tính của Đờn Ca Tài Tử, có gì đáng chú ý?”

NCV: “Khi cơ quan hàn lâm UNESCO ý thức nhìn nhận giá trị Đờn Ca Tài Tử với quốc tế, loại hình nghệ thuật này vẫn-đã là vàng là son theo từng thời kỳ tách rời, hội nhập, tiếp thu, phát triển, cải tiến theo nền âm nhạc VN rất độc lập với những hệ thống nhạc lý riêng. Nhạc và Ca liền lạc Hòa /Đối /Cộng /Sinh thể hiện những tâm lý âm thanh và nét đặc trưng tuyệt hảo.

Nền Ca Cổ nhạc phong phú của Người Việt dựa trên ba (3) thang âm điệu thức nguyên thủy theo thuật ngữ vẫn có tên là, hơi Bắc, hơi Xuân và hơi Ai, tuy có chút biến đổi hoặc đảo trạng xen kẽ (Nam) trong tùy từng điệu thức. Và, ngay từ đây, từ sự tổng hợp khéo léo, các nhạc sĩ tiên phong miền Nam đã sáng tạo thêm ra một thang âm độc đáo thứ tư, đó là hơi Oán. Hơi Oán thêm vào này, định hình thể loại âm nhạc Tài Tử miền Nam dựa trên bốn (4) thang âm điệu thức. Âm giai Oán: Hò Xự Xang Xê Cống Oan Liu = Đô Mib Fa Sol La Đố … Trội vượt lên, mới mẻ, gợi hương khoe sắc, thích ứng tâm tình gần gũi tâm hồn người miền sông nước hiền hòa. Một trùng hợp ngẫu nhiên với thang âm Blues phôi thai nền Nhạc Jazz Hoa Kỳ. Ngay cả nghệ thuật ứng tác của từng thành phần ban nhạc đệm cũng rất tự do phơi phới và rất riêng.”

TTM: “Từ nãy giờ, mình bàn hơi nhiều chuyện bên lề, quên cả cô Trúc Tiên.”

NCV: “ Đúng vậy, chào Trúc Tiên, trước hết là chúc mừng cô đã can đảm đi tìm nghệ thuật trong dòng Dân Ca Nam Bộ. Lý do nào thúc đẩy cô thực hiện việc thu âm các bài dân ca nam bộ (tài tử) này ?

hình cho bài CD __Dạ__-Trúc Tiên

Trúc Tiên: “Chào hai anh và chào quý độc giả.  Thưa hai anh, Trúc Tiên chọn thu âm các bài bản tổ của Đàn Ca Tài Tử vì nhiều lý do. Thứ nhất là Trúc Tiên thấy hiện nay, hầu hết các chương trình văn nghệ trong lẫn ngoài nước hiếm khi dành cho thể loại nghệ thuật này chỗ đứng xứng đáng. Nói về nhạc cổ truyền miền Nam thì mình thường nghe những bài lý, dân ca, hò, hay vài câu vọng cổ rải rác vài nơi vào những dịp xuân về tết đến. Từ khi Unesco công nhận Đàn Ca Tài Tử –có người viết như nói theo giọng Lục Tỉnh là “đờn”– là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại (2014) thì trong nước nổi lên một số chương trình như thi tuyển Giọng Ca Vàng, The Voice…, nhưng thường các bài bản được chọn để thi thố là các bài điệu Vọng Cổ, một trong những điệu mới của Đàn Ca Tài Tử. Các điệu xưa hơn chút như Tứ Đại Oán, Long Ngâm, Nam Ai… vẫn chưa được nhắc nhớ thỏa đáng.

 

Đàn Ca Tài Tử không chỉ là Vọng Cổ, đó là lý do thứ nhì thúc đẩy Trúc Tiên trình bày các bài bản cổ, giới thiệu đến thính giả. Vì từ cuối thế kỷ 19, khi các nhạc quan của triều đình Huế theo hịch Cần Vương của vua Hàm Nghi xuôi Nam đã hòa Nhã Nhạc Cung Đình Huế vào nhạc lễ và cái chân chất của người miền Nam để cải biên thành những bài bản tổ ; nhưng Nhạc Tài Tử (tên gọi ban đầu) thời đó lại chỉ dành riêng cho giới thượng lưu. Mãi cho đến khoảng năm 1920 khi bộ môn ca kịch Cải Lương ra đời rồi thịnh hành thì các bài bản Đàn Ca Tài Tử mới phần nào đến với công chúng, nhưng chỉ để phụ họa, gọi là “lấy hơi” cho các câu Vọng Cổ trong tuồng Cải Lương ; vài câu Nam Ai đầu tuồng, hay nửa bài Nam Xuân phía cuối tuồng…, thế nên các điệu cổ này cho đến bây giờ vẫn chưa thân quen với quảng đại quần chúng, vì có bao nhiêu dịp được nghe trọn một bài đâu. Nói là gia tài của ông bà để lại mà mình không được thưởng thức cách trọn vẹn thì làm sao mình thương, mình hiểu để bảo tồn hay phát huy được. Vì thế, với đĩa nhạc “Dạ”, Trúc Tiên mạo muội trình bày 10 trong 20 bài tổ của Đàn Ca Tài Tử. Mong là tiếng hát của mình gợi lại chút gì thân thương trong tiềm thức mỗi người Việt tha hương, như tiếng gọi về cội nguồn. Và đó là lý do thứ ba Trúc Tiên chọn hát các bài bản Đàn Ca Tài Tử.”

TTM: “Cô có giọng văn biên khảo, nói như giảng bài. Tốt lắm.  Câu trả lời này là một bài học súc tích cho riêng cá nhân tôi.  Tuy nhiên những điều cô giải thích cũng rất hữu ich cho người còn xa lạ với nền Dân Ca Nam Bộ, nhất là loại Đờn Ca Tài Tử.  Xin cô cho độc giả  và thính giả biết Người nghệ sĩ dân ca nam bộ nào cô ngưỡng mộ?”

TT: “Câu hỏi này làm Trúc Tiên suy nghĩ nhiều hơn một chút vì trong đầu Trúc Tiên có rất nhiều tên tuổi. Nhưng sau cái “chút chút” đó thì điều quan trọng Trúc Tiên muốn chia xẻ là trong quá trình tập hát các bài bản cổ, điều Trúc Tiên ngưỡng mộ nhất nơi những nhạc sĩ và ca sĩ Đàn Ca Tài Tử là tấm lòng, vì đam mê nghệ thuật, lúc nào cũng mở rộng chào đón những ai đến với thể nhạc này.” 

 

NCV: “Cô chía sẻ với đọc giả và thính giả đôi điều liên quan đến tiến trình việc thực hiện công trình thu âm này và ai giới thiệu hay hướng dẫn cô về thể nhạc Đờn Ca Tài Tử?”

 

TT: “Mặc dù Trúc Tiên chào đời ở Mỹ Tho, là cái nôi của Đàn Ca Tài Tử, và dù đã được ông nội dạy hát cho từ thuở… mới u ơ, nhưng khi lên 11 tuổi, Trúc Tiên đã phải cùng gia đình sang định cư bên Pháp, nên khi tìm về với cội nguồn, Trúc Tiên tốn rất nhiều thời gian truy lùng bài ca, bản nhạc để tập hát cho đúng nhịp đúng điệu. May mắn là mình hiện đang ở thế kỷ 21 của công nghệ thông tin đầy tiện lợi nên Trúc Tiên có thể tìm thấy trên Internet để nghe các bản đàn của các chú bác nghệ sĩ bên nhà, như bác Ba Tu chẳng hạn. Có gì không hiểu, Trúc Tiên hỏi ; không có bài hát, Trúc Tiên xin… Có thể là do các chú bác nghệ sĩ bên nhà thương Trúc Tiên ở nước ngoài mà còn ham học hát bài bản cổ nên tận tâm chỉ dẫn. Đặc biệt, có một ca sĩ nổi tiếng (yêu cầu ẩn danh) chỉ cho Trúc Tiên từng nốt xàng, nốt xê, lúc ngân, lúc láy… Trúc Tiên hát và thâu âm theo bản đàn rồi gởi về, anh ấy nghe xong chỉ dẫn cho Trúc Tiên hát đúng hơn.

 

Sau khi đã hát đúng nhịp đúng điệu, khó nhất là tìm được ít nhất 4 cây đàn chuyên nghiệp để đàn các bài bản cổ này và là nguyên bài chứ không phải vài câu thôi. Trúc Tiên nhớ có lần liên lạc với một nhạc sĩ bên nhà, bác ấy hỏi : « Nam Ai con hát bao nhiêu câu ? » Trúc Tiên thưa “43 câu”. Bác ấy lắc đầu : « Thời này còn mấy ai đàn 43 câu mà con hát ? Mà 43 câu thì cũng đâu có ai nghe ! »

Vì chưa có kinh nghiệm nên nhạc nền phải thâu đi thâu lại nhiều lần cho đến khi đúng với bài bản. Như Trúc Tiên đã thưa ở trên, khó nhất là tìm được “chuyên cầm” Đàn Ca Tài Tử để thực hiện phần nhạc nền.

 

Sau khi thâu nhạc nền và tiếng hát xong thì đến phần điều âm (mixage) sao cho đúng “hơi cổ” cũng là một vấn đề không dễ giải quyết. 10 nhạc phẩm của đĩa nhạc “Dạ” này cũng đã trải qua lắm… bổng trầm.”

TTM: “Thật ra thì nghệ thuật, nhất là nghệ thuật biểu diễn ca khúc cổ không chỉ khó về diễn tả nhưng khó cả về mặt tạo ấn tượng và sức thu hút nguồn thưởng lãm. Xin cô cho biết Tại sao cô chọn những bài hát trong CD này?”

TT: “Thưa hai anh, với các bài bản tổ của Đàn Ca Tài Tử thì quan trọng nhất là “điệu”, sau đó mới đến câu chuyện mà soạn giả muốn lồng vào các điệu đó. Nên Trúc Tiên chọn điệu trước. Cũng như bên tân nhạc, có “tông” trưởng hoặc thứ, thì bên cổ nhạc miền nam chúng ta có “hơi Bắc” vui nhộn, “hơi Nam” se buồn và “hơi Oán” thống thiết.Ví dụ, các điệu Xàng Xê, Long Ngâm, Ngũ Đối Hạ thuộc hơi Bắc, âm hưởng mạnh mẽ, hùng hồn thường dùng trong những buổi tế lễ mang tính cách trang nghiêm. Các điệu Nam Xuân, Nam Ai, Nam Đảo thì là hơi Nam với cung cách ung dung, nhẹ nhàng, có buồn thì man mác, thường được dùng để kể chuyện. Trong khi các điệu Tứ Đại Oán, Phụng Cầu, Phụng Hoàng, thuộc hơi Oán nên dòng nhạc uỷ mị, buồn đứt ruột.”

NCV: “Trong các lãnh vực từ  học vấn, kinh doanh, chính trị, hay nghệ thuật, ngoài các bậc thầy, người ta thường có người hướng dẫn và nâng đỡ, tiếng Anh gọi là Mentor, Ai là người khuyến khích hay nâng đỡ cô thực hiện công trình thu âm này?”

TT: “Người đầu tiên thuyết phục Trúc Tiên thực hiện đĩa nhạc “Dạ” này không ai khác, chính là “Anh Nhà” của Trúc Tiên, và cũng là người khuyến khích, nâng đỡ tinh thần khi Trúc Tiên gặp trở ngại. Ngoài ra, còn nhiều, nhiều người nữa…”

NCV: Ôi, ai có duyên may hơn! Cho tôi gửi lời chào thăm người bạn hòa nhã hiền lành, nhà thơ nhạc sĩ Vũ Hạ, mừng anh và ca khúc mới Tiếng Chuông Ngân vừa hoàn tất rất ưng ý.

TTM: “Tôi không phải là nghệ sĩ biểu diễn nghệ thuật, nhưng đọc về sinh hoạt của các nghệ sĩ, nhất là các ca sĩ, việc thực hiện một công trình thu âm ca khúc không đơn giản.  Xin cô Kể lại vài kỷ niệm hay sinh hoạt trong thời gian thực hiện công trình thu âm cho các bài hát trong CD Dạ.”

TT: “Thưa hai anh và quý độc giả, Trúc Tiên xin kể lại kỷ niệm nho nhỏ vui vui nhưng rất trân quý của Trúc Tiên vì là lần đầu tiên trong đời đặt chân đến phòng thâu – trước đó, tất cả liên lạc về các vấn đề kỹ thuật, gởi nhạc nền… đều qua điện thư (email) – đó là khi mới vừa bước qua ngưỡng cửa của Studio Bảy Nốt Nhạc tại Sài Gòn, cạnh nhà thờ Tân Sa Châu, Trúc Tiên tự giới thiệu thì thấy mọi người cứ trố mắt ra nhìn mình, vẻ ngạc nhiên và có phần lúng túng. Gương mặt lúc đó của các anh chị chuyên viên phòng thâu giờ Trúc Tiên vẫn còn nhớ rõ mồn một. Thân thiết hơn sau những ngày thâu âm, các anh chị mới kể lại là lúc đó các anh chị ấy đang chờ Trúc Tiên với hình ảnh một phụ nữ đứng tuổi, tóc dài, bận áo bà ba, mang guốc không chừng…, chứ không phải tóc ngắn con trai, ăn mặc tân thời và nhất là còn nhỏ tuổi (!) Có một điều vui nữa là về cách phát âm. Trúc Tiên ở bên Pháp từ bé nên phát âm các vần “đ” và “t” kiểu ảnh hưởng tiếng Pháp, không giống người Việt thuần túy.Thế nên anh chuyên viên kĩ thuật ghi âm đã phải mất khá nhiều thời gian tập Trúc Tiên phát âm sao cho đúng. Cứ hễ mỗi lần hát đến những âm đó là Trúc Tiên lại luống cuống, lọng ngọng. Nói trong bụng là phải chi biết trước sẽ chỉ chọn những bài hát không có hoặc ít các vần “đ”, “t” cho an thân !”

NCV: “Hát có nghĩa là mang lời ca và dòng nhạc vào trái tim người nghe. Chính ca sĩ phải có khả năng hoà chính trái tim và tâm hồn mình vào lời ca điệu trước thì mới làm rung động được con tim và tâm hồn người nghe.  Cô nghĩ gì khi hát và diễn tả những bài hát này?”  

TT: “Thưa, sau phần chọn theo hơi điệu, mỗi bài hát Trúc Tiên chọn đều gắn bó với tâm tình mà Trúc Tiên muốn gởi qua tiếng nhạc lời ca. Như bài Quan Âm Thị Kính điệu Xàng Xê, mỗi lần Trúc Tiên buồn vì có người nghĩ oan cho Trúc Tiên, Trúc Tiên sẽ hát bài này để vuốt ve nỗi buồn, nhắc mình tự chịu đựng vì hình như không có nỗi oan nào hơn oan tình của Thị Kính. Khi hát bài Tình Bằng Hữu điệu Nam Đảo là lúc Trúc Tiên nhớ về quê nhà, mong ước được gặp lại bạn bè thuở nhỏ đánh đũa, nhảy dây. Các bài  Nam Quốc Sơn Hà điệu Long Ngâm hay Hồn Thiêng Sông Núi điệu Ngũ Đối Hạ, Trúc Tiên hát để nhớ đến tổ tiên với bao khó nhọc gầy dựng và để lại những gì tốt đẹp nhất cho chúng ta, chúng ta có bổn phận gìn giữ, như Đàn Ca Tài Tử nói riêng, văn hóa hoặc hơn nữa là tổ quốc nói chung.” 

 

TTM:Cô cho biết đôi điều về kinh nghiệm học thuật và sinh hoạt nghệ thuật của cô.”

TT: “Thưa, ngoài âm nhạc ra thì Trúc Tiên rất thích và có chút ít năng khiếu về hội hoạ nên thường giúp vẽ bìa sách, bìa đĩa nhạc (CD)… cho bạn bè cũng như các cộng đoàn như Ban Tu Thư Giáo Xứ Việt Nam Paris, Hội Nhạc Sĩ Công Giáo Việt Nam Hải Ngoại… Trúc Tiên cũng đã nhiều lần trang trí sân khấu cho những buổi văn nghệ của các cộng đoàn người Việt ở Paris. Thỉnh thoảng Trúc Tiên cũng làm thơ viết văn để không quên tiếng Việt và chia sẻ vui buồn với bạn bè.”

 

NCV: “Cô còn dự kiến gì trong tương lai gần?”

TT: “Thưa quý anh, như con cháu kể lại chuyện ông bà, Trúc Tiên mong ước được kể lại “câu chuyện Đàn Ca Tài Tử” bằng lời ca tiếng nhạc đến với các cô bác, các anh chị, không chỉ ở Pháp, mà khắp các nơi để kêu gọi mọi người chung sức góp tay góp tiếng làm sao để một thể nhạc dân tộc không bị thất truyền. Thế nên, ngay từ bây giờ Trúc Tiên bắt đầu cuộc hành trình, trước hết là các quốc gia thuộc châu Âu như Na Uy, Đan Mạch, Đức… ; sau đó mong rằng sẽ được gửi tiếng hát đến những châu lục khác như Úc, Mỹ…” 

 

TTM & NCV: “Chúng tôi cảm ơn cô.  Cầu chúc cô tràn đầy ơn phước Quê Mẹ. Chúng tôi là đồng hương xa quê nhà nhất là đồng hương Miền Nam được nghe cô qua những bản dân ca đắc ý đã phát sinh ra từ miền đất phì nhiêu mầu mỡ của Việt Nam.  Chúng tôi hy vọng rằng dựa vào nền tảng nghệ thuật của Đàn Ca Tài Tử, các nhạc sĩ sẽ sáng tạo những ca khúc mới với tiến trình âm giai mới, hòa âm và được trình tấu phụ họa bằng những giàn nhạc giao hưởng tân kỳ. Các ca sĩ cũng có thể hát nhiều bè theo những nhịp điệu mới.  Cảm ơn quý độc giả đã theo dõi cuộc điện đàm và bút thoại này của chúng tôi.”

Kính mời quý vị thưởng thức một ca khúc tiêu biểu trong CD “Dạ” – Khúc Nhạc Uyên Ương – Soạn giả Hoàng Song Việt – Tiếng hát Trúc Tiên.

 

 

Quý vị muốn có CD “Dạ” xin tùy nghi liên lạc địa chỉ xuất bản phát hành: Vũ Hạ, 3 rue Aristide Maillol – 78370 Plaisir – France. /Email: tranh@orange.fr /Phone: 0646610446 /Đa tạ.

Nhất Chi Vũ & Trần Thu Miên

Boston

30_4

tháng 4, hình sự. cuối

l ấ n  t ớ i

để nhẹ một câu chêm một câu
khiến đời tủi hổ nghiến lòng đau
khiến trời mây trắng râu tóc bạc
khiến cả muôn thu lịm buồn rầu

bảo nhẹ một chữ khiêng một chữ
như kiến tha về lấp lỗ hang
tự mùa giam nắng làm mưa lụt
người giam người lớp lớp hàng hàng

tự động người đui cõng người què
tự đường cay bụi mắt đỏ hoe
đêm bán khai không còn chỗ trú
trái đất thui run rẩy một tờ

xóa hết trang này bôi trang khác
quyển đã đen rồi lịch sử hư
thơ không có thật đời hư cấu
tình đã khóc vùi một tháng tư

r u ỗ n g

chào em bay mất dấu nường
chào tôi lá mục
cháy vườn cây khô
chào nhau vinh hiển cơ đồ
sáng. hom đất lỡ
chiều rò bến sông
chào ngươi chết buổi cờ hồng
chào trăm thiên hạ bế bồng nhau đi
chào di căn
tuổi bệnh. trì
chào khô hốc lệ
nằm thi thể buồn
nghiêm. chào
đời ruỗng tha phương

h u y ề n   h ư

gương soi lẫn bóng chiều tà
trên cao nắng lóa dưới da mẩn buồn
cầm tay mình. chút xương xương
mà cung du thứ in tuồng đi xa
sao vi lửa cháy hằng hà
day đầu ngó lại chút nguy nga còn
em chờ rửa tội móng son
mai sau nguyên thuỷ trăng tròn vĩnh nghiêm
nước dâng nước dâng. biển. chìm
ru người không trách khỏi oan nghiệt đầy
nửa mùa viêm nhiệt chia tay
chờ nhau tạng mỏi lan gầy cúc hoa
 
hoàng xuân sơn
16-26 tháng 4, 2014

 

 

tothuyen1

nhà thơ Tô Thùy Yên

Trần Hữu Thục : Thơ Tô Thùy Yên, Chênh Vênh Siêu Hình – Hiện Thực

Gặp lại nhau, nhìn sững chẳng ra

Em thay đổi quá, tựa sơn hà

Thơ làm không kịp theo dâu biển

Mắt dẫu khô mà nhớ lại hoa(Tô Thùy Yên)

  1. Tô Thùy Yên (TTY)[i] làm thơ từ hồi còn rất nhỏ. Bài thơ đầu tiên đưa đăng báo được in ở tạp chí Đời Mới do nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh chủ trương, vào lúc ông 16 tuổi. Theo ông, bài thơ đó, “chắc chắn không phải là một bài thơ hay và ngày nay tôi chẳng còn nhớ nó như thế nào nữa”[ii]. Năm 1956, một bài thơ khác in ở trên Sáng Tạo – tạp chí mở ra một thời kỳ mới của văn học nghệ thuật Việt Nam: Cánh đồng, con ngựa, chuyến tàu. Đó là một bài thơ mà những ai yêu mến văn học nghệ thuật không thể quên. Nó là dấu mốc của một chuyển biến sâu xa trong nền văn học miền Nam mà cũng là trong nền văn học VN. Gần 40 năm sau, tập thơ đầu tay mới ra đời: Thơ Tuyển Tô Thùy Yên, xuất bản ở Hải Ngoại năm 1995, lúc nhà thơ đã… 56 tuổi đầu. Thêm chín năm nữa, tháng 8/2004, tập thơ thứ hai ra đời: Thắp Tạ.

Bìa trước của tập thơ mới này ghi:

thức cho xong bài thơ

mai sớm ra đi

cài hờ lên cửa tặng

Đây là bài thơ ngắn nhất của tác giả (trong lịch sử thi ca, chắc cũng không có mấy bài thơ ngắn hơn), Tặng phẩm. Lời thơ nghe như có ý nói rằng “Thắp tạ” là tập thơ cuối cùng trong đời ông? Mong rằng tôi hiểu sai.

Cảm giác đầu tiên của tôi khi đọc thơ TTY là ngạc nhiên vì một số điểm có vẻ như “tương phản” trong thơ ông.

– Bài thơ (được xem) như đầu tay, “Cánh đồng, con ngựa, chuyến tàu” làm lúc còn là một thiếu niên – không phải là một bài thơ tình học trò với những rạo rực yêu đương, mộng tưởng, nhớ nhung vớ vẩn – mà lại là một bài thơ đẫm triết lý; không phải là một thứ triết lý vớ vẩn, mà là chứa chất một cái nhìn rất bao quát, được tiếp tục được triển khai qua nhiều bài thơ về sau này, dưới những cách diễn đạt khác nhau về hữu hạn/vô hạn. Suốt mười lăm câu, tuyệt không có một từ ngữ triết lý nào, cũng không ám chỉ một ý niệm triết lý nào. Toàn bài là một bức tranh sinh động, rất đẹp, rất hoành tráng và chấm dứt bằng một bi kịch đầy ấn tượng: tàu chạy mất và con ngựa thì gục ngã. Một gục ngã êm đềm, thẩm mỹ! Một ẩn dụ triết lý tuyệt vời!

– Thơ TTY rất nhiều khái niệm hoặc hình tượng triết lý – lời thơ đôi khi bí hiểm, khó hiểu – thì đồng thời lại không thiếu những hình ảnh hiện thực, có thể nói còn hiện thực hơn cả những nhà thơ hiện thực nhất.

– Thơ Tô Thùy Yên rất hiện đại, rất cách tân, trong lúc lại không thiếu gì những bài, những đoạn, những câu thơ rất cổ điển, rất tiền chiến, rất thơ mới. Bên cạnh “Tôi chạy cắm đầu trên sợi kinh hoàng/Giăng qua đôi bờ vực lạnh hư vô”, chẳng hạn, ta lại đọc thấy “Có gã hề cuồng ra giữa chợ/Hát ngao những đoạn sấm truyền xưa/Bao giờ gió thổi cơn nồm lớn/Minh chúa giong thuyền ra cố đô” (Mùa Hạn) phảng phất không khí cổ điển hoặc “Bao giờ cho đến bao giờ nữa/Em gánh vui về họp chợ đông/Lòng ngát như hoa còn kịp buổi/Áo chưa người giữõ để xin buông” nghe như thơ tiền chiến. Lại có đoạn rất Kiều: “Đêm nằm, lệ chảy mòn tay/Nghe chừng đá nát vàng phai đến điều/Mịt mùng gió lửa liu hiu/Bóng nào khóc, bóng nào kêu, não nùng” (Hái rau)

Về điểm này, Nguyễn Hưng Quốc nhận xét “Có thể dễ dàng tìm thấy trong thơ Tô Thùy Yên vô số những dấu vết của truyền thống bên cạnh vô số những điểm cách tân độc đáo: cả hai hài hòa với nhau làm cho thơ ông, ở những bài thành công nhất, có cái hoàn hảo của những tác phẩm cổ điển”[iii].

            Lúc đầu đời, loại thơ xuôi của ông đầy những cách tân, cả về cấu trúc lẫn cách sử dụng từ ngữ và hình ảnh. Hãy đọc thử:

Với thân thể lân tinh, em sáng lên trong bóng tối, hạt kim cương rạng ngời trong mỏ than đêm, anh trông thấy em không nhầm lẫn được. Với thịt da gỗ quý, giọt mật tinh khôi nằm giữa đài hoa thơm nức, em dâng hương anh, gã du mục lạc loài trong nhớp nhúa. Em là chiếc thuyền đời thượng cổ chở đến anh hoa trái tốt tươi ngọt ngào của miền đất anh đã biết qua thần thoại” (Lễ Tấn Phong Tình Yêu)

          Dù cách diễn tả rất mới, rất tới, nhưng bài thơ suôn sẻ, tình tứ như thế có cái gì như làm dáng và sáo, thậm chí ngoa ngôn. Tôi đồng ý với một nhận định của Bùi Vĩnh Phúc khi cho rằng, qua “Lễ tấn phong tình yêu”, “Ngôn ngữ và hình ảnh trong thơ Tô Thùy Yên đã có những nét khác lạ so với hình ảnh và ngôn ngữ của những người thơ cùng thời. Nhưng cho dù có thế đi nữa, hình ảnh thơ của Tô Thùy Yên trong giai đoạn này vẫn còn tính chất nạm bạc, đặc biệt nếu ta đọc toàn bài. (…) Đọc kỹ, chúng ta thấy TTY đã có nỗ lực làm mới hình ảnh, làm mới cách nhìn trong thơ mình. Trong nỗ lực đó, ông viết được những câu thơ có vóc dáng lạ. Nhưng dù sao, như đã nói, đó vẫn là một sự dát vàng cẩn bạc của TTY trong giai đoạn này. (…) Hình ảnh và ngôn ngữ thơ vẫn chưa hoàn toàn đạt được sự ung dung tự tại”[iv].

Một vài bài khác, cũng làm trong giai đoạn này, chứa một hơi thơ khác hẳn bài trên, ít nhiều nhiễm không khí triết lý:

Tôi châm điếu thuốc nữa

Đốt tàn thêm tháng năm

Chiếc bắc xa dần bến

Đời xa dần tuổi xanh

(Đêm Qua Bắc Vàm Cống)

TTY cảm nhận đau thương, cảm nhận cô đơn, nhưng không phải cái đau thương, hay cô đơn xuất phát từ bất hạnh cá nhân – mà là thứ cô đơn, đau thương có tính nhân quần. Và có tính khái niệm. Mấy câu sau này lại càng có vẻ “khái niệm” hơn nữa:

Có đọc thuộc thánh thư

Linh hồn tôi vẫn vậy

Tôi vẫn không thể lạy

Dù đứng trước hư vô

Đầu tôi cứng và trơn

Thượng Đế làm sao ngự

Tôi đành trốn chủ nợ

Định mệnh đòi linh hồn

(Thân Phận Của Thi Sĩ)

Hai bài thơ có những trích đoạn trên cũng như một vài bài thơ khác như “Thi sĩ”, “Tội nghiệp”, ta thấy ông đưa vào các thuật ngữ triết lý. Từ ngữ và ý thơ mang tính cách khai phá, rõ ràng phần nào chịu ảnh hưởng của trào lưu hiện sinh đang từng bước chinh phục không khí văn học miền Nam thời đó. Nhưng giờ đọc lại, tôi thấy chúng – hay thì có hay, tất nhiên – nhưng vẫn có vẻ gượng gạo. Cái chất TTY đặc thù chưa thấy xuất hiện. Phải đến những bài như “Đãng tử”, “Mòn gót chân sương nắng tháng năm” hay “Bất tận nỗi đời hung hãn đó”, vân vân, ta mới thấy định hình một Tô Thùy Yên thực sự, một TTY như ta biết hiện nay.

Thuận tay, ta ngắt một cành sậy

Làm cây sáo thổi cạn hồn sầu

Bay tản khắp vô cùng trống trải

Âm thừa tưởng lạc đến muôn sau

(Đãng tử)

Hơi thơ mềm mại, ý thơ lãng đãng, mông lung y như chẳng nói lên điều gì rõ rệt, khác hẳn với mấy đoạn thơ trên. Đọc thử một đoạn trong một bài thơ khác:

Tàu đi, những chấn động hung hãn

Sắt thép kinh hoàng va đập nhau

Ta tưởng chừng như thời đại động

Xô đi ầm ĩ một cơn đau

(Tàu đêm)

Nghe ghê! Hung hãn, kinh hoàng, va đập, thời đại động, ầm ĩ. Đoạn thơ này cũng cho ta cảm giác ngoa ngôn vì từ dùng rất kêu, nhưng ngôn ngữ chắc, khỏe, vừa để diễn tả chuyến tàu chở tù thời kỳ đó (tàu thì cũ, đường sắt thì quá cổ lỗ sĩ, vừa mới phục hồi) vừa diễn tả tâm trạng hoang mang, dao động, tuyệt vọng của những người tù đang trên đường bị đi đày biệt xứ. Cả hai đoạn trích trên khác hẳn nhau về hơi thơ, ý thơ, thi ảnh, khác nhau cả về cấu trúc lẫn ngôn ngữ, nhưng lại có một điểm giống nhau: lạ. Ấy, Tô Thùy Yên! Tôi sẽ cố gắng trình bày cái “lạ” đó qua suốt bài này. Trong khả năng cho phép.

Chữ nghĩa TTY

TTY làm nhiều thể loại thơ: thơ năm chữ, thơ bảy chữ, thơ xuôi, thơ tự do, thơ lục bát, thơ phá thể. Ngắn có (bài “Tặng phẩm” chỉ có 14 chữ), dài và rất dài có (bài “Mùa hạn” thơ bảy chữ, gồm đến 188 câu, 1326 chữ). Như đã nhận xét từ đầu bài, chữ nghĩa TTY pha trộn giữa truyền thống và cách tân. Bên cạnh những từ và cụm từ hiện đại như hư vô, ý thức, Thượng Đế, sự can trường của hiện hữu, thám hiểm tương lai…ông tận dụng các từ ngữ với ý nghĩa rất cổ điển như: vạn cổ, bí lục, thiên thu, phù du, quan san, kinh thiên, dương thế, gậy trúc, tào khê, trăm họ, thánh đế, sấm truyền; các đặc ngữ dân gian: chớp bể mưa nguồn, hạc vàng thương nhớ, chờ anh như biển vẫn chờ sông, vàng đá nhắn quan san, ngựa đá đã qua sông, nước non ngàn dặm, núi lở sông bồi, đá nát vàng phai, chút phận long đong, bóng xế đường dài…

Đồng thời, ông sáng tạo nhiều và nhiều cụm từ rất lạ: ngổn ngang câm, bất an già, khoảng cách đặc, án tử hình treo, lãng quên xanh, nỗi sầu vô dạng, u hoài mốc, gió hao đuối, rợp hải hà, rớt nắng, nắm níu, nhớ hư hoặc, một phía mê tưởng, lưu cữu gió, vũng vướng mắc, ráo gió, úng máu, thiu hồn, muối muộn, đuối kiệt, ngất tạnh khuya, réo đuối… Ở điểm này, ta có thể so sánh TTY với Trịnh Công Sơn. Cả hai đều là những người “đẻ” ra nhiều từ mới hoặc sử dụng từ cũ với một ý nghĩa mới. Ở TCS, ta có nào là tuổi đá buồn, vết lăn trầm, lời buồn thánh, nắng khuya, hạ trắng, bồn gió hoang… nào là dài tay em mấy, cồn đá… Nhưng ta ghi nhận một khác biệt: chữ nghĩa TCS dường như thoát thai từ trực giác, còn chữ nghĩa TTY thì là một dụng công đầy ý thức (như sẽ đề cập ở đoạn sau); một điểm khác, TCS do vướng trong việc phổ nhạc nên tương đối bị giới hạn trong lúc TTY tự do hơn nhiều, nhất là khi ông không còn xem trọng chuyện vần điệu trong thơ.

Có một nỗ lực rất lớn của TTY trong việc sử dụng từ ngữ để diễn đạt sự vật ngoại giới và tâm cảnh của mình. Ông tìm cách bóc tất cả những lớp vỏ bọc quanh hiện thực bằng cách huy động đủ loại từ ngữ, phối trí chúng trong một cấu trúc theo kiểu riêng của ông[v]. Dường như ông muốn đi đến tận cùng bản thân chúng để tìm thấy cái gì còn ẩn dấu đàng sau hoặc nằm bên trong sự vật. Từ cũ dùng đúng nơi đúng chỗ. Từ mới gây ra ấn tượng mạnh. Đồng thời tận dụng các đặc ngữ, quán ngữ vừa để làm “mềm” câu thơ hoặc làm dịu đi những cách diễn đạt quá mới vừa là một cách điều hòa tinh tế nhằm tạo hiệu quả cao nhất nơi người đọc. Thơ ông không quá tối tăm, khó hiểu, nhưng để hiểu được, đòi hỏi người đọc phải vận dụng tri thức, kiến thức và óc quan sát tinh nhạy. Đọc thơ TTY không thể chỉ đọc bằng trực giác vì chúng không gây nên xúc động lập tức nới người đọc. Chúng đã không cho những thi ảnh trơn tru, thuận tai, gợi hình, gợi tình; đã thế, lại đưa ta vào một không khí đầy trầm tư mặc tưởng, đôi lúc khá ngột ngạt.

Ông có lối diễn đạt sự vật, cảnh vật chung quanh rất sống động bằng cách sử dụng những tính từ, động từ một cách khá bất ngờ. Xin dẫn ra đây một số:

– Động vật: chim “giục giã” hay “hớt hãi kêu van”, con ngựa “cuồng bão táp”, chó “tru thăm thẳm”, di điểu “xẻ luống sầu”, con quạ “kêu ran”, con còng “ẩn nhẫn bò”.

– Thực vật: cây “nứt nở vỏ”, “bật gốc” hoặc “sưng vết chặt lồi”; rong thì như những “tầng buồn”; hàng cây dương thì “bất an già”; rễ cây “bung” hay “gượng”; cỏ tranh “khom mỏi”; tàu chuối “reo ngất ngất”; cây xương rồng “gắng gượng”.

– Sự vật: con rạch “đen nồng”, chiếu chăn “bức bối”; con đường “duỗi sáng” hay “rọc điếng”; hàng rào chà cản nước “nỗ lực lao đao”; nước ao “lền đặc”; gềnh đá “nhọn rách tơi”; bãi biển “trơ trẽn”; tàu chạy “khoan xoáy” hay “rú”; máu “bung”.

– Những hiện tượng tự nhiên: gió “khốc liệt” hay gió “sửa soạn”; thủy triều “sôi”; mùa hè “cọ xát” hay “xô xát reo vang” hay “nhức rát”; biển “nhẫn nại”, “tang chế”; nắng “nứt ran ran”, mặt trời “rã”; khuya “rụng rời”; đêm “tối lền”.

– Những ý niệm, trạng thái hay cơ cấu: lịch sử khi thì “ngất lả”, khi thì “thịnh nộ”, khi thì “mài thê thiết”; tứ thơ thì “xiêu tán”; kỷ niệm “buông”, “rú”, “chìm”; (cái) bất-khả-tư-nghì “đá chởm”

Có những câu, mới đọc, ta tưởng nhà thơ đang nói đến một điều “bất khả tư nghì”[vi] nào đó. Không. Ông tả chân, rất tả chân. Chẳng hạn:

rền hoa: tim đèn dầu thắp lâu ngày, phía trên cháy thành than xòe ra như một bông hoa nở.

– Mái ngói nghiêng triền trái rụng lăn. Một cách đảo ngữ khá thú vị. Nó khiến cho một chi tiết thực dường như biến thành hư. Đó chỉ là tiếng trái cây rụng và âm thầm lăn trên mái nhà nghiêng. Để ý, nhà thơ dùng những động từ kế tiếp nhau để diễn tả chuyển động: rụng, lăn.

Thủ pháp này được ông dùng rất nhiều để gom ý, cô đọng ý và tạo cảm giác lạ:

Thả/trôi hồn một tấu khúc chừng quen

Dềnh/giạt về những quá khứ bỗng ngoi nổi

Thả, trôi, dềnh, giạt, ngoi, nổi đều là những động từ.

Một câu khác:

Kỷ niệm buông tay rú – ngất- chìm

Buông, rú, ngất, chìm là những động từ.

Cũng một thủ pháp như thế, nhưng là tính từ, là danh từ hay là một kết hợp giữa các loại từ:

Phòng biệt giam tối mốc thấp hẹp (tính từ)

Tốc độ cao gài cố định mặc (cố định, mặc kệ cho nó chạy)

Trời sao có hồi cũng đuối kiệt (đuối sức, kiệt lực)

Và trong những khoảnh đèn khoét đọng lẻ quạnh (khoét ra, đọng lại, lẻ loi, quạnh quẽ)

Từ Hán-Việt cũng được sử dụng trong một vài trường hợp bất ngờ:

Hàng tre cổ chĩu đầu lưu cữu gió (tre trĩu ngọn xuống để lưu cữu – cố giữ – gió lại)

Ta ngồi bên đống lửa man rợ – Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế – Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi

– Hừng đông hùng vĩ và thanh thản

Nói chung, chữ nghĩa ông rất chọn lọc, nghe lạ tai mà chính xác, khiến câu thơ mang ngay một vóc dáng khác thường, tăng cường thêm ý nghĩa cho chính nó:

Mưa lâu trời mốc, buồn hôi xưa (Qua sông)

Rêu mốc mờ thêm những đã mờ (Huế oán)

Trăng thiếp, sao mê, sông ráo gió

Buồn lan sóng nối, tản không tan (Nhớ có lần, trên bến bắc khuya, nghe một ông lão đàn hát)

Kết cấu tinh xảo:

Thăm thẳm trưa, thời gian chết xanh (Vườn hạ)

Quán chật xanh lên rừng lính ướt (Qua sông)

Nghi ngút khuya thiên cổ dặm mù (Thao thức)

Ngoài ra, ta nhận thấy TTY khoái sử dụng từ trắc ở chữ thứ năm trong câu thơ bảy chữ khiến câu thơ có một nhịp điệu riêng biệt, hình thành một phong cách khá đặc thù của thơ TTY:

Bốn trăm hải lý nhờ không tới

Mùa gió xoay chiều, giờ khốc liệt

Sông hồ nẻ đáy giếng vô vọng

Loại câu trên nằm lai rai ở nhiều bài. Có bài, như “Đêm quan ngoại”, kỹ thuật đó được sử dụng hầu như toàn bài, đại loại như: Tạt vào, giũ phủi bóng đêm bám/Gối đầu lên một chỗ không lý/Giờ này đã khuya khoắt thiên cổ… Ta biết, những từ thứ năm trong những câu thơ cước vận trắc, nếu gieo vằn bằng, thì đọc lên nghe trơn tru, thuận mồm hơn. Dùng các từ trắc ở đây khiến câu thơ nghe như có cái gì chẹn, nghẹn lại, gây nên cảm giác bế tắc, lúng búng. Quả thật vậy, đọc chúng, ta thấy ngay tác giả muốn diễn tả những cảm giác day dứt, bất an.

Những bài thơ làm thời gian sau này (trong Thắp Tạ), TTY đều sử dụng nhiều từ và cụm từ trắc để diễn tả tâm tình đặc biệt của mình: những nỗi niềm khuất tất, trạng thái ngơ ngẩn cuối đời khi “quỹ thời gian” đang mỗi ngày mỗi cạn (như Soi mệnh, Tỵ khách, Nỗi lần mình giở). Chẳng hạn:

Giấc mộc đè cứng nghẹn dẫy la

Gà nửa khuya gáy xộ trăng muộn

Sòng phẳng án khổ hình vắt đá lấy máu viết

Viết, viết như chép phạt những điều thừa

Về một kỳ tích tối cổ mãi hư bại. (Soi mệnh)

Đoạn thơ trên mà so với những câu, cũng của ông, như: “Thấy gì chăng, chẳng thấy gì/Nước rào, trăng rạt, ta thì mỏi mê/Chầy khuya, nước ủ trăng ê/Uổng công, bãi ấy đi về một ta…” (Đi Về) thì quả là khác nhau một trời một vực. Nói chung, chúng không khó hiểu lắm nhưng lại rất khó đọc. Chữ nghĩa ngổn ngang. Hơi thơ u uất. Vẫn là những ám ảnh siêu hình về thời gian, vô hạn, biến dịch. Ở đây, tôi ghi nhận một khác biệt. Thuở đầu đời, nhà thơ nghênh ngang đối đầu với/và có vẻ “thưởng thức” cái hữu hạn của con người, ném hữu hạn trước vô hạn như một thách đố, thậm chí không giấu nỗi hân hoan:

Giá ta được lên cao, lên cao

Để ngắm nhìn một lần thấu suốt Định Mệnh ta

Trước ngày từ biệt nó

(…) Ta cố gắng làm người. Con người vô ích sáng choang như món hàng đeo lên Hư Vô đen ngời bóng lộn (Bất tận nỗi đời hung hãn đó)

Hay:

Hoàng hôn xô bóng ta trên cát

Ta lớn lao và ta cô đơn

Vào lúc sau này, tuổi xế bóng, cái nhìn có khác, nghe ra rất ngậm ngùi:

Quá một hạn tuổi nào,

Sống nữa hầu như để giữ sống

Qua ngày một trí nhớ lâm chung.

Đâu rồi gã trẻ người bạt mạng lao đầu

Vào những bất khả tư nghì đá chởm

(Soi mệnh)

Tính siêu hình

Nhà thơ TTY không đến với sự vật như những kẻ thân thiện để ngắm nghía, chia sẻ, thông cảm, tìm hứng hay tìm cái đẹp, mà là để nghi hoặc, liên miên tra vấn và như thể tìm cách đẩy chúng vào cuộc chơi. Dường như ông hóa thân vào sự vật, đánh thức chúng dậy. Trong thơ TTY, dấu vết cảm hứng khá mờ nhạt, đúng như nhận định của Nguyễn Hưng Quốc, theo đó, TTY “trước hết là một nhà thơ trí thức (…) có thể thấy một đặc điểm lớn trong phong cách TTY: ông bắt đầu sự nghiệp làm thơ một cách đầy tự giác. Ông không cậy vào cảm hứng, vào năng khiếu, như hầu hết những nhà làm thơ khác”[vii]. Ông vận dụng cả ý thức, lẫn kiến thức và óc quan sát tinh tế để làm thơ. Nếu chú ý, ta sẽ thấy ông luôn luôn chủ động kiềm chế chữ nghĩa, không bị chi phối bởi thói quen và ngẫu hứng[viii]. Rõ ràng là ông làm thơ không chỉ để diễn tả những xúc động cá nhân trước thiên nhiên, trước thân phận hay những cảnh đời ngang trái. Ông triển khai giòng thơ xa hơn, sâu hơn[ix], tiến vào lãnh vực vô thể, tức là lãnh vực của thế giới ý niệm. Do vậy, tính chất siêu hình bàng bạc trong hầu hết những bài thơ của ông[x]. Trả lời cho câu hỏi “Triết học và thi ca là những phạm trù khác nhau. Nhưng có nhiều người làm thơ triết học. Theo anh, có biên giới nào giữa thi ca và triết học không” của Nguyễn Mạnh Trinh, TTY hỏi lại “Có thật có một loại thơ gọi là thơ triết học sao?”[xi]. Rõ ràng là nhà thơ không mấy mặn mà với khái niệm về một loại thơ riêng biệt gọi là thơ triết lý, tất nhiên trong đó có thơ ông. Thơ là thơ. Nhưng là một người đọc yêu mến thơ ông, tôi thích gọi thơ TTY là thơ triết lý. Ta có thơ tình, thơ chiến đấu, thơ thiền, thì nếu thêm từ thơ triết lý, đâu có sao. Cũng chỉ là một cách gọi. Tạm gọi. Cho có cái cớ đi trọn bài này. Rồi thôi.

Mà không phải thơ triết lý sao được. Này nhé:

Nên ta phó mặc cho trời đất

Trời đất vô ngôn lại bất nhân

Nên ta lẳng lặng đi đi khuất

Trong lãng quên xanh hút thời gian

Cái gì vậy? Yêu? Nhớ? Mong chờ? Nuối tiếc? Thiền? Không có cái nào là đúng hết. Chỉ còn một cách: đó là thơ… triết lý! Còn gì nữa đây:

Bìm bịp chiều chiều kêu nước lớn

Đi, đi đâu, chèo chống mỏi mê?

Đến ngả ba, đành theo một lối

Tiếc ngẩn không cùng theo lối kia

(Đãng tử)

Dạ, một diễn tả “rất thơ” về song quan luận (dilemma), thuộc lãnh vực luận lý học.

Rõ là thơ triết thì khác với triết lý. Các triết gia dùng khái niệm để diễn đạt tư tưởng triết học, đi tìm chân lý, và khi tìm ra cái gọi là chân lý rồi, họ yên tâm núp trong pháo đài của mình. Tưởng thế là xong! Nhà thơ không hề đi tìm chân lý, nên suốt đời lang thang, là một “gã hề cuồng”, không nơi ẩn nấp: không có gì gọi là hoàn tất trong cuộc đời này. Mọi thứ đều dang dở, bất toàn. Bởi thế, nếu đọc triết cho ta cảm giác an toàn vì mọi câu hỏi dường như đều đã có lời giải, thì đọc thơ bao giờ cũng cho ta cảm giác chênh vênh, bất định. TTY gọi triết gia hay nhữõng nhà tư tưởng lớn là “các vương tôn miền trí tuệ/Mưu đồ đo đạc cả Vô Biên”. Còn nhà thơ thì:

Ta ngắm gốc cây nứt nở vỏ

Gốc cây to đến mấy người ôm

Nghĩ tới bao điều thầm lặng lớn

Trí ta không đủ lực đo lường

Vì khác với các triết gia, tâm thức của một nhà thơ:

Câu hỏi vạn niên, lời đáp nhất thời

Chữ nghĩa rối bời gai góc loạn

Con đường suy tưởng thật lang thang

Ngày một xa thêm chân lý lớn

(Chim bay biển Bắc)

Đoạn này “thơ hóa” một trong những vấn nạn lớn của triết học cổ kim: có thể tìm thấy chân lý bằng chữ nghĩa và suy tưởng không? Nhà thơ dứt khoát: càng chữ nghĩa, càng suy tưởng, nghĩa là càng tìm cách đạt đến chân lý thì người ta càng xa chân lý. Vả lại, làm gì mà có chân lý cơ chứ! Nói TTY làm thơ triết lý có nghĩa là nhà thơ “thơ hóa” các suy tư thuần lý, thêm da thêm thịt cho chúng, ban cho chúng đời sống. Cũng là một cách phá vỡ các ảo tưởng duy lý. Hay mượn một hình ảnh “đắt giá” của TTY: Ngựa ngã lăn mình mướt như cỏ/Chấm giữa nền nhung một vết nâu trong bài thơ đầu đời “Cánh đồng, con ngựa, chuyến tàu”. Có lẽ không có mô tả nỗ lực thất bại của con người nào nên thơ bằng hình ảnh tuyệt đẹp của con ngựa TTY. Thơ TTY, hiểu theo một cách nào đó, là sự khai thác hình ảnh này qua hàng hàng lớp lớp chữ nghĩa sau này, theo tôi.

Những đề tài triết lý trong thơ TTY không có gì mới lạ. Vẫn là những ý niệm và hình ảnh quen thuộc ta thường tìm thấy trong triết lý Đông Phương cũng như Tây Phương (thường gọi là các phạm trù) qua mấy ngàn năm nhân loại suy tưởng: tuyệt đối, hữu hạn, vô hạn, vũ trụ, biến dịch, vô thường, thời gian, không gian, lịch sử…Hầu hết những đề tài đó được nhà thơ nhấn mạnh trong một số bài bằng cách viết chữ hoa như Chân Lý, Thiêng Liêng, Cõi Tạm, Hiu Quạnh, Vô Biên, Tương Lai, Định Mệnh, Hư Vô, Nhân Thế, Vĩnh Cửu, Lịch Sử. Chẳng hạn như:

Có thể mai kia Thời Đại Lớn

Sáng rền trên cõi sống tinh anh

(Mòn gót chân sương nắng tháng năm)

Dưới nét phác nụ cười thầm mê man của Định Mệnh

Để ngày ngày ta đến điều trần lặng lẽ trước Vô Cùng

Về một Hữu Hạn tuyệt vời đang phóng dụng

(Bất tận nỗi đời hung hãn đó)

Những ý niệm triết lý được nhà thơ trở đi trở lại nhiều lần bằng những cách diễn đạt khác nhau: khi thì là những suy tưởng trông rất thuần túy, khi thì là những ẩn dụ, biểu tượng, khi thì là những hình ảnh từ ngoại giới: người, sự vật, sinh vật.

Đề tài thời gian có lẽ là đề tài lớn nhất và bao trùm nhất trong cõi thơ của ông, được triển khai rộng rãi trong nhiều bài thơ khác nhau. Bài thơ đầu tiên “Cánh đồng con ngựa chuyến tàu” là một diễn tả sống động về tính bất trắc của thời gian và sự bất lực của con người. Tàu tượng trưng cho thời gian vô hạn, con ngựa tượng trưng cho kiếp người hữu hạn. Hãy xem sự rượt đuổi quyết liệt biểu lộ cho một quyết tâm của ý chí:

Tàu chạy mau, tàu chạy rất mau

Ngựa rượt tàu, rượt tàu, rượt tàu

Càng rượt, thời gian càng chạy gia tốc:

Tàu chạy mau, vẫn mau, vẫn mau (…) Tàu chạy mau, càng mau, càng mau

Con ngựa vẫn mê mải rượt tàu, rượt tàu để cuối cùng:

Ngựa ngã lăn mình mướt như cỏ/Chấm giữa nền nhung một vết nâu.

Thật hào hùng và bi tráng! Một kết thúc buồn, đẹp và rất thơ. Y như một hoạt cảnh. Sau này, trong “Thắp tạ”, ông diễn tả sự rượt đuổi đó một cách khác, ngắn gọn hơn (nhưng lại buồn thảm hơn):

Cố gắng

Cố gắng theo cho kịp

Cái bóng mình như có đi nhanh hơn

(Nhanh hơn)

Trong nhiều bài về sau, ông không cần dùng đến ẩn dụ mà gọi đích danh hoặc hình tượng hóa thời gian qua hình ảnh của một sự vật, một chủ thể. Đó là một cái dốc dài: Trên dốc thời gian, hòn đá tuột/Lăn dài kinh động cả hư vô; là một chiếc xe: Thời gian gia tốc, thảm thê thay; là một nhân vật khuất lấp nào đó: Ta gọi thời gian sau cánh cửa/Nỗi mừng ràn rụa mắt ai sâu; là một ngăn kéo hay một kho chứa: Ta về như bóng ma hờn tủi/Lục lại thời gian kiếm chính mình; là sợi dây:Thời gian đứt quãng dài vô định/ Như sợi dây diều băng mất tăm; vô hình vô dáng: Biển Bắc mịt mù con nhạn lạc/Thời gian mất trí trắng vô âm . Hầu hết những gì liên hệ đến thời gian xuất phát từ những ý niệm về một cái gì trôi chảy mãi, vô cùng vô tận: Trăm năm rồi lại trăm năm khác; Dòng ngày tháng trắng chảy lơ mơ; U minh ngày tháng bóng lao đao.

Ám ảnh về thời gian, trong bản chất, chính là ám ảnh về quá khứ. Quá khứ bao giờ cũng cho ta cảm giác đó là một cái gì thuộc về nguồn gốc, là bản chất của cuộc tồn sinh. Một ảo tưởng của con người: dường như càng xưa, càng cổ, càng đi về thời đại hồng hoang, nguyên thủy thì lại càng gần với “lý sơ nguyên”, gần với sự Sáng Tạo vũ trụ. Khổ thay, trước quá khứ, con người hoàn toàn bất lực. Quá khứ, cũng như người chết, là mênh mang, khó hiểu. Đó là “những người thuở trước”. Là người, như anh như tôi. Hỉ nộ ái ố ai bi lạc dục. “Giương cung bắn”, “đi tìm mộng”, “say vô hạn”, “tham chung đỉnh”, “diễm tuyệt dung nhan thảo mộc sầu”… Bây giờ họ đi đâu, về đâu?:

Những người thuở trước bây giờ lạc

Trong dã sử nào như bóng mây

(Và rồi tất cả sẽ nguôi ngoai)

Trong “Mòn gót chân sương nắng tháng năm”, nhà thơ diễn tả cảm thức triết lý về nỗ lực của con người trên đường đi tìm chân lý vĩnh cửu bằng cách thực hiện một chuyến hành trình siêu hình về quá khứ, phá vỡ bức trường thành dằng dặc vô hình của thời gian:

Ta gắng về sâu lòng quá vãng

Truy tầm mê mỏi lý sơ nguyên

Hỡi ôi, dọc dọc thấy câm cứng

Mặt trợn trừng chưa dứt ngạc nhiên

(Mòn gót chân sương nắng tháng năm)

Tìm gì? Tìm cái “lý sơ nguyên”, tức là cái khởi đầu, cái chân lý. Tìm thấy gì? Tuyệt không có gì. Tất cả đều “câm cứng”. Câm. Cứng. Một khép chặt miên viễn. Ngạc nhiên, đau đớn, thất vọng:

Ta lại trồi lên dương thế rộn

Ngày ngày ra bãi vắng vời trông

Bóng chim, tăm cá, cành trôi dạt…

Bất luận điều chi giữa mịt mùng

(Mòn gót…)

Dương thế không thiếu chi người như thuở trước, cũng “giương cung”, cũng “đi tìm mộng”, cũng “say vô hạn”, “tham chung đỉnh”, tóm lại, cũng chừng ấy chuyện. Với nhà thơ, đó là một “dương thế rộn” nghĩa là lắm chuyện, loay hoay, tưởng chừng như bận bịu cho một mục đích cao cả nào đó. Thực ra, chẳng có gì. Cho nên ông chỉ biết ra bãi vắng vời trông. Cũng chỉ là để vời trông! Bài thơ là một diễn đạt tuyệt vời về khát vọng tinh thần của con người từ xưa đến nay, luôn luôn muốn vượt thời gian, đi tìm bản thể của mình. Hình ảnh con người trần trụi ngày ngày ra bãi vắng mà vời trông vào cõi mịt mùng, quả là bức tranh sinh động tượng trưng cho nỗi đau siêu hình muôn thuở của những “con vật biết suy tư”

Một trong những hình tượng và cũng là khái niệm thời gian được TTY sử dụng nhiều – hàng chục lần trong nhiều bài khác nhau – là “thiên thu” hay “nghìn thu” hay “thiên cổ”: Thiên thu lóe tắt vệt phù du/Phất phơ chéo áo đường thiên cổ/Nghi ngút khuya thiên cổ dặm mù/Tiếng kêu đá lở long thiên cổ/Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế/Chốn rừng thiêng ỉm tiếng nghìn thu/Ngọn đèn như nỗi đợi thiên thu/Chung thân, thiên cổ bị cầm giữ/Giờ này đã khuya khoắt thiên cổ. Cả ba từ – khi thì dùng như danh từ, khi thì như tính từ hay trạng từ – đều chỉ một cái gì xa xưa, lâu lắc, không đo lường được. Tóm lại, vô hạn, vô cùng.

Ám ảnh thời gian tất yếu đưa đến ám ảnh về lịch sử. Khác với thời gian là một khái niệm mông lung, lịch sử – đối với nhà thơ – trông có vẻ cụ thể hơn, có da có thịt hơn. Nó tác động trực tiếp đến bản thân, đến cuộc sống hiện đương. Có lẽ để nhấn mạnh điều này, tác giả nhiều lần viết hoa hai chữ “Lịch Sử” trong thơ. Lịch sử tựa hồ như một nhân vật, hay ít ra cũng tựa như một thẩm quyền: Tử tội mừng ơn lịch sử tha; Đã trăm năm lịch sử làm thinh; Những âm thanh lịch sử thịnh nộ.

Là một thẩm quyền, lịch sử biểu lộ thái độ khác nhau tùy theo hoàn cảnh, khi thì “dường như rất vội vã”, khi thì “mài thê thiết”, khi thì “ngơi đi nhiều tiếng động”, “đổi phiên người gác ngục” và có lúc kiệt lực “ngất lả”, lại có lúc:

Như tên phù thủy già điên loạn

Lịch sử lên cơn dữ bất thường

(Mùa hạn)

Ở đây, lịch sử gắn liền với chế độ chính trị của mỗi thời, tác động cụ thể lên thân phận từng người, trong đó có bản thân tác giả. Đây là một trong những cảnh lịch sử “lên cơn dữ”:

Đám chủ mới, y trang xúng xính,

Súng nghênh ngang, tiếng hét phàm phu

Xua trăm họ sá chi thân mạng

Lăn địa cầu ra khỏi lối xưa

(Mùa hạn)

Lăn địa cầu ra khỏi lối xưa! Một mô tả cực kỳ hình tượng về tham vọng của chế độ Cộng sản.

Thời gian và lịch sử bao hàm tính chất biến dịch. Thơ TTY, ở một nghĩa nào đó, là cảm thức sâu sắc về lẽ biến dịch, về sự tuần hoàn, về ý nghĩa “không ai tắm hai lần trong cùng một dòng sông”:

Đời hoài công đứt nối miên man (Mòn gót)

Dòng sông u hiển trôi vô lượng (Hề, ta)

Các mùa chuyển động trong trời trống

Di điểu qua sông xẻ luống sầu.. (Tưởng tượng)

Bởi tất cả vô thường

Nên tất cả miên viễn (Soi mệnh)

Đời qua lớp lớp tàn hư huyễn/Giọt lệ sương thầm khóc biến thiên

(Ta về)

Thời gian – biến dịch đưa đến cảm thức về vô hạn/hữu hạn:

Vũ trụ miên man chuyển động đều

Mà trong vô hạn có chi đâu

(Đãng tử)

Vô hạn – hữu hạn là nghịch lý lớn nhất đối với ý thức con người:

Làm sao ta biết được

Niềm vô lượng không gian cuốn hút

Cõi trăm năm tiếp tiếp miệt mài,

Cuộc phiêu lưu tinh thần bi liệt…

Nùi lộ trình rối chẳng phăng ra.

(…) Loài sinh vật loay hoay quên khuấy nỗi kinh hoàng bé mọn

Trong vô tận quang niên và vô tận thời gian

(Bất tận nỗi đời hung hãn đó)

Một diễn đạt tuyệt vời khác về nỗ lực vô vọng của con người qua thời gian và không gian! Vẫn biết là phiêu lưu vô ích, là lập lại cái cảm thức tồn tại từ khi con người biết tư duy, nhưng cái quái đản là con người vẫn không ngừng suy tư về nó. Vận dụng tối đa chữ nghĩa để phiêu lưu vào chính cái cõi phiêu lưu. Biết là “trí ta không đủ lực đo lường” mà vẫn “nghĩ tới bao điều thầm lặng lớn”, vẫn “mưu đồ đo đạc cả Vô Biên”. Quả là một cuộc “phiêu lưu tinh thần bi liệt”!

Thời gian vô hạn, không gian lại càng vô hạn. TTY gọi đó là cõi “vô cùng tận”, là cõi “ngoài muôn dặm”: Mỏi chìm đóm lửa ngoài muôn dặm. Không gian là những đám mây vô sử; vũ trụ thì cứ thế, miên man chuyển động đều; là Bóng chim tăm cá cành trôi giạt/Bất luận điều chi giữa mịt mùng, con người trong vũ trụ chỉ dạo men bờ sóng tuyệt mù. Một trong những hình ảnh về không gian vô tận là hình ảnh con đường. Nó không có cùng đích: Con đường đi mỏi mà không tận và không có khởi đầu:

Ôi những con đường đến tự đâu

Một lần gặp gỡ ngả tư nào

Mà trong vô hạn chia lìa miết

Có cuốn theo mình bụi của nhau

Là cái gì cách ngăn, chia lìa:

Em nhỏ, làm chi chim biển Bắc

Để anh lầm mãi bãi Đông mù

Không-thời là một kết hợp có tính biện chứng, khiến cho cái vô hạn càng thêm vô hạn:

Biển Bắc mịt mù con nhạn lạc (không)

Thời gian mất trí trắng vô âm (thời)

Trăm năm, rồi lại trăm năm khác

Tên đóa hoa này, ngươi nhớ chăng?

Con ngựa bất kham cuồng bão táp

Cõi hồng trần lôi nỗi kinh tâm

Con người chỉ là một hạt lệ trong cuộc biến thiên vô hạn:

Đời qua, lớp lớp tàn hư huyễn

Hạt lệ sương thầm khóc biến thiên

 

Tính hiện thực

 

Siêu hình, như ta đã biết, thuộc về lãnh vực của ý niệm, của những hình tượng, biểu tượng. Chúng vô hình vô dáng. Hiện thực, ngược lại, là thế giới hữu hình chung quanh chúng ta, có thể tiếp nhận bằng giác quan. Khi nói thơ TTY là thơ triết lý thì không có nghĩa rằng thơ ông thuần là những suy tưởng cao xa, khó hiểu và “siêu” hình. Trong thơ ông, hiện thực cũng xuất hiện đầy dẫy, dồi dào. Ông để lòng mình phơi mở, đưa tầm nhìn ra khắp ngoại giới, từ trăng sao, các hiện tượng tự nhiên cho đến những sự vật nhỏ nhoi, tầm thường như mầm cỏ, gốc cây, hàng cây đứng bóng, con sâu, vết chặt hay san hô, vân vân.

– Mầm cỏ ngoi ngoi lên rạo rực

Con chim chèo bẻo hót lanh chanh

– Ta ngắm gốc cây nứt nở vỏ

Gốc cây to đến mấy người ôm

– Ngày. Ngày nắng chói chang như giũa

Ánh sáng vang lừng điệu múa điên

– Trời cao mỏi mắt, chòm mây bạc

Thăm thẳm trưa, thời gian chết xanh

– Hàng cây đứng bóng ôm tròn gốc

Đất ẩm vương hương, cỏ trở màu

– San hô mọc tủa thêm cành nhánh

– Cây cỗi càng sưng vết chặt lồi

– Cây rách sâu thân chắt giọt lòng

Hiện thực là những sự vật cụ thể xuất phát từ trong kinh nghiệm tiếp cận sâu xa với ngoại giới của chính tác giả. Không phải là thứ kinh nghiệm đầy sáo ngôn của mùa thu thì “lá vàng”, mùa xuân thì “hoa bướm” mà là những kinh nghiệm đầy ấn tượng. “Trường Sa hành”, chẳng hạn, là một thí dụ. Đó là kinh nghiệm sâu xa về sự cô độc khi sống ở một hoang đảo. Hoang đảo thì hiu quạnh, hiu quạnh lớn đến nỗi vắng cả hồn ma quỷ. Đó là nơi gió khốc liệt miên man thổi, ban ngày thì nắng chói chang như giũa khiến phỏng khắp châu thân, buổi chiều mặt trời chiếu xuống biển raõ ra theo sóng khiến biển rưng rưng trong lúc trên trời đầy những chim đen thảng thốt quần; quanh đảo, đám cây gầy ven bãi sụp thì rễ bung, dưới nước thì những cụm rong óng ả trông như những tầng buồn. Đêm, ngồi bên đống lửa man rợ, hong tóc râu chờ chín miếng mồi. Những cảnh ấy, vật ấy có một tác động ghê gớm lên tâm trạng những người lính thú xa nhà. Họ nhớ nhà, nhưng xa quá nhớ không tới, đành khóc cười như tự bạo hành, khòm lưng nhẫn nhục; họ buồn đến nỗi tóc bị nung từng sợi đỏ và kêu dòn như tiếng nứt hoa niên. Tâm trạng của những kẻ bị đẩy ra làm lính thú ở hoang đảo vô cùng bức xúc, ngột ngạt:

Đất liền, ta gọi, nghe ta không?

Đập hoảng Vô Biên, tín hiệu trùng

Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc

Con chim động giấc gào cô đơn.

Khoảng cách đặc, một sáng tạo chữ nghĩa rất tô-thùy-yên!

“Góa phụ” là một kinh nghiệm đầy ấn tượng khác. Ở đây, thực cảnh và tâm trạng người góa phụ đan quyện lẫn nhau. Nó diễn tả một khoảng trống không cùng giữa cái chết và cái sống, giữa thực tế phũ phàng và nỗi khát khao vô cùng tận của người phụ nữ vừa mất chồng trong lúc tuổi còn hoa niên. Nhà thơ ví cái chết như cánh cửa đóng tự ngàn năm bặt âm, và nàng tìm kiếm vô vọng như tìm ở cõi gió vì cát loạn muôn trùng đã xóa cả dấu chôn trên mộ. Đêm đầu tiên người góa phụ ở nhà một mình sau khi chôn chồng cho ta một hình ảnh bi thiết. Tâm và cảnh đan xen lẫn nhau tạo nên một nỗi đau mênh mông, sâu thẳm. Người góa phụ ngẩn ngơ đứng trước bàn thờ, thức cho đến lúc trăng lu, khuya mỏi nén nhang tàn với ngọn đèn hư ảo thắp trắng mái tóc. Ở xa, có tiếng chó tru thăm thẳm, tru đến trời đất phải sững sờ, ngây ngất. Tất cả lặng im, đến nghe cả tiếng trái cây rụng rồi âm thầm lăn trên mái ngói.

Em độc thoại lời kinh ánh xanh

Trăng lu, khuya mỏi, nén nhang tàn

Chó tru thăm thẳm ngây thiên địa

Mái ngói nghiêng triền trái rụng lăn

(…) Ngọn đèn hư ảo chong linh vị

Thắp trắng thời gian mái tóc em

Hiện thực đến thế thì thôi! Còn nàng thì:

Tim đập duỗi ngoài thân nỗi lạnh/Hồn xa con đóm lạc sâu đêm

Hãy lưu ý cách dùng chữ nghĩa tinh xảo: cõi gió, lạc sâu đêm (không phải thâu đêm), duỗi ngoài thân, ngây thiên địa.

Trong bài thơ tình “Trưa nay, ta còn đi bên nhau”, TTY mô tả thành phố dưới cái nắng buổi trưa gay gắt, nơi hai người đi với nhau lần cuối trước khi chia tay mãi mãi:

Thành phố lũng hoa mê

Duỗi phơi xa những triền mái lóa.

Gió luông tuồng.

Anh nghe rõ nắng lao xao trên giàn hoa giấy rộ.

Trưa đứng sững giữa lòng đường

Cây cùng thu vén bóng.

Chữ nghĩa dùng cực kỳ ấn tượng: lũng hoa mê, duỗi phơi xa, triền mái lóa, gió luông tuồng, trưa đứng sững. Một kết hợp ngôn ngữ tân kỳ và chính xác. Dưới tác động của cách dùng chữ cùng cấu trúc câu, cảnh vật hiện ra vừa thân quen lại vừa mới lạ. Đồng thời nó cho ta cái cảm giác lạ lùng y như thể ông đang dùng ẩn dụ. Cũng buổi trưa, nhưng trong bài “Vườn hạ”, ông diễn tả một cách khác, cũng không kém ấn tượng:

Thăm thẳm trưa, thời gian chết xanh.

Gì vậy? Nhà thơ chơi chữ? Không đâu! Đây là một buổi trưa ở vùng thôn dã. Có sống ở miền quê những buổi trưa hè nắng gắt, trời đứng bóng, nhìn lên bầu trời xanh, trông xa thăm thẳm, mọi vật mệt mỏi nằm yên y như thời gian ngừng trôi, ta mới hiểu hết ý nghĩa của cái gọi là “thăm thẳm trưa” và thời gian “chết xanh”. Hãy đọc một đoạn thơ khác, cũng với một cách diễn tả tân kỳ:

Biển tù hãm dẫy, vô phương thoát

Quẳng bờ những xác sóng mưu toan

Để đổi lấy một hạn kỳ tạm ngụ

(Hành giả âu sầu)

Có lẽ chưa ai nhìn biển và sóng bằng cái nhìn khác lạ như thế. Tiếng Hán -Việt (tù hãm, mưu toan, hạn kỳ tạm ngụ) chen với tiếng Việt ròng (dẫy, thoát, quẳng, xác sóng) nghe rất lạ tai. Nhưng nào có gì sai! Thú thật, tôi khoái. Rõ ràng là chữ nghĩa có thể làm thay đổi thực cảnh. Đúng hơn, nó làm ta thay đổi cách nhìn về thực cảnh. Người ta thường nhìn biển như là một cái gì mênh mông, to rộng, sâu thẳm (biển cả, biển tình…), nhà thơ nhìn biển như một vũng ao tù nhỏ bé, hạn hẹp nhốt những con sóng khiến phải quẳng chúng lên bờ như một “mưu toan”. Cách nhìn mới mẻ đó cho thấy lòng nhà thơ luôn luôn bức bối trước cái hữu hạn của hiện thực. Nó “lạ hóa” (defamiliarize)[xii] hiện thực. Có thể xem “lạ hóa” là một trong những chức năng đặc thù cùa văn chương, nhất là trong thơ. Và đặc biệt, thơ Tô Thùy Yên. Nhà thơ “lạ hóa” cảnh vật chung quanh chúng ta, “lạ hóa” luôn cả những ý tưởng siêu hình vốn đã được bao nhiêu nhà tư tưởng và triết gia bào đi bào lại đến mòn nhẵn cả ý nghĩa. Cao hứng, tôi xin trích dẫn thêm một đoạn thơ nữa, để xem TTY “lạ hóa” hiện thực đến mức nào. Đây là cảnh một bãi rừng hoang:

Dưới lũng, trên triền, nắng xếp nhỏ

Nước ròng sâu, sông lảng lảng xa

(…) Mông quạnh bãi phơi, vũng vướng mắc

Con cò lặng ngẩng lắng hơi thu

Xác cây gục hỗn mang cành rễ

Rừng đứng quanh đây, rừng tận đâu?

(…) Chiều bóc, bóc dần những rớt nắng

Loi ngoi nắm níu lũng triền xa (Chim kêu bãi quạnh)

Ấy: nắng xếp nhỏ, vũng vướng mắc, chiều bóc, bóc dần, loi ngoi nắm níu. Nghe thú vị có thua gì đọc một đoạn thơ tình! Còn nhiều, nhiều nữa. Cứ mỗi lần đọc lại thơ TTY, tôi lại khám phá ra một cái lạ khác. Tại sao? Có lẽ là vì chúng… lạ! Cũng có lẽ là vì nhà thơ quan sát kỹ, chế biến kỹ các chất liệu tiếp nhận và không dễ dãi với chính mình.

Trên đây là nói về tả vật, tả cảnh, tả người, những hiện thực bình thường. Sau đây, ta sẽ bàn về những tình thế (situations), về các biến cố (events). Cũng như mọi người thuộc lứa tuổi từ 50 trở lên, TTY sống qua 4 biến cố lớn: chiến tranh, chế độ Cộng Sản, những tháng ngày tù tội và đời sống lưu vong. Cuộc biển dâu đó (thơ TT nhắc nhiều lần về biển dâu, bằng nhiều cách diễn tả khác nhau) kéo hẳn nhà thơ ra khỏi không khí siêu hình thuần túy mà ông đắm chìm trong những tháng ngày tuổi trẻ khi đất nước đang tạm hưởng thái bình. Cũng là lẽ thường. Làm sao có thể đắm đuối trong cõi siêu hình khi thực cảnh chung quanh ta đảo lộn, ảnh hưởng đến từng bữa ăn, giấc ngủ, đến chuyện sinh tử của cả đời người. Từ chỗ đang rong chơi trên mây, con người bỗng rớt hẳn xuống đất, đụng chạm với muôn ngàn thực tế phũ phàng. Hàng ngày, hàng giờ. Dù có để tâm hồn mình bay bổng đến đâu, con người cũng bị buộc phải đối diện với hiện thực, đối phó với nó và giải quyết những vấn đề do nó gây ra. Nỗi đau, nỗi cô đơn siêu hình biến thành nỗi đau hiện thực. Hiện thực bây giờ không còn là thứ hiện thực dửng dưng mà có tính cách cưỡng bức. Cưỡng bức cuộc sống và cưỡng bức ý thức. Sau này, ta không hề thấy ông làm những bài thơ thuần suy tưởng như “Đãng tử” hay “Mòn gót chân sương nắng tháng năm”. Tất nhiên, không khí siêu hình vẫn lãng vãng đâu đó, nhưng hiện thực chế ngự hẳn thơ TTY.

  • Nói về cuộc chiến đã qua trên đất nước, TTY tóm tắt:

Nhớ xưa thiên địa làm ly tán

Anh em nhà không ngó mặt nhau

Người chạy về thành, kẻ nhảy núi

Dốc đời cho một cuộc chiêm bao

Trong tập “Thơ tuyển”, ông chọn đưa vào ba bài thơ chiến tranh, là “Qua sông”, “Anh hùng tận” và “Chiều trên Phá Tam Giang”. Bài “Chiều trên Phá Tam Giang” tuy cũng nói về chiến tranh, nhưng đề tài được mở ra trên một hướng rộng lớn hơn, sẽ được đề cập vào phần cuối. Hai bài kia giới hạn trong việc mô tả chiến tranh. Khác với hầu hết thơ của ông, trong hai bài này, các ý tưởng siêu hình hầu như biến mất. Ta không thấy những suy tưởng lang man về thời gian, trăm năm, cõi thiên thu, hữu hạn, vô hạn mà là “chật ních” những hình ảnh đặc thù của cuộc chiến. “Qua sông” vẽ nên một bức tranh thê thảm của chiến trường, “Anh hùng tận” cho ta một khung cảnh khác đậm đặc không khí Nam bộ (thấp thoáng hình ảnh anh hùng Lương Sơn Bạc) trong lúc “Chiều trên Phá Tam Giang” có tính chính luận, mang đậm nét miền Trung (và miền Bắc).

“Qua sông” tả lại cảnh chuyển quân tiếp viện qua một con sông vào một ngày mưa buồn. Người đông, đò thiếu, trời lại mưa, lính tập trung bên bờ hút thuốc, chuyện vãn. Mỗi người góp một chuyện dựng nên một bức tranh chắp vá sinh động về cuộc chiến mà từng người đã và sẽ phải tích cực (nhưng miễn cưỡng) dự phần. Đây là khung cảnh chiến trường nơi mà đồng đội của họ hy sinh:

Tiếp tế khó – đôi lần phải lục

Trên người bạn gục đạn mươi viên

Di tản khó – sâu dòi lúc nhúc

Trong vết thương người bạn nín rên

Người chết mấy ngày chưa lấy xác

Thây sình, mặt nát, lạch mương tanh (Qua sông)[xiii]

Xác nào may mắn lấy được thì:

Áo quan phong quốc kỳ anh liệt

Niềm thiên thu đầm cỗ xe tang

Quê xa không tiện đường đưa tiễn/Nghĩa tận sơ sài đám lạnh tanh

(Qua sông)

Họ say sưa kể chuyện về cái chết của đồng đội trong lúc mường tượng bóng mình trong số đó, nên khi theo đơn vị qua sông đến nơi trấn nhậm (cũng là chiến trường):

Xuống đò, đời đã bỏ quên…

Một sông nước lớn trào lên mắt ngời.

“Anh hùng tận” dựng một khung cảnh hoàn toàn khác: một buổi dừng quân. TTY mô tả một cách chi ly một buổi dừng quân điển hình trên sông nước miền Tây Nam Bộ:

Dựng súng trường, cởi nón sắt

Đơn vị dừng quân trọn buổi chiều

Trọn buổi chiều, ta nhậu nhẹt

Mồi chẳng bao nhiêu, rượu rất nhiều

Đây ngã ba sông, làng sát nước

Xuồng ba lá đậu kế chân bàn

Trời mới tạnh mưa còn thấp ướt

Lục bình mây mỏi chuyến lang thang

(Anh hùng tận)

Những người lính nhậu nhẹt tưng bừng, vui vẻ y như bất cứ một buổi nhậu bình thường nào:

Tiếng hò mời dzô, dzô tở mở

Muỗi thủy triều chừng cũng dạt ra

(…) Ta chắt cho nhau giọt rượu sót

Tưởng đời sót chút thiếu niên đây

Nhưng chính cái bình thường đó lại để chuẩn bị và chờ đợi những gì không bình thường nhất của chiến tranh:

Giờ cất quân, đưa tay bắt

Ước cõi âm còn gặp để say

Bên kia cái bắt tay, chỉ còn một điều khả dĩ: cái chết. Một ước mơ lạ lùng, phi lý mà lại không kém phần hiện thực: tiếp tục cuộc nhậu ở chốn tuyền đài. Khôi hài và bi tráng đến thế thì thôi!

Gẫm lại về chiến tranh, nhà thơ tự hỏi:

Sao để xô vào một chương hồi lịch sử hỗn mang?

Đáng xé vứt?

Sao chịu bịt mù hồn, chơi sinh tử quái đản

Nam quân, Bắc quân trời sai tru diệt nhau?

Tàn trận, ngồi sảng hoàng giữa bãi xác bạn thù

Khóc loạn trí

Chính nghĩa nào thay được mạng người đây?

(Hành giả âu sầu)

  • Sau năm 1975, khi Cộng Sản chiếm được miền Nam, với một chính sách chuyên chế khắc nghiệt, đất nước trải qua những tháng năm dài bi thiết. Nhất là đối với những người thuộc phe thất trận. Họ gánh chịu hết mọi thứ oan khiên của cuộc sống. Đói, nghèo, áp bức, tù tội, trả thù, giết chóc. Kẻ lên voi, người xuống chó, người ở tù, kẻ tìm đường vượt biên. Đã thế, lại còn thiên tai dịch bệnh liên tiếp đổ xuống. Cả một miền Nam chừng như tan vỡ. Hiện thực đó được TTY ghi nhận một cách sắc nét qua nhiều bài thơ, trong đó có bài rất dài: “Mùa hạn”. Thơ đề cập từ khung cảnh chung đến riêng, từ nỗi đau của toàn thể dân tộc đến nỗi đau riêng của từng cá nhân. Dù thỉnh thoảng tác giả chen vào một số ẩn dụ, hoặc hình ảnh cổ điển, nói chung, toàn bài là một bức tranh vô cùng hiện thực, qua cái nhìn của một người thuộc phe thất trận.

Sông hồ nẻ đáy, giếng vô vọng

Muông thú điên lầm lũi bỏ đàn

Dân làng lũ lượt kéo lên rú

Lùng sục đào khoai củ đã khan

Côn trùng kiệt sức lìa hang ổ

Lên chết thiêu trên mặt đất hừng

(…) Người mẹ trẻ buồn đôi mắt trũng

Thân gầy nhom, tóc cháy, da cằn…

Địu con, một dúm thịt nhăn nhúm

Ra ruộng khê tìm mót cái ăn

Thân phận người thắng, kẻ thua:

Kẻ mới tới bày tòa giữa chợ

Giải người ra, sỉ mạ ba đời

Cho đeo bảng, dong đi khắp phố

Bắn bỏ bên đường, cấm nhận thây

Chĩa súng đuổi người ra khỏi đất

Đày đi biền biệt miệt thiên thu

Đuổi cả người chết ra khỏi mộ

Cày nghĩa trang, trả vói thâm thù

(Nỗi đợi)

Trả vói thâm thù! Chữ “vói” hay quá, như trùm cả đoạn thơ.

  • Là kẻ thua, tác giả – một thiếu tá trong quân đội VNCH – phải đi ở tù. Chuyến tàu chở tù đi đày ra miền Bắc, trong đó có tác giả, được mô tả một cách sắc nét qua bài “Tàu đêm”. Khác hẳn với khái niệm và hình tượng của những chuyến tàu mà ta có từ xưa đến nay, “Tàu đêm” không có cái nhẹ nhàng của những tiễn đưa, không có cái buồn lãng đãng của những chia xa và gặp gỡ, không có cái bâng khuâng, nao nức gợi nên từ tiếng còi tàu. Cũng như “Mùa hạn”, đó là một bức tranh sống động về khung cảnh hòa trong tâm trạng vô cùng đặc biệt của những kẻ bị đi đày, hoàn toàn không biết sinh mệnh sẽ về đâu:

Tàu đi. Lúc đó, đêm vừa mỏi

(…) Tàu rú. Sao ơi, hãy thức dậy

Vâng, tàu rú. Tàu chạy như một cơn giông lửa, như một cơn điên đảo, nó khoan xoáy sâu đêm thép với tiếng nghiến ghê người thác lửa sa. Còn trong tàu là gì?

Toa nêm lúc nhúc hồn oan khốc

Đèn bão mờ soi chẳng rõ ai

– Ngồi đây giữa những phân cùng bụi

Trong chuyển dời xung xát bạo tàn

Ta trở thành than thành súc vật

Tiếng người e cũng đã quên ngang

Khách đi tàu là:

gã tù lưu xứ

Xí xóa đời ta với đất trời

Trong hoàn cảnh đó, cảm giác của tác giả là:

Ta nghe rêm nhói thân tàn rạc

Các thỏi xương lìa đụng chỏi nhau

(…) Dường như ta chợt khóc đau đớn

Lệ nóng cường toan cháy ruột gan

Trong trại tù (cải tạo):

Buổi trời đất bất minh

Người chưa đủ sáng thành người

Những đồi nổng khai hoang dăm tháng trước

Qua mùa đông, đã nổi chật mồ tù.

Chiều bầm máu thảm thiết/Bãi ao tối nghịt rừng nhân dạng trần truồng (Hành giả âu sầu)

Tất cả những nhọc nhằn, đau đớn của thân phận tù đày được tác giả trút hết trong bài thơ lục bát “Hái rau”, nghe không khác gì truyện Kiều:

Núi vây, trời hẹp, ngày mau

Liều đau đến điếng, nguôi đau ít nhiều

Hái nhanh cho kịp trời chiều

Ấy mê, ấy tỉnh, cỏ nhiều hơn rau

(…) Cám ơn rau của đất trời

Hẩm hiu chưa cả được đời đặt tên

Và dẫu vô cùng đau xót, uất hận, tác giả cũng nhiều lúc lắng lòng mình lại, phơi mở với tương lai bằng một ước mơ thuần hậu:

Ta nhặt từng trang sách rách toang

Đứa ngu đã xé vứt ra đường

Ta gom từng hạt cây luân lạc

Mong mỏi gầy lên một địa đàng (Mùa hạn)

Nhưng rốt cuộc, mơ ước cũng chỉ là mơ ước. Ra khỏi tù, lại phải bỏ nước ra đi:

Khuya đó, anh lên đường

Từ bỏ căn nhà

Từ bỏ quê hương…

(…) Anh đếm từng ngày còn ở lại quê hương

Tim bóp thắt

(…) Anh ra đi/Bứt ruột mà đi (Giã biệt)

Lưu vong. Tâm hồn lại thêm một lần tan nát. Sống như cái sống của một người xa lạ.

Nước Mỹ này quá rộng và quá buồn

Anh không còn muốn tự định liệu

Tốc độ cao gài cố định mặc

Đường trường lái băng đêm

(…) Ghé lại một trạm xăng, một hàng fast food hay một rest area

Đây là đâu?/Đây cũng là đâu đó vậy

Dấp nước đầu, cổ, mặt. Tỉnh tỉnh lại với đời…

Và trong những khoảnh đèn khoét đọng lẻ quạnh

Nhìn chút đỉnh những con người

(…) Chạy rề qua những cổng toll way

Ném dúm đồng tiền vào rổ đợi

Nghe lăn nhanh chuỗi âm thanh mơ hồ va bạt hoang mang (…)

…nhìn vẻ mặt người thu tiền uể oải

Hờ hững tiếng cám ơn

Chừng nỗi đời quá nhạt nhẽo (Đường trường đêm)

Khác với hơi thơ da diết trong “Ta về”, toàn bài “Đường trường đêm” là một cố gắng diễn tả cái nhạt nhẽo khi sống ở Hoa Kỳ một cách rất nhạt nhẽo, qua hình ảnh và tâm trạng cũng… nhạt nhẽo khi lái xe trên xa lộ ban đêm.

Trên đây, với đầu óc phân tích, tôi đã cố xẻ thơ của TTY thành những phần khác nhau. Y như thể chúng vốn dĩ như thế. Và phải như thế. Thực ra, một bài thơ – hay ngay cả một câu thơ – là một cái gì hoàn chỉnh tự nó. Dù hay dù dở, nó là một chỉnh thể. Không siêu hình. Cũng chẳng hiện thực. Nói cho đúng, không khí thơ TTY thấm đẫm những khắc khoải siêu hình trong khi vẫn không tách khỏi thế giới tục lụy của hiện thực cuộc sống. Nhà thơ đứng dạng chân giữa hai thế giới (có vẻ như) khác biệt hay như thể đối nghịch nhau. Khi ông nhìn, ông nghe, ông chứng kiến sự vật chung quanh, thì đồng thời tâm hồn ông cũng bay bổng tới một thế giới khác siêu vượt lên trên hiện thực. Thế giới quanh ông hiện diện như những dấu hỏi muôn thuở. Ông tìm thấy trong mỗi một hiện tượng, mỗi sự vật đều cưu mang khắc khoải của chính mình. Nói như Nguyễn Hưng Quốc, “Hình ảnh của Tô Thùy Yên hiện ra trong thơ bao giờ cũng là hình ảnh một người đầy ưu tư, đầy khắc khoải. Có thể nói thơ Tô Thùy Yên là một chuỗi đồi thoại lặng lẽ và triền miên giữa ông và lịch sử, giữa ông và thiên nhiên”[xiv]. Mọi xuất hiện của một hiện tượng hay sự vật đều không tự nhiên, không dửng dưng mà trái lại đều biểu hiện cho những “thái độ”. Mô tả những rễ cây, ông viết:

Rễ bung còn gượng cuộc tồn sinh

Rễ bung là một hiện tượng, còn gượng ngầm chứa một thái độ: chống chỏi với định mệnh, chống chỏi để tồn sinh.

Mô tả cây xương rồng:

Ngưỡng mộ cây xương rồng gắng gượng

Thân trần đứng lẻ giữa đồng trơn

Cây xương rồng là một hiện hữu, một nỗ lực. Nó kiêu hãnh y như nỗi kiêu hãnh nghịch lý của con người:

Ta lớn lao và ta cô đơn.

Hay:

Những cánh hoa trên đồng chói lọi

Cũng xui phù thế ngậm ngùi thân.

Những cánh hoa chói lọi mà cũng “ngậm ngùi”. Chính cái chói lọi ấy lại chứa đựng nỗi ngậm ngùi! Khi nhìn biển ở vùng hải phận:

Anh sống làm quen cùng cái chết

Liếm lấy mặn mà trên đau thương

Chìm mãi xuống em và mất tích

Như mặt trời rã trong nước loang

Cảnh vật, sự vật hóa thân thành người. Như thế, càng tiếp cận với hiện thực chừng nào, thì nỗi xao xuyến siêu hình càng tràn trề trong ông. Nhà thơ nhìn, nhà thơ ngó thấy và rồi nhà thơ suy gẫm về những điều trông …xa lắc, có vẻ như chẳng dính líu gì đến thực cảnh:

– Ta nhìn ngọn cỏ, lòng mê mẩn

Nghĩ tới đời ràn rụa thâm ân

– Nước mắt ta tuôn khi nghĩ tới

Những người đã chết, chết như rơm

– Ta ngắm gốc cây nứt nở vỏ

Gốc cây to đến mấy người ôm

Nghĩ tới bao điều thầm lặng lớn

Trí ta không đủ lực đo lường.

– Trăng, bạn hiền xưa giờ tái ngộ

Ta thức đêm nay chơi với trăng

Nghĩ tội thương sau này, mãi mãi

Quanh mồ ta, trăng phải lang thang

– Ta ngó thấy thùy dương gẫy rũ

Từng cây như nỗi bất an già

Ta ngó thấy rào chà cản nước

Từng hàng như nỗ lực lao đao

Trong những bài thơ thuần triết lý thuở đầu như “Đãng tử”, “Mòn gót chân sương nắng tháng năm”, “Hề, ta trở lại gian nhà cỏ”, vân vân, TTY dùng các hình ảnh hiện thực để triển khai những ý niệm siêu hình: Cánh đồng, con ngựa, chuyến tàu, gió sửa soạn, gió thật xưa, mây vô sử, mây già nua, Thuận tay ta ngắt một cành sậy, làm cây sáo thổi cạn hồn sầu/Các “vương tôn miền trí tuệ” (triết gia)/Con chim thoát xác thành cơn mộng, bay liệng dài trên trí nhớ không, vân vân. Nói một cách khác, chim chóc, mây, mưa, ngày tháng…chỉ là những ẩn dụ. Ông mượn tạm chúng để mô tả cái thế giới nằm bên ngoài thực tại, thế giới của những ý niệm.

Sau này, ông rời bỏ hẳn thế giới ý niệm để tìm về hiện thực, dùng kinh nghiệm tiếp cận hiện thực để phóng rọi đến thế giới siêu hình. Bởi thế, ta không ngạc nhiên, trong bất cứ hoàn cảnh nào (khi bình thường cũng như khi chiến tranh, khi bị đi tù, khi tuyệt vọng, khi hy vọng, khi cô đơn, khi đi với người tình, khi trở về sau những ngày ở tù), nhà thơ cũng nhảy phóc từ thế giới bình thường đến thế giới siêu hình. Ông đưa hai thế giới đó tiếp cận nhau. Có lẽ đó là đặc điểm nổi trội trong thế giới thi ca TTY. Một sự tiếp cận như thế rất ít chỗ cho cảm hứng, rất ít chỗ cho “bảy bước làm thơ”. Bước nhảy phóc đó, thực ra, chính là sự nối dài của một ý thức đậm đà chất thơ. Đọc thơ TTY, ta vừa cảm thấy ông đưa ta đi sâu vào thế giới ý niệm cùng những liên tưởng, lại vừa cảm thấy đắm mình trong thế giới thơ chứ không phải thế giới của luận lý.

Xuyên suốt cõi thơ TTY, ta luôn luôn bắt gặp một con người loay hoay nhìn sự vật, cảnh vật chung quanh cũng như lặn sâu tận cùng tâm thức con người (thao thức, băn khoăn, ước mơ, phẫn hận, mộng tưởng…) bằng một cái nhìn kinh ngạc về bản chất của chúng. Thân xác ông ở đó (nhìn, nghe, cảm) nhưng tâm thức như bay vút mênh mang trong cõi trần thế mênh mông và chập chùng trong thời gian hư ảo. Ông đi sâu vào quá vãng để chẳng tìm thấy gì; rồi ngày ngày ra bãi vắng vời trông chỉ để thấy bất cứ điều chi cũng mất hút giữa mịt mùng; ông nhìn ngọn cỏ lòng lại mê mẩn, nhớ tới đời ràn rụa thâm ân; ông ngắm gốc cây mà đầu thì nghĩ tới bao điều thầm lặng lớn; đi với người yêu, em nhón chân lên hôn, ông lại thấy đang ở giữa cõi thực hư và bàng hoàng vì hai người chẳng khác gì hai hạt cát/Từng rời xa trôi dạt những thiên thu; ông giã biệt quê hương ra đi (thay vì chỉ mong thoát khỏi chế độ CS) thì lại cầu sao cho thoát được bộ da đó của mình/Đánh lạc hướng truy tầm của định mệnh; giữa chiến trường, ông thấp thỏm nhớ người yêu ở Sài Gòn (không nhớ như bình thường) mà yêu nuối tuổi hai mươi, thấy tình yêu như vận hội tàn đời vì nó là bằng chứng huy hoàng của thất bại (Chiều trên Phá Tam Giang); ông thích đi tới (không phãi để tới đích nào đó) mà tới rồi đi, miết miết…/Lòng không cùng, chốn tới biết là đâu (Ánh tàn dư); đất nước tao loạn, nhiễu nhương, cũng như mọi người, ông đợi, một nỗi đợi: Ta đợi nghe chừng thiên cổ mỏi/Hàng hàng thân trụ đứng hư hao; được thả từ về trại tù, (thay vì hân hoan, sung sướng vì được gặp lại gia đình) ông cảm thấy “như bóng ma hờn tủi/Lục lại thời gian kiếm chính mình (Ta về); chú ý đến chi tiết rất vụn vặt như ngấn nước đục khoen lem cỏ sậy, ông thắc mắc: Lưu mà chi chỉ dấu phù hư?; nhìn sóng biển, ông chỉ thấy sóng thì khóc mà biển thì tang cheá vì hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi; về thăm lại vườn xưa, nằm nghe tiếng thủy triều rút xuống bậc bậc sầu, tiếng mõ chùa thì khô khốc khốc để rồi gẫm ra tất cả chỉ là u minh ngày tháng bóng lao đao; trên chuyến chở tù đi đày biệt xứ, khi nghe con tàu ruù như một cơn điên đảo, khoan xoáy sâu đêm thép, ông lại tưởng chừng nghe thời đại động và lịch sử dường như rất vội vã khiến cho thời đại đang đi từng mảng lớn; nhìn hòn đá, nhà thơ cho là đá giú mộng trong lòng và thắc mắc Đá rõ điều ta muốn rõ không?

Hơi thơ ông chênh vênh, mấp mé ở bờ thực-hư: Trong từng cái thực, ông luôn luôn tìm thấy vô số những điều hư , trong từng sự kiện, ông luôn luôn tìm thấy bóng dáng của thân phận, của số mệnh, mỗi hữu hạn, ông tìm thấy cái vô cùng. Mỗi một hiện hữu y như thể đều phản ảnh một thế giới ảo nào đó mà ông không thể nào hình dung rõ ràng:

– Thoáng nhớ có lần ta đọc trộm

Lược sử ta trong bí lục nào

Văn nghĩa mơ hồ không hiểu trọn

Thiên thu lóe tắt vệt phù du (Đãng tử)

Ta mò đoán nghĩa dòng hư tự

Mòn nét trong thiên địa ngập ngừng

(Và rồi tất cả sẽ nguôi ngoai)

Tính chất pha trộn đó hầu như trải đều trong tất cả các bài thơ của ông. Ở đâu, ta cũng thấy ông nỗ lực tối đa vận dụng ngôn ngữ để vừa giữ tính chất suy tưởng mà vẫn không làm đánh mất chất thơ và không xa rời hiện thực. Chúng lang bang, khơi mở, tự tại. Đặc biệt ở một vài bài, tôi nhận thấy thơ TTY có một cấu trúc hoàn chỉnh, mang tính luận đề, trong đó nhà thơ đặt vấn đề. Với thế giới. Với chính mình. Cũng là để đặt vấn đề thôi.

Chẳng hạn như trong bài “Hung hãn nỗi đời bất tận đó”, nhà thơ đặt vấn đề về nền văn minh. Nếu “Ta về” cho ta cái ngậm ngùi thê thiết, “Tàu đêm” cho ta cảm giác nặng nề, bức xúc, “Mòn gót chân sương nắng tháng năm” cho ta những suy tưởng triết lý mênh mang thì bài thơ này chứa đựng cái sôi nổi, thống thiết của một cuồng nộ siêu hình. Chữ rượt đuổi, xô đẩy chữ, câu rượt đuổi câu, trượt từ hiện thực đến siêu hình với vô số hình ảnh, ý niệm và biểu tượng đan xen nhau. Đó là một tiếng kêu thống thiết về hậu quả tàn phá của nền văn minh, về ảo vọng của con người muốn thiết kế thiên nhiên theo dự tính chủ quan của mình. Con người đã tàn phá rừng cây xanh để trồng cao su với những con đường thẳng lối ngay hàng:

Ôi những rặng cao su thẳng lối ngay hàng

Ngang dọc cắt nhau ùa về vô cực điểm

(…) những con đường phân định mỗi lô cây

Những con đường đất máu

Những con đường, nườm nượp những con đường

và xây những khu chung cư:

Ta đã nhìn thấy nơi cửa rừng bảng sơ đồ thiết kế

Hứa biến khu vực này thành một kiểu mẫu chung cư

Như bản tuyên cáo bi hùng của Tương Lai dõng dạc:

Nơi đây loài người sẽ tiến bộ, sẽ đi lên

Cứ như thế, vì tiến bộ và văn minh, hết khu rừng này đến khu rừng khác sẽ biến mất. Nhà thơ tưởng tượng rồi ra tất cả những ngôi thiền viện thâm u sẽ được biến thành những căn nhà điện sáng trưng cùng với “toàn bộ giáo lý sắc không” sẽ được viết lại; những ngôi mộ đá lâu đời sẽ được sắp xếp thành “một nghĩa trang tân thời”, không còn cây xanh, không còn thiên nhiên nguyên thủy:

Chúng ta sẽ gia giáo hóa thiên nhiên/ Chúng ta sẽ đồng loạt hóa Định Mệnh

Đó là một cố gắng vô vọng, vì con người chỉ là vết lóe của Thiên Thu/Con số không bao trùm vũ trụ. Hắn khổ đọa chung thân vì đã ngông cuồng, liều lĩnh muốn vô hạn hóa hạnh phúc vốn là cái bất định. Bài thơ được kết thúc bằng cách lập lại một lời than thống thiết đưa vào từ đầu bài

Ôi những rặng cây mang án tử hình treo!

Có thể xem nhà thơ là một thành viên tích cực của Đảng Xanh (Green Party)[xv] chăng? Những lời tiên tri của nhà thơ đều đã trở thành hiện thực hết. Cứ nhìn những tòa cao ốc, những con xa lộ dài vô tận, những ngôi chùa, ngôi đền thờ hiện đại, đèn điện sáng choang, những nghĩa trang tân thời, những…vân vân trên khắp thế giới, thì biết. Bao nhiêu rặng cây không còn được mang án tử hình treo nữa. Chúng đều đã lên ghế điện hết cả từ hồi nảo hồi nao! Riêng tôi, mỗi lần nhìn một ngôi chùa đẹp đẽ mới mọc lên với đầy đủ những tiện nghi văn minh cần thiết, mắt nhìn rất thích nhưng lòng cứ thấy… ngậm ngùi, nghĩ tới những rặng cây đã bị kết án tử hình oan uổng! Và nhìn những khu rừng xanh, là thấy chúng đang mang án tử hình treo.

Một bài khác, “Chiều trên Phá Tam Giang”, đặt vấn đề về chiến tranh, tình yêu và thân phận con người trong dòng trôi nghiệt ngã của lịch sử. Từ một trận chiến, nhà thơ liên tưởng đến bản chất của chiến tranh. “Nghĩ cho cùng”, tác giả tự hỏi, những nỗ lực chiến đấu của cả hai phe, dù nhân danh gì đi nữa, cùng gom góp lại/Mặt đất này đổi khác được bao nhiêu?, và rồi tự trả lời: cả hai cùng cam phận quay cuồng và cùng mắc đường Lịch Sử. Nó khiến cho tình yêu trở thành yêu nuối tuổi hai mươi, thứ tuổi mà những giấc mộng đua đòi rồi ra sẽ rơi rụng dọc đường lên dốc tuổi. Nó khiến cho những con người tham gia trong bộ máy chiến tranh phải lỡ độ đường/Trên mịt mùng nghi hoặc và tuổi thanh xuân thì mất tích. Buồn, đau, giận mà thực ra tất cả chỉ là:

Gió muôn năm thổi lẽ tuần hoàn

Cho cỏ cây thay đời đổi kiếp

Một trò ảo hóa, trong đó con người rút cục, chỉ là một “gã hề cuồng”:

Như gã hề cuồng mưu sinh giữa chốn đông người

Với từng ấy tấn tuồng bần tiện

Rút ra từ lịch sử u mê

Bài thơ kết thúc một cách rất tôthùyyên:

Chiều trên Phá Tam Giang

Có gã hề cuồng buông tiếng cười lạnh rợn

Khiến bầy ác thú mà lịch sử sanh cầm cũng chợt hãi hùng

Dớn dác ngó.

Dớn dác ngó. Có lẽ chưa có bài thơ nào kết thúc một cách lạ lùng như thế: ba từ trắc, rất nôm na, rất không thơ tí nào! Nghe hụt hẫng. Thì thế, chiến tranh và lịch sử làm sao mà thơ cho được! Chiến tranh là bước hụt hẫng của con người. Bước vào chỗ vô nghĩa.

“Thức giấc trong phòng biệt giam” đặt vấn đề con người trong lịch sử qua hình ảnh một tù nhân (là chính tác giả) trong một nhà tù biệt giam:

Phòng biệt giam tối mốc thấp hẹp

(Ta ở đây. Hơn bảy tháng rồi)

Cánh cửa sắt nặng nề sừng sững.

Sáu diện tích xi măng khuôn áp hãm đè.

Trong sự cô lập, người tù TTY:

Ước lượng thời gian

Như mò tìm một khe hở bất ngờ

Trên trường thành dằng dặc những thiên thu.

Ông suy gẫm về bản chất của lịch sử:

Lịch sử dường như đã ngất lả

Sau những liên hồi vật vã điên cuồng

(…) Lịch Sử đổi phiên người gác ngục

Lúc giày đinh, lúc dép râu.

Nhìn những dòng chữ ghi lại trong xà lim viết bằng chữ, bằng than và hình như bằng cả máu của bao nhiêu người tù đi trước, ông đẩy suy gẫm đi xa hơn nữa, đó là:

những nỗ lực tuyệt cùng lưu hậu bản thân

Đang khốc liệt đương đầu những bất trắc dập xóa

Như những mưu toan vô vọng ra khỏi chính mình

Trốn chạy dày vò

Của những người ở trước.

Một diễn đạt cực kỳ bi thiết về thân phận của tù nhân, ăm ắp hiện thực mà rất sâu, rất xa trong cõi suy tưởng thâm trầm. Nhìn từ bên ngoài, hình ảnh tù nhân, nhất là những tù nhân bị biệt giam hay tử hình hay chung thân hay không có án, là hình ảnh của thân xác tiều tụy, mặt mày lờ đờ thiếu đói, tuyệt vọng, bi thương. Nhưng bên trong mỗi người là một thế giới sôi động, sôi động ngày đêm, là những “nỗ lực tuyệt cùng”, là “khốc liệt đương đầu”, là những “mưu toan”. Một cuộc chiến đấu liên lỉ. Để làm gì? Để tồn tại. Ít ra là tồn tại với chính mình. Nhà thơ, từ đó, liên tưởng tới bao người đi trước, trong đó có bà con dòng họ mình, đã từng ở tù như thế. Ở tù, rốt cuộc, cũng là bước tiếp nối. Một tiếp nối nghiệt ngã. Anh ta:

Đi tới đi lui

Trăm lượt nghìn lần

Như một hồn ma cổ đại

Trong hầm mộ muôn đời

Rồi nằm xuống:

Dỗ mình hãy cố ngủ

Tập quen dần với giấc thiên thu.

Lại thiên thu, một khái niệm về thời gian bất định.

Cả ba đều là những bài thơ xuôi – đầy hiện thực và nặng những suy gẫm siêu hình – là một cách diễn đạt khác rút ra từ những “Đãng tử”, “Tưởng tượng ta về nơi bản trạch”, hay nói khác đi, hiện thực hóa “Đãng tử”, “Tưởng tượng ta về nơi bản trạch”, vân vân. Với một giọng thơ hết sức đặc thù, khi thì xôn xao, sôi động với thứ ngôn ngữ (có vẻ) rất chính luận, khi thì lắng xuống thâm trầm, khi lại nhuốm đầy vẻ “u mặc”, trửng giỡn, trào lộng – theo tôi – là biểu hiệu cao nhất của tài năng TTY.[xvi]

Chữ nghĩa và tri thức đã tổng hợp nên Tô Thùy Yên. Với cách sử dụng chữ nghĩa độc đáo, tân kỳ và sáng tạo[xvii], TTY đã mở ra nhiều cánh cửa của hiện thực. Cũng con sông đó, cũng biển đó, cũng trời đất đó, nói chung là cũng những sự vật đó, TTY đã cho ta thấy nhiều hình dáng khác của chúng, lạ lùng và thú vị. Đồng thời ông mở ra nhiều cánh cửa từ những ý niệm triết học vốn đã bị đào xới mòn nhẵn nghe đến chán chường qua hàng ngàn năm nhân loại suy tưởng. Ai mà chẳng biết vô hạn, hữu hạn, biến dịch, tuyệt đối, chân lý … TTY cũng lập lại chúng, nhưng lập lại một cách khác, choàng lên chúng những khuôn mặt mới, dịu dàng và thơ trẻ hơn. Kiến thức ông chín và sâu, được tiêu hóa đàng hoàng để hóa thành những thi-triết ảnh tươi mươi, sống động. Nhiễm chất thơ, nên thay vì đẻ ra những luận chứng siêu hình ngột ngạt đưa đến những tranh cãi hoài hoài không dứt – kéo dài cả mấy ngàn năm và vẫn còn tiếp tục – thì chúng mang lại cho ta những tuyệt vọng ngọt ngào của cuộc nhân sinh, khiến cho nỗi tuyệt vọng đôi khi cũng lấp lánh, tinh anh như niềm hy vọng.

Phải chăng, đó cũng chính là cùng đích của nghệ thuật?

TRẦN HỮU THỤC

(2005)

[i]Để cho gọn, trừ trường hợp đặc biệt cần nhấn mạnh một điều gì đó, tôi sẽ dùng chữ tắt “TTY” thay thế cho “Tô Thùy Yên” trong toàn bài viết này.

[ii] Nguyễn Mạnh Trinh, Phỏng vấn Tô Thùy Yên, tạp chí Hợp Lưu số 24, tháng 8&9/1995, tr. 162. Đây là một bài phỏng vấn rất hay, qua đó, NMT và TTY đã trao đổi rất nhiều điều về thơ: quan niệm của TTY về thơ, cách làm thơ, yếu tố vần điệu, chữ nghĩa, kiến thức… Bài phỏng vấn cũng đưa ra nhiều thông tin về tạp chí Sáng Tạo mà TTY là một trong những thành viên trong ban chủ trương. Theo tôi, những ai muốn tìm hiểu về thơ TTY, không thể không đọc thêm bài phỏng vấn này.

[iii] Nguyễn Hưng Quốc, “Thơ, V.V… Và V.V…”, nxb Văn Nghệ (California) 1996, tr. 192

[iv] Bùi Vĩnh Phúc, “Lý luận và Phê Bình – Hai mươi năm văn học Việt ngoài nước 1975-1995”, phần “Tô Thùy Yên: Thơ, như một vinh dự lầm than của kiếp người”, nxb Văn Nghệ (California) 1996, tr. 395-396

[v] Về cách phối trí từ ngữ, tức là chọn lựa và kết hợp, tác giả Bùi Vĩnh Phúc phân tích khá kỹ. Xem Bùi Vĩnh Phúc, sách và bài đã dẫn, tr. 378,379,380

[vi] Ngôn ngữ Phật Giáo, có nghĩa là: điều-không-thể-nghĩ-bàn

[vii] Nguyễn Hưng Quốc, sđd, tr. 192

[viii] Để hiểu rõ hơn quan điểm của TTY về vấn đề cảm hứng, xin trích lại đây ý kiến của ông phát biểu trong bài phỏng vấn “Làm thơ, cũng như làm bất cứ thể loại nghệ thuật nào khác đương nhiên đòi hỏi trước tiên phải có cảm hứng… (…) Tuy nhiên, nghĩ cho cùng, cảm hứng đó do đâu mà phát sinh, nếu chẳng phải từ những nung nấu trường kỳ đến mức đã trở thành những ám ảnh một đời của tác giả. Bản thân tôi không tin là có thể có những cảm hứng ngẫu sinh. Dĩ nhiên bài thơ thành hình không chỉ thuần với cái cảm hứng đầu tiên khai ngộ đó. Từ cái cảm hứng đầu tiên khai ngộ đó đến cuối bài thơ được hoàn thành, với tôi, luôn luôn là một con đường xa vợi, nhọc nhằn lắm khi tuyệt vọng ê chề vì lực bất tòng tâm”, dẫn theo “Phỏng vấn Tô Thùy Yên”, Nguyễn Mạnh Trinh, bđd, tr. 164

[ix] Có lần TTY nói với tôi: người sáng tác, theo tôi, phải có cái vision (tầm nhìn) lớn

[x] Hai từ triết lý và siêu hình dùng trong bài này có thể làm cho một số người đọc phân vân. Xin được giải thích như sau: Triết lý, tiếng Anh là philosophy, nguyên gốc từ tiếng Hy Lạp (philo và sofia), có nghĩa là “yêu sự khôn ngoan” (love of wisdom). Sau này, từ triết lý được sử dụng rộng rãi để chỉ sự theo đuổi các nghiên cứu có tính chất lý thuyết về những vấn đề liên quan đến cuộc nhân sinh như cái sống, cái chết, bản chất của sự vật, vấn đề chân lý, vấn đề khoa học, hiện sinh và từ đó phát sinh ra nhiều phạm trù khác nhau như: thời gian, không gian, các giá trị, vấn đề tuyệt đối, vân vân. Siêu hình học, metaphysics, nguyên gốc tiếng Hy Lạp là “ta meta ta physika”, có nghĩa là “những tác phẩm xuất hiện sau các tác phẩm viết về vật lý (physics) của triết gia Aristotle. Như thế, meta-physics chỉ có nghĩa đơn thuần là “sau-physics”. Nhưng về sau, các học giả phương Tây sử dụng nó với ý nghĩa mở rộng, có nghĩa là nghiên cứu những vấn đề siêu vật lý (trans-physical), tức là vượt lên trên những gì quan sát được. Trong trường ốc, người ta thường phân loại triết lý ra thành tâm lý học, luận lý học, đạo đức học, siêu hình học, vân vân. Như thế, siêu hình học là một bộ môn của triết lý. Trong bài này, do phạm vi giới hạn của đề tài, tôi sử dụng cả hai từ triết lý và siêu hình lẫn lộn nhau, đều ám chỉ một số ý niệm (cũng như niềm tin) căn bản về bản chất của sự vật như vấn đề tồn tại, hiện sinh, không gian, thời gian, lịch sử, chân lý…, tóm lại, là những gì không thể kiểm chứng được bằng thực nghiệm. Do đó, chúng khác biệt hay đối lập với hiện thực là những gì xảy ra trong thực tế, có thể nhận biết được bằng các giác quan. Tuy nhiên, từ siêu hình dùng ở đây không liên quan gì đến phong trào siêu thực (surrealism), là một lý thuyết sáng tác nghệ thuật dựa trên vô thức, do André Breton (Pháp) sáng lập vào đầu thế kỷ thứ 20.

[xi] Nguyễn Mạnh Trinh, Hợp Lưu số 24, bài đã dẫn, tr. 167

[xii] Dẫn lại theo Nguyễn Hưng Quốc, sđd, tr. 85

[xiii] Nguyễn Hưng Quốc phân tích bài “Qua sông” một cách khá thú vị. Xem NHQ, sđd, tr. 143-147

[xiv] Nguyễn Hưng Quốc, sđd, tr. 192

[xv] Một phong trào chủ trương bảo vệ môi trường thiên nhiên, chống lại các dự tính làm ô nhiễm môi trường, xuất phát từ các nước kỹ nghệ phương Tây, hiện nay có mặt trên hầu hết các nước trên thế giới.

[xvi] Thường người ta chỉ nhớ “Qua sông”, “Mùa hạn”, và đặc biệt “Ta về”. Ngay cả bài “Chiều trên Phá Tam Giang”, người ta cũng thích nhớ vài đoạn, mà không lưu ý đến bài thơ như một tổng thể. Trần Thiện Thanh phổ nhạc, chỉ đưa vào một đoạn nói về tình yêu, biến bài thơ thành một bài tình ca. Đáng tiếc! Nhưng cũng đành chịu thôi, vì không thể phổ một bài thơ dài và đa dạng như vậy trong một bản nhạc giới hạn. Vả lại, dường như những gì khác cũng không mấy phù hợp với sở thích của nhà nhạc sĩ này chăng? Riêng tôi, tôi thú vị nghe nhà thơ quá cố Cao Đông Khánh và nữ nghệ sĩ Phan Dụy diễn ngâm bài thơ này (trong nhiều bài khác, cũng của TTY, băng Cassette “Thơ Tô Thùy Yên”, Cao Đông Khánh và Phan Dụy diễn đọc, diễn ngâm) Đặc biệt, giọng Cao Đông Khánh rất thích hợp với không khí và tư tưởng của “Chiều trên Phá Tam Giang”. Nhất là đoạn kết thúc, nghe rất đã, khi anh chấm dứt ba chữ: dớn dác ngó. Rất dớn dác!

[xvii] TTY phát biểu: “Tôi cũng tâm niệm lời hứa của Đỗ Phủ: Ngữ bất kinh nhân, tử bất an. Nói không làm người sợ, chết không yên. Dường như chẳng bao giờ tôi ngừng nghỉ kiếm tìm cho dù có khổ công đến đâu một chữ đắc, cái chữ độc nhất mà không một chữ nào khác cho là tương đương hòng thay thế được. Nói cách khác, tôi chỉ chịu đi qua một câu thơ, một đoạn thơ khi nào tôi hoàn toàn kiệt quệ khả năng thể hiện hay hơn, gần hơn, sống hơn điều tôi ao ước thể hiện. (…) Câu thơ hay nhất mà thi sĩ nào cũng mong mỏi làm được có lẽ là câu thơ gần gũi nhất với lối nói thông thường mà mới thoạt nghe ai cũng nhận ra ngay là thơ, không giải thích được, không diễn dịch được”, Nguyễn Mạnh Trinh, bài đã dẫn, tr. 165 – 166