Feeds:
Posts
Comments

Crow

MAI CON LỚN

 

 

Mai con lớn khắp nơi toàn người Hán
Tiếng Việt mình, nói nhỏ nhé con ơi
Dù mình sống trên quê hương, đất Tổ
Nhưng ai đông hơn sẽ thành chủ, con à!

Mai con lớn lấy chồng sao tránh khỏi
Bọn Hán kia tìm mọi cách “gieo nòi”
Còn trai Việt thoát sao đời nô lệ?
Chẳng biết lúc nào mất nội tạng, con ơi!

Mai con lớn, chữ mình con quên hết
Khắp nơi nơi toàn kiểu chữ tượng hình
Sử sách Việt sẽ ngày càng mai một
Ai nhớ từng có Âu Lạc với Văn Lang?

Mai con lớn đến nơi nào cũng cúi
Xứ mình nhưng chẳng dám ngẩng cao đầu
Vào quán xá nhớ nép mình trong góc kẹt
Đừng tranh ăn với lũ đói bên Tàu!

Mai con lớn những nơi nào đẹp nhất
Hạ Long, Ninh Bình, Đà Lạt, Phong Nha…
… và nhiều chỗ con đừng héo lánh
Người Việt ta không tới đó nữa con à!

Mai con lớn những kinh đô, thành quách
Những tượng thờ tiên tổ, các Hùng Vương
Những ngôi miếu tôn vinh Bà Trưng, Bà Triệu
Sẽ bị đập tan, lăn lóc giữa hoang tàn

Mai con lớn, đồ ăn toàn bẩn, độc
Của ngon đều bị tước hết con ơi
Mai con lớn biển, sông, hồ nhiễm độc
Nước thải phương xa không ngớt đổ về

Mai con lớn xin con đừng òa khóc 
Hận tiền nhân sao nỡ để cháu con mình
Sống trong lòng giặc thở không dám thở
Vì thời của mẹ cha, ai cũng chỉ muốn “được yên bình”!

Mai con lớn xin con đừng hờn trách
Tổ tiên hèn với giặc, ác với cháu con
Con hãy hiểu ngày hôm nay ai cũng nói
“Ta không đòi được đất thì để con cháu ta đòi”

Mai con lớn xin con đừng phẫn hận
“Ngày xưa giặc chưa vào sao câm nín, im ru?
Nay giặc ở khắp mọi miền bờ cõi
Bắt cháu con đòi, nghe có lọt tai không?

Mai con lớn, thôi mẹ không nghĩ nữa…
Chỉ mong bình minh đến thật mau…
Và tất cả chỉ là cơn ác mộng
Xin Thiên cơ ban tặng một phép màu…

 

 

Trần Hoàng Trúc

Advertisements

SÁCH MỚI

DamTruong

XIN GIỚI THIỆU CÙNG QUÝ ĐỘC GIẢ

 

Tiểu thuyết DẶM TRƯỜNG

 

Tiếu thuyết của Trần Doãn Nho vừa được tái bản lần thứ nhất do nhà Thư Quán Bản Thảo ấn hành. Sách dày 490 trang  bìa màu in trên giấy láng.

Nội dung phản ánh toàn cảnh xã hội sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Lời bạt của nhà văn Phạm Xuân Đài và Nguyễn Đình Toàn.

Phạm Xuân Đài

Với tư cách một người trong cuộc, tác giả đã mô tả lại xã hội miền Nam sau 1975, đặc biệt những cách kiếm sống phát sinh do hoàn cảnh mới. (…) Với Dặm Trường, mọi chuyện được đặt

trong một lớp lang dài hơi, cho phép tác giả đi sâu hơn và rộng hơn vào những số phận cụ thể, mà chỉ dưới dạng truyện dài mới lột tả hết cái hãi hùng lẫn cái bi đát của một thời. (…) Dặm Trường là một kinh nghiệm. Đó là giai đoạn Việt Nam “tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” sau 1975. Thời đó đã qua, như chủ nghĩa cộng sản rồi cũng bị xóa sạch trên

thế giới, như tất cả mọi thứ đi ngược với con người từ trước tới nay đều phải cáo chung. Nhưng dấu vết vẫn còn lại. Dặm Trường đóng góp thêm một lưu giữ, cho riêng Việt Nam, cho riêng miền Nam Việt Nam, về những năm tháng kinh hoàng ấy.

 

Nguyễn Đình Toàn

Dặm trường là một cố gắng của Trần Doãn Nho, thu nhỏ cuộc sống của chung tất cả những người ở miền Nam, kể từ sau biến cố 1975, vào một gia đình, vào một cuốn truyện. (…) Dặm trường ghi lại một giai đoạn lịch sử đắng cay, đặc biệt là nhân dân miền Nam, vừa trải qua. Nó vừa trải qua không có nghĩa là nó đã chấm dứt. Nó vẫn còn đang tiếp diễn. Trần Doãn Nho với lối viết ngắn gọn đã kể lại sự thay đổi ấy. Ông cố gắng giữ sự trung thực, không làm cho nó vui hơn hay buồn hơn. Xem giữa những giọt nước mắt vẫn có những nụ cười. Cái cười có thể làm cho người ta khóc. Và cái khóc có thể làm cho người ta cười.

 

 

 

 

ChiDau

CHỊ DẬU “TUỔI GÌ”

 

 

Chị Dậu à, chị chẳng khổ lắm đâu!
So với các chị thời nay, em nói thật!
Chị chẳng qua không đủ tiền nộp thuế
Đành gửi con “đi ở” rồi bán ổ chó non

Nếu sống thời này chị sẽ đóng thuế nhiều hơn
Vì ngày xưa chưa có “phí môi trường”, “BOT thu giá”
Chưa có luôn thuế VAT, thuế thu nhập
(Nên bán chó đi chị đỡ phải “hao” nhiều)

Nếu ngày đó lỡ đói mà ăn cắp ổ bánh mì
Chắc cũng không đến nổi vào tù chị ạ
Chị thấy không dưới thời “thực dân Pháp”
Chị “tuổi gì” so với thời “độc lập – tự do”?

Chị “tuổi gì” so với chị ở Sơn La
Chết không có xe đưa chỉ quấn ngang tấm chiếu
Chạy rong khắp phố phường ban ngày ban mặt
Ngang qua khu tượng đài nghìn tỷ khổng lồ!

Chị “tuổi gì” so với chị ở Cà Mau
Treo cổ chết để lấy tiền phúng điếu
May ra đủ cho con đóng tiền học phí
Phải dặn chồng “xin hòm, chớ mua, hao!”

Chị “tuổi gì” so với chị ở Tuyên Quang
Phải thuê người chặt cả tay, chân, đau đớn
Những mong lấy được tiền bảo hiểm
Trang trải nợ nần, túng quẫn bao năm!

Chị “tuổi gì” so với các chị ở Thủ Thiêm
Nhà đang có, một sớm mai mất tất
Hơn chục năm màn trời chiếu đất
Vác đơn đi, “thưa” lắm, cũng “chìm xuồng”!

Chị “tuổi gì” so với các chị ở Hà Giang
Năm nào cũng lũ vì rừng “ai” đốn nát
Một sớm kia, bên đường, nằm phơi xác
Chị “tuổi gì” mà kể khổ với thời nay?

Nghĩ cho cùng, chị cũng chỉ là nhân vật văn chương
Được nhào nặn, vẽ tô và hư cấu
Sao cho nghe “tận cùng đau đớn”
Nhưng thấm tháp gì so với các chị thời nay?

Tưởng tượng rằng, “cha đẻ” chị, ông Ngô
Sống thời nay và viết về bao “chị khác”
Bản thảo chưa qua được các nhà xuất bản
Đã bị xé tan, “phản động hả mày?”

Thôi thì chị cứ “tắt đèn” đi
Cứ chạy ra đường trong đêm tăm tối
Nhưng đừng chạy ra trung tâm chị nhé
Rủi bị oan, bị đánh vì tưởng chị “biểu tình”…
TRẦN HOÀNG TRÚC

0fb06332d19d1729d1e5026df8d7a76e

Phố…..

 

 

Phố thấp dần theo ánh đèn 
vàng mờ trải dốc sương heo hút 
lòng phố hẹp chân mềm neo bước
lũ lượt 
heo may 
Gió say
hương đêm say 
vị tê cay của kẻ thèm một điều không thể 
mở mắt chìm vào ngọn cỏ 
mùa này phố đã tái tê mưa
mùa này 
phố đã treo bông kèn trắng 
trắng ngập đêm 
ngập trăng nghiêng mờ hơi lạnh
phố buồn giăng mắc
mắc nỗi buồn trên sofa trắng 
trắng chiều 
miền đất thánh 
miền trở về thở hơi giá lạnh 
thở hơi trinh bạch
giao hoan nỗi cô đơn thần thánh 
miền cứu rỗi 
những tâm linh vô vọng

Phố ngả màu chiều úa trên cành
tiếng chuông nhà thờ
liêu xiêu 
thập tự buồn như đôi mắt
Chúa bây giờ chắc cũng sầu 
heo hắt 
Như hai ngàn năm trước 
trên đồi thông 
như tôi.

 

 

Chiêu Anh Nguyễn

 

 

thơ Lan May

TN

ĐÊM NGHE HỒ TRƯỜNG… 

 

rót về đâu

thương sầu

vây bốn hướng

tràn chén tay rưng cạn nỗi vong hờn 

bước chinh nhân thiên lý gót chẳng sờn

mà e thế vận lâm hồi khốn khó

 

**

mà e thế vận buồn nghe lạnh gió

rót về đâu

bất khuất

khí ta đầy

lũ cuồng phong trăng lấp chó tru bầy

xanh kiếm bén mài thù đêm u uất

 

**

xanh dùi bén mài thù đêm thuyền lật

máu yết kiêu lưỡi giáo giặc ghim đùi

rót về đâu

chí cả

quyết không lùi

hương lừng chén thức say tình non nước

 

**

hương lừng thức lòng dân không khiếp nhược

chung rượu ngon hẹn thưởng nhấp sao đành

khải hoàn men bi tráng đẫm lệ dành

ngày chiến thắng

rót vui

bằng nước mắt

 

**

ngày chiến thắng

men cay nồng 

rửa mặt

nhục nhằn hôm mạn vỗ hát điên khùng 

ngó quê hương lửa khói ngút trùng trùng

tim gan xé nấu nung ngàn hận trượng 

 

**

phương nam hỡi chiều nay sầu vô lượng

rượu thương dòng 

tan nát

rót về đâu… .

 

 

Lan May

489cec4862cdaa4b3af2c370148c73c6

đồng lõa của lặng im

 

                                                          tôi khượi một nỗi buồn

                                                         nơi tòng tâm bất lực

 

 

ngậm câm ngậm câm ngậm câm

tôi ngậm

câm

như ngậm hột thị

tràng nguyệt quế bồ hòn

ở đâu

bạo lực tràn lan ngoài phố

trong con hẻm mù

mắt nhắm và tai điếc

máu em sẽ

đổ xuống

dài dài

sẽ. hay đã

lưỡi dao mụ đàn bà đanh ác

máy hình chị bị dẫm nát

dưới cơ bắp lũ côn đồ chưa sạch lông măng

máu và mủ

hỡi ơi đồng nát

tổ quốc giống nòi

[đất nước loạn rồi sao tôi cứ bình tâm!]

những cú đạp tôi ngậm câm

khẩu trang chà nóng mặt

không có hạt bụi nào nhởn nhơ lúc này

cánh tay cha ở ngoài biên giới

mẹ chịu đòn không sợ khóc

biểu ngữ trên ngọn cây

những chai nước tăng thêm bàn đạp

dòng chảy đan tâm

không hiểu.  thiệt tình không hiểu

vì sao tôi ngậm câm

có lẽ thành phố đã quá liều nhiệt động

 

 

hoàng xuân sơn

tháng sáu nóng bức

bui-mai-hien-gallery

tranh Bùi Mai Hiên

NGÀY TANG YÊN BÁI

 

Nghẹn ngào tiếng nấc tiễn đưa chàng,
Tình nước tình nhà vai nặng mang.
Yên Bái trời sầu dâng núi cả,
Thổ Tang đất thảm ngút mây ngàn.
Tình riêng đứt đoạn trên dương thế,
Nghĩa lớn hẹn nhau dưới suối vàng.
“Vạn Tuế Việt Nam” hồn bất khuất,
“Thành nhân”* sử Việt khắc tên chàng.

 

UYÊN THÚY LÂM

Herbert Bayer

Những con mèo mang cổ cồn trắng

 

Những nhánh cây khô mọc ra từ bộ não buồn buồn

– c h á y r ồ i !

Ly nói khi màu xanh của hộp sọ đã bị ăn đứt

Trên vạt áo vest sáng nay,

những sọc song song chằng đều một khuôn ngực dở dang

như những dòng kẻ trên khuôn nhạc của bản Requiem một buổi khuya muộn mằn

 – “hãy để những con mèo đeo kính trắng và thắt cổ cồn trắng

còn loài người,

chúng ta hãy cùng nhau hóa thân trong ngọn lửa điêu tàn này, Ly”.

 một con mèo lấp lánh đã nói với tôi trong buổi sáng đầy nắng ấm hôm nay.

 

 

HOÀI

 

Qua rồi những hào hùng ly loạn
Người về khoả áo mài đêm vắng
Gió rót cành sương tiếng thuốc lào
Ám mùi hơi thở hoài không lắng

Người lính ngày xưa giờ tóc trắng
Màu xuân đã đọng ở sinh phần
Bạn bè chiến hữu nhiều lưu lạc
“Thiên đàng” một cõi một chung thân

Người lính ngày xưa chừ tám chục
Ngóng trông từng cuộc gọi đường dài
Chiến hữu: bọn tôi về phương khác
Mỗi mình anh lạc phía giêng hai

Chiến hữu: Thôi cũng gần một kiếp
Nhớ thương cũng mấy chục năm rồi
Hào hoa tóc áo phai gần hết
Sao ở trong lòng mưa vẫn rơi?

 

 

HOÀI 2

 

Mình đến mình đi rồi quên lãng
Để đêm lóng lánh phúc âm buồn
Để mưa tháng sáu rơi chiều lạ
Để bình minh đọng những ngân sương
mình đến giữa mùa hình nhân mới
Ngày xanh vướng vít nhánh hoa đầy
Diệp lục nã nồng hương hư ảo
Xanh rìa tháng mới với trăng vây
mình đi chủ nhật mưa áp thấp
An nhiên còn có giữa từ ly?
Tôi nhặt nhạnh mình đêm lá rách
Buông cánh rời cây khóc thiên di
khúc lá khúc cây và khúc gió
khúc nào xanh để nhận mặt người?
Lãng quên còn ấm trong kí ức
Cho nhau xin giữ một khúc cười

 

 

 

HOÀI 3

 

cuộc thiên di đỏ
mặt trời cuốn qua vùng tóc biếc
chảy mặn tháp ngà
nụ hôn mật non xưa xa
đã khét tanh dưới tê điếng mặt trời
không thể lưu trữ cho em được gì
giọt mưa miên miết đỏ
ngày cựa mình chừng như rất khẽ
tháng bảy cạn kiệt
lời lá khô
rơi từ vực sâu.

cuộc thiên di đỏ
mặt trời đi qua vườn đêm
cứa những xót thương
tối không gió
tôi với căn ngực rỗng
sự đợi chờ là vô vọng
mãi đời sau.
những bóng đèn nê ông cúi đầu câm lặng
cơn mưa không thể ướt át mãi buổi chiều tháng bảy
dụ dỗ về một tia sáng lóe nở
giấc chiêm bao mồ côi 
hơi thở
như những đứa trẻ thành phố ngày loạn lạc
dắt díu nhau đi tìm ý nghĩa cuộc hành trình…

 

 

Vắng 5

 

Không phải được lựa chọn

Sự im lặng

và tịch nhiên vô bờ

Mà cứ tù từ mà chìm xuống

 rất sâu

 rất tối

ở đấy không kể nói được gì

là bị bắt buộc

 phải im lặng hoặc

Cũng không phải được lựa chọn

có thể tung hô

theo ngôn ngữ

của những chiếc búp trên cành

ưỡn ẹo vỡ ra những ngoa dụ

là những khúc ( không phải đồng dao)

mà miệng đã thuộc lòng

hoặc là ở đấy

là im tiếng

vô biên

 

 

 

LỘI QUA NHÁNH ĐÊM BUỒN

 

 

anh học nói trên nhành thời gian gãy
nghe mùa đông về đập cánh chiêm bao
giọt nắng sót cố nhuộm tàng lá vỡ
gió mùa xưa còn lồng lộng ầm ào

dấu mưa cũ đâu còn in nhịp bước
lật tầng tầng kí ức cũng im hơi
anh mải mốt chỉ một điều vô ích
chốn tinh khôi không có lối khứ hồi

anh học vẽ mùa anh bằng mơ ước
bằng mùa đông bấc thổi rát trên cành
bằng tiếng xuân trôi giữa chiều lịm tắt
bằng nỗi buồn lăn mệt mỏi đêm thanh

anh học hát những ca từ cũ nát
đám kí âm rơi rụng trắng hiên nhà
em ngút ngát không về mùa di trú
nghe vô thanh ngồi khóc tiễn đêm qua.

 

Phương Uy

thơ Lê Anh

art21a

KHI GIÀ ĐI

 

Khi mặt trời lặn xuống

Những cánh chim bay về núi

Bóng chiều còn lại dần khuất sau đồi

Và con đường tình chìm trong xa xôi

 

Khi chuỗi ngày dài lặng lẽ

Và đêm thâu chờ mong khát vọng

Tiếng gió như lời tâm sự hao mòn

Chôn nỗi niềm cô đơn

 

Còn gì trong đôi tay 

Khi thời gian mệt mỏi

Kỷ niệm cũng  tàn phai

Và điều lo sợ  nhất

Là dần quên mất những gì hiện hữu 

Vì khi già đi

Mọi việc nhạt nhòa ngoài tầm tay với

 

Bình minh nổi lên hay chiều tà bóng xế

Đây là sự tuần hoàn của trời đất

Nhưng khi ước vọng yếu dần

Con tim cần hơi thở lung linh

Và cần đến cả sự hồi sinh muộn màng

Cố giữ nỗi nhớ… đang vội vàng ra đi.

 

 

CHIỀU HẠ BUỒN

 

Tôi về đây vàng hiu mùa hạ

Chiều bóng cây mát những con đường

Nghe xa xôi mây còn hong nắng

Hơi ấm quen phố xá buồn vương

 

Nhìn lá khô chờ nhau rụng xuống 

Người xa người tình héo thơ ngây

Chiều hạ buồn mềm theo mắt nhớ

Ở tận cùng chầm chậm giọt ngày

 

Tôi lang thang tình riêng ai biết

Vắng lời yêu gió trở đường mây

Mênh mông chiều hồn cao nắng gọi

Cuối đồi hoang còn dấu chim gầy

 

Mong gì khi lâu rồi không gặp

Một mình lòng tưởng đến từ xưa

Hương lá thơm buổi chiều hạ vỡ

Nẻo đời qua biết nói sao vừa

 

Trời mùa hạ lên từng ngọn cỏ

Tôi về đây nắng ngủ nhạt màu

Tìm cho mình chút gì giã biệt

Môi chưa lần quên được yêu nhau

 

Tôi đứng đây quanh con đường nhỏ

Chiều hạ nghiêng bóng rũ đìu hiu                        

Thương ai ngoài vọng buồn chấp cánh

Ngậm ngùi theo chân bước cuối chiều.

 

Lê Anh.

 

49f47e4c04e321288c5b2741409732c0

 

hôm qua & hôm nay

 

những bóng ma mang mặt nạ người

chúng nện gót làm đau mặt những con đường phố

miệng ngậm máu đi lững thững vào cùng tận giấc mơ

ngất ngưởng cũng có vẻ đặc trưng

phô diễn trò hề thóa mạ con vật người tế sống cuộc chiến

đang cúi  đầu thinh lặng thụ ân cái phần đoạn kết đọa đày

 

nỗi ám ảnh làm sao quên được

những bóng ma ngông nghênh tự đắc

đi xuyên qua cửa kính in fashion trong suốt

ngắm nghía những manequin mặc áo quần lòe lẹt sắc màu

không thể hiểu nổi vì sao những phụ nữ với cái đầu trọc lốc và không

hề chớp mắt

 

những ngày sau tháng tư

tôi và em thức dậy trong huyệt mộ của mình

vô thức kéo lê bào thai hạnh phúc

lầm lũi đi về phía cánh rừng hoang vu

ngước nhìn bầu trời hoán dụ sắc màu kinh tế mới

 

cứ đến ngày cuối tháng tư

nhiều người hồi tưởng rồi nhắc nhớ chuyện hôm qua

đã gọi đích danh những bóng ma là đàn bò ngơ ngác lũ lượt đi nhanh vào

thành phố

hôm nay, chúng ta vẫn phải hít thở khí trời để tồn tại

nhưng đang mang trong người một căn bệnh câm điếc trầm kha

nếu nói về sự vô cảm… tôi chỉ biết âm ớ rồi bật cười khan.

 

 

khaly chàm

 

 

 

 

một cõi bóng tối  trong ba ngàn thế giới

 

 

 

những ngẫu tượng không hề chớp mắt

tất nhiên, những hiện thể ấy chẳng nhìn thấy được gì

sự tái tạo hào quang tỏa sắc màu được lập trình quy chuẩn khi ma trận phát lệnh nhấp nháy

có thể, chúng sinh cúi quỳ mọp người sát đất tâm linh sẽ thoát ra từ khe hở giữa mông

huyền nhiệm nhưng đã chắc gì là có thật

 

xưng tội lỗi lầm rồi nguyện cầu

linh ứng chăng hay chỉ là mệnh giá của đức tin nhàn rỗi

mê muội ngắc ngứ lời kinh thẫn thờ mơ hồ cứu rỗi

sao tôi cứ mãi tưởng tượng loài kên kên háo hức trước vết thương lịch sử

đến khi nào ngừng thở sẽ được định nghĩa cho sự lãng quên

tôi ơi hãy tịnh tâm , lắng nghe những âm hồn vất vưởng khóc than trong giờ phút cuối cùng trôi qua quá khứ huy hoàng

 

thói quen tôi hay vuốt mặt thời gian nhạt nhòa ký ức

cố quên đi tiếng cười nói bầy đàn tự huyễn hoặc một thiên đường man rợ

lũ chúng nó ngạo nghễ chơi trò ướp xác con quỷ chờ ngày mở mắt

dường như rất hợp lý giữa một cõi bóng tối tanh tưởi máu người trong ba ngàn thế giới

hôm qua hay hôm nay vẫn là ngày với cơn điên mới

xin em đừng níu kéo tôi nghiêng ngả về phía giấc mơ

bởi vì, em không thể nhìn thấy được bản ngã tôi ẩn hiện lúc nào

đừng nói phẩm hạnh là gì khi bầu trời ban mai

em vội vàng đem những câu mật niệm quăng vào thùng rác ngoài đầu ngõ phố

 

 

khaly chàm
viết trên đất k. 5/2018

Ai Có Về Trên Bến Sông Tương –

sáng tác Thông Đạt, Hoàng Vân trình bày

 

MinhHoaWeewill

minh họa: Weewill

EM PHƠI NỖI BUỒN TRÊN BẬU CỬA

 

 

Hơn một lần giặt áo cho anh
Em phơi nỗi buồn trên bậu cửa
Vết son đỏ thổi bùng…
Bão…
lửa…
Anh quên chùi
Cháy rụi lòng em…

*
Anh vẫn về nhà bằng âu yếm cũ mèm
Em ngơ ngẩn đón anh bằng nụ cười người khác …
Thầm nghe lòng mình tan nát
Những niềm vui đánh lừa…

*
Có phải mình đã cùng nguyện thề
Dù thế nào cũng để lại bão giông sau cánh cửa
Anh bảo đời ngoài kia lọc lừa tráo trở
Ngôi nhà mình dành nhen lửa yêu thương…

*
Giờ em chỉ muốn hét lên
Cho thỏa nỗi chán chường
Rồi băm vằm anh thành trăm ngàn mảnh vỡ
Xâu lại cùng dang dở
Xấu đẹp gì em biết với riêng em…

*
Nhưng em chỉ âm thầm khóc như một đứa hèn
Thương kiêu hãnh thuở xuân thì vụn vỡ
Phận đàn bà như miếng chanh cắt dở
Vắt kiệt mình, chua lại nỗi xác xơ…

*
Em có thể làm gì hơn được nữa bây giờ
Tay trái tát anh thì tay phải em xoa đi đau đớn
Em hóa đá mình rồi
Sao sóng lòng vẫn gợn?

*
Đã bao lần em thức đợi bình mình
Và phơi nỗi buồn trên bậu cửa…

 

 

Thái Thuận Minh

 

Đàn Bà Ngược Nắng

 

 

Em là gì của hôm nay?
Trong lẻ loi vui, trong ngày ngược nắng
Trong đông đúc buồn cả mùa thu trắng
Lá vàng rơi, ai ngóng đợi em về?

Em là ai của đông dài lê thê?
Nhọc nhằn dài thế một mình em xấp xải
Giữa chợ đời ai khư khư tay nải
Đức hạnh co ro hay ấm áp buông tuồng?

Cô ấy là ai của hè ngọt vấn vương?
Nhan sắc có mòn đâu tội gì không bày bán
Kẻ mua hoa nguyệt, người nhìn không biết chán
Anh là ai mà vướng vít chuyện qua đường?

Em ở lại đây, níu mùa cũ vừa buông
Ngôn – hạnh – công – dung – anh giăng lõa lồ giữa buồng chăn chiếu…
Đức hạnh dang chân, đẩy đưa cùng nhọc nhằn cơm áo.
Bao dung em…
tìm một lối về…

 

Thái Thuận Minh.

 

 

 

Đàn Bà Có Chồng Rồi Còn Được Yêu Nữa Hay Không

 

 

Anh ơi!
Đàn bà có chồng rồi,
còn được yêu nữa hay thôi?
Khi ngày tất bật việc cơ quan
Em lại vội vàng đón đưa con sáng, tối
Giấu nũng nịu, yêu thương, hờn dỗi
vào xô nước lau nhà, vắt kiệt tháng ngày qua…

Đời phụ nữ cũng là đời phù hoa
Em chỉ thật sự thấy mình là đàn bà
Khi chưa hoàn toàn thuộc về ai khác
Giờ con bế con bồng, má hồng đã nhạt
Lời anh yêu thương cũng cạn héo úa gầy…

Em chán lắm việc làm bạn mãi với cỏ cây
Hoặc đưa má cho con thơm cuối mỗi ngày khép lại
Hay tựa cửa chờ anh về
Và đối diện người đàn bà trong em đã bắt đầu hóa dại
Anh cũng hôn em …
thường là lúc anh đã say mèm …

Đêm cũng cô đơn như em
Đêm chỉ trải lòng ra
và để mặc em khóc mình cho thỏa thích
Chẳng như ai vỗ vai em nặng chịch
Vỏn vẹn “Ngủ đi em, mai còn dậy đi làm”…

 

 

Thái Thuận Minh.

FatherDay2018

Mary Lovelace O'Neal

Tranh của nữ họa sĩ da màu Mary Lovelace O’Neal

 

 

Gửi em – cô gái bị đánh mất linh hồn

 

 

Họ vẫn tiếp tục chơi trò xảo biện

Rằng đặc khu Vân Đồn miễn thị thực cho công dân “nước láng giềng có chung đường biên giới với Việt Nam ở tỉnh Quảng Ninh”

Những câu chuyện như cổ tích chúng ta đã từng tin

Gương mặt em nhìn hiền lành như Tấm

Lén núp quả thị, đội lốt cô tiên để làm mắm em mình 

Em cười hể hả trước Thiên An Môn, nói với dân mình: hãy bắn bỏ tất cả những đứa nào xuống đường, quân bạo loạn!  

Tôi thấy gương mặt em bắt đầu chảy xuống 

Vũng hận thù tối tăm 

Em nghe không

Thầy em đang hét khô cả tiếng: quân bịp bợm, lũ bạo tàn! chúng ta không thể như những con cừu ngoe nguẩy chờ vặt lông! 

Làm gì em

Có thể làm gì đây em?

Khi chúng ta đã không còn có niềm tin 

Đôi quang gánh, mẹ gãy giữa đường 

Nước chảy láng lênh chiều buồn gối khuỵu 

Mẹ chúng ta đã quỳ

Lạy anh linh tổ tiên 

 

 

 

Em ơi, hãy ngưng hát để nghe

Lời của trái tim đau đớn

Biển hấp hối rồi

Sông đã cạn

Núi đã mòn

Xin em đừng muốn đốt dãy Trường Sơn mà nhân dân khóc lóc van xin

Tổ tiên ta ngày xưa đùm trong một bọc 

Nỡ nào em – khét giọng giết nhau?

Môi hở răng lạnh

Chị ngã em nâng

Tình nghĩa nồng cay đỏ thắm miếng trầu

Nỡ nào em lại hát

Hể hả khi ai đó bị đâm vào  

Máu có biết đau không em?

 

 

 

Em ạ

Tất thảy chúng ta đều đang ngước nhìn lên

Bầu trời đầy sao lấp lánh

Chúng ta hãy cố băng qua khoảng cách ánh sáng 

Để nhìn thấy ngôi sao gồ ghề băng bó, những trái tim mắc chứng phù nề, những đôi mắt không ngươi của loài quỷ ác

Hãy gắng lên,

Một lần thôi

Hãy gắng lên để được nhìn thấy

Để được khóc một lần 

Đúng nghĩa làm người 

 

— 

 

 

Nguyễn Hoàng Anh Thư

 

LuatDacKhu99nam

ĐÁNH THỨC CON

 

Dậy đi con, Dậy ba dắt con đi
Đến vân đồn. Đến bắc vân phong , Phú quốc. 
Nhanh lên con kẻo không còn kịp
Ngày hôm nay người ta bấm nút
Quyết định cho thuê đất của tổ quốc mình
Con tôi vẫn ngái ngủ trong giường
“Người ta thuê chứ có phải mua đâu cha
Thuê rồi trả lại! “

99 năm sau ơi con khờ dai
Lúc đó con và cha xanh cỏ mấy đời.
Nhanh lên con sắp tới giờ bấm nút rồi.
Có thể những đặc khu kia láng giềng người ta đến ở
Và cư dân nói chuyện bằng hoa ngữ
Cha con mình đến đấy có được ko?
Con tôi vẫn uể oải trong màn

“Đặc khu là gì cha?”

Là nơi mà người ta đến đầu tư nhận nhiều ưu đãi
Là nơi mà tiền mọc ra chúng ta chỉ thò tay là hái.
Là chốn người ta cày để chia lãi cho mình.

Con tôi bật dậy thật nhanh
“Thật không cha. Có quốc gia nào mà ngu như rứa.
Mà làm ra tiền chia ta nhiều rứa ????”
“Sao người ta không làm đặc khu cho dân mình cha nhỉ??? “
Chỉ cho dân mình thuê thôi!???

Dậy đi con trời tảng sáng rồi.
Dậy để cha nói với con những điều cha suốt đêm cha không tài nào chợp mắt
Người ta dậy cha nền kinh tế việt nam nên bước lên bằng nội lực
Bằng mũi nhọn xoáy vào công nghiệp nặng con ơi
Bao nhiêu năm mà vẫn thế thôi
Ngành luyện kim ì ạch.
Bán dầu thô cho nước khác
Mua về xăng dầu đã lọc
Buồn ơi.

Dậy đi con. Mở bản đồ tổ quốc ra cha nói con này
Tổ quốc mình một dải 
Bờ biển xanh xanh nối tiếp chân trời
Những quần đảo hoàng sa trường sa ở giữa biển khơi
Nước lạ ngang nhiên cướp của mình hơn phân nửa. 
Người ta ngang nhiên kéo giàn khoan thăm dò dầu khí
Người ta dùng tàu đánh đuổi ngư dân
Người ta xây cả đường băng 
Nếu Nối Trên bản đồ vào ba đặc khu 
Như hình chân vạc

Tim cha như có ai bóp nghẹt
Đi thôi con đến thăm những mảnh đất
99 năm cho thuê
Rất có thể
Thành chỗ di dân
Người nước ngoài đông hơn cả việt nam
” sao không là một trăm năm hả cha”
Một trăm là số có ba chữ số
Nghe thấy kinh rồi
99 thôi con ơi

Cái này cha sẽ chỉ cho con thấy ở chiêu bài định giá
Của những nhà marketing
Dậy mà xem những chuyện nực cười
ông giao dục nước mình vẫn luẩn quẩn trong vòng cải cách
Ông giao thông trưng tấm biển “thu giá” cho trạm bot
Ông giáo dục cũng chẳng vừa
Thay “học phí” bằng học giá liền sau
Cha một đời cúi cổ cày sâu
Con chữ cắn đôi chưa rành mà vẫn thấy gai con mắt
Mà thấy tim mình đau thắt
Người ta ngang nhiên nhân danh cho thế hệ hậu sinh mình.

 

Nguyễn Trung Hiếu

TRẢ LẠI CHO DÂN – nhạc và lời Việt Khang

 

lote-839-9202

VIẾT CHO NGÀY LỊCH SỬ

 

đêm không ngủ âm âm lồng ngực nén

nỗi quê hương khổ nạn đã bao đời

nỗi quê hương tấc đất quyết không rời 

dù máu chảy 

quê hương 

tràn máu chảy 

 

**

đêm không ngủ nghe tình yêu thức dậy

dải non sông hình chữ s vô cùng 

dậy vang tim nhịp trống thúc hào hùng

hội nghị diên hồng

toàn dân

nguy biến 

 

**

những tiếng thét vỡ tung lòng quyết chiến

những mái đầu năm tháng bạc phơ phơ

những tinh khôi giấy trắng các em thơ

ngẩng cao mặt 

khinh 

dùi cui roi sắt 

 

**

sẽ thấy rõ hờn căm trong ánh mắt

dòng máu đang sôi huyết quản muôn người

thấy ước mơ giành lấy đóa môi cười

lấp lóa sáng 

bình minh 

màu kiêu hãnh

 

**

việt nam ơi đổ về đây triệu nhánh

cuồn cuộn sông biển sóng lớn tung bờ

đất mẹ ta từng phút đợi giây chờ

thời khắc chuyển 

rợp xanh 

trời chim én

 

**

tổ quốc quyết sinh con lập thề giữ vẹn

quyết tử này

dâng kính mẹ

VIỆT NAM… .

 

Phạm Hiền Mây

 

 

TRỞ MÙA… .

 

những ngày tháng 

suối trơ 

dòng khô cạn

lạnh heo may bão lá trút nghiêng vàng 

nắng hanh hao đổ xuống bóng điêu tàn

đường nổi gió mịt mùng bàn chân ngả

 

**

thèm lối cũ nhà xưa thơm hương rạ

võng đong đưa kẽo kẹt chái hiên buồn

má ngân câu vọng cổ cánh mỏng chuồn (*)

phận chỉ thế (*) 

nghe lòng 

rầu bắt chết

 

**

phận chỉ thế 

bữa cơm chiều 

giống hệt

ăn rau đi cá nhiễm độc cả rồi

ăn rau đi má chống đũa mâm ngồi

đôi mắt ngó rưng rưng vườn hạ cháy

 

**

má chống đũa hang sầu run dế gáy

giọng mồng tơi má biểu chẳng chi còn

bọn tham lam vơ vét nước non mòn

sẽ như má 

bấc tàn dầu

ngọn tắt

 

**

trời sẫm rũ màn đêm con cúi mặt

tiếng má đều kinh nguyện khóc hồn đau 

thuở ba mày sống nghĩ tới mai sau

dè đâu nỗi 

nhà tan tành

cửa nát

 

**

dè đâu nỗi 

con đi đây 

nặng hạt

mặn mưa bờ sóng dậy buổi triều lên 

có thể nào tổ quốc lúc gọi tên

lại bỏ mặc gia đình cơn ly tán  

 

**

dẫu khổ mấy chẳng bao giờ con bán

mất mẹ rồi

vất vưởng 

một quê hương… .

 

 

Phạm Hiền Mây

 

 

 

CẢM ƠN NGƯỜI LÀM NÊN LỊCH SỬ… .

 

 

cảm ơn anh

một ngày

cho sống lại

triệu nhịp tim dòng máu đỏ da vàng

triệu lời tim uất ức buổi tuôn tràn

thề phương bắc giặc nghìn đời quyết đuổi 

 

**

lũ bán nước tưởng hờn ta đã nguội

cảm ơn em

cho sống lại

thù này

đất quê hương vẹn giữ để mai rày

sáng ngời thế hệ sau làm rạng rỡ

 

**

cảm ơn chị

đã không hề

lo sợ

thân liễu mềm lá chắn thú dàn ngang 

nắm tay gầy hô lớn tiếng vang vang

cút khỏi đất tao ngay bầy xâm lược 

 

** 

giày mả tổ bàn chân voi ai rước

để bây giờ

tạ ơn má

má ơi 

đứng bên con nước mắt má khôn vơi

nước mắt má rơi lòng con đau xé 

 

**

tạ ơn cha

trời nam

không bán rẻ

dẫu gánh đời chưa một phút bình yên

thẳng lưng người đây sông núi hùng thiêng 

tổ quốc lâm nguy muôn lòng như một 

 

**

tổ quốc lâm nguy toàn dân thành một

ý đồng tâm thuận núi cũng san bằng

biển mênh mông hồn sóng thuở bạch đằng

nửa tấc ư

không

thề con nguyện giữ

 

 

 

**

tạ ơn những hy sinh vì bất tử

sống lại rồi  

dòng máu chảy

VIỆT NAM…

 

Phạm Hiền Mây

ChoThue

ĐẶC KHU DIỄN GIẢI

 

 

Tập Cận Bình gửi sang đặc chỉ 
đặc cách phong chức nhiều quan Nam
biến chúng thành những tên đặc ủy
với đặc nhiệm xây cất đặc khu
cho dân Tàu đặc quyền khai thác
với rất nhiều đặc khoản ưu tiên
hưởng đủ thứ quyền lợi đặc trưng
ngay cả quyền đặc miễn hình sự
dẫu chúng có coi lờ đặc ước
tội gì cũng đương nhiên đặc xá
dân Nam phải coi là đặc ân
được đặc định làm tôi mọi chúng
còn nhiều thứ bổng lộc đặc biệt
kể hết thì đặc nghẹt danh sách
nguy nhất dân Tàu thành đặc công
khi Trung Quốc xâm lăng nước Việt
dân Nam mang đặc tính đấu tranh
hãy đặc sắc vùng lên đồng khởi

 

Bắc Phong

nguyễn đính. như tôi biết

 

 

 

  • Trần Doãn Nho

 

Nguyễn Đính ra đi vào ngày 9 tháng 5 năm 2018.

Tôi và Đính quen nhau năm 1964, vào cái thời mà ở Huế, ai cũng có thể quen với ai và ai cũng có thể là bạn của ai. Cái thời mà ở Đại Học Văn Khoa Huế, bọn dự bị văn khoa chúng tôi say sưa nghe thầy Trần Văn Toàn giảng dạy “Hành trình vào triết học” và “Tìm hiểu Triết học Karl Marx”. Cái thời mà bên ngoài thì biểu tình tranh đấu, còn bên trong các quán cà phê, chuyện hiện sinh, tranh đấu, cách mạng xã hội và tư tưởng Karl Marx được mang ra bàn tán ồn ào, sôi nổi giữa đám sinh viên chúng tôi, lúc đó đang hưởng một không khí khá tự do của thời hậu đảo chánh 1/11/1963. Tuy khác quan điểm nhưng chúng tôi lại khá thân nhau. Còn nhớ, Đính đã từng cho tôi mượn tập sách nhỏ bằng tiếng Pháp “Manifeste du Parti Communiste” vàng ố, nói tau biết mi không ưa gì Cộng Sản nhưng “đọc cho biết”, nhớ cẩn thận kẻo bị cảnh sát bắt thì phiền.

Một lần, đâu khoảng giữa năm 1965, tôi cùng vài đứa bạn cao hứng, hùn tiền nhau rủ Đính đi chơi, nhậu nhẹt cả đêm. Sau đó, Đính biến mất. Té ra chàng âm thầm vọt “lên xanh”.

 

img_0808s

(Tranh Bồ Đề Đạt Ma, vẽ  3/2010. Nguyễn Đính tặng 2011)

 

Mãi đến 1981, ở tù về, tôi mới gặp lại chàng. Đính nói, tau chừ còn phản động hơn mi nữa nếu mi không sợ đi ở tù lại thì cứ đến chơi với tau. Tôi bảo, tau ở tù tau khai hết rồi, sợ gì nữa. Nhắc chuyện thơ từ viết lách, tôi nói với Đính, tau không thích cái bút hiệu trần vàng sao của mi, nghe nó “sao vàng” quá, Đính cười hồn nhiên, nếu mi không thích thì thôi mi cứ kêu tau là thằng Đính như ngày nào, còn tau tau thích thì kệ tau. Đính kể, hồi ở trên rừng, có lần bị càn quét quá, tau núp kín dưới một triền núi, bỗng nghe chiếc trực thăng bay rà rà trên đầu, phát thanh xuống, đọc lời của mi kêu gọi tau ra chiêu hồi. Tôi nói, bọn họ bịa ra đó, tau đang đi học, tau có viết bài chưởi cộng sản, nhưng kêu mi về hồi chánh thì quả là chuyện khôi hài, ai mà làm, tau biết tính mi mà. Đính nói, tau nhớ răng tao nói rứa, mi không có thì thôi. Rồi cười xòa.

Sau đó, thỉnh thoảng tôi ghé nhà Đính chơi. Tuy thất thế, nhưng Đính nhiều bạn, đủ loại bạn cũ, mới. Khi buồn, là đến. Và đến là gặp vì chàng ở nhà cả ngày, chẳng mấy khi đi mô. Không những gặp Đính mà còn gặp người này người nọ. Tả có hữu có. Hầu hết đều là dân văn nghệ. Tất nhiên là có cả công an đâu đó. Thỉnh thoảng lại thấy có một ai đó lạ mặt xuất hiện, nghe nói “ở trên” cử xuống “thăm hỏi” Đính. Nhà chàng là một nơi dân dã đến tận cùng: ngói vỡ, tường ố, nền nứt, mái dột, rêu xanh, ghế gãy, dép sứt, áo quần nhàu nát, chân đất, ly đóng khớm, chén bể, sách vở giấy bút ngổn ngang, tranh Bồ Đề Đạt Ma nơi này nơi kia. Thích nhất là cái vườn rộng, có cây vú sữa cao, mùa hè ve kêu inh ỏi. Và Đính chân đất, quần đùi, miệng móm, râu thưa, cười nói mi mi tau tau. Gặp nhau, hô lên nhậu hè, là đứa này góp một ít đứa kia góp một ít, gom lại, sai thằng con ra chợ Vỹ Dạ mua vài xị rượu đế, ít gói đậu phụng…Thằng ni về, lại có thằng khác vô. Nhiều buổi trưa, ngủ không được, lục kiếm mấy đồng, đi đò Cồn qua sông, ghé chợ Vỹ Dạ mua xị rượu mang vào, nhậu, nghe ve kêu và nói dốc. Những ngày ấy như thế, buồn buồn vui vui, bạn bạn bè bè nói chuyện tầm phào, cho vơi bớt nỗi niềm. Có lẽ công an cũng rình rập dữ lắm, nhưng thấy cả đám rượu chè vô hại, nên cứ để yên.

Sau này, khi đi phỏng vấn xuất cảnh sang Mỹ (chương trình H.O) ở Sài Gòn yên ổn xong, ra Huế lại, tôi tránh gặp Đính. Chàng viết trong hồi ký, “Tôi bị coi khinh. Cho tới hôm nay những năm 91, 92, 93 này, những thằng bạn cũ ngày trước sắp đi HO cũng lánh mặt tôi và những anh em khác. “Hiểu cho tao với, để cho tao đi trót lọt cái đã, không lỡ nửa chừng bị ách lại thì quá cực.” Thằng Trần Hữu Thục nói với tôi sáng 31.7.1993 như vậy. Bọn tôi thông cảm bọn hắn.” (Tôi bị bắt/Talawas kỳ 9)

Gần hai chục năm sau, về thăm. Nhà vẫn thế, Đính vẫn thế, nhưng móm mém nhiều. Lần này, có rượu ngoại, có bia bọt thoải mái, có thuốc thơm, có mồi đầy đủ. Nhậu đã xong, ra về, biếu chàng tí quà. Đính cười, mi cho là tau lấy, tau cám ơn Trời Phật,  bữa ni có lộc.

Sau, tôi ghi lại vài câu thơ nhớ lần gặp gỡ:

tới viếng thăm thằng đính

móm mém vết đời đau

tạt ngang nhà nguyệt hạ

nắng úa đẫm hàng cau

Bài thơ của một người yêu nước mình” là tập thơ đầu tiên của Đính được in ra ở Hải Ngoại, do Khánh Trường, lúc đó đang chủ trương nhà xuất bản Tân Thư, đứng ra lo. Tên tập thơ cũng là tựa đề bài thơ nổi tiếng nhất của Đính. Bài thơ hay vì nó tình cảm, nó chân thành, than thở và ước ao, không kêu gọi đấu tranh, căm thù, cũng không có bóng dáng của đảng của bác. Một bài thơ như …một bài thơ. Nếu Đính cứ làm thơ như thế, thì có lẽ mọi sự đã khác, không chừng chàng đã trở thành một cán bộ đảng ngon lành nào đó rồi.

Nhưng lên rừng, ra bắc, chàng đột nhiên thay đổi. Một trăm tám chục độ. Chàng đẩy cuộc đời chàng đến chỗ phá cách. Và thơ chàng cũng phá cách theo. Tuyệt đối. Toàn diện. Chàng vứt bỏ hết những hình ảnh lãng đãng, bâng quơ và…đẹp trong  “Bài thơ của một người yêu nước mình” ngày nào, đại loại như:

một vết bùn khô trên mặt đá

không có ai chia tay

cũng nhớ một tiếng còi tàu

 

 

BTCNYNM

(Tập thơ “Bài thơ của một người yêu nước mình”,
Tân Thư xuất bản, California, Hoa Kỳ 1993)

 

Thay vào đó, Đính đẩy ngôn ngữ thi ca xuống sâu trong đời thường và vượt ngưỡng đời thường, đến chỗ tận cùng của nó, sần sùi, thô nhám. Là một kho khẩu ngữ, rặt khẩu ngữ. Nó trông có vẻ phi thơ, phản thơ, phi văn, phản văn. Nó trần trụi, trực tiếp đến nỗi ta không tìm thấy cái gọi là thi-ảnh. Nó là sự, là vật, là chữ trong cái man dã, nguyên con của nó. Không ẩn dụ, không tu từ, không trau chuốt. Thơ Đính phơi trần một thứ hiện-thực-không-pha-chế; nó hiện thực đến nỗi bản thân nó tự biến thành ẩn dụ một cách vô cùng hồn nhiên. Nó trực tiếp xóa nhòa biên giới giữa chữ-nghĩa-như-ký-hiệu và hiện-thực-phi-ký-hiệu ở bên ngoài.

Những là: thằng, tau, mi, hắn, vấy, ruồi bọ, muốn mửa, đứng bu, nhai, nuốt, nhả bả, ruồi bu, phân người, chổi cùn, con đĩ, cào rác, giẻ rách, cục cơm, miếng xương, ếch nhái, nón rách, bãi phân trâu, mua chịu, lông lá, moi óc, mả cha, ỉa vất, lỗ phên trống, đẻ dễ, đĩa thịt, cào cổ…

Những là: da thịt tôi nổi ốc, mùi trú ngún trong bếp, đứng ngoài xúi giặc, đạp mẻ chai, đi đầu xuống đất, xanh xương mét máu, ngó lui ngó tới, trong đầu em có cục sạn, chui vào bụi, củ khoai cả hà,  dép sút quai,…

 Trong một thế giới như thế, nhân vật “tôi” là một hữu thể mang tính sinh vật. Nó tồn tại, quằn quại trong một hiện sinh trần truồng, bầm dập, vụn nát và bi thảm. Tận cùng bi thảm. Sống chỉ còn là những phản ứng có điều kiện:

Tôi ăn, tôi nuốt, tôi hả họng, tôi cào cổ, tôi chưởi, tôi ít khi được ăn cơm no, tôi quanh quẩn với mình, tôi thèm miếng mỡ, tôi cắn, tôi bị rệp cắn ngứa hết cả thân hình, tôi đã hôn em cực khổ như thế, tôi cơm không có mà ăn ngó tới ngó lui không biết thù ai, tôi tưởng tượng được ăn thịt rồi vui vẻ nói cười…

Nhân vật “tôi” đói, thường trực đói, phải đi tìm đồ ăn trên những cái mả mới chôn người chết:

tôi đợi cho mọi người đi hết

cho mấy cái khăn vàng khăn đỏ hết ngoái lại nhìn con ai dại

            trời nắng không có mũ nón trên đầu

mấy cây hương còn cháy cắm lên vắt cơm

            để trên miếng chuối hơ vừa héo

tôi ngồi xuống đất

những hột cơm trắng và khô

tôi ăn cả tàn hương phẩm đỏ vào bụng

liệu ai ở nhà tôi chết có được một vắt cơm

            to trắng thế này để trên mả không

(Đứa bé thả diều trên đồng và vắt cơm cúng mả

                                                                   mới)

Nhà hắn chẳng có gì ngoài…rệp và muỗi:

bây giờ tôi trông mỗi ngày có gạo ăn

(…)

rệp và muỗi

máu

cái mùng mười năm không có một thân lành chỗ cột túm

chỗ gài kim băng chỗ vá đậy bằng vải quần lót

nửa đêm cả nhà thức dậy thắp đèn bắt muỗi

thấy máu nghĩ tới bữa ăn lúc tối

đứa có thịt ăn lại không bị muỗi rệp cắn

tôi chưởi (000)

Người bóc lột người mà rệp, muỗi cũng “bóc lột” người!

“Tôi” bị đánh mất luôn “tôi”:

mọi người đã thù ghét không muốn tôi có tên

để tôi như chó như cây như cứt như đá

(Người đàn ông mất trí và con chó con chưa mở mắt)

Hết chỗ nói. Ngột ngạt quá thể!

Thơ đó chăng? Văn đó chăng? Thôi thì bạn muốn gọi gì thì gọi. Chúng đã như thế rồi.

Thơ Đính, rốt cuộc, là âm bản của một sự thật:

Cuộc cách mạng này kinh khủng thật. Không phải nó chỉ thay đổi tâm tính, thái độ, tư tưởng của từng con người mà thay đổi vị trí của từng đồ vật trong từng nhà, cái ghế, cái bàn, cái tủ, cái giường, tôn lợp trên mái nhà, lư hương trên bàn thờ… đều thay đổi chỗ, xếp đặt lại tất cả. Hôm qua cái bàn còn để đó, hôm nay không còn nữa, cái bàn đã đi qua nhà khác, đã ở ngoài chợ. Cuộc cách mạng này đã phá hết, phá tan hết những gì mà từng gia đình đã bòn mót bao nhiêu năm nay từ ông cha đến con cháu để nuôi sống mình, để tồn tại với đời. Và những người làm cách mạng đã thay thế những gì mà họ đã phá sạch bằng công an, bằng quyền lực trấn áp, bằng mệnh lệnh, khẩu hiệu, băng cờ.” (Tôi bị bắt/Talawas kỳ 9)

                                                            *

Trong cái ray rứt, ngột ngạt, bế tắc, tôi chợt tìm thấy một Nguyễn Đính khác, rất hiếm hoi:

người thổi chai thổi cái chai qua lỗ trống

người thổi chai thổi từ cái không qua cái có

người thổi chai thổi cái không để đựng cái có

người thổi chai không thổi được chất chai chỉ thổi được hình chai

người thổi chai thổi mình vào cái chai

 (Thổi chai)

Nguyễn Đính đâu, hay vẫn là đó, tài hoa, trong một khoảnh khắc bất chợt lão trang.

 

                                                                        *

 

            Bây giờ Đính đã là “con cua ngoài miệng giỏ”, theo cách nói của McAmmond Nguyen Thi Tu trong một bài viết trên Da Màu.

            Chàng ngoài cõi.

            Vui vẻ nhé, Đính ơi.

 

TDN

(Dallas 5/2018)

 

_________________________________

 

Ghi chú: Thơ trích trong bài lấy từ tập thơ  “Bài thơ của một người yêu nước mình”, Tân Thư xuất bản, California, Hoa Kỳ 1993)

 

1

tranh: Nguyễn Trọng Khôi

 

tội đồ chỉ đứng một chân

 

hãy giả tưởng nỗi buồn treo mắc nhện

đứng một chân ngắm nghía được mấy giờ

choàng cái bóng để nhập vào vai diễn

ấm ớ ngôn tình gục xuống chạm giấc mơ

 

mệt quá phải không sao lòng còn rạo rực

tình độ kinh ngậm lửa tịnh mơ hồ

thì đừng nói: vong thân là đạt đạo

em bạch tạng rồi… sao ta niệm nam mô (?)

 

nếu trí trá cũng chỉ tầm gian dối

ta lột truồng nhìn ảo ảnh linh thiêng

biết là đói khát tình non nhục thể

liếm môi cười, chợt thấy được uyên nguyên

 

mùi hạnh phúc lâu ngày trong cuống họng

vướng víu hoài nên tự hóa thai nhi

đành cúi mặt nôn trào ra sắc tướng

nhìn em cười, diễm tuyệt nét hồ ly!

 

hơn bốn mươi năm đã lắm vô nghì

rượu đẫm hồn thơ cuồng điên ngạo mạn

một chân đứng, tên tội đồ hào sảng

còn múa may chơi trên chính quê mình

 

Khaly Chàm
tp saigon 3/2018

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI

Nhà thơ HOA VĂN

Hơn 100 người tham dự buổi ra mắt hai thi phẩm Hương Tình Hoài Điệp và Dòng Thơ Cho Em của nhà thơ Hoa Văn. Chúng tôi thấy hầu hết các văn nghệ sĩ trong khu vực Boston đều có mặt.

Trong phần dẫn nhập của nhà thơ Trần Thu Miên, ông đã cho các thân hữu thấy sự lợi ích của văn học nghệ thuật trong đời sống trong đó có thi ca. Nhà thơ Lại Tú Mỹ cũng nhắc đến nhiều kỷ niệm với nhà thơ Hoa Văn ở những năm phồn thịnh văn nghệ của cộng đồng Việt Nam tại Boston, và phân tích kỹ lưỡng những câu thơ tình trong hai thi phẩm. Trong phần phát biểu của mình, nhà thơ Hoa Văn đã thú nhận hai thi phẩm được giới thiệu lần này là gợi hứng từ một nhan sắc trẻ trung đã đánh thức lứa tuổi hạc như ông và tên mỹ nhân cũng được đặt cho tác phẩm và chương trình ra mắt sách.
Phần văn nghệ được thực hiện bởi các nghệ sĩ trong vùng như Ngọc Thanh, Hoàng Vân, Ngọc Diễm, Bùi Thạch Trường Sơn và Tạ Đình Phong….
Buổi ra mắt sách được tổ chức vào 12 giờ trưa ngày 27 tháng năm/2018 tại nhà hàng Saigon Seafood trong không khí thân mật và vui vẻ.

 

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

tranh Nguyễn Trọng Khôi - Nostalgia, Oil on canvas 48 x 90 inch

BƯỚC CHÂN VIỆT NAM

 

 

Bước chân thuyền nhân

Mang bao người ra khơi,

Dù phải làm mồi cho sóng dữ

Đói khát phong ba hải tặc tơi bời !

 

Bước chân thuyền nhân,

Mang Việt Nam ra khơi

Xa lánh loài bạo ngược

Theo chủ thuyết ngoại lai

Giày xéo giống nòi…

 

Tháng Tư đen xua vạn người ra biển

Gửi mệnh đời trên thuyền lá đơn sơ,

Mẹ già, vợ yếu, con thơ

Ba người đi chỉ một người tới bến.

Galăng, Bidong, Songkhla ai đến

Ai muôn đời chìm đáy nước, san hô.

Khép mắt xuôi tay, thủy táng hải mồ!!

 

Làn sóng người vẫn âm thầm rắn rỏi

Như Tiền nhân xưa đi mở cõi.

Dẫu dạt về Mỹ Úc Á Âu Phi

Tìm đất Tự Do: sinh tử sá gì!

 

Bước chân Việt Nam

Chào đất mới trăm phương.

Gian khó đau thương, khổ nhọc không lường.

Cuộc sống mới phải hồi sinh,

Xóa đêm dài đón ánh bình minh

Niềm tin vun xới

Hoa trái tốt tươi trên đất lành ngày mới.

Trải bốn mươi năm

Nhạt nhòa ký ức xa xăm.

Thế hệ sau an lành

Dựng đời vui tươi sáng,

Ánh mắt nụ cười vầng dương chiếu rạng.

 

Lớp con cháu về sau

Học vấn tài năng cao.

Đang góp công chung sức đáp đền,

Trên quê hương thứ hai mãi mãi vững bền.

 

Vẫn hướng về đất Tổ

Thế hệ sau thành công vượt trội

Với nghĩa ân nhuần gội,

Không quên cội nguồn

Đất Mẹ Việt Nam.

 

UYÊN THÚY LÂM

TranVangSao

Trần Vàng Sao qua nét vẽ Đinh Cường

Nhà thơ TRẦN VÀNG SAO đã từ trần vào hồi 14 giờ 45 phút, ngày 09/5/2018 – nhằm ngày 24 tháng Ba năm Mậu Tuất, tại Vỹ Dạ, thành phố Huế..

ThoTranVangSao

BÀI THƠ CỦA MỘT NGƯỜI YÊU NƯỚC MÌNH

 

 

Trần Vàng Sao

 

 

Buổi sáng tôi mặc áo đi giày 
ra đứng ngoài đường 
Gió thổi những bông nứa trắng bên sông 
Mùi toóc khô còn thơm lúa mùa qua 
Bầy chim sẻ đậu trước sân nhà 
Những đứa trẻ đứng nhìn ngấp nghé 
Tôi yêu đất nước này như thế

Mỗi buổi mai 
Bầy chim sẻ ngoài sân 
Gió mát và trong 
Đường đi đầy cỏ may và muộng chuộng 
Tôi vẫn sống 
vẫn ăn 
vẫn thở 
như mọi người

Đôi khi chợt nhớ một tiếng cười lạ 
Một câu ca dao buồn có hoa bưởi hoa ngâu 
Một vết bùn khô trên mặt đá 
Không có ai chia tay 
Cũng nhớ một tiếng còi tàu.

Mẹ tôi thức khuya dậy sớm 
Năm nay ngoài năm mươi tuổi 
Chồng chết đã mười mấy năm 
Thuở tôi mới đọc được i tờ 
Mẹ thương tôi mẹ vẫn tảo tần 
Nước sông gạo chợ 
Ngày hai buổi nhà không khi nào vắng người đòi nợ 
Sống qua ngày nên phải nghiến răng 
Cũng không vui nên mẹ ít khi cười 
Những buổi trưa buổi tối 
Ngồi một mình hay khóc 
Vẫn thở dài mà không nói ra 
Thương con không cha 
Hẩm hiu côi cút

Tôi yêu đất nước này xót xa 
Mẹ tôi nuôi tôi mười mấy năm không lấy chồng 
Thương tôi nên ở góa nuôi tôi 
Những đứa nhà giàu hằng ngày chửi bới 
Chúng cho mẹ con tôi áo quần tiền bạc, 
như cho một đứa hủi 
Ngày kỵ cha họ hàng thân thích không ai tới 
Thắp ba cây hương 
Với mấy bông hải đường 
Mẹ tôi khóc thút thít 
Cầu cha tôi phù hộ tôi nên người 
Con nó còn nhỏ dại 
Trí chưa khôn chân chưa vững bước đi 
Tôi một mình nuôi nó có kể chi mưa nắng

Tôi yêu đất nước này cay đắng 
Những năm dài thắp đuốc đi đêm 
Quen thân rồi không ai còn nhớ tên 
Dĩ vãng đè trên lưng thấm nặng 
Áo mồ hôi những buổi chợ về 
Đời cúi thấp 
Giành từng lon gạo mốc, 
Từng cọng rau hột muối 
Vui sao khi con bữa đói bữa no 
Mẹ thương con nên cách trở sông đò 
Hàng gánh nặng phải qua cầu xuống dốc 
Đêm nào mẹ cũng khóc 
Đêm nào mẹ cũng khấn thầm 
Mong con khôn lớn cất mặt với đời

Tôi yêu đất nước này khôn nguôi 
Tôi yêu mẹ tôi áo rách 
Chẳng khi nào nhớ tuổi mình bao nhiêu.
Tôi bước đi 
Mưa mỗi lúc mỗi to, 
Sao hôm nay lòng thấy chật 
Như buổi sáng mùa đông chưa thấy mặt trời mọc 
Con sông dài nằm nhớ những chặng rừng đi qua 
Nỗi mệt mỏi, rưng rưng từng con nước 
Chim đậu trên cành chim không hót 
Khoảng vắng mùa thu ngủ trên cỏ may

Tôi yêu đất nước này những buổi mai 
Không ai cười không tiếng hát trẻ con 
Đất đá cỏ cây ơi 
Lòng vẫn thương mẹ nhớ cha 
Ăn quán nằm cầu 
Hai hàng nước mắt chảy ra 
Mỗi đêm cầu trời khấn phật, tai qua nạn khỏi

Tôi yêu đất nước này áo rách 
Căn nhà dột phên không ngăn nổi gió 
Vẫn yêu nhau trong từng hơi thở 
Lòng vẫn thương cây nhớ cội hoài 
Thắp đèn đêm ngồi đợi mặt trời mai 
Tôi yêu đất nước này như thế 
Như yêu cây cỏ ở trong vườn 
Như yêu mẹ tôi chịu khó chịu thương 
Nuôi tôi thành người hôm nay 
Yêu một giọng hát hay 
Có bài mái đẩy thơm hoa dại 
Có sáu câu vọng cổ chứa chan 
Có ba ông táo thờ trong bếp 
Và tuổi thơ buồn như giọt nước trong lá sen

Tôi yêu đất nước này và tôi yêu em 
Thuở tóc kẹp tuổi ngoan học trò 
Áo trắng và chùm hoa phượng đỏ 
Trong bước chân chim sẻ 
Ngồi học bài và gọi nhỏ tên tôi 
Hay nói chuyện huyên thuyên 
Chuyện trên trời dưới đất rất lạ 
Chuyện bông hoa mọc một mình trên đá 
Cứ hay cười mà không biết có người buồn. 
Sáng hôm nay gió lạnh vẫn còn 
Khi xa nhà vẫn muốn ngoái lại 
Ngó cây cam cây vải 
Thương mẹ già như chuối ba hương 
Em chưa buồn 
Vì chưa rách áo

Tôi yêu đất nước này rau cháo 
Bốn ngàn năm cuốc bẫm cày sâu 
Áo đứt nút qua cầu gió bay 
Tuổi thơ em hãy giữ cho ngoan 
Tôi yêu đất nước này lầm than 
Mẹ đốt củi trên rừng cha làm cá ngoài biển 
Ăn rau rìu rau éo rau trai 
Nuôi lớn người từ ngày mở đất 
Bốn ngàn năm nằm gai nếm mật 
Một tấc lòng cũng trứng Âu Cơ 
Một tiếng nói cũng đầy hồn Thánh Gióng.

Tôi đi hết một ngày 
Gặp toàn người lạ 
Chưa ai biết chưa ai quen 
Không biết tuổi không biết tên 
Cùng sống chung trên đất 
Cùng nỗi đau chia cắt Bắc Nam 
Cùng có chung tên gọi Việt Nam 
Mang vết thương chảy máu ngoài tim 
Cùng nhức nhối với người chết oan ức 
Đấm ngực giận hờn tức tối 
Cùng anh em cất cao tiếng nói 
Bản tuyên ngôn mười bốn triệu người đòi độc lập tự do 
Bữa ăn nào cũng phải được no 
Mùa lạnh phải có áo ấm 
Được nói cười hát ca yêu đương không ai cấm 
Được thờ cúng những người mình tôn kính 
Hai mươi năm cuộc đời chưa khi nào định.
Tôi trở về căn nhà nhỏ 
Đèn thắp ngọn lù mù 
Gió thổi trong lá cây xào xạc 
Vườn đêm thơm mát 
Bát canh rau dền có ớt chìa vôi 
Bên hàng xóm có tiếng trẻ con khóc 
Mẹ bồng con lên non ngồi cầu Ái tử 
Đất nước hôm nay đã thấm hồn người 
Ve sắp kêu mùa hạ 
Nên không còn mấy thu 
Đất nước này còn chua xót 
Nên trông ngày thống nhất 
Cho bên kia không gọi bên này là người miền Nam 
Cho bên này không gọi bên kia là người miền Bắc 
Lòng vui hôm nay không thấy chật

Tôi yêu đất nước này chân thật 
Như yêu căn nhà nhỏ có mẹ của tôi 
Như yêu em nụ hôn ngọt trên môi 
Và yêu tôi đã biết làm người 
Cứ trông đất nước mình thống nhất.
(19-12-1967)

 

 

“TAU CHƯỞI” 

 

 

tau tức quá rồi
tau chịu không nổi
tau nghẹn cuống họng
tau lộn ruột lộn gan

tau đầu tắt mặt tối
đổ mồ hôi sôi nước mắt
vẫn đồng không trự nõ có
suốt cả đời ăn tro mò trú
suốt cả đời khố chuối Trần Minh
kêu trời không thấu
tau phải câm miệng hến
không được nói
không được la hét
nghĩ có tức không
tau chưởi
tau phải chưởi
tau chưởi bây
tau chưởi thẳng vào mặt bây
không bóng không gió
không chó không mèo
….
tau chưởi cho tiền đời dĩ lai bây mất nòi mất giống
hết nối dõi tông đường
tau chưởi cho mồ mả bây sập nắp
tau chưởi cho bây có chết chưa liệm ruồi bu kiến đậu
tam giáo đạo sư bây
cố tổ cao tằng cái con cái thằng nào móc miếng cho bây
hà hơi trún nước miếng cho bây

bây là rắn
rắn
toàn là rắn
như cú dòm nhà bệnh
đêm bây mò
ngày bây rình
dưới giường
trên bàn thờ
trong xó bếp
bỏ tên bỏ họ cha mẹ sinh ra
bây mang bí danh
anh hùng dũng cảm vĩ đại kiên cường
lúc bây thật lúc bây giả
khi bây ẩn khi bây hiện
lúc người lúc ma
……
hỡi cô hồn các đảng
hỡi âm binh bộ hạ
hỡi những kẻ khuất mặt đi mây về gió
trong am trong miếu giữa chợ giữa đường
đầu sông cuối bãi
móc họng bóp cổ móc mắt bọn chúng nó
cho bọn chúng nó chết tiệt hết cho rồi
bây giết người như thế
bây phải chết như thế
ác lai thì ác báo
tau chưởi ngày chưởi đêm
mới bét con mắt ra tau chưởi
chập choạng chạng vạng tau chưởi
nửa đêm gà gáy tau chưởi
giữa trưa đứng bóng tau chưởi
bây có là thiền thừ mười tám con mắt tau cũng chưởi
mười hai nhánh họ bây
cao tằng cố tổ bây
tiên sư cha bây
tau chưởi cho bây ăn nửa chừng mẻ chai mẻ chén
xương cá xương thịt mắc ngang cuống họng
tau chửi cho nửa đêm oan hồn yêu tinh ma quỷ
mình mẩy đầy máu hiện hình vây quanh bây đòi trả đầu trả chân trả tay trả hòm trả vải liệm
tau chưởi cho cha mẹ bây có chết cũng mồ xiêu mả lạc
đoạ xuống ba tầng địa ngục bị bỏ vào vạc dầu
tau chưởi cho cha mẹ bây có còn sống cũng điên tàn
đui què câm điếc làm cô hồn sống lang thang đầu đường xó chợ
bốc đất mà ăn xé áo quần mà nhai cho bây có nhìn ra
cũng phải tránh xa
tau chưởi cho con cái bây đứa mới đi đứa đã lớn
sa chân sẩy tay đui què sứt mẻ nửa đòi nửa đoạn
chết không được mà sống cũng không được
tau chưởi cho dứt nọc dòng giống của bây cho bây chết sạch hết
không bà không con
không phúng không điếu
không tưởng không niệm
không mồ không mả
tuyệt tự vô dư
tau chưởi cho bây chết hết
chết sạch hết
không còn một con
không còn một thằng
không còn một mống
chết tiệt hết
hết đời bây
————-
Trần Vàng Sao

 

9a

KHI DÒNG SÔNG BẬT KHÓC

 

 

Một dòng sông bật khóc lúc quay về

Khi dĩ vãng đã bên bồi bên lở

Ánh mắt trông theo – đâu rồi thời cám dỗ

Bờ rong rêu, thăm thẳm bóng con đò

 

Mình có còn đâu, thuở để hẹn hò

Mà em khóc, nỗi niềm câm lặng cũ

Nếu được phân chia, mình sẽ là vũ trụ

Vút không gian và vượt cả thời gian

 

Anh sẽ cười đau – quên hết những gian nan

Hồn hiệp sĩ – dìu em vào hoang vắng

 

Mà lạ nhỉ, gặp nhau trời lại nắng

Có gì đâu mà nói chuyện hoang vu

Hay là em, phảng phất chút phiêu du

Tuổi vẫn ngỡ mười lăm hay mười tám

 

Về đi em – đời chưa hề ảm đạm

Tiếc mà chi, mà nhớ cũng mà chi

Có ai làm nên được chuyến phân ly

Dang dở ấy, cứ về và cứ nhớ…  

 

 

  Hà Huy Dziệu 

 

                                                                                                                                                                                                                                                                                


BAO ĐIỀU CHƯA KỊP NÓI    

     

chưa kịp là giấc ngủ

ngày tháng đã mênh mông

tình nồng chưa kịp cũ

em tay bế tay bồng

 

chưa kịp là ngọn gió

em đã là bão giông

ngọn đèn chưa kịp tỏ

em về theo nhánh sông

 

chưa kịp là nhịp thở

em đã là cơn mưa

chưa kịp lời dang dở

thu-vàng-em đong đưa

 

vẫn nghe lời lửa cháy

thấp thoáng bụi tro tàn

xa xăm từ dạo ấy

ray rứt một cung đàn…

 

 

Hà Huy Dziệu         

 

 


NỖI NHỚ CẠNH SÔNG HÀN

 

 

Ôi dòng sông, nước không xanh, không đỏ

Lững lờ trôi – ta thấy chỉ hanh vàng

Bờ quạnh vắng, chừng như lời muốn tỏ

Ta nhìn quanh – e ấp, chỉ sông Hàn …

 

Sơn Trà không vui – gió bão với mây ngàn

Mưa sùi sụt – chông chênh từng góc phố

Quán cà phê, người ngồi chưa ấm chỗ

Ào ạt mưa – lại nhớ nước sông Hàn …

 

Thuở có em – mây chẳng nỡ dâng tràn

Gió nhè nhẹ – (dẫu lòng nhau trôi nổi !)

Gần bốn mươi năm – đời quá nhiều biến đổi

Đường Hùng Vương – thương quá gốc cây già

 

Quê của em, nào có bóng cây đa

Mà kỷ niệm, xôn xao về bến cũ

Suốt bờ sông, ta mơ hàng liễu rũ

Lòng bâng khuâng – dõi bóng một con đò 

 

 

Hà Huy Dziệu

 

 

ChienTranh2

 

CUỘC CHIẾN TRANH THỔ TẢ

 

Sau ba mươi tháng tư bảy nhăm tôi – người lính đầu tiên về quê xứ đạo
Gặp tôi các bà các cô khóc inh ỏi xóm nghèo
Chồng con chúng tôi đâu cả rồi anh Hảo ?
Thấy anh về sao họ chẳng về theo ?

Mới cưới tôi một ngày chồng phải đi B gấp
Anh thề xong chiến tranh sẽ trăng mật đủ tuần
Anh trúng đạn ngay trong hầm ẩn nấp
Xin Bác Hồ đền lại cháu anh Tuân …

Bác gái ruột tôi gào : chiến tranh thổ tả
Năm sáu nhăm anh Cả tôi chết trên mâm pháo Hàm Rồng
Bác ôm chặt tôi tưởng tôi là anh Cả
Bu đây mà con có nhớ bu không ?

Tôi sống sót về làm cả làng tang tóc
Các bà các chị gào : trả chồng con lại cho tao !
Xin trời phạt bọn người gây chết chóc
Gieo đau thương trên Tổ Quốc đồng bào…

Sài Gòn 29-4-2018

Trần Mạnh Hảo

Nguyen Tri Minh-Sang som 45x65cm son dau

tranh Nguyễn Trí Minh

Rồng Bay Phượng Múa

 

 

Sàigòn Chợ Lớn mưa như chớp
nát cả trùng dương một khắc thôi
chim én bay ngang về Xóm Chiếu
nước ròng ngọt át giọng hàng rong
hỡi ơi con bạn hàng xuôi ngược
trái cây quốc cấm dấu trong lòng
hỏi thăm cho biết đường ra biển
nước lớn khi nào tới cửa sông

Sàigòn Khánh Hội gió trai lơ
khi ấy còn tơ gái núi về
đào kép cải lương say tứ chiến
Ngã Tư Quốc Tế đứng xàng xê
gánh nước nặng hơn vác thánh giá
má đỏ hình như rượu mới nồng
em nhớ giăng mùng khi xế bóng
kéo đời đưa võng suốt hôn mê
Chương Dương sánh ánh trăng vàng võ 
rọi thấu vào trong dạ não nùng
con cá lội qua Cầu Ông Lãnh
như chiếc ghe bầu khẩm héo hon
nước chia mấy ngả sao không thấy
mấy ngả phong trào thuở thiếu niên
Sài Gòn Gia Định em vô trước
qua ngõ Cầu Bông mới tủi thân
chiếc xe đò cũ hơn chùa miễu 
chở hết vàng son tới ủ ê
đêm đêm rực tiếng côn trùng dậy
trống trải hồn ta đến thấu trời 
xa lộ phía bên gà gáy tối
về lối Hàng Sanh có tiếng cười 
anh lén ghé qua nhà kẽo kẹt
thấy tiếng cười trong một giâ’c mê

Sài Gòn Phú Nhuận nhớ không nổi
có ngã nào qua Khám Chí Hoà
hỏi thăm quên mất tên thằng bạn
như lá trên rừng đang chuyển mưa
trận mây đồng phục nặng như thép
ửng chút đời xưa rạng chỗ ngồi
những người cách mặt gần như nhớ
những mặt trời xây xẩm trở về
Sài Gòn Chợ Lớn nhớ không tới
con gái Bàn Cờ qua Thủ Thiêm
chiếc phà chở hết tên thành phố
mỗi ngã tư trời đất mỗi nơi
nhớ thương cũng mỏi cánh cao vút
đáp xuống Cầu Ba Cẳng xả hơi 
mọc thêm một cánh chân thời thế
con thú về Lục Tỉnh mất tiêu
nửa đêm em đổ mồ hôi trộm
như nụ cười che chở thịt da

Sài Gòn bước cho rõ tiếng guốc
nắng vàng vàng trên đá nứt mê tơi
như một mùa hoa nở cấp tốc
đưa đường tại hạ ghé qua chơi
hỏi thăm con bạn thời sinh tử
đã lánh mình qua miệt Chánh Hưng
cầu Chữ Y yêu kiều ba ngã 
có ngã lui về đế dưỡng quân
nồi lẩu lươn chua đêm nuốt khói
ta với mình nhứt dạ đế vương

Sài Gòn Chợ Lớn dưới mặt đất
ngõ hẽm đời sau rối địa hình
tiếng nói cất lên, ngoài tiếng nói
của đàn ông nói chuyện với rồng
tiếng hát cất lên, ngoài tiếng hát
để về khuya phượng múa chung quanh

 

Cao Đông Khánh

 

thieuNu

Đêm nghiêng*

 

Một hồn / một xác / một lời kinh 
với cây thánh giá ở trong mình (?) 
em về giải tội tôi / từ ấy 
mỗi đêm là mỗi lễ phục sinh

Bây giờ co gối /mộng giường nghiêng 
tóc vẫn dài hơn những muộn phiền 
ai chia chăn chiếu / tôi chia đất ! 
em nằm ôm gối ngủ bình yên

 

Hoàng Vũ Nữ

 

-tựa do VNBoston đặt

 

bxppchn23

CON NGÕ VẮNG

 

     Chuyến xe cuối cùng trong ngày đã về bến đỗ. Ngoài mặt đường cũng chẳng còn xe. Người vắng, và mọi ô cửa đều được khóa lại như một lẽ dĩ nhiên khi đêm xuống. V rút bao diêm, đánh xòe một que rồi thổi tắt. Trăng lên thật cao. Con trăng chưa thật đầy, chỉ lấp ló ít lâu liền bị thổi vào mây đen. V đi thêm vài bước thì đứng lại. Đôi phút chỉnh lại quai ba lô, nâng gọng kính, V đi tiếp. Nhiều cửa sổ để ngỏ nhưng cũng chẳng có đèn.

   “Đi đâu?”

     Tiếng một gã trung niên mặc áo cộc cưỡi Honda.

   “Không.”

     Ngọn đèn cao áp đủ sáng để V không trượt ngã vì trời tối. Những bước chân thật ngắn, và chậm. V lấy hộp diêm, nhìn một lúc lâu rồi nhét lại vào túi. Đoạn đường kia rồi, hơn chục mét là vào đến ngõ. Quán ăn khuya, vài chiếc xe còn lác đác dưới vỉa hè. Một đôi tình nhân dựng xe vào góc khuất và đang cố quên hết mọi sự bằng những cái âu yếm. V vào đến ngõ. Đã có người chào đón V ngay rồi. Chỉ bằng một cái xua tay, V đã đoạn tuyệt được với kẻ lạ mặt. Hắn vào với ông chủ của mình nơi quầy phở. Phía trong ngõ, sâu thêm hai mươi tám bước chân mới thực sự là nơi của V. Đấy là một quán trà nhỏ, có bàn kê sát tường. Quán trà mở đến gần sáng và thế là V chẳng phải lo không có chỗ nghỉ chân.

     Một cốc trà nóng, thật loãng, đĩa hướng dương và nửa gói kẹo dồi. Khẩu phần của V chỉ như thế. Người chủ quán già luôn gật gù khi có khách. Gật gù khi ai đấy gọi thêm trà, đồ ăn và cũng gật gù khi tính tiền và tiễn khách ra về.

   “Khi nào dọn hàng thì gọi cháu.”

   “Ừ.”

     Và thế là V gục xuống mặt bàn và cất ngay tiếng ngáy.

   “Thế là đã có người đến ngủ.”

   “Mấy giờ rồi.”

   “Đã khuya, và người ta ngủ kìa.”

   “Thì thế, nhưng này, mấy giờ rồi thế…”

*

     Đất hà thành. Chật. Nhiều nhà cửa. Thừa mứa người. Và luôn thiếu giường nghỉ. V. không thường ở Hà Nội. V ghét mùi hoa sữa, cảm thấy dị ứng nếu thấy cảnh một toán người chen chúc mua kem, áo quần thanh lý, điểm ăn thử, xây thêm nhà và nói về gia cảnh…Chỗ của V là quán trà trong ngõ. Nhiều năm nay V là khách quen của quán. V không thường đến theo ngày hoặc theo tuần. Chỉ bất chợt V lỡ xe ở Hà Nội, và tìm đến quán trà.

   “Cậu nhóc đấy ư?” – V nói như vậy.

     Tên nhóc mà V gọi lại chỉ trạc mười hai, mười ba. Nó trông thật hiền, luôn mặc áo kẻ xọc xanh, quần ngố. Thằng nhóc thường dắt theo một con chó nhỏ. Con chó hơi gầy, mõm nó dài hơn so với mọi giống chó cỏ. Mũi nó xỉn đen như cục than. Lông nó hơi hung và nếu đôi mắt nó sắc hơn một chút, tai dài, nhọn thêm một chút, thì không khó để nghĩ đây là một con sói lai. Thằng nhóc giữ con chó lại bằng một sợi dây cương buộc nơi cổ.

   “Chú lại đến.” – Thằng nhóc toét cười.

   “Ăn bánh không?” – V nói và thằng bé không từ chối.

     Trong ngoài quán bắt đầu có thêm khách. Số khách này đều là người quen của ông chủ. Họ cười nói, bắt chuyện, mua chịu còn ông chủ chỉ gật gù.

   “Mày học lớp mấy.”

   “Cháu chịu.”

   “ Mày không đi học à.”

   “Có, à không…Có, mà không…”

   “Ờ.”

     Que diêm đánh thành lửa. V châm một điếu thuốc nhưng không hút, cũng chẳng ngậm vào miệng, chờ đến phút cao hứng để rít vào. Sau nhiều lần ngủ trực mỗi lần vãng lai nơi đây, ông chủ quán già không còn phàn nàn. Quán trà này cũng là nhà riêng. Quán hướng ra ngõ, và có ba bộ bàn ghế, kê sát tường. Phía trong cũng có bàn ghế và luôn đông khách vì có quạt, Wifi và một ít báo cũ. Buồng trong là nhà riêng, luôn hé rèm. V không tường tận về sinh hoạt phía trong. V ngồi ngoài, chếch cửa ra vào một chút. Nhưng V. có thể nghe biết được bằng những âm thanh đi lạc ra phía ngoài. Tiếng trò chuyện, cốc vỡ, hoặc ai đấy cười sằng sặc khi bị chọc lét. Ngày hôm nay V đến sớm. V chào ông chủ, và ông ta chào đáp V bằng cái gật gù. Quá nhiều trà cho một ngày thứ hai bận rộn. Con ngõ này bao nhiêu mét. Bao nhiêu nhà và bao nhiêu hàng quán. Không dễ để đếm ra nếu chỉ ngồi một chỗ. V nhìn ra các khúc quanh trong ngõ rồi rời mắt về cốc trà đang bỏ dở. Sau nhiều tiếng ghi bài ở lớp học thêm, mấy tên học sinh chịu làm khách quán trà. Chúng gọi nước ngọt, hướng dương và mào đầu câu chuyện bằng cách mở điện thoại. Chỗ ngồi của V thật kín đáo và không mấy sạch sẽ vì dưới chân là một miệng cống.

   “Đồ uống của các cháu.”

   “Cháu xin.”

   “Tính tiền.”

     Sau một cuộc gọi dài, V gọi thêm trà. Ngồi đấy thôi, và nhấm nháp chút trà. Ở trong kia đang có một cuộc trò chuyện thật ồn. Không phải mấy đứa học sinh vì đây là tiếng người lớn. V rút bao diêm, đánh lửa, rồi nhìn que gỗ cháy. Ba lô đã sờn rách gần hết. Quai ba lô vẫn thừa sự chắc chắn để V có thể ních cả đá tảng. Bàn bên kia đã vãn khách. Ông chủ dọn cốc. Những cái gật gù. Một người có lẽ là quen với ông chủ tạt ngang quán. Cái người đấy giơ tay chào, hỏi rằng bán được không. Ông chủ gật gù, và lại gật gù.

   “Thế là cũng sắp trưa.”- V nói.

   “Sắp phải đóng cửa rồi.” – Ông chủ đáp.

   “Năm giờ chiều phải không ông? Cháu đặt trước chỗ này.”

   “Ờ.”

     V lấy diêm, đốt một que. Lần này V châm thuốc.

     Chiếc xe chưa vào bến đỗ đã vội phóng đi. Cửa xe không mở nổi vì quá nhiều người. Điểm dừng xe buýt còn sẵn chỗ nhưng chẳng ai ngồi. Họ đứng cạnh V và nhìn ra cuối đường. Một chiếc xe khác sẽ đón họ đi. Những câu hỏi về giờ giấc và thời tiết. Một bà cụ mang theo tay nải nhắc về đứa con từng đi lính và được lập mộ nơi đảo xa. Thuốc lá hết mất rồi. Diêm còn ít lắm, phải chừa lại mà dùng. V nâng gọng kính, rồi mở điện thoại. Tin nhắn từ tổng đài, dịch vụ và thật khó để tìm ra một cái số để V có thể mở ra đọc. Một số gọi.

   V cười nói thật tươi. Mấy mẩu chuyện cười V đọc từ tờ báo cũ khi ngồi quán trà giờ có chỗ để kể. Người đầu bên kia hỏi về số giấy tờ gì đấy. Có thể là giấy nợ, biên lai, hồ sơ hoặc bản thảo sách…Cuộc gọi một lần nữa khiến V không thể lên xe. Mấy người cùng chờ xe với V khi nãy đi hết cả. Nhiều người khác tới bến, và cùng chờ xe.

   “Tao đang ở ga N.”

   “Không biết khi nào về Hà Nội.”

   “Thế nhé…”

     Một chiếc xe bus nữa đến. Xe trống, V không lên.

   “Đi xe bao nhiêu…” – Có người hỏi V.

   “Không phải xe này…” – V đáp lại.

*

     Cái quẩy dài được xé làm đôi. V một khúc, thằng nhóc một khúc. Nó không ăn ngay và cất trong túi. Nó nói rằng sẽ cho con Pit. Con Pit, đấy là tên con chó nó vẫn dắt theo. Ngày hôm nay nó không dắt con chó. Mặc quần đùi, áo phông kẻ xanh, nó ngồi bệt dưới đất. V không mời ghế nó. Thằng nhóc mặt rất hiền, môi hơi chề và thường gặm móng tay. Theo lời mấy người khách quen có nhà ở đây thì thằng nhóc nhà ở cuối ngõ.

   “Chú đợi ai.”

   “Chẳng ai cả.”

   “Nhìn chú buồn thế.”

   “Tao không buồn.”

   “Nhà chú chỗ nào.”

   “Ở xa.”

   “Còn nhà mày.”

   “Cũng ở xa.”

     Nó cười hềnh hệch, văng cả nước bọt ra. Rồi nó đi. Một lát sau V thấy nó dắt con Pit. Con Pit nhìn V vẫy vẫy đuôi, hẳn nó biết V là người đã cho nó ăn. Con mắt màu hạt đỗ trông buồn bã. Nó ư ử vài tiếng rồi chạy, sợi dây xích ở cổ khiến nó chỉ chạy được xa. Nó đi theo thằng nhóc, một vòng quanh ngõ.

     Gọng kính trễ xuống sống mũi và V bỏ nó ra. Mắt kính cũng lắm bụi. Một bà bán hàng rong đạp xe qua con ngõ. Đằng sau tủ kính là ít bỏng ngô, quẩy rán, bánh mỳ ngọt. Mỗi ngày ở đây luôn có người bán hàng rong đi vào. Tiếng rao cách quãng. Đến tối khuya vẫn có. Điện thoại reo. V nghe máy, trò chuyện, hẹn hò lại rồi tắt máy. Hết trà. Thuốc lá cũng cháy hết vì không kịp hút.

     V rút điếu thuốc khác. Diêm hết. V vào trong quán mua thêm diêm.

     V không mua được diêm, chỉ có bật lửa. “Không còn lấy một que thì cô bé chẳng gặp được bà mình.” V nói, rồi trầm ngâm nhìn cái vỏ diêm rỗng nằm lăn lóc trên bàn thanh toán.

   “Có bật lửa đấy. Đằng nào chả châm được thuốc.”

   “Cần xin lửa không.”

   “Hút thế cũng đủ.”-V nói và gọi một cốc trà nóng, loãng, như mọi khi.

     Ông chủ gật gù. “Sẽ có trà, sẽ có trà….”

     Xe bus ở hà thành thiếu gì. Năm phút sẽ có một chiếc đến trạm đỗ, chậm hơn thì mười lăm phút. Nửa tiếng là dành cho những điểm đỗ quá nhiều xe dừng. V đến đây không bằng xe bus. Hẳn rồi. Chuyến xe bus mà V ngồi lâu nhất, đi xa nhất là về phố Nỉ. Đến bến thì xe sẽ dừng và V phải xuống. Xe khách thường mở sẵn cửa để đón bất cứ ai. Muốn đi tàu thì phải mua vé trước. Mười ngày trước, trong một trận mưa lớn V đã lỡ xe. Lí do về cái kính khiến V khó sang đường. Ba lô ngấm mưa nặng hơn. Con ngõ không có cửa sắt nên V vào được. Không thấy rõ trăng vì mây quá dày. Gió hất mưa phủ nhòe cặp kính V.

     Quán trà còn hé cửa nhưng không có khách. Đứng ngoài cửa một lúc, V mạnh dạn gõ cửa. Sau đấy cửa được mở rộng cả cánh.

   “Ướt hết hả.” – Ông chủ nói.

   “Vâng.”

   “Vào đi.”

     Ông chủ hỏi V uống gì. V gọi trà nóng. Ông chủ nói rằng trà chưa có và chỉ có nước gừng tươi. V gật đầu, hắt hơi vài cái. Ngoài hè không có ghế vì mưa ngày một lớn. Sau khi lau mắt kính bằng khăn ghi đô, V nhìn rõ hơn. Tường bên ngoài đã cũ. Nhiều mảng tường tróc dần. Hình vẽ, rồi mấy địa chỉ khoan cắt bê tông, giấy tìm người ở ghép, quảng cáo lớp gia sư…Cũng bong đi nhiều phần. Nhiều chiếc lá bị cuốn vào trận mưa. Chiếc còn phất phơ, chiếc thì đã nằm dính trên mặt tường hoặc bay vào trong nhà. Nước cống ộc lên cùng trận mưa.

     Ông chủ vào nhà trong, một lúc rồi đi ra – “Mặc vào đi.” – Một bộ quần áo nỉ. Vai áo sờn hết chỉ nhưng vẫn tốt hơn diện áo ướt. V vào buồng vệ sinh để thay quần áo. Ông chủ đóng cửa ngoài. “Cần gì cứ lấy. Sáng mai thanh toán một thể, tao đi ngủ.” V gật gù, ông chủ cũng gật gù rồi vào buồng trong. Tiếng chốt cửa, rồi liền theo đấy là mấy tiếng loảng xoảng của xích khóa. Một lúc lâu sau, V nghe thấy tiếng ngáy của ông chủ. V uống hết trà gừng. V tìm một bao diêm, đánh vài que, thổi tắt rồi gục xuống bàn và bắt đầu ngáy.

     Chuyến xe sáng ngày hôm sau đã bỏ bến. V bị mắc kẹt lại. Có xe khách vẫy V Lắc đầu, V đi sang phố bên cạnh. Đằng trước lại có một điểm dừng xe. Chín người đang đợi xe. Thêm V là vừa vặn mười.

*

     “Đi đâu?”

     Một tay gầy, đen nhẻm, đội mũ bảo hiểm trùm đầu hỏi V.

     V lắc. Một bà cụ sang đường không nhìn đèn đỏ và bị taxi húc văng ra một đoạn. Bà cụ không thấy dậy nữa. Tay lái xe bị chặn lại vì tiếng tuýt còi từ phía xa. Chỉnh lại quai ba lô, V lẩn khỏi dòng người hình quả trứng. V nhớ là trước đấy bà cụ đã không thấy xe. Tay lái xe cũng không thấy bà cụ. Đèn xe còn sáng rực và chưa kịp xi nhan. Khi họ nhìn rõ nhau thì đã thành chuyện.

   “Có gì bên kia?”

   “Tai nạn xe?”

   “Chết không?”

   “Chịu thôi.”

   “Mình đi.”

     V mở bao diêm, lấy một que. V quẹt lửa, gió thổi tắt mất. Mùi diêm sinh. Que diêm đốt hỏng V vẫn giữ trên tay, một lúc sau thì rơi mất đâu.

*

     Những ngày nắng chẳng mấy ai gọi trà nóng cả. Khi ấy người ta cần thêm một hai viên đá. Kẹo lạc, bánh khảo vẫn được ưu tiên nhưng ít hơn. Trên mặt bàn luôn thấy dấu nước đọng, nhiều vụn bánh hay vỏ rác dọn chưa kịp. V luôn ngồi ngoài, hẳn thế. Chỗ V ngồi có mái che nhưng vẫn bị mưa hắt. Chẳng một lần V chịu rời đi ngồi chỗ khác. Nếu chỗ quen này đã có người ngồi, V sẽ đi đâu đấy một lúc rồi quay trở lại. Quán mở đến năm giờ sáng mới đóng cửa. Tuy vậy nhưng V có đến vào tầm khuya thì chỉ được ngồi trong. Quán có thêm ai đấy bán phụ thì V sẽ được ngồi thâu đêm phía ngoài. “À có.” – “Từng có đấy thôi.” – Lâu lâu về trước ông chủ có người bán phụ. Một cô gái nhỏ tuổi hơn V. Theo cách nói chuyện thì là cháu họ hàng xa của ông chủ. Quán mở cả ngày, cô bé và ông chủ thay phiên bán hàng. V được ngồi ngoài đến tận sáng. Sương xuống, cô hỏi V muốn vào trong không, V nói không. Rồi cô hỏi sao V không về nhà, V nói bị trễ xe. Cô gái dọn cốc V và mang ra một cốc trà khác, ấm hơn và đầy hơn. Hai miếng bánh nướng, bánh dẻo mang kèm với trà. V hỏi và cô gái  nói hôm nay là trung thu. V không chối. Cô vào nhà, còn V lấy bánh ăn. Hôm đấy rằm thật nhưng chỗ ngồi này từ lâu đã khó thấy rõ trăng rồi. Nhiều nhà cao tầng và dây điện lắm. Chưa đến một tuần và V không còn thấy cô gái nhỏ nữa. Một chuyến tàu khuya về chốn hoa phượng đỏ và thế là chẳng thể ngồi chỗ quen trọn cả ngày, cũng chẳng còn bánh trung thu.

     Ông chủ ho nhiều quá. Tiếng ho vang cả ra ngoài này. Chiều muộn. Nhiều xe máy, xe đạp đi cả vào ngõ. V ngồi dịch sát trong tường, tránh bị xe đâm vào.

   “Chào chú.”

     Thằng nhóc lại đi qua. Bẵng ít lâu nó cao hơn, không áo phông, quần cộc. Thằng nhóc diện áo xanh trắng quần bò. Đầu tóc nó được chải chuốt gọn gàng, V ngửi thấy mùi gel vuốt tóc của Pháp. Con Pit cũng lớn, màu lông hung hình như nhạt đi nhiều. V không nuôi chó nên không rõ liệu loài chó có thay lông khi lớn lên không. Giờ đây hàm răng con Pit đã mọc bằng hết, nhọn, sắc và lởm chởm. Một cú đợp là coi như xong.

   “Hôm nay không có bánh.”

   “Sao chú hay ở đây thế.”

   “Tao là khách, đến uống trà.”

   “Buổi tối, lúc khuya khuya cháu cũng thấy chú.”

   “Quán còn mở.”

   “Chú không về nhà à.”

     Con Pit vùng ra, thằng bé phải nắm chặt lại sợi dây xích rồi kéo lại. Đuôi nó không vẫy nữa. Con Pit nhìn ra phía ngoài ngõ. Chân nó tê dại lắm rồi và cần lắm một chút chạy nhảy. Thắng nhóc mắng con Pit. Nó im, chỉ gừ khẽ. V hớp một miếng trà. 

   “Hay chú đợi ai.”

   “Tao đợi xe.”    

   “Cháu đi đây.”

     Thằng nhóc giơ tay chào. V vẫy tay. Con Pit chạy vài bước rồi chợt đứng yên. Nó ngoái nhìn V và vẫy đuôi. Lúc thằng nhóc kéo dây xích và mắng một tiếng, nó gừ lại nhưng rồi cũng đi theo thằng bé.

     V dựa ra sau tường. V. thấy đói nhưng chẳng muốn ăn. Dưới chân V. nhiều xác diêm. Cơn gió lạ không khử hết mùi diêm và thuốc lá trên người V. Ông chủ quán bưng trà ra cho khách, cái đầu gật gù. Mấy người trong ngõ đi qua đi lại. Một người dừng lại quán hỏi mua thuốc lá. Người kia vẫn đi tiếp. Hai người có quen nhau không hay chỉ thuận đường.

   “Lâu lắm mới lại thấy mày.” – Ai đấy nói. Có phải nói về V.

   “Tao ngồi cùng được không?”

   “Xin lỗi, chỗ có người.”

   “Ai?”

  1. rút diêm, đánh lửa, không châm thuốc mà nhìn mảnh lửa cháy lụi dần đi.

  “Trời âm u. Lạnh nữa. Mưa đến nơi rồi.”

     Ngồi thêm một lúc. V đứng dậy tính tiền. Ra ngoài con ngõ, nhiều xe cộ còn đi lại. Xe khách không thấy nữa. Chỉ có xe bus còn chạy. Ở cuối đường, ba chiếc xe bus nối nhau chạy về bến. V đi khỏi điểm dừng này. V vẫy một taxi, rồi lại thôi.

*

     Hàng rào sắt được kéo xong thì tàu chạy. Một đường ray dài nằm giữa các con phố. Vài chục chiếc xe nhấp nhô ở hai bên ray tàu. Đường xá nhiều lá rơi. Gió chỉ thoang thoảng, chẳng đủ để lay các quả chuông trong hiệu bán chuông gió. Vỏ sữa, bim bim và tờ rơi có ở mọi nẻo đường. V. nén một hơi sâu rồi thở ra từ từ. Số tin nhắn không còn nhiều. Một ít mở, một ít chưa mở. Tin dịch vụ, nhắn tin nhầm hay thông báo từ tổng đài? V tìm một số rồi bấm gọi. Một giây đợi kết nối, V tắt máy.

   “Ai nhỉ?”- “Ái chà…Điên mất thôi…”

     Ngã ba đường. Nhiều xe. Mấy tay xe máy lao ngược chiều. Phía kia là một toán xe đang đợi đèn xanh. Xe rác dừng bên vệ đường, không thấy người quét rác đâu. Nhiều tiếng còi inh ỏi tranh nhau quyền được đi trước. Khói xe sặc sụa. V thấy một kẻ đang thất thiểu đi lên cầu thang bộ. Hắn mang theo điếu cầy. Leo lên thành cầu, kẻ lạ châm điếu. Một hơi khói thật dài phun khỏi miệng. Sắp hết đèn đỏ. Mọi cỗ xe chuẩn bị phóng đi.

     Sắp hết ngày mà chẳng thấy một bóng xe chịu cho V quá giang. Chưa mua được vé thì đành phải đi thôi. Chuyến xe nào sẽ thừa chỗ để V ngồi lên và về… Đi hai bước, dừng lại rồi đi ngược về sau đúng hai bước. Ngó trái, phải, nhìn bên kia đường, V lặng yên nâng gọng kính cao lên sống mũi. Chợt V nhìn lên các biển số nhà. Vừa nhìn thế vừa bước đi theo đường ngang. Nhà số năm, số chín, quán bún riêu bên cạnh…V rút thuốc. Một điếu thuốc sẽ giúp V tỉnh táo hơn. Điện thoại reo, một cuộc gọi đến.

   “Mày phải không?”

   “Là tao, cũng lâu quá nhỉ?”

   “Đến chỗ tao đi.”

   “Có gì gấp.”

   “Tao đang muốn tự tử đây.”

   “Mày sẽ không tự tử.”

   “Tại sao?”

   “Mày còn gọi cho tao.”

   “Đến chỗ tao, được chứ…”

   “Tao không biết…Tao còn chờ xe…”

     Máy tắt phụt đi. V không mở lại máy được. “Hết pin rồi.” – V nói –“Cũng chả có sạc…”- V lại nói. Cuộc gọi kết thúc rồi. Thế cũng được. V ngậm điếu thuốc, rồi nhấm một hơi sâu. Không có thuốc. V nhổ phì ra. Đúng là nào phải thuốc, chỉ là một que diêm.

     Đèn cao áp bị vỡ hoặc cháy thì phải. V không thấy ánh đèn. Hôm nay trăng sáng. Bầu trời thoáng đãng, chẳng có lấy một mảnh mây đen. Ánh trăng mở đèn cho V. Đi mười mét nữa, V vào đến ngõ. Loanh quanh rồi dừng ở quán trà nhỏ. Gió lồng lộng, cả con ngõ mát hẳn.

     Bàn ghế vẫn chỏng chơ. Trăng rọi xuống. Không có mảnh rác nào dưới chân. Nhìn quanh thấy nhiều ô cửa mở toang, hoặc mở một cánh. Không có ai bên cửa sổ cả, dù đèn còn sáng.

     V vào trong quán, gọi trà và hướng dương. Vì V đang rất đói nên có gọi thêm gói bánh. Ông chủ nhìn V và gật gù. Bên trong quán cũng trống, V không có ý ngồi trong.

     V mở bao diêm, đánh lấy một que. Châm một điếu thuốc? Thôi. Bụng V cồn cào rồi, sẽ đắng miệng lắm. Mải nghĩ, lửa diêm chấm đến ngón tay V.

   “Của mày đây.” – Ông chủ ra, bưng theo khay. – “Hôm nay mày ngồi đây đến sáng cũng được.”

     V xé vỏ bánh, cắn một miếng nhỏ. Sau đấy V nhấp một ngụm trà. Thật không rõ có phải loại trà mọi khi không. Đúng thật trà này rất loãng, nhưng thật thơm. Nuốt một miếng trà thôi thấy người ấm hẳn. Vị thơm tỏa quanh cuống họng, quện cả vào lưỡi, ngay đến mỗi chiếc răng cũng thẩm thấu được hương trà. Hút một điếu thuốc ngon lúc này thì tuyệt thú. Một chút gió lúc này cũng làm V ngây dại. Trăng vẫn bị lấp vì cây cối, dây điện và các tầng nhà cao nhưng có bóng trăng. Chỉ chút sáng nhỏ, với ngụm trà lạ này là quá đủ để say rồi.

     Uống hết trà, V gọi thêm cốc nữa để kết thúc nửa miếng bánh. Trong lúc đợi trà, V lau lại mắt kính bằng miếng khăn bông mang theo. Trời tối hơn, trăng nhô cao dần, đường ngõ sáng.

   “Chúc ông…” – Tiếng ai đây từ bên trong. Mấy con chữ bị đứt đoạn từ đây. Những chữ sau cụt ngủn hoặc bị gặm mất bởi một tiếng khác. Rồi sau đó cả tiếng cụng ly nữa. V trầm ngâm để nhớ về tiếng mình vừa nghe được. Chưa thấy một chữ nào khớp thì từ bên kia ngõ một toán người đi đến. Đều là khách đến uống trà.

   “Chào bác, có phải ngày mai bác…”

   “Thế mà không bảo trước để tôi còn mua…”

   “Thôi, tôi về đây. Tôi chúc ông thế nhé…”

   “Hôm nay đứa nào mời, hay ông chủ…”

     Cốc trà V gọi không thấy nữa. Bên trong quán, người ra, người vào, có người đến chưa kịp mua gì lại đi về. V đưa cốc lên miệng, rồi lại đặt xuống bàn. V mở diêm, quẹt lấy một cây. Diêm quẹt hỏng, gẫy làm đôi. Quẹt thêm, lại gãy. Lần nữa, vẫn gãy. V ngồi thêm một lúc rồi vào gửi tiền.

     Bên trong ồn quá. Người này nhìn người kia. Một số cặp mắt chăm chú vào chiếc Laptop đặt trên đùi. Đứng ở quầy thanh toán, cái đầu ông chủ cứ gật gù.      

   “Ngồi thêm một lúc đi.” – Ông chủ nói.

   “Trà hôm nay ngon lắm ông ạ.”

   “Mày đi luôn sao?”

    “Rồi cũng phải đi thôi.”- V lặng im một lúc. “Trà hôm nay ngon, thật sự đấy…”

  1. nhìn ông chủ và cười. Ông chủ gật gù, V cũng gật gù.

   “Mạnh giỏi V nhé.” – Tiếng ông chủ và V nghe thấy khi ra đến cửa. Lần này V nghe rõ hết câu dù trong quán ồn hơn vì có người mở nhạc từ Laptop. Đi được một đoạn, V nghĩ lại về cái tên của ông chủ. Câu hỏi được khoanh trống. Chưa một lần V hỏi tên ông chủ. Còn ông chủ thì nhớ tên V.

     Điểm xe bus chẳng thấy ai đứng đợi. Chiếc xe bus đi qua, mở cửa chừng vài giây rồi khép lại và phóng đi. Sờ lên vai, không thấy quai ba lô. V ngoái lại cuối đường, nơi con ngõ. “Có gì đâu chứ…”

   “Đi đâu?” – Một xe khách đỗ trước V. Cửa mở toang.

     V lặng im.

   “Đi đâu? Giá phải chăng.” 

     V vẫn đứng đó, vẫn lặng im.

   “Đồ điên!”

     Cửa đóng sập, xe nhấn ga, rồi chẳng thấy gì ngoài một đoạn khói mỏng vẩn lại phía sau.

     V đứng một lúc lâu rồi gật gù cái đầu. Lục túi một lúc, V tìm thấy bao diêm. V mở bao, tìm một que rồi đánh lửa. Ngọn lửa bật xòe ra. V nhìn ánh lửa một lúc.

   “Sang đường cái đã…”

     

Tru Sa

SleepinPeace

QUÊ NHÀ ĐÊM TRỞ GIÓ

 

 

Ta về thương ngọn gió khô
Thổi hiu hắt phía bên hồ cúc hoa
Sáng mai tạm biệt quê nhà
Mang theo không hết tình ta gửi người

Đêm nay úp mặt ngủ vùi
Nghe con dế gáy trên đồi trăng treo
Đất thơm vạt cỏ quê nghèo
Giọt sương rớt giữa quạnh hiu gối nằm

Xa rồi cái thuở xa xăm
Cỏ nghiêng nắng úa – Mưa đằm dấu chân
Cay cay rau é rau tần
Tay lau nước mắt đôi lần môi khô

Giấu nhau một phía đợi chờ
Chia cơn gió trở thổi bờ vai nghiêng
Ta nằm nghe hết ưu phiền
Tay năm ngón chẳng còn riêng ngón buồn

Ta về, em lại xa hơn
Vạc sành trong cỏ tủi hờn tiếng ru
Cánh chim bay xé ngang đầu
Một người xa – Biết về đâu một người?

 

Từ Kế Tường

 

 

AnDu

tội đồ chỉ đứng một chân

 

hãy giả tưởng nỗi buồn treo mắc nhện

đứng một chân ngắm nghía được mấy giờ

choàng cái bóng để nhập vào vai diễn

ấm ớ ngôn tình gục xuống chạm giấc mơ

 

mệt quá phải không sao lòng còn rạo rực

tình độ kinh ngậm lửa tịnh mơ hồ

thì đừng nói: vong thân là đạt đạo

em bạch tạng rồi… sao ta niệm nam mô (?)

 

nếu trí trá cũng chỉ tầm gian dối

ta lột truồng nhìn ảo ảnh linh thiêng

biết là đói khát tình non nhục thể

liếm môi cười, chợt thấy được uyên nguyên

 

mùi hạnh phúc lâu ngày trong cuống họng

vướng víu hoài nên tự hóa thai nhi

đành cúi mặt nôn trào ra sắc tướng

nhìn em cười, diễm tuyệt nét hồ ly!

 

hơn bốn mươi năm đã lắm vô nghì

rượu đẫm hồn thơ cuồng điên ngạo mạn

một chân đứng, tên tội đồ hào sảng

còn múa may chơi trên chính quê mình

 

khaly chàm
tp saigon 3/2018

thơ Lê Anh

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

 

SẦU Ở BÊN ĐÂY.

 

Ở bên đây mây chiều nặng nhớ

Anh nghe tình nghiêng hết về em

Đã lâu rồi bóng chim tăm cá

Không lần còn được gặp lại thêm

 

Anh mơ chiều xua mây về xứ

Che nắng thiêu cho mát xóm nghèo

Mỗi hàng cây nằm gầy ân sũng

Chờ em qua mà hạnh phúc theo

 

Ở nơi đây từ nhà lên phố

Anh tưởng chừng đang cùng bên em

Con đường dài với tên lạ hoắc

Anh thay tên bằng tên của em

 

Ở nơi đây mơ về bên đó

Như con sông hai bờ nỗi nhớ

Mây chiều thương gom héo mưa ngâu

Anh cố tâm cho được gần nhau

mà thời gian lại bạc mấy màu

 

Ở bên trời, đàng sau cách trở

Anh nhìn qua dâu bể dốc đời          

Biết biệt ly có bao giờ vơi…

Yêu thương này bao giờ thì vơi ?!.

 

 

 

CHIỀU THÁNG TƯ BUỒN.

 

Tháng tư buồn mây quanh thành phố

Hạ xưa về nỗi nhớ xanh xao

Hoa nắng quen tình héo hôm nào

Người còn người mềm theo hồn vắng

 

Con đường gầy nằm yên chưa ngủ

Chiếc lá me rơi cuối cuộc đời

Kỷ niệm dầy lên nhiều sức úa

Ngày mù qua chiều lắng im lời

 

Em có đang bâng khuâng chiều xuống

Ngồi một mình nhìn những tay xuôi

Tình say mùa hong lùa tóc rối

Nghe muộn màng lệ thấm bờ môi                  

 

Em cứ yêu thương nhòa lên mắt

Mây bay về hoài mãi trong mơ

Một kiếp người như chiếc lá khô

Bỏ mặc đời dài bên gần gũi

 

Chiều hạ từ ngậm ngùi hoa nắng

Cỏ cây chưa được lần ơn mưa

Tuổi xanh buồn ru ngàn dặm nhớ

Người miên man tình lắng hồn xưa.

 

Lê Anh.

NgManNhien2

tranh Nguyễn Man Nhiên

bợm

 

bữa ni tới phiên đây

bàn tròn làm chủ xị

rượu.  sẵn đó xin mời

nhậu chừng nào mút chỉ

 

mình tha hương rầu quá

xui đàn đúm như vầy

một năm vài chục cữ

chẳng chết một thằng tây

 

làm cho xôm chút coi

lo chi thiếu đồ mồi

sợ nửa chừng hết rượu

làm mất hứng cuộc vui

 

bạn cười:  khéo lo xa!

đây đâu phải bên nhà

rượu trà ôi thiếu giống

chỉ việc móc tiền ra!

 

đất nhà, đích bợm nhậu

qua đây lại tửu đồ

đông tây rồi cũng rứa

đời biết lặn về mô?

 

thì nương nhau mà lết

anh buồn níu anh say

rượu vào.  ngôn cứ xuất

cà kê cũng hết ngày

 

ngày mai ôi ngày mai

dòm quanh nỏ còn ai

cuộc tàn như trận chiến

nhìn ta.  chợt thở dài

 

e có mòi vĩnh biệt

chú mày, bợm nhậu ơi!

cứ tà tà đụng riết

cũng có ngày đứt hơi

 

 

 

 

rượu khóc

 

                             tặng Phạm Đình Cường

 

rượu trói chân vào câu nhã hứng

ngồi quanh chưa đủ mặt vong thần

đã ngâm mỏi giọng hồn bi thiết

đêm dài sương khói cũng tà huân

 

ô hay.  uống rượu làm sao khóc

kẻ rưng rức lên ngấn lệ đầy

còn ngươi cảm khái đời cô độc

khói ảm chưa vàng những ngón tay

 

ai hát bài ca người nô lệ

tự do bốc cháy lửa cung đàn

đời như nhát búa nghìn cân nặng

một thoáng sinh cầu cũng nát tan

 

gặp đây chưa thỏa giang hồ vặt

mai người trở lại chốn huyền lâu

thuyền mây tan tác bao giờ ngộ

đâu quán hà giang, giải kiếm sầu?

 

 

 

 

hoàng xuân sơn

1983/1985, trích Viễn Phố

(có hiệu đính)

 

Ab2

MỘT VÒNG QUAY 

 

Vẽ cho ánh sáng một cung đường
Buổi chiều mù mịt những âm thanh xao động 
loang lổ ánh đèn rải trên nền mây trắng 
Đời ta 

Giấc mơ gởi từ nơi ngày chưa qua 
Nên đêm xuống hẳn nhiên là ảo ảnh 
Vẽ bằng lập trình những hôm rất vắng 
Ngày hay khuya chỉ khác nhau tiếng lá chạm thềm 

Ta nghe chầm chậm buổi mai lên
Tiếng thở dài nép sau cội rễ
Câu thơ dở dang 
Đêm cũng dở dang 
Ly cafe khuya đậm mùi nghi hoặc 
Ta vẽ màu lên nền đêm vắng
Thả trôi bất tận 
Ngày …

Chiêu Anh Nguyễn 
2018

Vĩnh biệt tác giả CHIỀU MƯA BIÊN GIỚI

 

NguyenVanDong_PhanUu

 

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông vừa qua đời vào 7g30 tối ngày thứ hai 26 tháng 2 tại Bịnh viện Chợ Rẫy Sài Gòn .Hưởng thọ 86 tuổi 
Nguyễn văn Đông nguyên là Đại tá Chánh Văn phòng cho Tổng Tham mưu Phó của quân lực VNCH . Ông còn là một Nhạc sĩ nổi tiếng trước năm 1975. Một số bút danh khác khi viết nhạc của ông là Phượng Linh, Phương Hà, Vì Dân và Đông Phương Tử. Bên cạnh đó Nguyễn văn Đông còn là Giám đốc hãng băng đĩa nhạc Continental và Sơn Ca ở Sài Gòn . Sau năm 1975 , ông bị đi học tập cải tạo mất 10 năm . Ra tù cải tạo ông không đi Mỹ định cư theo diện HO mà chọn ở lại quê nhà

 

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

 

 

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông sinh ngày 15 tháng 3 năm 1932 tại quận Nhất, Sài Gòn. Nguyên quán ông bà, cha mẹ ông ở huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Thuở nhỏ ông theo học trường Huỳnh Khương Ninh ở Đa Kao. Khi đất nước gặp phải những biến động lớn lao vào năm 1945, gia đình ông bị liệt vào thành phần địa chủ, cường hào nên lâm vào cảnh khuynh gia bại sản, gia đình ly tán. Do đo, tuổi thơ của ông là người con duy nhất trong gia đình cũng bị vùi dập để cuốn theo thời cuộc lúc bấy giờ.

Trước khi theo học trung học ở trường Huỳnh Khương Ninh, nhờ gia đình khá giả nên ông đã được cho học ở nhà với thầy giáo riêng. Cho nên tuổi thơ của ông đến trường thì ít mà học ở nhà thì nhiều.

Sau khi trường trung học mà nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông theo học là Hùynh Khương Ninh đóng cửa, ông tự ý xin gia nhập trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam. Đây là trường võ bị đầu tiên và lâu đời nhất của Việt Nam. Đó cũng là nơi đào tạo nhiều vị tướng lãnh tài ba của Quân Đội VNCH. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã trải qua 5 năm ăn học ở ngôi trường này. Và chính tại đó ông đã được học nhạc và văn hóa với những giáo sư người Pháp có thực tài. Đó là những giảng viên của Viện Âm Nhạc quốc gia Pháp được cử về trường Thiếu Sinh Quân giảng dạy. Chính vậy mà nền văn hóa Tây Phương đã ảnh hưởng đến ông rất nhiều.

Sau khi ra trường Thiếu Sinh Quân, ông gia nhập trường Võ Bị Sĩ Quan Vũng Tầu và tốt nghiệp năm 1952 với cấp bậc thiếu úy. Kế đó ông nắm chức vụ trung đội trưởng tại trường Võ Bị Đà Lạt và tốt nghiệp năm 1953. Qua năm 1954, ông về trường Chiến Thuật tại Hà Nội để giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng. Trong hai năm 1955 và 1956, ông phục vụ tại Phân Khu Đồng Tháp Mười trong chức vụ trung úy Trưởng Phòng Hành Quân.

Cũng trong thời gian này, ông kiêm nhiệm thêm chức vụ Trưởng Phòng 3 của Chiến Khu Đồng Tháp Mười do đại tá Nguyễn Văn Là làm chỉ huy trưởng, tham gia chiến dịch Thoại Ngọc Hầu do thiếu tướng Dương Văn Minh chỉ huy. Ông không sao quên được một kỷ niệm có lần tướng Minh đã đến bắt tay ông để tỏ lòng ngưỡng mộ tác giả của những ca khúc về đời lính chiến ngay tại mặt trận Chiến Khu Đồng Tháp. Và hình ảnh cái bắt tay này đã được in trên trang nhấr của báo Chiến Sĩ Cộng Hoà.

Đến năm 1957, ông theo học khóa Chỉ Huy Và Tham Mưu tại Hawaii. Và cũng trong thời gian này ông cho ra đời nhạc phẩm “Nhớ Một Chiều Xuân”.

Cũng qua cuộc nói chuyện với người viết, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cho biết ông chọn binh nghiệp là nghề nghiệp chính. Mặc dù ông được học nhạc chính quy ở trường, nhưng âm nhạc chỉ là nghề tay trái.

Từ cấp bậc thiếu úy, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông bước dần lên cấp bậc đại tá. Ông từng được nhận huy chương cao quí nhất của Việt Nam Cộng Hòa là Bảo Quốc Huân Chưong vào giữa thập niên 60. Sau biến cố tháng 4 năm 75, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã kết thúc cuộc đời binh nghiệp của mình trong tăm tối bằng 10 năm tù cải tạo. Đúng như ông đã dự đoán cuộc đời thăng trầm của mình bằng 2 câu kết của nhạc phẩm “Chiều Mưa Biên Giới: “Lòng trần còn tơ vương khanh tướng thì đường trần còn mưa bay gió cuốn còn nhiều anh ơi”.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cũng nhấn mạnh thêm là chưa bao giờ ông phục vụ ở Cục Chiến Tranh Chính Trị như nhiều người lầm tưởng. Ông chỉ đích thực là một người lính tác chiến, rồi sau đó trở thành sĩ quan tham mưu cao cấp của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Sau năm 75, đầu tiên nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông bị đưa đi tù cải tao tại trại Suối Máu. Nhưng không lâu sau, ông bị chuyển về nhà tù Chí Hòa cho đến khi được trả tự do vào năm 1985. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cho biết ông đã rất đau buồn vì không được nhìn thấy mặt thân phụ lần cuối trong thời gian ông ở tù cải tạo. Trong khi đó thân mẫu ông đã qua đời trước đó vào năm 1971.

Sau khi được trả tự do vào năm 1985, sức khỏe của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông không được mấy khả quan đến từ nhiều căn bệnh như đau bao tử, thấp khớp và nhất là cao huyết áp nên đã không còn cảm thấy hứng thú trong việc sáng tác ngoài một số bài viết trong khoảng hơn 30 năm nay.

ĐỐI THOẠI VỚI HỌA SĨ NGUYỄN TRỌNG KHÔI

BÌNH YÊN MỘT THOÁNG CHO TIM MỀM

 

TranhNgTrKhoi (1)

 

 HỒ THỊ HẢI ÂU

 

Tôi thuộc nhóm những người thưởng lãm mỹ thuật hội họa bằng linh cảm và nhạy cảm thiện căn, chứ không sành sỏi và am hiểu nhiều về kỹ thuật hội họa. Tôi thú nhận với anh điều này không dưới một lần, và lần nào anh cũng cười rất vui “thưởng lãm mà như vậy là rất tuyệt!” Tôi biết rằng đó là lời khích lệ rất ân cần, giúp tôi tự tin trôi dạt, phiêu linh cùng những cung bậc cảm xúc, gam màu và nét cọ trong thế giới hội họa đồ sộ của anh.

Từ những tác phẩm được sáng tác theo trường phái hiện thực qua những tác phẩm được ngẫu hứng xuất thần theo trường phái trừu tượng được trung bày trong một triển lãm cực kỳ sang trọng, yên tĩnh tại Gallery Eight – 8 Phùng Khắc Khoan, Q.1, TP. Hồ Chí Minh, dịp cuối năm 2017 vừa qua, tôi là một thị giả được anh tận tình chỉ dẫn, giải thích căn kẽ cho tôi hiểu thêm về những bí ẩn của sáng tạo mỹ thuật.

Anh nói “Hầu hết giới thưởng lãm đều tò mò muốn biết về cách thức thể hiện một tác phẩm của họa sĩ. Một không gian hiện thực nó có thể được diễn giải qua mỹ quan của mỗi người, và người họa sĩ luôn phải có rung động để nắm bắt được hồn vật thể, nghĩa là cảm nhận được vẻ đẹp của những gì mình muốn vẽ. Những ngẫu nhiên xuất hiện trên tác phẩm mà chính họa sĩ đã không ngờ trước được; sự xuất hiện ngẫu nhiên của những mảng màu sắc, đường nét đôi khi đóng góp cho sự thành công của tác phẩm rất nhiều. Tác phẩm là cả cuộc phiêu du với màu sắc bằng tất cả đam mê. Trong quá trình hình thành tác phẩm  nó biến đổi liên tục cho đến khi họa sĩ quyết định dừng lại với thích thú nào đó. Hội họa khác với văn chương, không đặt vấn đề để lý giải hiện thực, tự bản thân tác phẩm sẽ toát ra những tiếng nói trong không gian của chúng”

Khác với vẻ ngoài vạm vỡ phong sương mà thời gian chưa thể làm phai bạc của mình, các tác phẩm hội họa của Nguyễn Trọng Khôi mang lại cho tôi một cảm giác thanh thoát, bình yên quá đỗi, dù đó là những bức tranh mang nhiều trăn trở, thao thiết với đời, hay những bức tranh trong veo trong trẻo như chưng cất từ một tâm hồn thuần thiết đôn hậu đến kinh ngạc.

Tôi  bị hút mắt và tâm trí rất lâu tranh sơn dầu “Bạn của người già”. Tôi ngắm rất lâu, rất chậm để uống từng chút cảm xúc cứ thấm dần vào tôi. Một không gian thân thuộc của đồng bằng bắc bộ, một cụ già ngồi bên hiên sưởi nắng, cái nắng mùa đông vẫn không tan loãng được hết cảm giác rét giá châm vào da thịt, cạnh cụ là chú cún đang nằm bên, bình an, trung thành, nhẫn nại, thủy chung.

 

 

Đứng cạnh tôi và anh nói về cảm xúc điều sâu kín bật ra khiến anh vẽ tác phẩm “Bạn của người già”: Người ta khi càng lớn tuổi càng trở nên đơn độc, trong thời đại này, điều đó càng rõ. Không phải vì họ bị bỏ rơi mà vì hoàn cảnh xã hội ngày càng trở nên bận rộn với nhịp sống chóng mặt, sự quan tâm đến nhau dần trở nên lỏng lẻo… Nhu cầu cần cho người già về mặt tinh thần là bạn bè để chia sẻ, trao đổi với nhau những cái vặt vãnh nhất; song le cũng gặp phải trở ngại vì sức khỏe, phương tiện đi lại….Sự có mặt của con chó như là một người bạn là một cần thiết bù đắp vào nỗi cô đơn. Một con vật vừa thân thiện , có nghĩa và không bao giờ phản bội. Nó vừa là niềm vui đồng thời cũng là người bảo vệ , giúp đỡ chuyên cần và chịu đựng làm vừa lòng bất cứ thời gian nào… Đây là lý do mà tôi rất quý loài chó.

Thưởng lãm tranh là chìm đắm vào một không gian vô ngôn mà tràn đầy tâm tưởng. Cái mong manh, thăm thẳm của vẻ già nua đơn độc, của ngọn nến sắp cạn chợt ấm áp, tin cậy và thân thuộc với hình ảnh chú cho nằm bên cạnh… Loài chó vốn là bạn của con người, nó trở nên đáng trân quý bởi người bạn ấy không bao giờ phán xét, không kén chủ giàu nghèo, già trẻ, không từ bỏ ngay cả khi bị ruồng rẫy… thế nên, bức tranh dẫu tĩnh lặng, kiệm lời mà mang đến dòng cảm xúc bình tâm bao la trong lòng người thưởng lãm.

Tôi cũng đặc biệt yêu thích dòng tranh mô –tip sáng tác của anh trên cảm hứng vẻ đẹp nội tâm của người phụ nữ. Nhiều bức rất giản dị, tiết chế chi tiết, trong veo đến độ tôi nhận ra anh có một tình cảm rất nâng niu, trân quý vẻ đẹp nữ giới – anh mô tả vẻ đẹp ấy trong thứ ánh sáng thuần khiết, tinh khôi, đến độ thiêng liêng, mong manh… mà đem lại sự bình an đến ngỡ ngàng như khi chiêm ngắm giấc ngủ bình yên của cô gái cuộn trong chiếc chăn xanh. Cả một không gian tranh mang lại vẻ bình yên ngọt ngào, êm dịu như cách mà họa sĩ chuyển giao đến người thưởng lãm về sự trân quý vẻ đẹp phái nữ “em là phấn thơm cho rừng chút hương/ Là lời hát ca cho trần gian”  

 

Như đọc được điều tôi đang nghĩ, họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi cởi mở “Vẻ đẹp tâm hồn, phẩm giá của người phụ nữ cũng giống như vẻ đẹp thiên nhiên, mang tới một một không gian yên bình, không có những bất trắc, đố kỵ, hận thù, phân chia đẳng cấp… Ở họ, mọi nỗi buồn vui của đời người đều theo mạch của thiên nhiên, và chính họ là phần tinh tế, tinh túy của cuộc đời”

Cái làm tôi mê mẩn những tác phẩm  hội họa Nguyễn trọng Khôi chính là sự tiết giản các chi tiết, phá bỏ sự nắn nót cầu kỳ như trong những bức tranh vẽ theo trường phái siêu thực. Trong một dòng chảy cuộc sống quá bộn bề chi tiết sự việc, một dòng chảy với tốc độ thác lũ cộng với sự hỗ trợ của kỹ thuật tiên tiến thì nhiếp ảnh đang thực sự soán ngôi khi muốn phô bày vẻ đẹp chi tiết ngổn ngang sinh động.

Tranh của Nguyễn Trọng Khôi vì thế vô cùng cuốn hút người thưởng lãm bởi sự chắt lọc chi tiết, với kỹ thuật sắc màu trong veo như pha lê trong từng nét cọ, khiến cho người xem có cảm giác đạt tới sự thanh thoát, thanh lọc tâm hồn, đạt tới cảnh giới của trạng thái thiền, giao cảm, thẩm thấu trọn vẹn với nhân vật và nội hàm tác phẩm.   

Anh nói tiếp: “Tôi muốn trở lại với tính bổn thiện của vạn vật, với sự bình an đầy màu nhiệm của vạn vật. Trở lại với thiên nhiên và hòa nhập vào không gian đó, chiêm ngưỡng, khám phá những bí ẩn của một không gian đầy tính ẩn dụ”.

“Tôi là một họa sĩ luôn cố gắng tìm một mẫu số chung để hòa hợp với chung quanh. luôn tìm những trăn trở, những góc sâu thẳm trong tâm hồn, sự cô đơn và thân phận”.  Vẽ những đường nét đơn giản mà thực ra vô cùng tinh tế, kể những câu chuyện đời thường mà thực ra mang lại nhiều suy ngẫm, đó chính là cách mà họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi cống hiến cho nghệ thuật mỹ thuật nước nhà: thấp thoáng trừu tượng trong hiện thực, dù chỉ là viên sỏi hòn đá vô tri trong tác phẩm, nó cũng làm người thưởng lãm rung động dài lâu.

Bất chợt tôi nhớ tới một lời ca bất hủ của Trịnh Công Sơn “Làm sao em biết bia đá không đau? Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau…” Chúng ta cần có nhau để bình an hoan hỷ, và người họa sĩ luôn nỗ lực kết nối mọi tâm hồn bằng tác phẩm kiệm lời và mênh mông của anh. 

HỒ THỊ HẢI ÂU

 

 

 

ChinYuen

đầu năm

 

 

thả hết chuông vào mõ

nghe âm lịch vang rền

 

 

cứ ru rú ở trong nhà

[lạnh quá]

lâu ngày thành một quả cà héo khô

[hết đường tương chao]

thưa em.  tôi thiệt hồ đồ

[thiệt giả gì nữa]

nhìn con cẩu mộc

tưởng gà cồ bay

[à à             chó ăn đá gà ăn muối]

thong manh cũng tại xứ này

 

 

hoàng xuân sơn

Tết Mậu Tuất 2018

 

 

 

khu mật xứ

 

 

khuya

vẫn ngồi chong

giao thừa

lên nhang cúng phật

lạy mùa linh thiêng

chú.  niệm

ôngbàtổtiên

chị

em

trong cõi tham thiền miên du

cha nghiêng ảnh sóng

mẹ.  bù

chút con thua lỗ

từ du di

đời

nửa khuya lấp lóa

chỗ

ngồi

mê xuân chép.  loáng

vực

đồi

tương tranh

 

 

hoàng xuân sơn

ở giữa Đinh Dậu/Mậu Tuất

 

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

VanNgheBoston

 

 

Tạp Ghi Tháng Hai

 

Muốn quên, nhưng không thể quên!

Trần Doãn Nho

 

  

  • Nguyễn Quý Đức: Năm mươi năm sau nhìn lại…

Đó là tựa đề một bài viết của Nguyễn Quý Đức đăng trên tạp chí Smithsonian (Washington DC) số tháng 1&2/2018, nguyên văn, “Revisiting Vietnam 50 Years After the Tet Offensive” (Nhìn lại Việt Nam 50 năm sau Cuộc Tổng Tấn Công Tết).[1] Qua bài viết, Đức kể lại câu chuyện gia đình trong bối cảnh của một cuộc vi phạm thỏa ước ngừng bắn trắng trợn nhất trong cuộc chiến tranh Việt Nam, đưa đến một vụ thảm sát lớn nhất trong lịch sử dân tộc: thảm sát Mậu Thân.

Nguyễn Quý Đức là con của một công chức cao cấp của VNCH. Tết năm 1968, gia đình anh từ Đà Nẳng ra Huế ăn Tết. Lúc đó, anh mới chỉ là cậu bé 9 tuổi. Cậu bé Đức chứng kiến cảnh bộ đội vào nhà khách nơi gia đình ở, bắt cha cậu. “Tôi leo lên giường và cố nhìn ra ngoài. Đám lính bộ đội đã bắt những người đàn ông sắp thành hàng và trói khuỷu tay họ sau lưng. Một lúc sau, họ dẫn giải những người đàn ông đi. Tôi nhìn thấy cha tôi trong đó.” Sau khi Cộng quân rút lui, gia đình Đức trở lại Đà Nẳng, sống một cơn khủng khoảng nặng nề: không cách gì tìm ra tông tích của người cha, cũng không biết ông sống chết ra sao. Khi nghe tin khai quật những bãi chôn tập thể, mẹ Đức về Huế mong tìm xác chồng, nhưng bà quá “khiếp hãi khi nhìn thấy những thây ma thối rữa và đầy thương tật,” nên không trở lại nữa. Cậu bé Đức “lớn lên không hẳn như một đứa trẻ mồ côi: Trong khi những gia đình khác đã chôn cất người thân của họ, lập bàn thờ và đã phần nào khép lại nỗi buồn, thì gia đình tôi vẫn sống trong nỗi đau thầm không giấu giếm này (open secret).”

Sach

 

Mãi đến 5 năm sau khi hiệp định Paris được ký kết và hai bên trao trả tù binh, gia đình anh mới biết tin là cha còn sống nhưng bị đày ải ở một trại tù nào rất xa ở vùng biên giới Trung Quốc. Ông được thả về năm 1980 và được cho phép qua Hoa Kỳ định cư. Gặp lại nhau sau 16 năm xa cách, hai cha con nói chuyện với nhau về quá khứ, nhưng “không bao giờ nói về năm 1968” vì điều đó quá nặng nề. Ông đọc sách, xem phim và cho in một tập thơ mà ông đã làm khi bị giam cầm, với một nhóm từ được dùng như lời đề tựa: “Tôi đau khổ, vậy tôi hiện hữu” (I suffer, therefore I am). Sáu năm khi ông mất vào năm 2000, Nguyễn Quý Đức, có lẽ để hòa giải với chính mình, nên về kinh doanh tại Hà Nội, nơi mà những kẻ bắt cha anh đã chỉ huy cuộc chiến. Dù đau đớn, nhưng câu chuyện gia đình anh có lẽ là một câu chuyện may mắn nhất, “có hậu” nhất của một gia đình có nạn nhân bị Cộng Sản bắt năm 1968.

Nhìn lại thời kỳ đó, Nguyễn Quý Đức cho rằng cuộc chiến tranh vừa qua là chiến tranh Mỹ và Chiến Tranh Lạnh đã góp phần lớn tạo nên nó. Nhưng, “cuộc Tổng Tấn Công Tết  và 1968 là cuộc chiến của chúng ta: Người Việt chúng ta đã giết lẫn nhau.” Ấy thế mà ở Việt Nam hiện nay, biến cố 1968 được mô tả như một chiến công anh hùng, và bộ máy tuyên truyền nhà nước cứ vài năm một lần vẫn cứ tiếp tục tăng tốc ca ngợi nó. “Nhưng về cuộc tàn sát hàng ngàn người dân Huế thì sao? Không một lời,” theo anh. Huế bây giờ rất nhiều khách du lịch. Họ viếng thăm lăng tẩm, hoàng thành, đền đài miếu mạo. “Hướng dẫn viên du lịch nói với họ về quá khứ, nhưng họ làm như không biết những lỗ đạn chọc thủng những bức tường thành bên trong Hoàng Thành và ở khắp nơi. Không có du khách nào được dẫn đi xem những khu mộ tàn sát tập thể y như họ được dẫn đi thăm những ‘cánh đồng chết’ nổi tiếng của Khmer Đỏ ở Cam Bốt.” Đã 50 năm rồi, trong khi Mậu Thân không thể thoát khỏi ký ức của anh và của người dân Huế, thì cuộc thảm sát vẫn bị nhà nước Cộng Sản che giấu, mà anh gọi là một “sự im lặng toàn quốc về biến cố 1968” (The national silence about 1968) và tự hỏi chẳng biết bao giờ sự im lặng đó mới được giở bỏ.

Mấy năm trước đây, theo Nguyễn Quý Đức, một nhóm phóng viên truyền hình Pháp-Đức đến nhà anh ở Hà Nội để phỏng vấn về tình hình hậu chiến ở Việt Nam, đi kèm có một viên chức của bộ ngoại giao Việt Nam. Khi câu chuyện đề cập đến những vấn đề liên qua đến vụ Tổng Tấn Công Tết, thì viên chức đó ngắt lời, cấm không được bàn về đề tài này, thậm chí không được nhắc đến, nếu không bà ta sẽ không cho phép cuộc phỏng vấn được tiếp tục. Anh tức giận nhưng cố gắng thương lượng với bà. Cuối cùng, anh cũng được trao đổi đôi điều với nhóm truyền hình. Nhưng cuộc phỏng vấn ấy không hề được chiếu ở bất cứ đâu ở Việt Nam. Hoàn toàn im lặng.

Nguyễn Quý Đức không im lặng. Anh viết. Thay vì viết để “vinh danh một phiên bản lịch sử do những người còn sống, những người chiến thắng viết,” như bà nhân viên bộ ngoại giao muốn, anh viết lên là để “vinh danh những người đã chết và tưởng niệm họ,” như lời khuyên của một nhà văn quen, Bảo Ninh.

Năm mươi năm nhìn lại, làm sao quên:

Lắng nghe: trong chòm lá, tiếng gió
Quanh đây còn tiếng oan hồn nỉ non,
Quanh đây còn tiếng oan hồn nỉ non.

Em học cách cầu nguyện
với những hạt tràng thơm. Anh vẫn sống
với mùi hương nhang
đốt trong một ngàn tang lễ
hè năm đó ở Huế.

(Ngôn từ/thơ Nguyễn Quý Đức)[2]

  • Lá cờ

Nguyễn Quý Đức ở phía nam sông Hương. Tôi ở phía bắc sông Hương, trong Thành Nội. Tôi rủi hơn Nguyễn Quý Đức, và cũng may hơn anh vì bị/ và được ở trong… khu chiến trường. Sáng mồng 2 Tết, sau một đêm kinh hoàng vì nghe tiếng súng nổ vang rền khắp nơi và tiếng hô xung phong từ cửa thành (cửa Hữu), tôi thức dậy, vô cùng hoang mang. Mở cửa bước ra ngoài, đứng ở góc vườn trước nhà, nhìn về hướng đông, tôi thực sự kinh hoàng. Khuất sau mấy đọt tre, trên ngọn Kỳ Đài vươn cao trong bầu trời thấp xám, là lá cờ! Không phải là lá cờ thân quen vẫn nhìn thấy hàng ngày mà là một lá cờ lạ, lạ hoắc: cờ Mặt Trận Giải Phóng.

Thôi rồi, Việt Cộng đã chiếm Huế!

Lá cờ không tung bay theo gió mà vướng víu quanh cột cờ, rủ xuống, thảm hại. Như cờ tang. Vì trời không có gió? Vì vướng víu cái gì? Không rõ. Suốt hai mươi sáu ngày trên ngọn Kỳ Đài, lá cờ vẫn như thế, ủ rũ. Bầu trời mênh mông, nặng, tủi hờn. Mùa xuân thảng thốt, vỡ. Lá cờ làm cho cái không khí vốn đã ảm đạm, lại còn tan tác, ảm đạm thêm.

Tôi bước đi
không thấy phố, không thấy nhà
chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ
đất nước khó khăn này sao không thấm được vào thơ

Lời thơ của Trần Dần mô tả cảnh quan đâu đó ở miền Bắc (hay chỉ là cách nói hình tượng của nhà thơ), đột nhiên trở thành hiện thực một cách lạ lùng: cờ đỏ ở Huế!

Huế không phố, không nhà. Không nắng, không trăng, không hoa, không mứt bánh, không hột dưa , không tổ tiên, ông bà, không truyền thống. Không gì cả. Không có tiếng cười, đã hẳn – mà tiếng khóc cũng không. Chỉ có tiếng súng nổ và một sự lặng lẽ đến rợn người. Huế rơi vào trạng thái âm bản. Người người đi đi, đứng đứng như những bóng ma. Chợt gặp nhau, ai cũng tưởng ai đang từ cõi chết trở về. Mây, một khối màu chì đông cứng trên bầu trời xám đặc. Lạnh. Mưa, thỉnh thoảng, nhỏ, hãi sợ. Cỏ cây rưng rưng. Uất, nghẹn. Ngoài tiếng súng, thành phố mất đi tiếng động cuộc đời. Mọi thứ thin thít im, tự thu mình vào bên trong, khe khẽ, rón rén, ngập ngừng. Không ai giúp gì được ai. Mình cũng chẳng giúp gì được chính mình. Sợ. Nỗi sợ còn ghê gớm hơn cả cái chết.

  • May và rủi

Khu vực tôi ở nằm phía tây nam Thành Nội, chỉ có bộ đội chính quy, toàn là dân Bắc, lo canh gác, đào hầm đào hố sẵn sàng chiến đấu. Anh cả tôi, cảnh sát, tôi và hai người lính tiểu khu thuộc một đơn vị gác cửa thành bị Cộng quân đánh bật khuya mồng Một, trốn trong nhà, thấp thỏm đứng, ngồi, lòng như lửa đốt. Cái lạ là, đám lính bộ đội chỉ ở bên ngoài, không ai vào nhà dân. Hôm sau, thấy êm êm, hai người lính xin hai bộ áo quần dân sự, luồn lách qua các vườn cây, trốn đi. Anh tôi và tôi cũng không dám ở trong nhà. Đêm, đi ngủ nhà khác, ngày, tạt về nhà ăn vội ăn vàng rồi lại đi, loanh quanh nơi mấy nhà bà con, nghe ngóng. Không khí lạnh ngắt. Đường vắng tanh. Thỉnh thoảng, có vài bộ đội gánh thương binh đi ngang. Đến mồng Bốn, đạn pháo hai bên vang rền đây đó, khi ngày, lúc đêm, khi nhiều lúc ít. Không có hầm, cả nhà chui đại xuống giường, phản ẩn nấp, vừa niệm Phật vừa run. Hết tiếng nổ, chui ra. Đợi yên, lẻn qua nhà bên, hỏi han. Nghe chị Dách nhà phía bên kia đường bị miểng đạn văng khi đi tiểu, chết. Nghe xóm sau, nhiều người trong một gia đình mới đến ngụ cư bị thương vì pháo rơi ngay cửa hầm. Nghe dưới khu cống Vĩnh Lợi cũng có người chết. Nghe phía sau hồ Xã Tắc có người bị thương. Cứ thế…, ngày nào cũng nghe tin xấu. Nhưng nhà ai nấy lo, sụt sùi, lặng lẽ, câm nín.

Rủi, nhưng sau này mới biết là may. Đang là chiến trường tranh chấp, nên không có du kích địa phương, không có bóng dáng của các thành phần sinh viên học sinh nhảy núi trở về. Chưa có chuyện lùng sục, mời đi làm việc hay trình diện để rồi…vĩnh viễn nằm trong những hố chôn tập thể.

Một tuần sau, buổi sáng, bỗng nghe tiếng loa từ khu Quân Cụ, cách nhà chừng ba, bốn cây số, vang lên. Thì ra, quân đội VNCH còn giữ được đồn Mang Cá, khu Tịnh Tâm, phi trường Thành Nội, khu Tây Linh, khu chợ Cầu Kho, tất cả khoảng một phần tư khu vực nội thành. Thế là, cả nhà vội vàng dắt díu nhau băng từ vườn nhà này qua vườn nhà khác, đạn pháo, mặc, súng nổ, mặc. Nấp, chun, lủi, bước, chạy hướng về phía có tiếng loa. Vừa đến khu hồ Tịnh Tâm, thấy bóng những người lính VNCH canh gác chỗ này chỗ nọ, vẫy tay giục chúng tôi đi tiếp, mừng, thấy mình sống lại. Gia đình tôi ở tạm trong nhà một người quen. Dân ở các vùng khác trong Thành Nội cũng tìm cách thoát về đây. Cư dân Cầu Kho, Mang Cá hào phóng tiếp nhận hết, lạ cũng như quen. Nhà nào cũng đầy người. Chia xẻ nhau cái ăn, cái mặc, không ai tiếc ai cái gì.

Vài ngày sau, trong lúc lang thang giữa một con đường hẻm gần hồ Tịnh Tâm, tôi tình cờ gặp người bạn học thân từ cửa Đông Ba vừa chạy lên. Anh bạn đứng sửng nhìn tôi, hỏi:

– Mày còn đó à? Có phải mày là T. không?

– Ừ, tau đây chứ còn ai. Đúng mày là U. phải không?

– Tau đây. Vậy mà tau tưởng mày là ma hiện về. Ở vùng tau, tụi nó về, đi kiếm mày quá trời. Thằng S. ép tau phải chỉ nhà mày cho được. Kẹt quá, tau tìm đường tẩu.

Hai đứa ôm nhau, im lặng tận hưởng niềm vui của những người sống sót.

Suốt thời gian chiến sự, trong lúc các trận đánh ác liệt diễn ra cách đó không bao xa (ở Đại Nội, cửa Thượng Tứ, cửa Đông Ba, khu Tây Lộc, khu Tri Vụ), ở đây chợ vẫn mở, quán cà phê vẫn mở, mua mua bán bán. Khi có bất cứ đơn vị quân đội VNCH hay quân đội Mỹ từ trong đồn Mang Cá tiến ra đi hành quân giải tỏa, là dân lại ùa ra, chào đón, hỏi han, cổ võ. Dẫu vậy, tình hình vẫn rất căng thẳng. Việt Cộng pháo kích thường xuyên, thỉnh thoảng rơi vào nhà dân, khiến nhiều người chết thảm. Anh Thọ, bạn tôi, mất một lần cả mẹ và em gái khi đạn pháo 22 ly của Cộng Sản rơi ngay ngôi nhà tạm trú, giết hơn chục người; anh Tuệ, cũng bạn tôi, mất người vợ trẻ mới cưới hơn năm vừa có con đầu lòng, vì trúng đạn khi chị đang đi bộ trên một con đường hẻm. Không biết làm gì hơn, thân nhân đành bó chiếu chôn cất người thân bên vệ đường và dọc theo bờ hồ Tịnh Tâm.

Khu Mang Cá và chợ Cầu Kho bỗng nhiên hình thành một Huế khác, bấp bênh, căng thẳng, hy vọng và chờ đợi.

Cho đến cuối tháng Giêng.

  • Về nhà

Vừa mới nghe đài phát thanh loan tin Việt Cộng rút đi, trong lúc ai cũng đang chờ lệnh, tôi nóng ruột, vội vàng cùng bà chị trở về thăm nhà. Đường còn vắng tanh. Khi đến đường Lê Huân, cách nhà chừng hai cây số, thấy có xác bộ đội. Từ đó trở lên phía thành, nhất là trên các con đường quanh quanh phường Tri Vụ, Thuận Cát, khu Cầu Đất, khu cống Vĩnh Lợi, vùng Tây Lộc, khu phi trường, vân vân, nơi diễn ra những trận đánh vô cùng ác liệt, xác bộ đội năm rải rác khắp nơi, chỗ một, hai xác, chỗ thì mười, mười mấy xác nằm vắt lên nhau. Có đến hàng trăm. Nhiều xác đã trương phình. Mùi hôi bốc lên nghẹt thở. Hai chị em nhắm mắt, bịt mũi mà đi. Ngay trước cửa ngõ nhà tôi, 3,4 xác bộ đội nằm vắt vẻo bên hàng chìa tàu. May mà trong vườn cũng như trong nhà, không thấy có xác nào. Những đứa con miền Bắc nằm lại trên những con đường xa lạ xứ Huế, trông khuôn mặt ai cũng còn rất trẻ.

Vào lúc cuối đời, Chế Lan Viên, nhà thơ suốt đời trung kiên với đảng Cộng Sản, viết:

Mậu Thân 2000 người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm, còn sống có 30
Ai chịu trách nhiệm về cái chết của 2000 người đó?Tôi.

Tôi – người viết những câu thơ cổ võ…

Ca tụng người không tiếc mạng mình trong mọi cuộc xung phong
Một trong ba mươi người kia ở mặt trận về sau mười năm
Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ
Quán treo huân chương đầy, mọi cỡ
Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ!
Ai chịu trách nhiệm vậy?
Lại chính là tôi!
Người lính cần một câu thơ giải đáp về đời
Tôi ú ớ
Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong
Mà tôi xấu hổ
Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay
Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ
Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười 
(Ai? Tôi)[3]

Chế Lan Viên chỉ nói về bi kịch bộ đội, không hề biết đến bi kịch Huế! Nhưng dù sao, so với những người nhảy núi trở về Huế tìm cách chối là mình không hề cầm súng bắn giết một ai, chỉ đọc tuyên ngôn và làm công tác dân vận, Chế Lan Viên cũng còn “nhất điểm lương tâm”, nhận phần trách nhiệm về mình. Thảm sát Mậu Thân phải xuất phát từ một Chính Sách và chính sách được thi hành bởi một “Guồng Máy”. Ai ở trong guồng máy thì phải quay đều quay đều, gánh lấy trách nhiệm, dù có cầm súng giết người hay không, không thể phủi tay đổ lỗi cho người khác.[4]

Hầu hết khu vực tôi, nhà cửa, vườn tược tan hoang. Căn nhà tôi bị phá hủy hoàn toàn, vết đạn lỗ chỗ khắp nơi. Cây cối trong vườn bị bom đạn cày xới tơi tả. Hai cây nhãn cổ thụ trái rất ngon vốn là một nguồn lợi mà mẹ tôi dùng để nuôi tôi đi học, trốc gốc, cành nhánh gãy đổ bịt hết lối đi. Hầm hố khắp nơi trong vuờn, kể cả một cái hầm dài đào dọc theo và xuyên dưới thềm nhà.

Vừa bước vào thềm, đang ngậm ngùi nhìn đống gạch vụn, chợt một tiếng hô lớn vang lên,“Đứng lại, giơ tay lên.” Tôi rụng rời tay chân, đứng sững, run rẩy đưa hai tay lên trời. Từ sau bức tường nhà đổ nát, hai lính Thủy Quân Lục Chiến xuất hiện. Hoàn hồn, thế mà cứ tưởng là Việt Cộng! Họ chĩa súng vào hai chị em, mặt mày căng thẳng. Một người tiến lại, “Đứng yên, không được nhúc nhích.” Anh ta sờ nắn khắp người tôi, rồi bảo, “Xắn quần lên, cởi dép ra.” Tôi làm theo. Anh ta xem kỹ ống chân và bàn chân tôi. Sau đó, hỏi, giọng hơi có chút thân thiện:

– Ở đâu đến, vào đây làm gì?

– Dạ, đây là nhà tôi. Chúng tôi lánh nạn ở Mang Cá, nghe tin Việt Cộng rút đi, nên vội về xem nhà cửa ra sao.

– Chắc không?

– Dạ chắc.

– Trước làm gì?

– Sinh viên.

– Laị sinh viên, sinh viên! Còn đây là ai?

– Dạ, chị ruột.

– Giấy tờ đâu, đưa xem.

Chúng tôi đưa giấy căn cước. Xem xong, người lính bảo:

– Được, tôi tin cậu. Chân này không phải là chân đi dép râu. May cho cậu đấy, lớ xớ gặp người khác là đi đời. Đây vẫn còn là vùng chiến trường, chưa được phép vào, biết chưa? Bọn du kích và bọn sinh viên học sinh nằm vùng vẫn còn lẩn quất đâu đây, phải thanh toán trước khi cho đồng bào về nhà.

Hú hồn! Hai chị em chỉ biết lí nhí cám ơn rồi vội vàng rời nhà, lòng vẫn chưa nguôi kinh khiếp.

*

Quân Cộng Sản rút đi rồi, để lại một Huế ngổn ngang, tang thương, rách nát. Thành quách tan hoang, người người ngơ ngác. Người gặp người mà vẫn tưởng như đang còn ở trong giấc mơ. Dắt díu nhau từ chỗ tạm trú về nhà cũ, biết là còn sống, biết là mình may mắn, nhưng cõi lòng ai cũng vỡ nát, vụn vằn, đờ đẩn. Những câu hỏi ném vào nhau, thổn thức. Ai còn? Ai mất? Chồng đâu? Con đâu? Chị đâu? Em đâu? Bạn đâu? Thầy đâu? Học trò đâu? Chao ôi, Huế đã làm gì nên tội mà ra nông nổi này!

Năm mươi năm rồi! Bây giờ Huế đã khác, tất nhiên.Vết tích cuộc chiến năm xưa cũng như cái chết tức tưởi của hàng ngàn người tưởng như đã biến mất sau lớp bụi thời gian và nỗ lực không ngừng nghỉ của nhà cầm quyền Cộng Sản nhằm xóa nhòa nó. Không! Hàng năm, cứ đến Tết, trong lúc bộ máy tuyên truyền nhà nước vẫn, nói như Nguyễn Quý Đức, “tiếp tục tăng tốc ca ngợi chiến công,” thì có hàng ngàn gia đình vẫn âm thầm cúng kiến và đau xót nhớ đến cái chết thảm của cha, của anh, của con, của em mình. Không bao giờ nguôi. Không gì làm nguôi. Không ai làm nguôi. Di luỵ Mậu Thân mãi mãi còn đó. Là oan trái Huế. Cũng là oan trái Việt Nam. Oan trái cần được giải oan. Đó là lẽ Đất Trời. Ngày nào oan chưa được giải thì mọi chính sách, mọi thủ đoạn tuyên truyền, mọi chạy tội, mọi đổ lỗi, dù trên bình diện cá nhân hay nhà nước, đều chỉ là nước đổ lá môn, nếu không muốn nói là làm cho oan trái càng thêm oan trái.[5]

TDN

[1]Xem ở: https://www.smithsonianmag.com/history/revisiting-vietnam-50-years-after-tet-offensive-180967501/

[2] Xem: http://damau.org/archives/9797

[3] Rút trong sổ tay Thơ, tập 5. Nguồn: Chế Lan Viên toàn tập, Nxb Văn học, 2002 (do Vũ Thị Thường sưu tầm và biên soạn).

Xem: http://www.thivien.net/Ch%E1%BA%BF-Lan-Vi%C3%AAn/Ai-T%C3%B4i/poem-WyG1Cf5msDImxRJZJx-3Ug

[4] Xem thêm: Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân nói về việc tìm mộ Vua Quang Trung và vai trò của bản thân trong Tết Mậu Thân ở Huế

https://vandoanviet.blogspot.com/2017/12/nha-nghien-cuu-nguyen-ac-xuan-noi-ve.html#more

[5] Xem thêm: Chiến dịch Mậu Thân 1968 và sự thật về nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường,

http://danviet.vn/van-hoa/chien-dich-mau-than-1968-va-su-that-ve-nha-tho-hoang-phu-ngoc-tuong-842147.html

tumblr_ouxyfmij531r52uu8o1_1280

Vương  Miện   1 – 2 – 3

 

 1.

Một mình nằm với chiêm bao

Để nghe biển nhớ tan vào đêm mưa

Nhớ ngày thuở ấy… ngày xưa

“Trời mưa bong bóng…” em chưa lấy chồng…

 

 2.

Hai nhà… cách một dòng sông

Cùng chung nắng cháy, mưa dông tiêu điều

Một trời thơ… một trời yêu

Một trời kỷ niệm… sớm chiều vui chơi

Phải lòng nhau đó, em ơi!

Thề non, hẹn biển… trọn đời không xa

“Yêu nhau, cau sáu bổ ba…”

Một ngày không gặp… tưởng xa lâu rồi

Hương tình thơm tóc, thơm môi

Thơm hương dáng liễu em tôi… diễm kiều

Chiều êm… trong lặng lẽ chiều

Lẫn trong tiếng gió… có nhiều tiếng hôn

Tóc dài… anh chải cho suôn

Mà hương Bồ Kết bay luồn trong anh

Bờ môi căng mọng ngọt lành

Ngọt thơm hơi thở, thanh thanh tình đầu

Vòng tay quấn quít đêm thâu

Hãy ôm cho trọn, bền lâu suốt đời

Môi trên môi… chẳng muốn rời

Hương trinh nồng ấm trong hơi thở tình

“Ví dầu, cầu ván đóng đinh

Cầu tre lắt lẻo…”  băng trinh một lòng…

 

 3.

Thuyền em theo nước xuôi dòng

Bao nhiêu bến đợi, bờ mong… đón chờ

Tôi ngồi bến vắng ngẩn ngơ

Một thuyền, nhiều bến… xa mờ… tình tan…

“Lý Ngựa Ô…” lục lạc vàng

Ai tra khớp bạc… đưa nàng về Dinh?

Một vòng Vương Miện lung linh

Một màu áo trắng nguyên trinh… theo chồng…

Biết rồi… mà vẫn ngóng trông?

Đò qua… mà ngỡ bóng hồng lại sang

Tơ tình đứt đoạn, dở dang

Giấu nguyên Góc Khuất… giấu ngàn sầu rơi…

Tháng năm, em ở với người

Cầu mong em giữ nụ cười hồn nhiên

Giữ nguyên giọng nói nhẹ hiền

Cầu mong em được lành yên một đời

Em giờ, xa khuất chân trời

Người xưa… người của một thời về đâu?

Cuối sông, ai ngóng giang đầu

“Tại Trời xui khiến…” xa nhau… xa hoài…

 

 LÊ  KIM  THƯỢNG
Nha Trang, tháng 11. 2017

 

“…” Ca dao

tumblr_oezm7yr36H1vq8yf5o1_400

CHƠI CHỮ

 

      Dòng dõi Nguyễn Tùy trâm anh thế phiệt, văn hay chữ tốt, thế tộc khoa bảng và làm quan dưới triều vua qua mấy đời. Tùy đổ đạt cao từ thi hội, thi hương tới thi đình và được tiến cử vào cung lo việc kinh sử. Tùy có hoa tay nên ngọn bút như rồng bay phượng múa, nét chữ chấm, phá sắc sảo được nhiều người mến mộ. Tùy là con út thuộc dòng hai của Nguyễn Khải, mẹ là Đỗ thị Nhu, chỉ có mình Tùy là con trai duy nhất. Lớn lên làm quan, quyền cao chức trọng. Một thời gian sau Tùy kết hôn người làng bên tên Lê Túy Hoa con gái độc của một ông đồ Hán Nho. Mẹ Hoa mất sớm vì chứng đậu mùa. Nàng đau khổ khi chưa tới tuổi tròn trăng, không còn ai để vỗ về, chăm sóc thương mến mà chỉ dựa vào thơ, văn che lấp nỗi đau và thường khi phóng thơ cùng cha; cố công trau dồi chữ nghĩa của thánh hiền để lại với sự dạy dỗ của người cha. Ngoài dạy chữ; Đồ Nghệ dạy con đạo làm người, can thường luân lý giữa đời, theo phong cách xưa của những con người phong nhã, ‘tài tử đa xuân tứ’; tâm hồn lãng mạn của kẻ sĩ trọng nhân nghĩa lễ trí tín hơn là chuộng vật chất danh vọng. Một năm sau Tùy và Hoa sanh một con trai, đỉnh ngộ, đặc tên Nguyễn Đệ.Vận nước đổi thay tiếng tăm dòng họ Nguyễn phai mờ và vùi chôn ít ai nhắc đến; có chăng chỉ là dư âm huyền thoại, gần như chuyện hoang đường. Theo truyền khẩu dòng họ Nguyễn thất thế giữa triều chính, sợ nguy cơ xẩy đến cả họ ly tán, mỗi người mỗi phương không biết đi về đâu giữa cảnh đời phù vân này. Riêng gia cảnh Tùy mang tai tiếng lại gặp khó khăn nên bỏ xứ xuôi Nam sanh sống. Đến đất Phú Xuân thì dừng chân lập nghiệp. Đây là đất thiêng cho nên có cơ hội phát tiết chữ nghĩa. Đời sau; đầu não, cơ mật viện triều đình bị lũng đoạn, bởi; một bên thuộc điạ, một bên thuộc hoàng triều e rằng chữ Hán Nho mai một mà thay vào chữ Nôm hay chữ Quốc ngữ. Tùy dư biết điều này nên dốc tâm duy trì ít nhất lưu truyền vài thế hệ, dẫu hậu thế có biến thiên theo giòng lịch sử. Ngày hồi hưu Tùy chăm chút đám hoa thơm cỏ qúy trong căn nhà ở ven hồ nội thành và nắn nót ‘con chữ’ là thú tiêu khiển, nhàn nhã cuối đời và đem cái tâm trọng chữ ra dạy cho Đệ về tinh hoa chữ nghĩa của thơ, phú. Đệ là kẻ thừa kế những gì cha ông để lại; đó là hoài bão mà Tùy ôm ấp từ lâu như một đền đáp đối với cha ông. Gia đình Tùy nhập cư ở đất văn vật non gần thế kỷ cho nên hóa thành con dân đất Thần Kinh. Đệ theo học ở trường Quốc Tử Giám là danh dự lớn lao cho con dòng cháu giống. Thấy con thông minh mẫn cán, chăm lo sách đèn ông bà Nguyễn Tùy lấy làm tự mãn cho dòng họ đời mình. Đệ là ‘Tuấn chàng trai nước Việt’ ấp ủ mộng ‘mê đường’.Thời gian không lâu cha mẹ Đệ lần hồi lià trần. Đệ bước sang khúc ngoặc khác hơn xưa.

 

Ngồi trước đèn, đôi kính lão đổ xuống mũi, tóc trắng bay theo gió, chiếc áo lương đen dệt mỏng, hai ống quần trắng vải đay ngả màu; những thứ đó tạo phong cách của một nhà nho phong vị thủy. Người cha gò mình phóng bút, chấm phết con chữ trên trán, trên mắt, trên mũi, trên môi đứa con gái ở tuổi lên mười. Điểm một chữ, giải một chữ trên mặt đứa con gái út thân yêu. Vợ Đệ là Tuyết Thu có chút máu con nhà rồng cho nên đài cát, kiêu sa thêm vào đó với gương mặt sầu muộn muôn thuở.

Đệ và Thu cố quên đứa con trai đã quá vãng khi ở tuổi mười tám, hoài vọng đó không còn nữa, bởi; đến và đi là ngoài dự ước mong muốn mà xem đây là định mệnh cho việc kế thừa. Không phải là đứa con trai hay chữ mà trao cho đứa con gái làm sống lại một thời hoàng kim. Mãi là lời ta thán nơi Đệ.

-Mình xem chữ này nghe! thuận hay nghịch nghĩa. Đệ nói. Tuyết Thu đứng sau lưng chồng lặng nhìn không nói. Nhuệ Giang mỉm cười đắc chí. Đệ ngoảnh đầu nhìn lui với đôi mắt u hoài như tuyệt vọng. Xuyên qua cửa; hoàng hôn đã xuống bên kia hoàng thành. Ngọn đèn vàng nhợt nhạt đổ trên bàn viết.

Tình người và tình đời cứ thế mà trôi, có nhiễu nhương hay thăng hoa họ không một hoài vọng nào hơn mà xem đó là vận trời huống hồ là vận người. Đổi thay không ngừng giữa người và vật. Đệ và Thu nhìn Nhuệ Giang như đối tượng của lẽ sống. Nhuệ Giang đứa con gái lãng mạn và lạ đời giữa thế gian này. Nàng nhìn đời với đôi mắt thẩm mỹ của nghệ thuật và tình yêu là hương hoa cao qúy.

Một thoáng mà nay Nhuệ Giang ở tuổi ngoài hai mươi. Nguyễn Đệ và Tuyết Thu lui về với quá khứ như ôn tập và tiếc thương để sống lại cảnh cũ với người xưa. Họ lãng mạn hóa cuộc đời để thi vị hóa cuộc đời; cái gì của hôm nay không còn là hôm qua và cái hôm qua có thể không còn lưu lại hôm nay.

Từ chỗ yêu chữ Đệ hóa ra như ông ngoại ngày xưa làm công việc giữ gìn chữ nghĩa thánh hiền và chính Đệ thấy ở Nhuệ Giang tư chất tới hành động lai căn hai dòng máu của nội và ngoại, nặng chất mẹ của mình. Trong số đệ tử được giáo Đệ giảng dạy về cách chơi chữ của người xưa là lối phóng bút nghệ thuật của thi ca lên giấy hoặc chạm chữ phù điêu lên đá, lên gỗ. Từ đó Đệ khám phá lối chữ viết trên da người như một món ‘ăn chơi’ thời thượng. Đệ tử ruột là Tuệ. Một trang thanh niên hào hoa, phong nhã. Nhuệ Giang đã đôi lần để mắt vào người nghệ sĩ trẻ này. Trong thư phòng; thầy Đệ phóng ngọn bút lông gia truyền lên toàn thân của Tuệ. Tuệ nằm trên chiếc chiếu cạp điều, trần truồng như nhộng; thầy trò nhập hồn vào con chữ, mặc sức thao túng lên lớp da người ‘ăn mực’ qua đường nét thủy thái họa trúc và chim và ông tựa dưới tranh một bài thơ Đường thi, chấm phá từ cổ xuống hậu môn bài thơ theo lối song quan ngữ của Mộng Đắc; bài thơ cổ Trúc Chi Từ là bài thơ hợp ý của Đệ:

‘Dương liễu thanh thanh giang thủy bình

Văn lang giang thượng xướng ca thanh

Đông biên nhật xuất tây biên vũ

Đạo thị vô tình khước hữu tình’1

Đệ chậm rãi mài nghiêng mực, gõ ngọn bút lên chén mực Tàu, vung hai ống tay áo như xếp gọn để cho đường bút lượn theo con chữ, nét chữ như phượng bay, viết lên trán Tuệ: ‘Nhất thiết tu đa la giáo như tiêu nguyệt chỉ’2.  Đệ hứng chí phóng thêm những bài thơ khác trên châu thân Tuệ không thiếu đường tơ kẽ tóc. Mực chưa khô Đệ đã cúi người hôn lên mặt chữ một cách trìu mến. Tuệ lấy làm lạ giữa chữ và người, đẫn đờ chưa hiểu nghĩa cử của thầy. Nhuệ Giang nhận ra điều này qua sự qúy chữ của cha mình. -Em đã có lần được cha viết chữ lên thân mình chưa? Tuệ nói. -Cha chỉ viết chữ trên mặt và trên lưng của em ; bởi mỗi lần như thế có mẹ em đứng bên để sửa chữ và góp ý. Nhuệ Giang nói. -Em có làm được việc này như thầy không? Tuệ nói. Họ trò chuyện khá lâu về cách viết chữ trên da người. Có lẽ; chưa bao giờ Tuệ nghe qua cái lối chơi chữ như thế, nhưng; có thể là một khám phá khác đối với Tuệ. Ngày thau lại, đêm vỡ ra trên đường về nhà nét mực, con chữ còn thấm trong da. Tuệ không muốn tắm sợ chữ trôi đi. Tuệ muốn viết một cái gì lên da thịt mình…như một thách đố.

Từ đó; lôi cuốn Tuệ vào với con chữ, đam mê vào lối chơi mới. Tuệ bỏ công tu tập nhưng vẫn không đạt như ý, con chữ không thoát ra khỏi chân không mà tuồng như chất chứa một vọng niệm khác làm cho chữ với nghĩa lạc hướng đường trần; dẫu cố gắng hay một mảy may bất ngờ đem đến, thế nhưng vẫn không toại nguyện như thầy đã dạy, bởi; giữa chữ và hồn phải thoát tục, chữ phải ‘tròn’ trong một tri giác bất thần mới hòa điệu vào nhau. Chữ phóng khoáng lưu loát, nghĩa của chữ đi theo đó mà sáng lên…Tuệ dốc tâm viết lên tay, lên chân , lên ngực nhưng muốn trọn vẹn như thầy; chẳng còn ai ngoài Nhuệ Giang. Vạch áo cho nàng xem con chữ viết trên da mình. -Chữ anh viết chưa phải là phóng bút, viết ở đây là thứ chữ nghệ thuật, chữ đẹp làm cho ý đẹp. Việc này không phải một sớm, một chiều mà đạt ý; là cả công phu như phép tu thiền hay luyện khí công của hiệp khách. Nhuệ Giang nói. Gió từ xa thổi tới bất giác Tuệ định thần. Hôm sau đến yết thầy; Tuệ lột bỏ áo quần đứng đối diện Đệ; đầu mình và tứ chi ngập chữ. Những bài thơ qúy được chấm phá qua ngọn bút tài tình. Đệ ngẩn ngơ trước một lâu đài chữ nghĩa trên mình người. Ông cúi người hôn lên chữ, đưa lưỡi liếm chữ một cách thèm khát và kính cẩn. Lật người Tuệ, dòm trên, ngó dưới, vạch đôi chân bành ra đọc cho trọn ý bài thơ dưới dương vật Tuệ. Sau cửa; Nhuệ Giang trộm nhìn thái độ của cha và thế đứng của Tuệ trước con chữ. Đệ ôm người Tuệ như thần tượng sống. Cửa thư phòng đóng kín và ngọn đèn vụt tắc. Lúc đó trời bên ngoài tối om chỉ nghe tiếng rì rào cây cỏ và gió thổi. Nhuệ Giang nhẹ bước trong thổn thức.

Sáng dậy; Đệ ôm tách trà nóng nhìn về phương trời xa, gương mặt rạng vỡ những đường nhăn của thời gian; Đệ về già trông thanh cao. Đôi mắt người như mơ màng, như hồi tưởng, như thỏa mãn cái thú chơi của mình, thú chơi lắm công phu điêu luyện. Đệ mãn nguyện đã ‘truyền ngôi’ cho con và cho học trò qúy mà ông tưởng thú chơi này sẽ không có ai thừa nhận; chỉ phút chốc nhưng đầy ấn tượng.

 

Tháng ngày qua; Nhuệ Giang và Tuệ thấm nhuần chân lý nghệ thuật chơi chữ. Nhập vào rồi mới thấy được nghệ thuật vị nghệ thuật, bởi; nghệ thuật chữ và xác là phơi mở nét đẹp tự nhiên đầy sáng tạo, một sáng tạo nghệ thuật của hội họa. Người nghệ sĩ là con người khám phá. Tình yêu của hai đứa nở hoa giữa xác và hồn. -Anh muốn đưa em đến thăm cổ miếu dòng họ Trịnh nằm sau lưng núi Ngự. Tuệ nói. -Dòng họ nhà anh phải không? Nhuệ Giang nói. Họ ôm vai cười sung sướng dưới trăng Nguyên Tiêu đang bềnh bồng giao tình trăng nước trên dòng sông một thời lấy đó làm đất hứa lập kinh đô.

Đêm sáng trăng nơi cổ miếu dòng họ Trịnh; miếu nằm khiêm nhường trên một vuông đất nhỏ nhắn như thách đố với thời gian. Trong miếu thờ những vị cao tổ họ Trịnh. -Nhuệ Giang có biết hôm nay là ngày gì không? Tuệ nói. -Em không nhớ rõ; tuồng như mơ hồ nhớ điều gì. Nhuệ Giang nói. -Hôm nay sanh nhật em đó. Tuệ nói. Họ cười nói thỏa thê như một hứa hẹn. -Anh muốn viết thơ trên mình em và em viết lên mình anh. Tuệ nói. Ở gian bên miếu thờ; chàng trần truồng và trải lưng cho nàng viết, lời thơ bắt đầu đi từ đầu đến chân, từ ngực tới bụng, thơ chảy dài trên da thịt. Nhuệ Giang không thấy mình lúc đó, ngắm nhìn con chữ mà nhớ người cha già. Nước mắt nàng rớt xuống người Tuệ tạo ra dấu ấn. Nhuệ Giang đứng thẳng người; dưới trăng nàng nguyên sơ. Nhẹ nhàng nằm xuống chiếu và nghe từng con chữ chạy trên thân thể mình, không còn thấy mực lạnh ở đầu bút mà ấm lên một tiết điệu âm dương giữa hồn và xác.Tuệ ngắm đường bút của mình và nằm lên người nàng qua nụ hôn.

Họ trao thân đêm hôm đó như lễ tạ ơn hai dòng họ Trịnh Nguyễn. Ngọn bạch lạp rưng rưng cháy vừa đủ chiếu cho một thứ ánh sáng mờ nhạt. Cả hai đã chơi trên chữ. Chữ nhòe, bởi; cọ xát của xác thịt . /.

 

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. jan 1/2017)

 

  (1)Dịch nghĩa: “Bài Ca Cành Trúc / Trúc Chi Từ” của Lưu Vũ Tích tự Mộng Đắc (772-842) :

‘Liễu xanh xanh ngắt tràng giang,

Vẳng nghe tiếng hát của chàng vút đưa;

Tình song tây nắng đông mưa

Phải chăng tình nắng tình mưa cùng tình!’ (Nguyễn Danh Đạt dịch)

(2) Trong kinh Viên Giác: ‘Tất cả giáo lý trong kinh điển là ngón tay chỉ vào mặt trăng’ (là khai ngộ).

tumblr_ot8lqip6Dt1r4j0nro1_1280

Tự khúc mùa Đông

 

 

Ta đi lang thang trên mảnh đất giá băng

lang thang không còn lý tưởng

cố tàn sát các loài đáng sống

tâm hồn ta:

Thành phố bị lãng quên, nặng nhọc thở khò khè

nơi một bức tượng gục đầu buồn bã

trước lũ côn đồ xâu xé những cô gái điếm

một cuốn sách bị xuyên tim máu chảy ròng ròng

thánh đường tuyệt vọng cố vươn đôi vai lầm bầm

                                                             nguyền rủa

những kẻ đã bán mình cho nó

bây giờ đang tiến hóa thành hàng ngàn con quỷ.

 

Ta đi lang thang trên mảnh đất giá băng

nơi máu nói sẽ đạt tới vinh quang bất tử

lại đang chìa tay đứng hóa ăn mày.

 

Lý tưởng khai sinh đã đến hồi chung cuộc

ta vội chạy về nhà, trùm chăn run bần bật

và đợi chờ một kết thúc gớm ghê.

 

 

Lê Trinh

 

 

Đóa Hồng

 

 

Chiều tà lời ca như sương khói

tiêu điều ta về lại dòng sông

Marie xưa đẹp đóa hoa hồng

bây giờ trôi dạt hư không.

.

Mây xưa ta kết ngàn con sóng

đổ hết mùa xuân đóa hoa lòng

mà trăng xưa đã bao lần cô độc

viết lên trong bóng tối hoài mong.

 

Marie xưa đẹp đóa hoa hồng

bây giờ trôi dạt hư không.

 

Lê Trinh

Josias Scharf

trong nỗi dịu dàng mùa xanh

 

 

ánh nhìn mắt em 

dung cảm luôn ngời sáng

định căn niềm xa vắng tinh khiết chỉ mình tôi nhận thấy

những tin yêu lấp lánh trên vành môi cong khát vọng

có thể, em biết mình được sinh ra từ lửa mặt trời

 

mùa thu không hề bí ẩn trá hình trong thành phố

từng ngày, sắc lá chuyển màu người đời trầm tưởng thường lặng lẽ

và chẳng có ai chơi trò đếm số

bao nhiêu bước chân đi vội vã vào mưa

hoặc tìm kiếm trong kí ức hương thời gian của những ngày thơ dại

 

nguyên sinh một cõi người

trong veo tiếng lòng reo vui chảy tràn mặt đất

như thế, không cần thiết phải bi quan

một thế giới khi gọi tên nhau trần truồng ngữ âm rồi biến mất

hôm nay, những loài hoa đều có đôi cánh riêng

bay cùng chúng ta thơm như gió trong nỗi dịu dàng mùa xanh

 

Khaly Chàm
saigon 10/2017

 

 

 

mùa thu dịu dàng rất thật

 

có thể những lời tôi hứa hẹn

đã trờ thành giấc mơ nở trọn vẹn trên ngực em

không hề đơn điệu khi muốn thể nghiệm về nỗi nhớ

mùa thu lang thang tìm ánh sáng tỏa ra từ môi người

thật đẹp, dường như chính là sự quyến rủ

 

em yêu. gió và mưa tìm chỗ ký thác giai điệu

niềm hân hoan của những mầm sinh không cần thời gian giả định

ngôn ngữ mùa thu luôn thì thầm

cho dù tôi đang trôi như mây về cõi vô biên

nhưng lòng không nguôi ước vọng

 

em nào biết. tôi đếm từng khoảng cách bóng mình

trên bao con đường mặt trời rụng tím tia tử ngoại

chờ một giọng nói xuyên qua linh hồn

vỗ về những câu thơ già nua chờ giờ đột tử

 

em ơi. hãy nói với mọi người

có ngày tháng của mùa thu dịu dàng rất thật

tôi đang hình dung về một nụ cười trong nguyên vẹn hồi ức

sẽ tươi thắm cho ngày mai cùng dự ngôn ca tụng tình yêu

 

Khaly Chàm

 

 

ban mai & cảm nhận

 

những ánh nhìn hiện tại

nhấp nhô trên mọi ngôn ngữ hiện sinh

bình minh tan vào câu chữ được bắt đầu

vòng quay đất mang hơi thở cuộc đời lăn vào ánh sáng

dường như những tư duy bay cùng với vẻ đẹp vô biên

và những khoảng cách đều có lời hát ru của gió

 

những đôi môi trẻ thơ đang vỗ cánh

bầu trời dần xanh lên nhẹ hẫng cánh chim bay

tôi chỉ muốn nói về niềm hạnh phúc

nghĩ mãi chưa ra đâu là sinh tử kiếp người

không thể hiểu được tiếng nói từ bầu trời xanh âm vọng

thôi. thì hãy mở lời chào thân thiện với bóng mình

 

thời gian bềnh bồng trôi trong vũng nhìn

thời tiết mù mưa theo bản tin dự báo

có thể em đã khám phá ra một mặt trời

luôn tỏa xuống hồi chuông đánh thức cơn mộng mị

những chiếc lá điềm nhiên nhìn bước chân tôi chuyển dịch

 

chúng ta gặp nhau để cảm nhận từng giác quan thơm nồng cháy

biết được sự tự tại hôm nay

tất cả sẽ phải tan vào tâm địa chấn phải không?

khi thành phố còn thoảng mùi hương của bão

 

Khaly Chàm

 

 

 

rất thật trong ý tưởng

 

xối từng chùm ánh sáng lên đầu cái bóng

sự tan chảy trắng đẫm vào ý tưởng

những đốm màu thời gian hoại thư dần hiện ra

 

xòe tay cho gió đông bắc tạm trú

ảo ảnh ngả ngớn giữa hai đường tiệm cận

chúng chớp mắt sản sinh ra vô vàn hiệu ứng

hỗn sắc tỏa rộng lập lòe rồi biến mất

 

ngày tháng cạn nhanh thật sao

hãy kí họa khuôn mặt của thơ em nhé

những con chữ cong mình theo sợi nắng

câu bóng chúng ta

tắm gội đức tin sẽ mãi thanh sạch

 

thầm biết ơn lời nói vô thanh

nhắc nhớ tôi luôn nâng niu ước mơ

đem gieo trồng vào ngực đất

phải biết chờ đợi thời khắc giao mùa

 

như nhiên lòng nghiêm cẩn

từng chùm ánh sáng trương nở diệu kỳ

nhìn những cái bóng linh hồn trở về

trong khí tiết xuân nhiều gương mặt thân yêu tươi cười

 

Khaly Chàm

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Về Nơi Hoang Dã – tranh Nguyễn Trọng Khôi

NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ MỘT MÌNH

 

Lý quang Hoàn

Buổi sáng trôi qua chầm chậm như từng giọt, từng giọt cà phê trộn lẫn với một chút âm nhạc dịu dàng và lãng mạn của Ernesto Cortazar trong “Days of innocent”. Lãng như đang ngóng trông một điều gì đó, nhẹ nhàng, trong suốt và tinh khiết như pha lê. Anh rít từng hơi thuốc như rất bồn chồn lo lắng mà cố làm ra vẻ thư thái, không lo lắng gì với cái dáng nửa nằm nửa ngồi mắt lơ đãng nhìn lên trần nhà, anh chợt nhìn thấy hai con thằn lằn đang yêu nhau. Anh cố tình làm như không thấy, đứng lên ra vườn định tìm một nhánh cây để xua chúng đi. Nhưng khi bước vào nhà, ngước mặt lên mọi chuyện hình như đã xong xuôi. Anh khẽ thở dài và tặc lưỡi giống như hối tiếc một điều gì đó. Loay hoay với tách cà phê dang dở, anh có một tin nhắn của Thắm: “Em vừa về. Mệt quá. Anh ăn sáng gì chưa? Hôm nay anh đọc những gì trong blog em?”

Lãng trả lời: “Anh đọc hai blog, Valentine nói lên tâm trạng của người cô đơn trong dịp lễ tình nhân, một blog nữa nói về thân phận con người, cuối đời lâm trọng bệnh như cha của Gi, một người bạn của em. Nói chung chỉ có thể diễn đạt trong hai từ “ngậm ngùi”. 

Nhìn đồng hồ đã 10h kém 10, Lãng nhắn cho nàng: “Đến giờ anh phải đi làm rồi”. Nàng hỏi tiếp: “Anh đã ăn sáng chưa?” Lãng nói: “Anh mang theo một ổ bánh mì kẹp trứng, vừa lái xe vừa ăn”. Nàng gửi đến một biểu tượng nhíu mày tỏ vẻ không bằng lòng.

Suốt quãng đường dài, vừa lái xe vừa nhai bánh mì, Lãng đã nghĩ về Thắm khôn cùng, nghĩ về nàng như nghĩ về người đàn bà vô cùng xa lạ nhưng rất mực thân quen.

Mãi nghĩ về nàng, Lãng đến sở làm lúc nào không biết. Đang kiếm chỗ đậu xe thì gặp Jennifer cũng vừa đến. Lãng nói: “Chào Jennifer, lâu quá không gặp! Chuyến du lịch vừa rồi vui không?”. Jennifer choàng vai Lãng và nói: “Jennifer nhớ anh Lãng nhiều”. Lãng hỏi: “Sao lại nhớ?” Jennifer trả lời: “Anh Lãng biết là tại sao rồi mà”. Lãng chưa kịp nói gì thì ngay lúc ấy Jeff đi ngang, nói chen vào: “Jennifer nó để ý mày đó” Lãng nói: “Không được, tao chỉ là một tên lãng tử thôi mà, có gì đâu mà”. Jennifer chỉ im lặngvà Jeff nói thêm: “Mày thực sự điên rồi”.

Bấm đồng hồ báo giờ đến xong, mọi người lao vào công việc của mình. Lãng vừa làm việc vừa nghĩ về những điều mình đã nói với Jennifer. Có giống như những điều Thắm đã nói với mình?

Có những đêm trằn trọc mãi không ngủ được, một khao khát rất con người lại hiện ra trong tâm trí, một bóng dáng đàn bà, những ấm áp trải dài qua đêm. Không chịu nổi Lãng chạy vội ra tủ lạnh, tu một hơi hết hai chai nước khoáng, sau đó vào phòng tắm xối những giòng nước lạnh từ đầu cho đến chân để thoát khỏi nhưng ham hố rất con người. Sau đó cố dỗ giấc ngủ bằng một viên Valium. Thế là một đêm khốn khổ lại trôi qua.

Nhớ lại khoảng thời gian ba năm trước đây, để trốn tránh cái cảm giác cô quạnh, đơn lẻ và những rạo rực rất bản năng của con người, anh đã uống rượu mỗi đêm, hết cốc này đến cốc khác cho đến khi say mèm lăn ra ngủ. Kết quả là một trận ốm thập tử nhất sinh, phải nằm bệnh viện mất hai tháng trời.

Sau thời ấy, Lãng đã thay đổi cách sống, lao vào chuyện viết lách, lúc đầu anh nghĩ rất khó, bởi vì lúc còn đi học anh vốn là cậu học sinh dốt văn tệ hại, thế nhưng bắt đầu viết và viết, cứ nghĩ sao viết vậy, từ đầu cho đến kết thúc, vậy mà cũng xong. Cứ mỗi lần viết xong một đoạn văn, một truyện ngắn, một bài thơ, Lãng lại tự thưởng cho mình một ngụm cà phê, một điếu thuốc. Và cũng nhờ cách này anh đã không còn thời gian trống nào để suy nghĩ bâng quơ về cuộc đời về thân phận mình, vậy mà ngày cũng trôi từng ngày. Cứ gặp gì viết nấy, suy nghĩ gì cứ trải dài ra trang giấy, vậy mà đời cũng qua. Trong lòng cũng thấy vui vui.

Lãng chợt nhớ đến câu chuyện ngụ ngôn “Hạnh phúc là gì?”. Câu chuyện kể về một con chó con cứ mãi đuổi theo cái đuôi của nó và không bao giờ bắt kịp. Lãng nghĩ thầm: “Có lẽ mình cũng giống như con chó con kia. Cứ mãi đuổi theo cái đuôi của chính mình, đuổi theo cái bóng của hạnh phúc một cách vô vọng”

Chợt nhớ đến những quan tâm nhỏ nhặt, những điều mà Thắm đã dành cho chàng. Hãy hạnh phúc với những điều mình có được và hãy cố đừng nghĩ đến những chuyện xa xôi.

***

Vậy là Thục đã đi Daknong được gần một ngày. Buổi sáng ngồi uống cà phê một mình mà cảm thấy bâng khuâng quá, như thiếu vắng một điều gì rất thân thiết. Cũng vì một rào cản vô hình nào đó nên cứ cố gắng đè nén và không cho phép mình điện thoại cho nàng. Và như có một thôi thúc ngấm ngầm như nói với anh: “Thôi nào hãy nhắn tin hoặc gọi cho nàng đi”. Mở máy mấy lần mà vẫn chưa thực hiện được cuộc gọi. Lạ quá! Một nỗi xúc động như òa vỡ trong anh khi nghĩ đến việc được đọc những giòng tin nhắn, được nghe tiếng Thục nói ở bên kia 1/2 vòng trái đất, được nhìn thấy nàng lúc này.

Cuối cùng anh cũng đã vượt qua được cái cảm giác lạ lùng của chính mình và phía bên kia đầu dây có lẽ nàng đang cười nhạo mình.

Nàng kể cho anh nghe điểm dừng của nàng là Blao, phong cảnh, con người và những công việc nhóm của nàng sẽ phải làm vào ngày mai, nàng cũng gửi cho anh mấy tấm hình nàng đang trùm chăn với khuôn mặt rất ư là nghịch ngợm.

 

***

Em!

Thư viết cho em thay cho lời. 

Những hụt hẫng trong đời sống thực dường như đẩy chúng ta đi xa và mỗi người đã đi dần về phía của mình bằng những suy nghĩ hẹp hòi, chứa đầy cái “tôi” môt cái “tôi” vô cùng mơ hồ, lố bịch, hàm hồ và chanh chua như một cô tiểu thư nhà giàu luôn trải nghiệm đời mình trên nhung lụa và chưa hề biết thế nào là những ngày đói kém, thiếu ăn thiếu mặc, chưa hề biết đến những cảm giác vừa nhục nhã vừa hân hoan của một kẻ luôn bị thôi thúc bởi những điều hết sức đời thường khi tưởng tượng ra là mình đang ngồi trước một bát phở bốc khói nghi ngút với mùi vị thơm ngon của nước súp và những miếng thịt bò béo ngậy, để rồi mỗi ngày làm bộ như một kẻ thảnh thơi đi qua đi lại trước một cửa hàng quốc doanh và chỉ để chống trả những cơn đói trong gan ruột của mình bằng những cái hít hà tràn đầy cái bản năng rất người trong một con người rất người của tôi. Và cảm nhận được thế nào là niềm hân hoan của mình khi thoả mãn những ước muốn rất đời thường, lẫn lộn xung quanh đó là những nhục nhã khi thấy mình đã không vượt lên được cái “tôi” của mình hèn mọn. 

Vâng! Không đời nào một cô tiểu thư nhà giàu như em trải nghiệm qua những cảm giác mà tôi đã trải qua. Tóm lại cuộc đời mỗi một con người luôn được vây bọc bởi những bi kịch của chính nó, Vậy chúng ta hãy sống với những bi kịch của chính đời sống chúng ta và đừng mong mỏi một điều gì đó bởi nó xa vời lắm. 

***

Cuối cùng thì anh cũng có được hồi âm của Thục. Anh luôn nghĩ về một trò chơi nghịch ngợm thời còn thơ ấu. Cùng lũ trẻ trong xóm ném những viên ngói vụn xuống một lòng giếng sâu để được nhìn thấy những vòng tròn vô sắc lan rộng, lan rộng… Hoặc cùng nhau ra biển ném thi những viên đá cuội lướt trên mặt nước tạo nên những tia nước tung toé hòa với niềm vui thú hồn nhiên của tuổi thơ. Thế rồi cuộc đời đưa anh đi xa hơn. Ngày một ngày hai, anh đã thay đổi, đã lớn lên dần, đã quên bẵng đi những trò chơi tuổi thơ một cách vô tâm để lao vào những niềm vui khác, những niềm vui của tuổi mới lớn, tập làm người lớn một cách lố bịch như hút thuốc, để râu, tập tành uống bia rượu, tập tành chinh phục những cô bạn cùng lớp, ra vẻ bất cần đời để tỏ ra lập dị khác người, rồi thậm chí còn muốn chinh phục cả thế giới trước mặt.

Tháng ngày trôi qua. Anh già đi theo thời gian, bị ném vào cuộc chiến khốc liệt. Tiếng súng tiếng bom đạn, sự chết chóc như làm tâm hồn anh chai sạn đi không ngờ, từ một người mơ mộng, lãng mạn nay trở thành một con người rất lạ, không còn giống anh ngày xưa nữa. Rồi sau cuộc chiến lại là một quãng đời khác nữa, tràn đầy sự khổ ải, đày đọa, rồi cũng kết thúc, lại lao vào với cuộc sinh nhai. Nhớ lại những ngày nắng gắt cong lưng trên chiếc xích lô ở trên là nắng, dưới là dốc và trên xe là hai chị bán cá mập béo ục béo ị nói cười rổn rảng bằng một thứ ngôn ngữ đời thường và chú phu xe gầy như que củi nghiến răng, nhắm mắt đạp và đẩy chiếc xe với hai khối thịt khổng lồ vượt qua dốc đời khổ ải. Anh chợt nhớ về một đoạn trong một ca khúc xưa:

Một đời cần lao áo cơm mù trí khôn.
Điệu kèn vang lên tiếng ca âm hồn.
Và người phu xe vẫn quay, quay đều thời gian.
Nghe trong đêm tiếng hát em hao gầy
.

(Nhạc và lời Tôn thất Lập)

Thế rồi anh lại trải qua một cảnh đời khác.

Cuối cùng anh vẫn:

Mỗi buổi sáng thức dậy nhìn chính mình trong gương. Như một con người khác. Râu ria đầu tóc bờm xờm như con dã nhân thời tiền sử.

Anh vẫn mãi giống như gã trai trẻ trên chiếc đu bay của   William Saroyan. Với những tiếng chắt lưỡi khôn cùng.

***

Buổi sáng cà phê một mình với những câu chữ nhảy múa trên trang giấy, anh nghĩ nhiều về Thục, mong nàng luôn vui khoẻ, an bình trong tâm tưởng và nhất là không phải trải những cảnh đời như anh đã trải qua.

Bởi vì hơn bao giờ hết nàng vẫn là “Người đàn bà một mình”, một cô tiểu thư cành vàng lá ngọc, như một biệt danh mà mọi người đã đặt cho nàng.

Nàng đã bỏ lại sau lưng mình những ngày tháng, với bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông.

Đã bỏ lại những khoảng thời gian mà nàng đã không còn là nàng của nguyên thủy mà đã trở nên một hiện hữu của nỗi đớn đau chua xót.

Những ngày tháng nhuốm màu sắc của một vở bi hài kịch, nói về cuộc đời một người đàn bà, mà nàng là nhân vật chính.

Những ngày tháng mà nỗi buồn nhiều hơn niềm vui.

Những ngày tháng quá khứ như một nỗi ám ảnh không rời.

Những ngày tháng mà đôi lần quẫn trí nàng đã nghĩ đến việc ra đi mãi mãi.

Những ngày tháng mà thượng đế, trời phật thì ở quá xa.

Nàng đã vứt bỏ tất cả. Vứt bỏ tất cả những vàng vọt khổ đau của quá khứ như vứt một miếng giẻ rách vào chiếc sọt rác sau nhà.

Vượt lên những khổ đau, trái tim nàng đã trở nên lạnh giá, kiêu hãnh và tràn đầy những hoài nghi về mình, về cuộc đời một cách vô vọng.

Nàng vẫn một mình theo năm tháng, lặng lẽ như chiếc kim chỉ giờ dõi theo thời gian sống với những ảo giác của chính mình về một thời hoàng kim đã qua.

Nàng đã bỏ lại sau lưng những bước luân vũ như những dấu chân chim sau khu vườn tràn đầy hoa nguyệt quế. Bỏ lại sau lưng những gã đàn ông một thời đã từng ve vãn.

Nàng cứ đi và về một mình bên cạnh cuộc đời như thể nàng vốn là như vậy.

Như câu chuyện Alibaba và Chiếc Đèn Thần với nàng công chúa trong “Nghìn lẻ một đêm”.

Nàng đã đánh cược chính cuộc đời mình với nỗi cô đơn.

Phớt lờ tất cả, nàng vẫn một mình qua những con phố đông người nhộn nhịp.

Vẫn đi về một mình. Một mình. Theo năm tháng.

Một mình. Một mình với trái tim băng giá và niềm kiêu hãnh khôn nguôi.

Nàng. Người đàn bà một mình mà anh đã bắt gặp đâu đó trong cuộc sống mình.

Vâng. “Người đàn bà một mình”, “Cô tiểu thư cành vàng lá ngọc” của thuở nào.

***

Mưa đang rơi bên ngoài. Những giọt mưa rơi lộp độp trên mái nhà kèm theo tiếng gió rít bên ngoài khung cửa giống như những âm vang ghê rợn như tiếng vĩ cầm trong những tấu khúc của Paganini. Lãng bỗng cảm thấy rùng mình và nổi da gà vì cảm thấy lạnh buốt từ trong sâu thẳm nỗi cô đơn mình.

Con đường từ sở làm về nhà hôm nay như xa vời vợi. Anh có cảm giác dường như chiếc xe đang chạy ngược chiều với thời gian. Con đường như xa tít tắp, hai bên kính xe là những vệt sương mù đang chập chà chập chờn như bóng dáng của quá khứ đây đó đang lũ lượt kéo nhau về mang nhiều vóc dáng khác nhau. Anh chợt bật cười như chế nhạo cho cái thói quá đa cảm của mình.

Tắt máy đậu xe trước nhà, anh châm cho mình điếu thuốc và thả những vòng tròn khói vào khoảng không trước mặt, ngồi im lặng không tìm ra được một đáp số cho những mối quan hệ chằng chịt giữa mình với những người đàn bà, quen có lạ có, thân có, sơ có.

***

Buổi sáng cũng lại cà phê và âm nhạc như một thói quen cố hữu, anh nhận được tin nhắn từ Ngân: “Ko hồi phục được đâu anh, giai đoạn cuối rồi, chỉ mong uống thuốc duy trì thể trạng để kéo dài ngày nào hay ngày đó thôi”. 

Như vậy là lại thêm một một người thân yêu sắp sửa ra đi mãi mãi. Lòng anh như chùng xuống, nhàu nhoè như trang giấy bị vò nát. Lãng thấy mình như đau buốt trong một góc nào đó của trái tim mình vốn đa đoan và nhạy cảm. Lãng còn nhớ sau mấy chục năm mất liên lạc, khi gặp lại Ngân trong môt hoàn cảnh mà nàng lúc này đã là mẹ của hai đứa con, là cô giáo ở một ngôi trường cấp hai trong một thị trấn cao nguyên, họ đã cùng đi uống cà phê, cùng hồi tưởng lại quá khứ một thời, một thời mà mỗi đêm tràn ngập tiếng hát liêu trai nàng và khu vườn thơ mộng trong quán cà phê của ông Tám Sồm ở Đồng mé, vừa xa và vừa gần cái thị trấn thân thương, Tháp Chàm, Phan Rang. Vậy mà bây giờ mọi chuyện đã thay đổi theo dòng thời gian, thấm thoát cũng đã hơn ba mươi năm rồi thì phải. Anh nhủ thầm: “Thôi hãy xếp tất cả vào những ngăn kéo dĩ vãng và đừng bao giờ lật lại những trang ký ức buồn”. Nhưng nào có được. Và hôm nay những bóng ma quá khứ lại kéo về tràn ngập trong tâm trạng anh với nỗi buồn rầu mơ hồ nào đó.

Xuôi theo giòng chảy của quá khứ Lãng lại nhớ về những ngày tháng cũ, những kỷ niệm xưa, lúc còn là anh giáo trẻ ở một vùng sâu vùng xa, nhớ về những lớp học chính trị tẻ nhạt, sau mỗi buổi học anh đã cùng Thanh dạo bước để đưa nàng về nhà qua con đường chiều nhạt nhòa với những con dốc cao thấp chập chùng đồi núi dẫn về nhà nàng, một xứ đạo không cách xa nơi học tập là bao. Đôi lúc anh cố ý đi chậm phía sau để thầm mong con đường dài thêm và anh lại được chiêm ngưỡng vóc dáng thon thã và hao gầy của nàng lâu hơn một chút như những vần thơ anh đã làm như một quà tặng cho nàng mãi dài theo thời gian, như mái tóc thề nàng cứ mãi óng ả theo năm tháng. Anh tự nói thầm với với chính mình: “Làm sao mình có thể quên được những ngày tháng thơ mộng như thế đó!” Và như không nén được anh đã gọi thầm Ngân ơi! Thục ơi!, Thanh ơi!

Khẽ thở dài. Xa rồi, quá khứ thật xa rồi. Ước gì mình có thể quay lại với những ngày tháng tràn ngập những kỷ niệm thân thương. Ước gì!

Rồi những kỷ niệm ấy đã có những lúc chìm lắng trong quên lãng của dòng đời đẩy đưa, có những lúc bùng lên mãnh liệt như hôm nay và dù muốn dù không anh không thể nào phủ nhận một đoạn đời đã qua, những giây phút rung động phát từ chân tơ kẽ tóc và thế là những hình ảnh của quá khứ lại lũ lượt trở về.

Những ngày như hôm nay, Lãng đã ngồi im lặng suốt buổi sáng và sống lại với những hồi ức của một quãng đời trong quá khứ thật xa xôi và cũng thật gần gũi thân thương đã từng một thời gắn bó cùng anh như da thịt, máu xương.

Lãng đã biết được rằng, một lúc nào đó mọi người, kể cả anh rồi cũng phải chia tay với tất cả những gì đang mơ hồ ẩn hiện quanh đời như những hoài niệm về quá khứ.

Thế là một sự im lặng sâu thẳm đã diễn ra, không phải là một ngày hai ngày, một vài tuần. Có thể sẽ là một thời gian dài. Có thể là trong suốt quãng đời còn lại của anh.

 

 

Lý Quang Hoàn

 

920710_10204859996573881_4480531582040251818_o

CHIỀU AMURA

 

(cùng Ng. dấu yêu)

 

từ Amura

chiều nhuộm chiều huyết phách

vấn vương, cám dỗ

đời buồn rã họng

réo gọi nhau mưa nắng lộn nhào

 

anh nói rừng chiều màu tím

em bảo rừng đen-lá-cây

mộ đời dương xỉ

tình lửa nóng, hồn cát bỏng

sa mạc nào ốc đảo tìm nhau

 

“em nâu đất ấm và ẩm ướt buồn

hoang dã sắc màu nguyên thủy”

Amura thì thầm

gió khóc lặng câm

 

Amura vỡ màu

chiều nối chiều lạc lối

vòng tay trói chặt vòng tay

giam cầm, xâm lấn

anh nhấn chìm em trong nôi sóng

lút bóng trùng khơi

 

Amura rã rời

chiều phơi như hổ phách

 

Hà Duy Phương.

252646405c8c193a0d35de38dcc313bd

TỪ LÚC ĐỌC TÂM KINH
TA CUỒNG SI EM.

 

 

1)

đã có lần cho anh xin bàn tay chắn gió

mùa ngợi rợp cánh đồng các búp non

giấc sâu chốn từ tâm vầng dương mở ngõ

 

2)

đừng ngại hãy cho cuộc đời quà tặng của tiễn biệt

dẫu đường chông chênh mù sương

đừng ngại mỗi sát na khi ta vẫn gặp lại chính ta

 

3)

để vẫn sớt chia em từng ngày dẫu gập ghềnh tuổi muộn

vẫn vị muối ấy

của hoan lạc chưa hề mất mùi thệ nguyện

gói bọc trong các giấc mơ xanh óng ả

 

4)

để còn mang theo thật nõn tơ cung đàn

trong bức tranh chiều sẫm màu huyết dụ

giấc ở bên kia trong veo trụ hình trong mây

 

5)

cho đi tất thảy

ấy là đã nhận lại phần riêng ta thô mộc

đọc chưa làu thông tâm kinh

mà nghe mồn một từ vách núi chênh vênh ai đó vừa mặc khải

đã có một bầy dơi vừa hóa kiếp kẻ tình si…

 

 

Chu Thụy Nguyên

 

co-gai-trong-chiec-ao-the-bui-tien-tuan

tranh: Bùi Tiến Tuấn

Em Sài gòn ngại nắng e mưa

 

em,

Sàigòn giờ điệu đà còn hơn trước

em đi xe đạp cong tay che dù

em đi xe “coupe”

thẳng tay che dù

những cánh tay mang “găng” dài tận khuỷu

em mặc áo rách

và quần đã phai màu

em Sàigòn, em Sàigòn

những bàn tay thon,

níu những cán dù như níu mộng

em ngại nắng,

e mưa

mà chẳng sợ biển dâu

 

đã hết rồi những con mưa không ướt đất

mưa Sàigòn,

giờ ướt lạnh em tôi

dù em mặc áo dài trắng, quần lót mini

hay em mặc quần phai màu

áo rách vai

em vẫn mang “găng” tay dài tận khuỷu

em vẫn che dù ra đường

vì ngại nắng e mưa

em ngại nắng mưa làm cháy tóc đen da

hay em sợ

buổi chiều không muốn rụng

 

em Sàigòn,

em một lần mất tích,

những hồn ma

vất vưởng giữa phố phường

những hồn ma

đi tìm nhặt trên lề đường

những giọt nắng giọt mưa của ngày tháng cũ

 

em,

Sàigòn bây giờ áo dài vẫn trắng

(nước sông Sàigòn có giặt sạch được tương lai?)

em,

quần lót mini

mỗi ngày đổi một màu theo mưa nắng

vẫn mập mờ thấp thoáng

giữa hai vạt áo dài

quấn quýt vờn bay

em Sàigòn…

giờ nón lá không che mặt

nón che buổi chiều đang rụng xuống vai ai

 

Trần Nghi Hoàng

_poXRrU

Langston Hughes: “Lời Negro của Những dòng sông[i] và “Hãy để Nước Mỹ là Nước Mỹ Lần nữa

Lời người dịch: Langston Hughes (1902-1967) là tên tuổi sáng chói của “Harlem Renaissance,” khuynh hướng khám phá đời sống và tuyên dương vẻ đẹp văn hóa của người Mỹ gốc Phi (African-American) trong thi ca và nghệ thuật Mỹ, đặc biệt trong thập niên 1920. Khuynh hướng này khơi dậy nguồn năng lượng sáng tạo mãnh liệt của các nhà văn, nhà tư tưởng và nghệ sĩ da đen và da màu. Từng có những tư tưởng chính trị cực đoan, gần gũi với chủ thuyết cộng sản, Hughes bị FBI liệt vào danh sách nguy hiểm về an ninh cho đến năm 1959. Ngôn ngữ thơ của ông tối giản nhưng bất ngờ với “chơi ngôn ngữ” và tính tượng trưng cao, hướng tới cảm hứng sử thi và tình yêu nước lớn lao thông qua trực giác cá nhân.

The Norton Anthology American Literature, 9th Ed. nhận xét, “Trong vòng ảnh hưởng của những khả thể nghệ thuật mở cho các nhà văn của Harlem Renaissance, dựa trên những hình thức (nghệ thuật) dân gian thôn dã của người Mỹ gốc Phi, trên những truyền thống và thể thức du nhập vào nước Mỹ từ châu Âu và Anh quốc; hoặc là trên những thể thức văn hóa mới của người da đen tại các đô thị Mỹ- Hughes chọn nhắm công việc của ông tới đời sống hiện đại, thành thị của người da đen. Ông tạo lập cấu trúc khổ thơ của ông dựa trên nhịp điệu ngẫu hứng của Jazz và tiếp nhận vốn từ trong ngôn ngữ đời thường của người da đen vào thơ.” (834)          

 

 

Lời Negro của Những dòng sông

 

 

Tôi từng biết những dòng sông:

Tôi từng biết những dòng sông cổ đại như trái đất và lâu đời hơn dòng máu người trong những mạch máu con người.

 

Linh hồn tôi lớn dậy thẳm sâu như những dòng sông.

 

Tôi tắm trong dòng Euphrates khi bình minh còn trẻ.

Tôi dựng căn lều tôi bên dòng Congo và sông ru giấc ngủ tôi.

Tôi phóng tầm mắt qua sông Nile tôi xây

Cao trên đó những kim tự tháp.[ii]

Tôi nghe tiếng hát dòng Mississipi khi Abe Lincoln xuôi dòng tới New Orleans, và tôi thấy bộ ngực bùn của sông chuyển rực vàng toàn vẹn trong hoàng hôn.

 

Tôi từng biết những dòng sông:

Cổ đại, những dòng sông bóng chiều.

 

Linh hồn tôi lớn dậy thẳm sâu tựa những dòng sông.

 

 

 

Hãy để Nước Mỹ là Nước Mỹ Lần nữa

 

Hãy để nước Mỹ là nước Mỹ lần nữa.

Để người là giấc mơ người đã từng là.

Để người là kẻ mở đường trên đồng rộng

Kiếm tìm mái nhà nơi người thấy tự do.

 

(Nước Mỹ chưa bao giờ là nước Mỹ với tôi.)

 

Hãy để nước Mỹ là giấc mơ những người đang mơ mơ thấy-

Hãy để người là miền đất hùng vĩ đại của tình yêu

Nơi không có những nhà vua đồng lõa, chẳng kẻ độc tài bạo ngược

Âm mưu nghiền nát con người.

 

(Người chưa bao giờ là nước Mỹ với tôi.)

 

Oh, hãy để quê hương tôi là xứ sở nơi Tự do

Được cài lên vương miện với vành hoa ái quốc không lầm lẫn[iii]

Dẫu cơ hội là có thực và cuộc đời là tự do

Sự công bằng trong không khí ta đang thở.

 

(Chưa bao giờ là sự công bằng cho tôi,

Cũng không có tự do nào trên “quê hương của tự do”.)

 

Hãy nói đi, bạn là ai mà thì thầm trong bóng tối?      

Và bạn là ai mà kéo tấm mạng che khuất những vì sao?

 

Tôi người da trắng nghèo, bị dối lừa, chia rẽ,

Tôi người da đen cam chịu những vết sẹo đời nô lệ.

Tôi người thổ dân bị truất khỏi quê nhà,

Tôi người di dân níu chặt nguồn hi vọng tôi theo đuổi-

Và thấy duy chỉ một chân trời như nhau cũ kỹ, xuẩn ngốc

Của chó cắn chó, của uy quyền nuốt tươi kẻ yếu.

 

Tôi người trai tràn đầy sức mạnh và hi vọng,

Quẩn quanh trong xích xiềng vô hạn tự cổ xưa

Của lợi ích, quyền uy, sở hữu, của tranh đoạt đất đai

Của tranh đoạt vàng! Của tranh đoạt những gì khiến người ta thỏa mãn!

Của việc được làm! Của tiền được trả!

Của sở hữu tất thảy những gì cho riêng lòng tham ở một con người!

 

Tôi người nông dân, trói mình vào đất.

Tôi người công nhân bán mình cho máy móc.

Tôi người da đen, kẻ nô lệ cho bạn trọn đời.

Tôi là mọi người, nhu mì, đói khát, tầm thường-

Thực đã đói hôm nay bất kể giấc mơ.

Đã chiến đấu hôm nay- Oh, Người Mở đường!

Tôi người chưa bao giờ đứng lên phía trước,

Người lao động cùng khổ bị bán suốt nhiều năm.

 

Thực tôi là người mơ giấc mơ nguyên bản của chúng ta

Trong Thế giới Cũ này, khi còn kẻ tôi đòi của những ông vua,

Người mơ giấc mơ sao kiêu hùng, dũng cảm, và chân thực,

Rằng dẫu uy quyền còn ngạo ca thách thức

Trong từng viên gạch từng viên đá lát, mỗi đường cày mới rạch

Đang làm nên nước Mỹ như người sẽ trở thành[iv].

Oh, tôi người thủy thủ tiên phong vượt những trùng dương

Trong kiếm tìm những gì tôi hình dung sẽ là mái nhà mình-

Cho tôi, người bỏ lại bờ sóng Ireland đen thẳm

Những cánh đồng xứ Poland, trảng cỏ England,

Và xẻ thân từ Lục địa Đen tôi tới

Để xây đắp “quê nhà, xứ sở tự do”.

 

Tự do?

 

Ai nói về tự do? Chẳng phải tôi?

Hẳn là chẳng phải tôi? Hàng triệu người giải thoát hôm nay?

Hàng triệu người bị bắn rụng khi chúng ta tranh đấu?

Hàng triệu người được không gì chúng ta được trả hôm nay?

Cho tất thảy những giấc mơ chúng ta từng mơ

Cho tất thảy những bài ca chúng ta từng hát

Và tất thảy niềm hi vọng chúng ta giữ gìn

Và tất thảy những ngọn cờ chúng ta giương

Hàng triệu người được không gì cho chúng ta được hôm nay-

Chỉ trừ giấc mơ ngày nay hầu như đã chết.

 

Hãy để nước Mỹ là nước Mỹ lần nữa-

Xứ sở chưa bao giờ từng là-

Và sẽ phải là xứ sở- nơi tất thảy con người đều được tự do.

Miền đất của tôi – người nghèo đói, người thổ dân, người Da đen, TÔI-

Người tạo ra Nước Mỹ,

Người của máu và mồ hôi, đức tin và thống khổ,

Người của bàn tay nơi lò thép, người của luống cày dưới mưa[v],

Phải mang lại giấc mơ kiêu hùng lần nữa.

 

Phải, hãy gọi tôi bất cứ tên xấu nào bạn chọn-

Lưỡi gươm của tự do không thể vấy nhơ.

Từ những con người đang sống trên mọi người như bầy đỉa,

Chúng ta phải lấy về xứ sở chúng ta lần nữa,

Nước Mỹ!

 

Oh, vâng,

Tôi nói thật chân tình,

Nước Mỹ chưa bao giờ là Nước Mỹ với tôi,

Và tôi đã nguyện lời thề này

Nước Mỹ sẽ là!

 

Ra khỏi những phiêu giạt, hoang tàn từ cái chết “đầu trộm đuôi cướp” của chúng ta

Sự cưỡng đoạt, mục ruỗng của phản bội, đánh cắp và gian dối,

Chúng ta, con người phải chuộc lại

Xứ sở, hầm lò, cây cối, những dòng sông.

Những núi đồi và đồng ruộng vô biên-

Tất thảy, tất thảy trải dài những tiểu bang xanh tươi vĩ đại-

Và lần nữa tạo ra nước Mỹ!

 

Khánh Phương

Hoàn thành ngày 31 tháng 12, 2017

 

[i] Nguyên tác: The Negro Speaks of Rivers. “Negro/-oes”là cách tự gọi tên mang tính nhân chủng và chủng tộc của người da đen, khác với “Nigger” là cách gọi miệt thị của người da trắng dành cho người da đen.

[ii] Nguyên tác: “I looked upon the Nile and raised the pyramids above it.” Người dịch tách làm hai đoạn vắt dòng để nhấn mạnh nhịp điệu và hình ảnh hùng vĩ của câu thơ.

[iii] Tư tưởng đề cao nguồn gốc Trung-Tây Âu và miệt thị các cộng đồng di dân-thiểu số ở Mỹ thường bị lầm lẫn với tinh thần “ái quốc”, ví dụ như hiện nay tâm lý bài trừ người Hồi giáo đôi khi được hiểu lầm là “yêu nước”(chú thích của người dịch).

[iv] Nguyên tác: “That’s made America the land it has become.”

[v] Nguyên tác: “Whose sweat and blood, whose faith and pain/ Whose hand at the foundry, whose plow in the rain”. Người dịch thay đổi cấu trúc cú pháp nhưng giữ nguyên ý nghĩa.

 

Xem nguyên tác tại đây:

https://www.poetryfoundation.org/poems/44428/the-negro-speaks-of-rivers?gclid=EAIaIQobChMIqoW2y4y22AIVB7jACh2R2QaSEAAYASAAEgLI8_D_BwE

https://www.poets.org/poetsorg/poem/let-america-be-america-again

 

KhanhKiet

lụa thất thần

 

 

lần hồi

thơm một dấu tay

người quyn tơ giấy.  để gầy vóc.  lem

thơm run một cánh hoa mềm

trong nắng

trước gió

ngoài thềm trăng          lay

bây giờ dáng lụa xiêu ngây

dâng nghe sầu khó cuộc bày

tôi

          em

có tôi.  rồi.  có  em không

có nhau chạm nỗi tang bồng thiên thu

cuối đông.  thắp

ngọn đèn mù

 

 

 

hoàng xuân sơn

8 dec. 2017

Hani-Mazhar

HẠT CÁT

 

Từ vô lượng biển sông
Đến sa mạc mênh mông
Đâu đâu cũng là cát
Có có mà không không!

Tôi đi suốt cuộc đời
Chân cát bụi muôn nơi
Linh hồn và thân xác
Như phận cát nổi trôi.

Tôi đi cùng biển dâu
Như hạt cát không màu
Sáng mai mặt trời mọc
Đêm tàn vầng trăng thâu.

Đắm trong cõi vô minh
Cát hằng hà lênh đênh
Bão giông chìm đêm tối
Nắng lửa hồng thủy tinh.

Tôi nghe lời cát ru
Cùng sóng biển thiên thu
Đời người như tia chớp
Giữa luân hồi âm u!

Ôi! Cát trắng cát vàng
Hồn vũ trụ mang mang
Thấy trong một hạt cát
Lấp lánh cả thế gian!

Hạt cát ơi hạt cát
Lấp lánh đẹp vô biên
Trong nhiệm màu phép tắc
Có hồn ai nhập Thiền.

 

TRẦN THOẠI NGUYÊN

 

MÙA ĐÔNG NHỚ MẸ

 

Mùa đông về, lòng con nhớ Mẹ!
Bàn tay thèm hơi ấm bếp xưa.
Giữa trời đất mênh mông đông lạnh thế
Cuộc đời con chao đảo cánh nôi đưa!

Khắp thế gian không nơi đâu ấm bằng lòng Mẹ

Dẫu mùa đông băng giá bốn bề
Dẫu máng cỏ hài đồng trong đêm đen cõi thế
Trong lòng Mẹ đời đời vẫn ấm sáng rực sao Khuê!

Mẹ ơi! Cõi lòng Mẹ thiêng liêng
Dẫu cuộc đời con bảy nổi ba chìm
Dẫu trời mùa đông băng giá buốt
Con về trong lòng Mẹ hết ưu phiền!

 

TRẦN THOẠI NGUYÊN

 

 

NÓI VỚI EM YÊU CUỘC ĐỜI

 

Cuộc Đời tươi đẹp làm sao!

Ngày xanh nắng gió đêm sao trăng đầy.

Mai về ngủ dưới hàng cây

Mộ bia khắc tạc những ngày yêu em!

 

TRẦN THOẠI NGUYÊN

 

21151574_1605085839513255_8623614591675977493_n

TÌNH MÃI ĐẸP TRONG MƠ

 

 

 

 

  Tình còn mãi đẹp như trong cổ tích

  Một mùa yêu thương ghi khắc trọn đời. 

  Cõi nhân gian chốn u trầm tĩnh mịch

  Trong lặng thinh anh tìm ánh sao trời. 

 

  Như nàng Tấm hoá thân vào trái thị,

  Em thơ ngây say giấc ngủ bên bà. 

  Mơ hoàng-tử, mơ lương duyên tuyệt mỹ,

  Anh bên em, cần chi đến lụa là. 

 

  Em an nhiên tâm hồn theo suối mộng,

  Dáng trang đài ánh mắt biếc bâng khuâng. 

  Khúc tình ca ngân trong chiều gió lộng

  Nghìn xưa sau còn đọng nét thanh tân. 

 

  Lời yêu thương có đôi vầng nhật nguyệt,

  Đến cùng nhau như thuở trước an bày. 

  Về sau nữa duyên tình càng tha thiết,

  Nghĩa ân đầy bao thuở chẳng phôi phai. 

 

  Đôi chim hót líu lo trong nắng sớm,

  Chân mây hồng toả ánh ngát lưng trời. 

  Qua song cửa bình minh tươi vừa chớm

  Tình trong mơ còn nguyên nét rạng ngời. 

 

   UYÊN THÚY LÂM