Feeds:
Posts
Comments

Bão

 

Cơn bão nghiêng đêm
Cây gãy cành bay lá
Ta nắm tay em
Cùng nhau qua đường cho khỏi ngã
Cơn bão tạnh lâu rồi
Hàng cây xanh thắm lại
Nhưng em đã xa xôi

Và cơn bão lòng ta thổi mãi.

(1957)

Tế Hanh

 

ConBaoNghiengDem

 

Nghe nhạc: Thơ Trần Trung Đạo, nhạc Võ Tá Hân – trình bày: Bảo Yến

Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười

 

19a

Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười

 

 

Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm Mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi

Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương

Tiếng Mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao vói
Biết đến bao giờ trông thấy nhau

Đừng khóc Mẹ ơi hãy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ
Đau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười

 

Trần Trung Đạo

 

 

 

17a

BÓNG MẸ

 

Tháng Bảy Mùa Vu Lan. Bóng Mẹ
trong hồn con lãng tử chưa về.
Đêm qua say đọc thơ vô kể
Vần điệu cài bóng hạc trời quê!

Lòng thương nhớ không thể đo đếm
Không thể đổi được tấm vé tàu xe!
Tôi đấm ngực trái tim tôi khóc
Bóng mẹ mong con đứng trước hè.

Tôi gọi phôn,Mẹ cười Mẹ khỏe
Tay chưn Phật độ vậy thôi mà.
Nghe tiếng Mẹ ấm lòng đất khách
Thấy sáng lừng trời phía quê xa!

Tôi đến chùa tọa thiền cầu nguyện
Trần gian vui trên ngực bông hồng.
Bóng Mẹ trong hồn tôi hiển hiện
Nụ cười hiền con mãi tây đông!

TRẦN THOẠI NGUYÊN

DaDieu_Man

Ngụ ngôn con đà điểu

tặng G
con đà điểu rất tinh khôn
chui đầu vào cát để còn tồn sinh
nó quên sướng được phần mình
còn thân thuộc biết điêu linh cõi nào

con đà điểu rất mưu cao
mặc cho chim chích chào mào tanh banh
một mai ổ lót ngon lành
chân cao đà điểu xí phần công cao

rủi như tan nát phong trào
đầu chui dưới cát ai đào bới đâu
khôn lanh không mất công hầu
mặc ai lội trước đi sau tháo giày

cần gì phải cất cánh bay
gặp cuồng phong sẽ nát thây , điên à !
một đời rúc hưởng hương hoa
tựu trung khôn lỏi một đà điểu thôi

muốn làm đà điểu nhưng tôi
lỡ làm con cóc bên trời nghiến răng

Nguyễn Hàn Chung
13/8/16

Thơ Nam Dao

5c38cff23a669186a083cac69a8fa69b

Biển ngộ độc

 

 

Sóng lăn theo tay

cát lăn theo chân

người lăn theo lăn theo người

biển sụp

triều dâng bóng xế sóng bạc đầu

 

&

Sóng vỗ đêm đen

tóc trắng hơi men

mùa say lúy túy

biển ngộ  độc

hàng trăm hàng ngàn con cá chết  ngạt giạt vô  bờ

 

&

Sóng khóa trái tay

cát ngáng chéo chân

bóng tà chao nghiêng

cuộc tình lỡ dở

con dã tràng trên bờ

quên về xe cát

biển đông, ới  hỡi biển đông

 

&

Bãi biển trải dài

chẳng còn một ai

Lưới cá thả dài

nào đâu còn cá

ngư phủ vò đầu 

mắt tròn  bỡ ngỡ

biển đã vỡ

non nước rồi sẽ ra sao

chẳng  lẽ người  người  trơ  mắt  ngóng chiêm bao ?

 

Nam Dao

102456960242195754kg57bFVGc

Cận Cảnh Giấc Mộng.

 

nhắc tới thời kì cách mạng 

tháng tám 

chả khác nhắc tới bọn du côn 

du thủ du thực 

 

thời đó bố tôi đã chết 

rồi 

liền sống lại

tôi thì ngày/ tối trước nguyên dấu hỏi (?) to

 

mật thám tây hễ bắt việt minh 

là treo lơ lửng 

bọn việt gian thanh toán nhau 

tuyền mã tấu

 

vợ bé năm cam 

đứng hẳn trong mộng 

nhìn đồng hồ (ả kêu đổng!) chốc chốc báo

tôi hay- bọn sớm đầu tối đánh- di chuyển 

từ hàng ngũ cách mạng ra

nhiều vô kể (tụi ưa đánh đồng- mẹ 

vào quê hương/ xứ sở 

 

tụi ba xạo 

cạn đề tài 

nửa mùa- mua vui không đủ trống canh!)

 

tôi được chuyển sang công tác giật dây

các cơ sở 

nghe ba duẩn đọc báo cáo 

chính trị- tôi nói 

chả có cơ sở để giải thích tại sao- ta 

lại trước nguyên dấu hỏi (?) to

 

tụi du côn 

du thủ du thực hay khịt

khịt- mũi 

tưởng chúng khinh bỉ cách mạng 

nhưng đếch phải

 

tôi chả để bụng 

thuở ấy tranh giành địa bàn hoạt động 

giữa cách mạng với du côn

du thủ du thực chém xong hè nhau cướp của 

uống rượu

 

tôi đã sống với tình trạng 

luôn đột nhiên dậy cảm tưởng- mình đang trong 

lòng cách mạng 

từ cổ 

trở xuống bụng 

thành một cái ống rỗng- có lần bất thần nhìn 

chỉ thấy đen ngòm

 

vốn hay lo 

vớ vẩn

bất kể gì trên đời có tính động- từ bé 

vào thời kì cách mạng tháng tám 

đụng mặt ai tôi đều thủ thế

 

ôi cha 

cái thời bọn du côn 

du thủ

du thực- lộng hành 

hở chút trùm bao bố

thanh toán 

 

đéo biết trong cái ống 

rỗng 

đen ngòm- từ cổ trở xuống bụng 

chứa những ai (hồ!)

và nguyên dấu hỏi (?) to

trước mắt

mang ý nghĩa gì

(hay đấy chỉ như ba dòng chảy 

cách mạng!)

 

xin lỗi tôi chẳng giỏi giang 

ngồi 

giải thích bất kì chuyện gì có đầu 

có đũa (dẫu chỉ cất tiếng suỵt 

suỵt!) mãi đến nay 

 

nhắc tới thời kì cách mạng 

tháng tám

có thể nói- khi đó trong hàng ngũ du côn 

du thủ du thực 

cơ man kẻ đội lốt cách mạng 

 

vâng- tôi vẫn nghĩ- thời buổi

nào

chả lẫn lộn trắng/ đen

qua cái thời cách mạng tháng tám

đảng sản sinh một đám tuyền khốn nạn

mất dạy

 

lắm lúc- đối đế

tôi có nói sống không nổi thà chết quách

cho xong

 

yeah- có sống lại- tôi thề

vào tháng tám

tôi sẽ cứ tựa hư huyễn í!

..

vương ngọc minh. 

 

tumblr_nlmitmniTG1s8cusno1_500

CĂN NHÀ NẰM MƠ

 

Chúng ta sẽ cất nhà
Rất đơn sơ vật liệu
Kèo cột không đi tiểu
Lên trí tuệ con người
Anh cần chiếc giường đôi
Hai đứa mình cùng thở
Chia nhau nỗi xấu hổ
Mà ông bà cắn răng

Đất nước bốn ngàn năm
Rộng dài như văn hiến
Đêm anh đi thấy điếm
Lợp nhà cạnh gốc cây
Ngày thấy lũ con lai
Căng lều ngay xó chợ
Vợ chồng mướn nhà trọ
Yêu nhau như ngoại tình

Căn nhà mới tượng hình
Đã tan theo cơn đói
Anh dắt em lên núi
Không đủ giấy tờ về
Anh dắt em thăm quê
Định làm chàng Tô Vũ
Định làm một gã hề
Căn nhà không địa chỉ
Anh lợp hoài trong mê

Trời sinh anh yêu em
Mà không sinh hộ khẩu
Con chim có chỗ đậu
Con chó có nơi nằm
Anh và em lưu vong
Như người không quốc tịch
Đất nước giàu diện tích
Cho châu chấu cào cào
Nỡ đâu nghèo lý lịch
Với những người yêu nhau?
Bùi Chí Vinh

belanger109

Độc hành 1

 

Các dãy số lớn sụp đổ trong một khúc xương

những con bọ mang ánh trăng óng ánh chui vào

nở cánh hoa lẻ loi như ngôi đền vĩ đại

dòng sông đưa lời kinh về phía đông

song sóng bước lữ hành.

 

Mắt nàng đẹp long lanh dịu dàng nhóm lửa

giữa trái tim gần thoát tục của ta.

 

Độc hành 2

 

Xung quanh cây đèn là kinh nguyện

một mùa hoa tự hủy an nhiên

những bài ca chửa hoang vượt mặt

trong cái nồi tối sẫm hồng hoang.

 

Đại ngàn đi lắc lư êm dịu

trái tim tôi hư ảo chênh vênh

rung lên những bước thú hoang phiêu bạt

niềm đam mê ngắt đoạn đến vô cùng.

 

Lê Trinh

 

 

0xDE90412A0EE8223BB9F02B2B2914FB03

BÌNH MINH NÀO CHO ĐOÀN NGƯỜI PHẲNG NÃO

(trường ca)

Tác giả : Minh Vũ

KHÚC 1:


hãy theo ta

Lũ người ngu dốt

Bỏ vùng đất tăm tối

Đói ánh mặt trời

Hãy theo ta săn bắt vầng chân lý

Các ngươi sẽ no nê vì trái hạnh phúc

Bội mùa khát khao

Đến tận đời đời con cháu”

Từ khoang miệng của những tên đồ tể

Lũ mỹ ngôn đeo mặt nạ/xếp hàng

Với chiếc cọ kết tinh từ gian dối

Bọn họa sỹ trá hình say sưa vẽ/ tương lai

Bầy người dị bản

Cởi bỏ lớp áo may bằng chất vải phồn thực

Bất chấp cái chết

Bất chấp máu đổ

Dẫm đạp

Cấu cào nhau

Như bầy chó đói

Quyết dành giật một chỗ đứng

Trong khán trường

Muốn triệu chiếc đầu cúi/chân/khẩn

Nuốt chửng mọi lời phỉnh gạt

Như miếng bánh gato thơm phức!

“tự do và hòa bình

ở đâu?

ở đây!

ở chính đôi tay chúng tôi

những đôi tay nhân danh đấng khai sáng!

Hãy tung hô

Hãy tôn thờ

Người anh hùng kiệt xuất

Đưa đến cho các bạn

Thứ huyết tương  bình đẳng  vĩnh hằng!

Tôi nói: mọi người nghe rõ không!”

-“rõ !

Thưa đấng khai sáng

Thưa những bậc trí huệ siêu phàm

Mắt chúng tôi như được mở ra

Và mặt đất bấy nhiêu năm

Dày đặc loài cỏ dại

Hôm nay bỗng mọc lên những nụ hoa/thuần khiết như sữa mẹ

( Đọc tiếp…)

 

Muop

Giàn Mướp Quê Nhà-Giàn Bầu Xứ Xa

 

Trần Thu Miên
summer 2016 và anh N.Ng. P.

 

     Sáng nay lúc bình minh chưa kịp đến, tôi ra vườn sau ngồi một mình, lặng yên, nhìn đăm đăm vào những dây leo màu xanh uốn mình trên lưới thép của giàn bầu còn mới tinh. Đã hơn 40 năm rồi, tôi chưa từng đứng một mình, ngắm nhìn giàn mướp hay giàn bầu bên sân nhà như lúc này. Nhìn giàn bầu trước mắt, và chợt nhớ giàn mướp bên giếng nước quê nhà năm xưa.

 

     Năm tôi 12 tuổi, bố mẹ tôi gửi tôi vào tu viện Châu Sơn ở Đơn Dương học. Bên cạnh lý do đơn giản là làng tôi không có trường trung học, bố mẹ tôi còn muốn tôi học để trở thành một tu sĩ, và trên hết là một linh mục Công Giáo.  Việc này có lẽ cũng na ná như việc các chú bé theo đạo Phật được gửi lên chùa làm chú tiểu vừa giúp việc nhà chùa vừa học tu. Dù là một đứa bé mang tiếng phá phách trong làng từ việc dẫn trẻ chăn bò phá làng phá xóm đến đánh lộn với lũ trẻ làng bên cạnh thường xuyên, những đêm mới xa nhà, tôi đã chui đầu trong chăn khóc vì nhớ nhà.  Và chiều nào đứng ngoài sân đá banh, tôi cũng nhìn mông lung đoán xem nhà mình ở phương nào.

 1

    Sau ba tháng xa nhà, chúng tôi, học sinh nội trú của tu viện còn gọi là đệ tử, được cho về nhà nghỉ lễ Giáng Sinh rồi trở lại tu viện ăn Tết ta. Phương tiện di chuyển duy nhất thời ấy từ tu viện về làng tôi là xe Lam (Lambretta) 3 bánh. Nhà tôi nằm bên cạnh con lộ liên tỉnh chạy qua làng nên xe dừng ngay đầu ngõ. Vừa bước xuống xe, vai đeo túi quần áo, tôi nhìn thấy mẹ đang ngồi rửa rau bên giếng nước và chợt oà lên khóc. Mẹ nghe tiếng xe đầu ngõ ngẩng mặt thấy tôi về vội chạy ra đón. Đấy là thời chưa có phương tiện liên lạc thư từ hay điện thoại trong làng tôi nên việc tôi về nghỉ lễ coi như là việc bất ngờ.

     “Sao lại khóc, bị đuổi học phải không?” Mẹ hỏi vậy vì tôi đã từng bị đuổi học hai ba lần khi còn học trường làng.

     “Không! Con về nghỉ lễ Gáng Sinh.”

 

     Hình ảnh mẹ ngồi bên giếng nước và giàn mướp dây leo lá xanh, hoa lấm tấm vàng hôm ấy đã hằn sâu vào ký ức tôi, và sau này bỏ nhà đi xa, mỗi lần bất chợt nhớ nhà tôi vẫn nhìn thấy mẹ ngồi rửa rau bên giếng nước và giàn mướp hoa vàng trong trí nhớ mình dù đã cạn dần theo năm tháng tuổi đời. Tôi ghi lại cảm giác nhớ nhà trong câu thơ viết thuở mới bỏ nhà ra đi.

 

     Chiều nay con đứng ở ven đồi

     Nhìn khói nhà ai tựa mây trôi

     Ngỡ rằng quê mình là nơi ấy

     Mẹ nấu cơm chiều đang đợi con…..

 

     Tôi không nhớ là nhà tôi có giàn bầu. Nhưng giàn mướp thì luôn luôn được trồng  ngay bên bờ giếng. Gọi là giàn, nhưng chỉ là những cành cây khô được bố tôi mang về từ ven rừng dựng lên cho dây mướp leo.  Có lẽ bố tôi không làm giàn bầu vì mướp, hình như, có vị thơm và ngọt hơn bầu. Ngày bé khi nhà có việc gì quan trọng như họ hàng đến thăm, hay lễ lớn, bố thường hay bắt con gà ngoài vườn về làm tiệc. Và bộ lòng gà bé nhỏ được chị tôi hay mẹ tôi cẩn thận rửa cho sạch để nấu nồi canh mướp. Ôi! bát canh mướp nấu với lòng gà, thời tuổi thơ, sao ngọt ngào quá. Giả như tôi có sống vài trăm năm nữa, chẳng cách nào, tôi được ăn lại bát canh mướp nấu lòng gà ở quê nhà thời thơ dại.

 

2 

 

     Dù xuất thân từ ruộng đồng, nhưng tôi không thích và cũng chẳng có “khiếu” trồng hoa quả trong vườn. Lý do đơn giản: lười. Lúc tôi định cư ở Claremont, California, có lần sân nhà tôi hoa dại mọc đầy nên hàng xóm kiện lên thành phố. Khi tôi nhận được lá thư cảnh báo về việc để hoa dại mọc đầy vườn, tôi nóng tiết điên người cầm điện lên gọi vào toà hành chính thành phố “chửi đổng.” Bằng một giọng rất cao bồi, tôi hạch hỏi tại sao thành phố lại gửi tôi thư cảnh báo láo lếu thế? Vườn nhà tôi chứ đâu phải công viên. Người trả lời điện thoại chậm rãi giải thích.

     “Luật thành phố đòi hỏi cư dân phải giữ vườn tược trước nhà sạch sẽ. Sân nhà ông hoa dại mọc đầy và nhiều hàng xóm đã than phiền.”

     “Nhưng tôi là người yêu hoa cỏ dại.”

     “Tốt lắm, ông nên bán nhà dọn đi nơi khác.” Câu trả lời làm tôi ngậm miệng. 

 

     Rời Cali về lại Boston, chúng tôi ở căn nhà nhỏ ven đồi có vườn cỏ rộng.  Nhiều bạn bè cứ hỏi tôi vườn rộng sao mùa hè không trồng rau? Phải thú thật là tôi thuộc loại con nhà nông không biết trồng khoai. Có lần, trong buổi họp mặt trên sân gạch đỏ sau nhà, nơi thỉnh thoảng, vào mùa nắng ấm, những người bạn thân thiết của gia đình tôi vẫn họp nhau uống rượu ăn thịt nướng và đàn ca, anh N.Ng.P., một vị đàn anh của chúng tôi, nẩy ra ý nên trồng một giàn bầu trong sân để đến mùa ra trái hái nấu canh ăn cho bớt nhớ quê nhà. Tôi đã đáp lời anh không chút đắn đo.

     “Anh cứ làm bao nhiêu giàn cũng được. Vườn nhà tụi em chỉ có chim, thỏ, sóc và nai trên rừng vãng lai thường xuyên.”

      Tôi tưởng anh P. đùa, nhưng anh làm thiệt. Anh đã một mình ra xưởng gỗ mua những thanh gỗ thông loại dùng để kiến thiết nhà về dựng lên thành một cái giàn rất hiện đại và vững chãi.  Sau khi những thanh gỗ được đo, cắt cho vừa tầm, anh đóng xuống đất theo hai hàng ngăn nắp rồi giăng dây thép thành mạng lưới  cho dây bầu leo lên. Sau khi thiết kế xong giàn bầu rất công nghệ, anh mới khám ra rằng đất vườn nhà chúng tôi không thể trồng rau được vì lá thông và rễ thông lâu năm đã làm hại đất. Nghe anh nhận xét vậy, tôi cũng hơi buồn vì từ lúc anh cho biết ý làm giàn bầu tôi đã tưởng tưởng sẽ có những buổi chiều mùa hè ra ngồi uống rượu nhìn những đàn ong bướm bay vờn hút nhị khi giàn bầu đơm hoa. Nhưng anh P. không bỏ cuộc, anh đã quyết định trồng bầu vào một chậu cảnh loại lớn thay vì trồng xuống đất.  Anh lấy một chậu cảnh bằng nhựa, đổ đầy vào chậu loại đất đã được chế biến công nghệ để trồng hoa trong vườn chứ không phải đất tươi đào từ vườn. Hạt giống bầu được anh P. ươm tại nhà cho tới khi nẩy mầm rồi cẩn thận mang sang nhà chúng tôi trồng vào chậu để dễ lên.  Lần đầu bị thất bại. Không biết tại sao.  Tôi đổ tội cho những con nai đói bụng từ rừng ghé thăm vườn xơi hết ngọn bầu non của anh P.   Lần thứ hai mầm bầu trong chậu được bảo vệ bằng những thanh gỗ dư của cọc giàn bầu cắm xung quanh chậu để cả thỏ lẫn nai đều không thể đút cổ vào xơi đọt bầu non, ngọt.  Lần này thành công, và trong vài tuần, những dây bầu đã âm thầm leo lên giàn và ngọn dây bầu cứ tủa ra như những cánh tay mềm mại, nhưng vững chắc giơ lên lần mò tìm bám vào lưới thép.

 

 

     Sáng nay ra vườn, tôi đã thấy vài bông hoa bầu vừa nở. Lần đầu tôi mới để ý là hoa bàu màu trắng chứ không vàng như hoa mướp. Thấy hoa bầu nở vừa vui vừa bùi ngùi nhớ giàn mướp quê nhà. Biết đâu khi giàn bầu ra trái, tôi cũng sẽ được ăn bát canh bầu ngọt ngào do vợ mình nấu ở xứ người. Nghĩ vậy, tôi lẩm bẩm đọc câu ca dao học ngày thơ bé.

 

Đầu tôm nấu với ruột bầu,

Chồng chan, vợ húp, gật đầu khen ngon.

 

Trần Thu Miên

ThienDi

Tranh Nguyễn Trọng Khôi

 

THIÊN DI

 

 

cuộc thiên di đỏ
mặt trời cuốn qua vùng tóc biếc
chảy mặn tháp ngà
nụ hôn mật non xưa xa
đã khét tanh dưới tê điếng mặt trời
không thể lưu trữ cho em được gì
giọt mưa miên miết đỏ
ngày cựa mình chừng như rất khẽ
tháng bảy cạn kiệt
lời lá khô
rơi từ vực sâu.

cuộc thiên di đỏ
mặt trời đi qua vườn đêm
cứa những xót thương
tối không gió
tôi với căn ngực rỗng
sự đợi chờ là vô vọng
mãi đời sau.
những bóng đèn nê ông cúi đầu câm lặng
cơn mưa không thể ướt át mãi buổi chiều tháng bảy
dụ dỗ về một tia sáng lóe nở
giấc chiêm bao mồ côi 
hơi thở
như những đứa trẻ thành phố ngày loạn lạc
dắt díu nhau đi tìm ý nghĩa cuộc hành trình…

 

Phương Uy

 

 

Hiện Hữu

 

 

Khi nỗi đau cuối cùng cũng bốc hơi trước cơn giông

 anh còn gì cho sự quạnh hiu dần tới?

ở nơi chốn ngôi sao cực mới bùng cháy lần cuối

vệt sáng vút qua

 

có thể sống như thế nào sau sự xóa đi hay lãng quên đi kí ức

mùi hương của quá khứ có được phục hiện sau mỗi cơn mưa?

khi ngôn ngữ của anh đã bị nhiễm trùng như vệt lở loét trước sự di căn mới những giọt nước mắt xa lạ sẽ là khởi thủy cho những u buồn

có những ngày như vết dao

 

anh vượt qua những mùa đông bằng giấc mơ mùa hè

nơi con hồ ly ngửa mặt khóc

nơi vệt trăng xanh còn loang máu

tháng bảy nói với anh về những biến tấu

là những âm khúc dị dưỡng

 

có tiếng khóc nảy ra từ cuống họng

nước mắt cũng như nước biển đã không còn vị mặn

trước phút lâm chung của các tính từ

trầm mình và rơi về đất

trong sự vắng lặng của ngôn từ

của bầu trời và đại dương

anh thành hạt bụi

có một ngày chối từ sự hiện diện của mình

 

 Phương Uy

 

 

Tối

 

quán tưởng trầm luân những u mê đã từng

lời nguyện đêm đã tan trên đôi môi

chiếc bóng nói với tôi về sự non dại lần sau cuối

nụ hoa không trổ mầm bằng sự không thật

đừng cúi đầu

giọt nước mắt xanh không còn tan trên tay

con hồ ly cuộn mình góc tối

khi các yêu tinh đã đi ngủ

thì phù thuỷ tuyết sẽ phục chế quả táo độc dược

ngày ám tàn trên điếu thuốc dở dang

mùa hè khóc bằng những tiếng ve cũ kỹ

trận lo lắng cho mùa mưa đã bắt đầu trên những đám mây

 không còn người hát thánh ca để tiễn đưa những màu xanh bị bức tử

mùa mưa mới cũng không thể hồi sinh cho sắc lục diệp trên những tán khô đừng khóc

dẫu có đi qua những đêm mất ngủ không còn nhau

thì lời ủi an cũng chẳng thể làm xanh được ý nghĩ

mùi hương quá nồng đậm của sự thông cảm

cũng không làm khô được những dối lừa của thế kỉ hoại tử này

đừng tin vào bất cứ

 

trong sự lặng câm của những câu thơ

cơn mưa nói với tôi về mùa lũ cũ

 

Phương Uy

 

 

Ly

 

 

Như là màu nước ao hồ trong những đêm thanh

giấc ngủ đến và cuộn tròn

con tuần lộc non trong mù mù tuyết trắng

cô gái với đôi cánh bằng xương ở trên lưng

cuốn theo trốt lốc

 

Mùa hè đã đi qua trên những đôi mắt trong veo chứa hình hài hoa xa cúc

mùa hè đi qua những hoa hồng trong thung lũng

nơi những đồi cỏ xanh tươi chỉ còn trong trí nhớ cũ kỹ

 hạt mưa trong veo lạnh giá trước hiên nhà

nơi gió giật khan một ngày áp thấp dần qua

 

Giấc ngủ đến trong tiếng phong linh rơi bên hiên đá trắng

nơi cái chết của con ve sầu nhập xác gọi mùa

giấc ngủ bảo lưu cho những cơn mơ xa xưa

chập chùng ẩn hiện

 

như là sự hiến mình tàn dư của điếu thuốc được đốt lên đêm vắng

giấc ngủ vằn vèo tản mác rồi ám trên bàn tay

màu buồn lộng lẫy như ngày mưa em đi không lời từ giã

tôi cuộn tròn mình giữa những mây bay

khúc phục tang

để tang cho một cái chết

hay nhiều cái chết cũng như nhau

 những quặng sóng bạc màu

khóc bằng lời bọt nước

 những chàng ( hay nàng) tiên cá không hề được thông báo

 rằng cái chết sẽ thoát thai

từ những dối trá

lời nguyền thánh không báo trước tai ương

khi tiếng dương cầm được tấu lên

là phút giây vĩnh quyết

những ngày đại dương khóc bằng máu thay nước mắt

kết chung một cuộc xanh trong

 

đã qua những dụ ngôn

người rẽ lòng biển

đi sâu tìm sự sáng

sự khánh kiệt đến bằng nước mắt đỏ lửa

là tuyệt tận sinh linh

 

đã qua rồi câu chuyện về những tiếng gió hú qua vỏ ốc

ngày thả rớt theo kẻ tay

che dấu một cơn hèn mọn bất lực

câu tụng niệm cũng chỉ là lừa dối

bài kinh cầu an chỉ còn âm vang đớn hèn

khoảnh khắc mặt trời cúi mặt

 

trong buổi chiều phục tang cho những câu chuyện cổ tích

giấc mơ bật khóc xanh xao

gió giật âm âm lời bia mộ

con sóng xưa quằn một nỗi nghẹn ngào

 

Phương Uy

 

 

 

SeaWave

BIỂN TRỜI DẬY SÓNG

 

Kể từ đó biển Đông cuồng sóng dậy,
Bởi lòng tham chất ngất núi mây xa.
Trung Cộng muốn một mình thu bốn cõi,
Ngang ngược, ngông nghênh hành động gian tà.

Sống cạnh xứ Tầu chịu ngàn gian khổ,
Hán cuồng khống chế các nước chung quanh.
Di trú lùa dân lấn thêm đất biển
Quá tham tàn nên bất chấp chiến tranh.

Bãi cạn SCARBOROUG Tàu ngăn ngư phủ,
Cướp của ngư dân quyền đánh bắt mưu sinh.
Xây đảo nhân tạo khi đang tranh chấp
Chủ trương ba Không, xưng bá một mình!!

Năm Hai ngàn mười hai Tàu lấn Bãi Cạn
Bãi REED BANK kia thuộc đặc quyền Phi.
Phi tìm kiếm Gas, Tàu phù ngăn cản
Tàu vốn ngang tàng trong mọi hành vi.

Bãi đá không người lấp cho thành đảo,
Xây dựng phi trường, mở rộng sân bay.
Kẻo cả Dàn khoan, lập vùng Nhận Diện,
Chúng coi biển trời như của riêng tây!!

Cư xử hung tàn của nòi hiếu chiến,
Giả điếc đòi quyền toàn bộ Biển Đông
Bất chấp Cộng đồng thế giới phản đối,
Tàu, kẻ gây cho biển thấm máu hồng.

Phi, Nhật, Đài Loan thảy đều lên tiếng,
Sống giữa nhân loài cư xử gian manh.
Mẫu hạm hàng không của nhiều cường quốc
San bằng được không, vùng ” Nhận Diện Phi Hành”?

Ngày Mười Hai, Toà Trọng Tài tuyên phán:
Tàu Không Cơ Sở Pháp Lý để đòi.
Cái Đường Chín đoạn hàm hồ ngạo mạn
Chẳng đoạt được đâu thiên hạ, biển trời…

Hiếu chiến bạo tàn muốn xưng cường quốc,
Lại đi ngược  chiều tâm thức văn minh.
Bất trắc, vỡ tan ngay trong lòng Tàu Cộng
Ngày lụi tàn sóng dữ sẽ lên nhanh. ..
 

UYÊN THUÝ LÂM

 

 

LẮNG TIẾNG RỪNG XƯA

 

 

Rừng xưa vọng tiếng ngân vang,

Đây đây lời gió muôn vàn yêu thương

Lá xanh nhựa sống còn vương.

Lá vàng về cội mù sương cuối trời .

 

Người xưa còn nhớ chăng lời

Giang sơn  nghĩa lớn một đời nặng mang.

Mong manh cành đọng sương tan,

Chim đơn mỏi cánh, bạt ngàn dặm xa

 

Ngày xưa chốn cũ phồn hoa,

Người cao tiếng hát mây qua lưng trời.

Mùa xuân hoa nắng reo vui

Còn chờ sum họp bùi ngùi đầy vơi.

 

Chiều nghiêng nắng xế lưng đồi,

Xạc xào lá hát muôn lời từ ly.

Vạt rừng này bước chân đi,

Nửa đời người ở khắc ghi câu thề.

 

Suối nguồn qua mấy sơn khê,

Nhánh rong nhẹ vướng chân khe đá sầu.

Sơn thôn mưa nắng dãi dầu

Người còn mãi chốn giang đầu xa xăm.

 

Cuộc tình tưởng đã trăm năm,

Nào hay duyên phận  lạc lầm bến mê.

Ai đi sao mãi chưa về?

Biết chăng vàng dá chẳng hề phôi phai

 

UYÊN THÚY LÂM

Thuyen

HAI NỖI BUỒN

 

Mầy ở đó nỗi buồn đang lớn mãi

Biển u trầm sông núi phủ thương- tang

Máu ngư dân nhuộm hồng trên ngọn sóng

Vợ mất chồng, mẹ mất đất kêu oan.

 

Tao ở đây mãi thương về dị vãng

Tăng Nhơn Phú thuở thỏa chí tang bồng

Đêm truy kích đạn réo ngời chiến ải

Vượt Trường sôn say giữ dải non sông..

 

Mầy ở đó lặng căm trong ngục thất

Chiếc cùm đen in dáng mẹ gian nan

Soi bóng mầy quằn quại bên song sắt

Ngữa mặt nhìn cánh cửa khép tự do.

 

Tao ở đây lật từng trang chiến sử

Bản hùng ca sưởi ấm giấc quê người

Chăn chiếu lạ khoác mảnh đời lữ thứ

Nữa đời đau vong quốc hận chưa nguôi.

 

Mầy ở đó mặt mày đầy vết chém.

Giành cơm thừa, đống rác để ngày mai

Cho con thơ, đứa em còn nhỏ dại

Mãi thênh thang trên quê hương đọa đày.

 

Tao ở đây gặp dăm thằng lưu lạc

Người Trung Phi, kẻ Nam Á, Đông âu

Có nỗi buồn hơn bóng chiều sa mạc

Uống rượu sầu viến xứ nắm tay nhau.

 

Mầy với tao có cùng chung tổ quốc

Hùng vĩ đau thương tắm gội máu xương

Một lịch sử có chiều dài chém. giết

Chủ nghĩa vong nô nghịch lý dẫn đường.

 

Mầy đang đi giữa gọng kiềm bạo lực

Bên nỗi buồn của đất nước điêu linh

Còn tao đi dưới mảng trời băng giá

Gươm thiêng xưa tao giữ mãi bên mình.

 

 

Đỗ Vĩnh Khanh

 

 

XIN GỞI LẠI

 

 

Xin gởi lại cố hương từng nỗi nhớ

Tiếng ru hời của mẹ – tuổi thơ xưa

Em gái nhỏ nụ cười như hoa nở

Mãi trong tôi thương nhớ đến bơ phờ

 

Xin gởi lại vầng trăng treo đầu ngỏ

Dòng sông đêm bến nước sáng bao la

Con sáo nhỏ đậu bờ vai tuồi nhỏ

Chắc bay rồi từ buồi tiễn tôi xa

 

Xin gởi lại một vùng trời kỷ niệm

Sân trường xưa giấu tuổi chớm hoa niên

Trang sách cũ giấu bài thơ mực tím

Cánh phượng đầu thuở giấu hương tóc em

 

Xin gởi lại phố Quảng đầy hoa nắng

Núi Long Dầu tên quê hương thần thoại

Đường Quang Trung lối về thời hoang dại

Đuổi, bắt, tìm vướng tà áo em bay

 

Xin gởi lại con đường lên núi biếc

Đèo Prenn dốc đá lạnh sương mù

Nơi sơn nữ chờ bóng chiều buông xuống

Giọng sầu tình lay động núi thâm u

 

Xin gỡi lại bước chân chinh chiến cũ

Đạp non cao cỏ biếc lội sông dài

Vượt Dồng Tháp gió mùa thơm lúa chín

Tuồi hai mươi đâu nghĩ đến ngày mai

 

Xin gởi lại và xin làm dạ lữ

Hành trang thương đau chở nặng vai gầy

Mang dĩ vãng dọc đường trần dâu bể

Mẹ Việt Nam! Con mẹ đã lạc bầy.

 

 

Đỗ Vĩnh Khanh

 

VietNam

Sao Chưa Đưa Trung Cộng Ra Tòa.

 

Nhã Nam

 

 

Việt Nam và Phi Luật Tân cùng có chung  một cảnh ngộ, Trung Cộng đang cưởng chiếm vùng biển, đảo của hai nước trên biển Đông. Việt Nam cũng như Phi Luật Tân đã cùng nhau lên tiếng phản đối Trung Cộng về  việc xâm phạm chủ quyền đó.

Đối với Phi Luật Tân, Trung Cộng đã không có phản ứng mạnh mẻ nào nhưng với Việt Nam, được cho là bạn láng giềng, với 16 chữ vàng và 4 tốt đã thẳng tay đánh đắm tàu và giết ngư dân Việt Nam, cắt dây cáp, đưa giàn khoan Hoa Dương 981 vào vùng biển Việt Nam…..dù thế Phi Luật Tân vẫn đưa Trung Cộng ra Tòa Án Trọng Tài Thường Trực, Permanent Court of Arbitration, ( PCA)), còn Việt Nam thì không hay đến bao giờ ?

Phải chăng những lý do về kinh tế và quân sự đã khiến cho chế độ Hà Nội đã dè dặt lẫn lo âu khi phải đưa Trung Cộng ra tòa án quốc tế The Hague, Hòa Lan?

Trước đây trên video clip, khi những người dân đang biểu tình, đả đảo Trung Cộng xâm lược dưới tượng đài vua Lý Thái Tổ, thì tay cò mồi của chế độ, dư luận viên Trần Nhật Quang, biệt danh Quang lùn, đã oang oang la lớn phản đối những người biểu tình chống Trung cộng rằng: “ chống họ sẽ bị đánh kinh tế thì ta chết!” Có thực như Quang lùn nói không?

Hãy nhìn lại Miến Điến trước đây để so sánh với cộng sản Hà Nội. Khi Miến Điện dưới chế độ quân phiệt, đã bị thế giới lên án và cô lập bằng biện pháp cấm vận, kinh tế của Miến Điện bấy giờ lệ thuộc hoàn toàn vào Trung Cộng, thế nhưng khi tuyên bố thoát Trung, kinh tế Miến Điện đã không bị khủng hoảng mà còn đang dần vương lên với sự đầu tư ồ ạt của các nước tư bản , còn Việt Nam cộng sản, dù với chính sách kinh tế quái đản, nửa vời,“ kinh tế thị trường, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, cũng đã được hơn 100 nước vào đầu tư, trong đó Trung Cộng chỉ đứng hàng thứ chín, trong các nước quan trọng đầu tư vào Việt Nam. Như vậy yếu tố kinh tế không đến nổi ” ta sẽ chết ”, như Quang lùn đã nhận định.

Nếu yếu tố kinh tế không là điều để cộng sản Hà Nội chưa đưa Trung Cộng ra tòa, thì yếu tố quân sự chăng?

Trước đây, trên cộng đồng mạng, không ít thì nhiều, chúng ta đã đọc được một nhận định cho rằng, Trung Cộng sẽ đè bẹp Việt Nam trong 24 tiếng đồng hồ (?), nếu có chiến tranh xảy ra giữa hai nước. Phải chăng nhận định này đã dựa vào, Đặng Tiểu Bình đã ý thức được lý do thất bại của mình trong cuộc chiến dạy cho Việt Nam một bài học năm 1979 nên kể từ đó, Trung Cộng từng bước canh tân hóa quân đội và hiện đại hóa vũ khí của mình, và nếu chỉ căn cứ vào điều kiện hơn hẳn đó đối với Việt Nam để có nhận xét nêu trên thì nhận định này không thuyết phục lắm.

Thế kỷ 21, là thế kỷ của toàn cầu hóa kinh tế , nghĩa là Kinh tế của các quốc gia trên thế giới hiện nay đều có sự liên hệ mật thiết lẫn nhau về quyền lợi, và đã là quyền lợi thì không thể không gắn liền với chính trị và quân sự. Bởi thế không gì phải ngạc nhiên, khi nhìn lại các siêu cường, nhất là Hoa Kỳ và mới đây Nga Xô đang trổ dậy, đã giải quyết những xung đột cũng như những cuộc chiến của một nước hay của các nước  trên thế giới như , Ukraine, các nước ở Trung Đông v.v…. trong thời gian vừa qua đã cho thấy, quyền lợi kinh tế không thể tách rời ra khỏi chính trị và quân sự được.

Ai cũng biết Hoa Kỳ đang chuyển trục về biển Đông, Thái Bình Dương ,trong đó  hai nước Phi Luật Tân và Việt Nam có vị thế rất quan trọng, vì nằm trên  đường hàng hải chiến lược về kinh tế và quân sự của Đông Nam Á, do đó Hoa Kỳ không thể làm ngơ mà phải ngấm ngầm nhảy vào vòng chiến, trước sự ngang ngược của Trung Cộng đang cưởng chiếm hầu hết vùng biển Đông.

Trước thời gian chờ đợi sự phán quyết về đường lưỡi bò do Phi Luật Tân đưa Trung Cộng ra tòa án trọng tài quốc tế the Hague tại Hòa Lan, Hoa Kỳ  đã điều động ba khu trục hạm Stethem, Spruance và Momsen của hàng không mẫu hạm Ronald Reagan tuần tra thường xuyên tại Đông Nam Á , bảo là để bảo đảm an ninh hàng hải trong vòng 12 hải lý, nhưng thực chất để bảo vệ Phi Luật Tân, nếu sau khi có sự phán quyết của tòa bất lợi cho Trung Cộng, đã gián tiếp cho thấy, Hoa Kỳ sẳn sàng bảo vệ Phi Luật Tân thì chắc hẳn sẽ không làm ngơ với Việt Nam khi đưa Trung Cộng ra tòa. Điều này đã được nhắc nhở khéo léo qua lời tuyên bố của thượng nghị Mc.Cain, Việt Nam nên đưa Trung Cộng ra tòa án quốc tế về đường lưỡi bò của Trung Cộng.

Chắc có lẽ cộng sản Hà Nội cũng nhận thức được điều này, nhưng tại sao vẫn chưa đưa Trung Cộng ra tòa? Phải chăng, cơ chế độc tài toàn trị đương thời này mà Hà Nội đang thụ hưởng, đã buộc họ chẳng những không từ bỏ con đường làm tay sai và bán nước do Hồ Chí Minh thành lập từ năm 1954, với chủ nghĩa cộng sản tam vô, đặt nặng quyền lợi của đảng trên quyền lợi quốc gia, điều này đã được Nguyễn Phú Trọng lập lại qua lời tuyên bố mới đây, nghị quyết của đảng quan trọng hơn hiến pháp! được chứng thực bằng lời tuyên bố của Lê Duẩn rằng:” ta đánh đây là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc” hay bằng cải cách ruộng đất, bằng công hàm của Phạm Văn Đồng 1958, bằng hội nghị Thành Đô 1990 mà lại còn tiếp tục hèn hạ bán biển và bán Ải Nam Quan, phố kỳ Lừa, thác Bản Giốc…..Nhưng trong khi đó, lại tàn nhẫn một cách vô nhân đạo, cưởng bức để cướp đất, cướp nhà người dân và dùng quyền lực để áp bức người dân hầu dễ bề hối  lộ và tham nhũng.

Bản chất hèn với giặc, ác với dân này đã dấy lên lòng công phẩn và hận thù của người dân khắp nơi trong cả nước và đã được thể hiện qua những cuộc xuống đường để đòi hỏi công lý, đòi hỏi nhân quyền hoặc chống Trung Cộng xâm lăng hay phản đối Formosa…..đều bị ngăn chận, hăm dọa và đàn áp một cách thô bạo để giải tán, nếu không, sợ trở thành vết dầu loang sẽ đưa  đến mùa xuân Á Rập trên đất nước Việt Nam thì  sẽ mất hết cả chì lẫn chài.

Để tránh trình trạng đó, chính quyền Hà Nội sao không phản tỉnh để quay về với quốc gia, dân tộc, hãy làm lơ hoặc ngầm ủng hộ để cho cuộc biểu tình tự phát đang diễn ra của người dân, chủ yếu là giới trẻ, được bộc phát khắp nơi trong cả nước, hoan hô thắng lợi của Phi Luật Tân và đồng thời kêu gọi chính quyền Việt Nam đưa Trung Cộng ra tòa, nhân cơ hội đó, thể theo nguyện vọng của toàn dân, Việt Nam tuyên bố giải thể chế độ cộng sản để theo thể chế tự do, dân chủ, thì lúc đó người dân chẳng những sẽ mở rộng vòng tay đón người chạy lại mà còn vinh danh tên tuổi để đi vào lịch sử. Nếu được vậy, người dân trong nước sẽ cùng với người Việt khắp nơi trên thế giới chung sức nhau để xây dựng lại cơ đồ Việt nam, trong đó sẽ biến Sài gòn thành Hòn Kim Cương Viễn Đông, chứ không là Hòn Ngọc Viễn Đông của Đinh La Thăng đã quá lỗi thời.

PHÂN ƯU

PhanUu

Tiểu sử Dương Nghiễm Mậu:

 

Dương Nghiễm Mậu tên thật là Phí Ích Nghiễm, sinh ngày 19 tháng 11 năm 1936 tại làng Mậu Hòa, huyện Đan Phượng, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội).
Năm 12 tuổi, ông ra sống và học ở Hà Nội đến bậc trung học. Sau đó, ông bắt đầu viết đoản văn, tùy bút cho phụ trương văn nghệ học sinh của các báo chuyên nghiệp.
Năm 1954, ông vào Nam. Từ 1957, ông bắt viết nhiều đoản văn, truyện ngắn, truyện dài. Năm 1962, ông chủ trương tạp chí Văn nghệ với Lý Hoàng Phong, đồng thời viết cho các báo Sáng tạo, Thế kỷ, Tia sáng, Văn, Văn học, Bách khoa, Giao điểm, Chính văn, Sóng thần, Giữ thơm quê mẹ… Ngoài ra, ông còn chủ trương nhà xuất bản Văn Xã.
Năm 1966, ông nhập ngũ, đến năm sau thì được bổ nhiệm làm phóng viên quân đội Việt Nam Cộng hòa đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Năm 1966 ông được trao giải Văn học Nghê thuật Toàn quốc VNCH với tác phẩm Gia Tài Người Mẹ.
Từ năm 1977, ông chuyển sang ngành vẽ tranh sơn mài..

TÁC PHẨM:

Đêm Tóc Rối (Truyện dài, Thời Mới, 1965)
Đêm (Tập truyện ngắn. Giao Điểm, 1965)
Gia Tài Người Mẹ (Truyện dài. Văn Nghệ, 1964; Văn Xã tái bản 1966)
Tuổi Nước Độc (Truyện dài, Văn, 1966)
Phấn Đấu (Truyện dài, Văn, 1966)
Cũng Đành (Tập truyện ngắn, Văn Nghệ, 1963; Văn Xã tái bản 1966)
Đôi Mắt Trên Trời (Tập truyện ngắn. Giao Điểm, 1966)
Sợi Tóc Tìm Thấy (Tập truyện ngắn, 1966)
Nhan Sắc (Tập truyện ngắn. An Tiêm, 1966; Văn Xã tái bản 1969)
Kinh Cầu Nguyện (Tập truyện ngắn. Văn Xã, 1967)
Ngày Lạ Mặt (Truyện dài, Giao Điểm, 1968)
Gào Thét (Truyện dài, Văn Uyển, 1969)
Địa Ngục Có Thật (Bút ký, Văn Xã 1969)
Tiếng Sáo Người Em Út (Tập truyện ngắn, 196?)
Quê Người (Tập truyện ngắn,Văn Xã, 1970)
Con Sâu (Truyện dài, Văn, 1971)
Trong Hoang Vu (Tập truyện ngắn, Tân Văn, 1971)
Cái Chết Của… (Tập truyện ngắn, Văn Xã, 1971)
Sống Đã Chết (Truyện dài, Giao Điểm, 1972)
Tên Bất Lực (Tập truyện ngắn, Văn Học, 1972)
Lênh Đênh Qua Cửa Thần Phù (Tập truyện ngắn, Văn Mới, 2009)
Trời Cao Đất Dày (Tập truyện ngắn, Văn Mới, 2009)

Nhà văn Dương Nghiễm Mậu qua đời, hưởng thọ 81 tuổi

 

August 2, 2016

DuongNghiem Mậu

Nhà văn Dương Nghiễm Mậu. (Hình: RFA)

SÀI GÒN (NV) – Nhà văn Dương Nghiễm Mậu, một trong các tác giả nổi tiếng nhất miền Nam Việt Nam, vừa qua đời lúc 8 giờ 35 phút tối Thứ Ba, 2 Tháng Tám, tại Sài Gòn, hưởng thọ 81 tuổi, nhà báo Phí Ích Bành, em ruột của nhà văn xác nhận với nhật báo Người Việt.

Theo Wikipedia, nhà văn Dương Nghiễm Mậu tên thật là Phí Ích Nghiễm, sinh ngày 19 Tháng Mười Một, 1936 tại làng Mậu Hòa, huyện Ðan Phượng, phủ Hoài Ðức, tỉnh Hà Ðông (nay thuộc Hà Nội).

Ngoài tên Dương Nghiễm Mậu, ông còn một bút hiệu khác là Hương Việt Hương.

Năm 12 tuổi, ông ra sống và học ở Hà Nội đến bậc trung học. Sau đó, ông bắt đầu viết đoản văn, tùy bút cho phụ trương văn nghệ học sinh của các báo chuyên nghiệp.

Năm 1954, ông di cư vào Nam.

Từ năm 1957, ông bắt đầu viết nhiều đoản văn, truyện ngắn, truyện dài.

Năm 1962, ông chủ trương tạp chí Văn Nghệ với Lý Hoàng Phong, đồng thời viết cho các báo Sáng Tạo, Thế Kỷ, Tia Sáng, Văn, Văn Học, Bách Khoa, Giao Ðiểm, Chính Văn, Sóng Thần, Giữ Thơm Quê Mẹ… Ngoài ra, ông còn chủ trương nhà xuất bản Văn Xã.

Năm 1966, ông nhập ngũ, một năm sau, ông làm phóng viên quân đội Việt Nam Cộng Hòa đến ngày 30 Tháng Tư, 1975, thì bị đi tù cải tạo.

Từ năm 1977, ông chuyển sang vẽ tranh sơn mài.

Theo thống kê chưa đầy đủ, tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu có một số truyện ngắn như Cũng Ðành (tác phẩm đầu tay, năm 1963), Ðêm, Ðôi Mắt Trên Trời, Sợi Tóc Tìm Thấy, Nhan Sắc, Kinh Cầu Nguyện, Ðịa Ngục Có Thật, Ngã Ðạn, Quê Người, Trong Hoang Vu, Tên Bất Lực… và các truyện dài như Gia Tài Người Mẹ, Ðêm Tóc Rối, Tuổi Nước Ðộc, Phấn Ðấu, Gào Thét, Ngày Lạ Mặt, Con Sâu, Sống Ðã Chết… (Ð.D.)

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI

Văn Nghệ Boston nhận được một thi phẩm mới của tác giả Phạm Cao Hoàng

ĐẤT CÒN THƠM MÃI MÙI HƯƠNG

DatConThom
Sách in đẹp. Bìa của Đinh Cường, minh họa của Đinh Cường, Trương Vũ, Ng Trọng Khôi và Đinh Trường Chinh do nhà Thư Quán Bản Thảo ấn hành.

Với 100 trang thơ nói lên tất cả sự chân thành, tình cảm, kỷ niệm của tác giả đối với những miền đất thân yêu từ quê nhà qua tới hải ngoại. Đọc lời bạt do Nguyễn Xuân Thiệp viết đã giới thiệu đầy đủ nội dung thi phẩm ĐẤT CÒN THƠM MÃI MÙI HƯƠNG:

 “…Đọc thơ Phạm Cao Hoàng, ta thấy tâm hồn anh đầy nhân hậu, bao dung và độ lượng, luôn mở rộng đón nhận những âm vang của đất trời. Ở Phạm Cao Hoàng, không có sự ganh ghét, thù hận hay ra vẻ trí thức triết lý với đời. Thơ anh trong sáng , tự nhiên, bình dị; nhẹ nhàng đi vào hồn người. Đọc thơ Phạm Cao Hoàng ta tìm được niềm an ủi trong tình yêu, gia đình, bạn bè, quê hương đất nước và cuộc sống chung quanh mình.”

Nguyễn Xuân Thiệp

 

Văn Nghệ Boston xin trân trọng giới thiệu đến anh chị em văn nghệ và độc giả.

 

 

THỨC DẬY ĐI – nhạc: Nguyễn Trọng Khôi, thơ: Trần Trung Đạo –

tác giả hòa âm và trình bày:

 

ThucDayDi_1page

 

THỨC DẬY ĐI

Mặt trời mới mọc bên kia biển
Hay lửa phương đông báo hiệu mùa
Thức dậy đi em giờ đã điểm
Mẹ khóc lâu rồi em biết chưa?

Thức dậy đi hỡi rừng núi cũ
Nghe tiếng nghìn xưa vọng trở về
Ai đứng trông ai mùa lá đổ
Mà lòng thao thức mấy đêm khuya

Ai khóc đêm nay ngoài ải Bắc
Phải hồn sương phụ ngóng phương xa
Hay tiếng Phi Khanh trào nước mắt
Về đi, lấy máu trả thù cha

Thức dậy đi hồn thiêng sông núi
Gió Nam Quan xô sóng Bạch Đằng
Nửa đêm không bóng người bên suối
Sao tiếng gươm mài vang dưới trăng

Thức dậy đi hỡi lòng vô lượng
Ngại ngùng chi đau khổ điêu linh
Dù cho nước vẫn còn nhơ đục
Nhớ giữ cho nhau một chút tình

Thức dậy đi đồi cao dốc sỏi
Đất đá mòn theo mỗi vết chân
Gã tù lặng đứng nhìn mưa đổ
Đâu biết xuân qua chỉ một lần

Thức dậy đi màu nâu của đất
Màu xanh trong ánh mắt của em
Bao nhiêu năm ngồi nghe nhau khóc
Đã đủ chưa máu chảy ruột mềm?

Thức dậy đi từng trang lịch sử
Những chuyện buồn vui lẫn tủi hờn
Như mắt mẹ nghìn đêm không ngủ
Thương đám con khờ chưa lớn khôn.

Trần Trung Đạo

MỘ KHÚC – ca khúc Nguyễn Trọng Khôi, thơ Huy Tưởng

tác giả hòa âm và trình bày:

 

du

DỤ NGÔN

 

dại khôn khôn dại

 ngạn ngục thiên đàng

 những đứa trẻ đã lâu chưa kịp lớn

có hiểu lúc nào nên giữ nên buông?

 ngày qua hai buổi

 nắng đi hai lòng

những con đường không kịp lối

 hầm hập trời xanh không mây

 tháng Tư đổ dung nham nắng

 em cầm trên tay

vò nước cam lồ thời xa lắc

ngát hương đến lúc này

 gió níu giọt dương cầm đã lắng

 vọng về từ cao xanh

người không còn bóng

chỉ còn nỗi buồn lang thang

 tháng Tư gió đi hoang

kí ức ruổi rong cát trắng

biển còn rộng đến lúc này?

 hay là em hay là tôi hay là xa vắng?

gió níu lời dương cầm nhập thể

trầm hương xanh xao đêm

ngõ tối lối về sâu hút

vũng buồn có dày thêm?

 ừ dại khôn khôn dại

trăm năm một chấm mơ hồ

tràn trên vách trắng

là bóng trăng lô xô

ừ dại khôn khôn dại

ngạn ngục thiên đàng

đứa trẻ trong tôi chưa kịp lớn

 em đã vội vàng sang ngang.

 

 Phương Uy

 

 

TRIỀN RÊU CÒN XANH

 

đã hỏi giữa hư không

ngày câu hỏi hương tàn

 bàn lạnh nhập kinh siêu độ

khi nào vãng sanh?

 

đã hỏi giữa đêm đen

nơi nào mình trú ngụ

lộng dây tỳ bà đứt đoạn

 yêu tinh khóc giữa mù trăng

 

đã hỏi trúc tre đầu ngõ

đâu tiếng gió đại ngàn

 ngày về nơi mù xa đó

mồ côi một trận lang thang

 

cầu vồng bâng khuâng mộ gió

 âm u lặng ngát lưng đồi

mình về có ngang qua đó

triền rêu còn xanh một tôi

 

 Phương Uy

 

RỜI

 

Sáu

 rạc rài chổng bốn vó

chó bốn vỏng

ngất ngư lưng nạc

mỡ

những thứ nhiều mỡ

là thường ngấy

ngán

 

chán

 

 lục lọi trong những đống rác

tìm từ xa thăm thẳm

thum thủm

con đàn bà vu cáo

cao vú ( một kiểu nói lái vừa hóng hớt, không bản quyền)

có khi to không là cao

 

tám

 

sở trường của những loạn ngôn

 hoang tưởng

 sự ảo tưởng thường quá trớn

 không có tay thắng

không có cục canh cho bánh xe dừng lại đúng chổ

quá đà

 

bát

 

 y bát truyền chân không phải lúc nào cũng chân

 thật giả khó phân

 hà huống tốt xấu

lộn xộn

 lộn lèo lẻo

những xàm ngôn không căn cứ

giai thoại là gán ghép

ưng thì nói ( lại không thể không nói lái oi thì…)

dựng thành lịch sử không lịch sự

cái cục gạch

dây cột quần

định chửi mẹ nó

mà thôi

xác chết già không đáng .

 

 Phương Uy

 

THẤT LẠC XANH

 

những khúc hát đi lạc rồi

ngày phong ba phủ kín lối

 đã quá chiều sương rồi

 tôi sao còn đợi?

 

là đôi mắt đã nặng rồi

mình về sao thấy lối

là mỏi chân rồi

giày xưa bỏ quên bàn chân

 

Giọt trăng thuỷ tinh đã vỡ rồi

âm xưa còn ngân

mình về đêm sâu thăm thẳm

giọt trăng buốt xuống trần

 

kí ức xanh ngút ngàn rồi

con hồ ly úp mặt vào tay mà khóc

đêm không còn là đêm

chỉ còn thăm thẳm mưa xanh

 

là phiến gió vừa rớt lạnh

thềm rêu một chiều dĩ vãng

là những đứt khúc tình xa

môi non như quên mặt người

 

 Phương Uy

Ab2

thời biểu chủ nhật

 

 

 

buổi sáng:

7 giờ

thức dậy trong cơn ngủ

đánh răng nỗi buồn

rửa mặt niềm hân hoan

 

8 giờ

điểm tâm quá khứ

uống chút bâng khuâng nóng không đường

đọc ánh mặt trời trong gió

cười khan một mình

 

9 giờ

hút bụi trí nhớ

lau dọn trái tim (tuần rồi quên mua dầu gội đầu)

viết tên mình lên tờ lịch cạnh bàn computer (sợ lúc cần lại quên!)

thở dùm ai đó một lúc (mỗi ngày phải làm một điều thiện)

 

 

10 giờ

duyệt xét lại tài nguyên địa cầu

trong ngân hàng vũ trụ

trả lời email cho những người ngoài hành tinh

mở cửa đón tay đưa thư đến từ kiếp trước

cùng lúc nghe một tấu khúc câm của Paganini

và vẽ trong trí tưởng bức tranh về mùa xuân trên những vòm lá cao

mùa xuân màu đen lấp lánh những tia nắng màu rượu đỏ

trong suốt một cách gần gũi mà diệu vợi

 

 

10 giờ 35

xóa bức tranh mùa xuân màu đen trong trí tưởng

tô chân dung mình trên bìa lá nắng

 

 

11 giờ

chào hỏi bầy chim quen tới thăm trước sân nhà

ngắt vài đọt đinh lăng sẽ làm rau trong bữa ăn trưa

chợt nghĩ ra phải chép lại giấc mơ đã bên ngoài trí nhớ

giấc mơ của đêm qua hay của đêm nay chẳng biết

 

 

11 giờ 30

bấm nút chiếc nồi điện

nghe từng hạt gạo trở mình đổ mồ hôi

nhắm đến bầy bụi đang vần vũ từ vạt nắng phía khe rèm cửa sổ

như có ai gọi tên mình ở một nơi nào đó

rất xa

 

12 giờ

tiếng con chim lên giây cót báo cho biết đã về đậu trên cành mai chiếu thuỷ nhà hàng xóm

nắng miên man

dường như sẽ đủ nắng cho cả buổi chiều nay

 

 

12 giờ 15

bày biện lên bàn

ruộng vườn sông biển núi rừng

nắng làm rung rinh những cọng đinh lăng

tự nhắc mình bao điều đã không sao nhớ được

món chính trong bữa ăn trưa là những bản tin tồi tệ về con người và đất nước Việt Nam

còn lởn vởn trong đầu

 

 

13 giờ 15

con chim lên giây cót đậu trên cành mai chiếu thuỷ nhà hàng xóm báo cho biết nó bỏ đi

nó bỏ đi muộn hơn hôm qua 10 phút

rửa chén bát và nỗi muộn phiền

 

 

13 giờ 30

ra sân tìm con chuồn chuồn kim và con chuồn chuồn ớt đã gặp hôm qua

chỉ thấy cây hồng sa mạc vừa nở một đóa đìu hiu

và cây mãng cầu dai đã mất đi một quả

cái quả vừa chín tới

thầm chúc cậu học trò nào hôm nay được một bữa ngon

và gợi nhớ thời mình leo rào nhà người ăn trộm ổi

bình mực tím mồng tơi dốc ngược trên túi áo sơ mi cộc tay trắng tinh thời tuổi nhỏ

 

 

14 giờ 10

trở lại bàn làm việc

những con chữ chơi trò trốn tìm

cấu thành những mật ngữ nằm bên kia mặt giấy

nằm bên trong màn hình computer

 

 

15 giờ 5

nhắn tin cho mèo con

“buổi đọc sách của em và T.T ở cà phê Trung Nguyên thế nào?”

 

 

15 giờ 10

bầy chim ở khoảng trời trên trường thuỷ điện bay giật lùi

có những gói quà vuột khỏi tay người nhận

quay về nằm trên bàn người gửi

và có những gói quà mất tích, những cuốn sách mất tích

email của Fred Turner nói anh đã gửi cho tôi những cuốn sách của anh từ rất lâu

những cuốn sách không bao giờ tới tay người nhận

và cũng không bao giờ trở lại với người gửi

 

 

15 giờ 30 mèo con điện thoại

“anh Cún ăn trưa ngoan không nhớ em không?

em ăn trưa với T.T nhớ anh

buổi đọc sách thành công

anh Cún đọc Linda Le chưa?”

“uh, em ăn ngoan, nhớ mèo con lắm lắm

khi nào đọc xong Trên Đường, anh sẽ đọc Vu Khống

hôm nay Hội An nắng đẹp vô cùng

anh đang định rủ anh Sương đi cà phê Bờ Kè

em muốn đi thì bay ngay vào đây”

 

 

15 giờ 45

gọi điện thoại Phạm Phú Sương

 

 

16 giờ

nắng rực úa bên kia sông Thu Bồn

mặt nước lấp loá ánh ngũ sắc ánh xanh ánh bạc

như tàng trữ những điều bí ẩn của một thế giới khác

ánh tím ánh vàng

khoảng tối và sáng

mọi thứ ánh màu trộn lại của một tương lai chưa biết

một màu chân không

là màu của tàng thức khuất mặt

tất cả biến thành một giấc mơ không màu

 

 

17 giờ 30

một con chim lẻ loi bay về hướng Cô Lâu

nơi thượng nguồn của dòng sông vô định

tôi vừa ngồi

thức

và mơ thấy mình biến thành một ngọn cỏ

mọc ngược trên vách một tháp Chàm ở thánh địa Mỹ Sơn

 

 

17 giờ 45

giọt nắng chiều cuối cùng đã tắt thở trong ly beer cạn

 

 

Trần Nghi Hoàng

 

(Khởi viết ở Hội An tháng 2, 2011 – Ngày 10 tháng 7, 2016)

 

 

 

 

 

 

TinhChuaTinhNguoi

TÌNH CHÚA, TÌNH NGƯỜI

 

Văn Nghệ Boston vừa nhận được tập Thánh Ca của tác giả Nguyễn Quang Hưng

Bao gồm 49 bài Thánh Ca trình bày khuôn khổ 8.5 x 11 inch.
Lời tựa của Linh Mục Peter Nguyễn Hùng Cường M.M. và bài chia sẻ của Linh Mục Nguyễn Mộng Huỳnh, và nhạc sĩ Nhất Chi Vũ, Boston.

“…..Có những nhạc sĩ mà sáng tác của họ được biết đến nhiều hơn là chính con người của họ. Nguyễn Quang Hưng là một trong những trường hợp như thế. Rất nhiều người biết bài Thương Tiến Gia-vê, Rất nhiều ca đoàn, trong nước và hải ngoại hát Thượng Tiến Gia-vê. Nhưng có mấy ai biết tác giả là ai. Nguyễn Quang Hưng đã viết tác phẩm này ở tuổi đôi mươi như lời kinh tín thác dâng lên Thiên Chúa Ba Ngôi; khi đất nước đang ở những ngày đầu bước vào bóng tối khổ đau giữa bao hoang mang, chán chường và lo lắng….”

Linh mục Nguyễn Hùng Cường
Maryknoll, New York

Văn Nghệ Boston xin giới thiệu đến quý anh chị em văn nghệ và độc giả

 

 

 

Tiểu Sử Nguyễn Quang Hưng

Nguyễn Quang Hưng sanh ngày 10 tháng 9 năm 1955 . Tên Thánh Đa Minh
– Từ năm 1968-1975 Theo học tại các tiểu chủng viện Á Thánh Phụng và Tê-rê-xa, giáo phận Long Xuyên. Nghĩa tử của linh mục Antôn, kênh I, Tân Hiệp, Kiên Giang.
– Bắt đầu sáng tác năm 17 tuổi, từng là ca trưởng nhiều ca đoàn trong nước cũng như hải ngoại.
– Anh xa quê hương năm 1981 và định cư tại Hoa Kỳ.
– Mặc dù bận bịu với công việc, anh vẫn sinh hoạt với các ca đoàn ở những tiểu bang anh từng sống: California, Connecticut và Georgia.
– Anh được Chúa gọi về ngày 28 tháng 5 năm 2012 tại Atlanta, bang Georgia, USA.

– Bài Thánh ca nổi tiếng của Nguyễn Quang Hưng: Thượng Tiến Gia-vê thuộc thể loại Dâng Lễ được viết năm Nguyễn Quang Hưng ở tuổi đôi mươi.

 

Nghe và download mp3 nhạc Thánh ca Thượng Tiến Gia-vê:
ca đoàn Hồng Ân

http://picosong.com/tVhV


Video clip Ca đoàn Junior Mông Triệu:

 

 

Encore: C:Music EncoredangleThuongTi

 

 

VOTE2016

Chữ/nghĩa trong tranh cử tổng thống Hoa Kỳ

 

  • Trần Hữu Thục

You campaign in poetry. You govern in prose.

(Mario Cuomo)

 

 

            Trước khi các cuộc vận động tranh cử tổng thống 2016 bắt đầu, dư luận hầu như chỉ chú ý đến Hillary Clinton (Dân chủ) và Jeb Bush hay Marco Rubio (Cộng Hòa), chắn mẫm đó là những ứng cử viên thuộc loại “đảng cử dân bầu”, establishment candidates. Nhưng rồi, rất đột ngột, bên Cộng Hoà, Donald Trump xuất hiện và bằng những cú ra đòn liên tiếp, đầy hiệu quả, ông ta lần lượt đánh bại 14 địch thủ, chiếm ngôi đầu bảng. Và cũng đột ngột không kém, bên Dân Chủ, Bernie Sanders, tưởng chỉ là một nhân vật “đệm” cho Hillary, càng về sau càng nổi lên như diều gặp gió, đe dọa làm lung lay giấc mơ làm ứng cử viên nguyên đệ nhất phu nhân. Bây giờ, ván bài đã xong. Hillary và Trump đã trở thành các ứng cử viên chính thức của hai đảng. Sanders, tuy thua, nhưng chắc chắn ảnh hưởng của cuộc cách mạng chính trị (political revolution) mà ông đề xướng sẽ để lại một dấu ấn sâu đậm trong chính trường Hoa Kỳ.

Có thể nói, cuộc tranh cử tổng thống ở Hoa Kỳ lần này tập trung vào ba nhân vật nổi bật: Hillary (để khỏi lẫn lộn với Bill Clinton, tôi dùng Hillary để chỉ Hillary Clinton), Sanders, và Trump. Ba khuôn mặt, ba cách ứng xử, ba quan điểm.Trong lúc Hillary là một chính trị gia chuyên nghiệp, hiện diện trên chính trường cả mấy thập niên, nhất cử nhất động của bà ai cũng hiểu rõ, thì Sanders và Trump là hai khuôn mặt mới toanh. Họ nhập vào cuộc đua như những kẻ “ngoại đạo”. Trump là một đại gia, xuất hiện với một cá tính mạnh mẽ khác thường; Sanders là một chính trị gia lý tưởng, xuất hiện như một tư tưởng gia cấp tiến.

Một bà. Hai ông.

Hillary thận trọng, cân nhắc, chuẩn bị, nghiêm túc.

Sanders sôi nổi, nhiệt tình, lý tưởng, hăm hở, say mê.

Trump bộc trực, bày tỏ, xông xáo, tràn đầy cá tính.

 

            Chữ và người

 

            Vận động tranh cử, ở một xứ sở được tự do diễn đạt như Hoa Kỳ, là một cuộc chạy đua sử dụng chữ. Một cuộc đấu lời/đấuchữ/đấu nghĩa. Word matters! Chữ đóng vai trò quan trọng.“Chữ,” nói như N. A. Berdyaev, “có một quyền năng lớn lao trên đời sống chúng ta, đó là một quyền năng huyền bí. Chúng ta bị chữ quyến rũ và với một mức độ đáng kể, chúng ta sống trong vương quốc của chúng. Chữ hành động, giống như những quyền năng độc lập, và độc lập với chính nội dung của chúng.”[1] Chữ không phản ảnh hiện thực, nhưng lại có tác động vô cùng to lớn vào hiện thực. Nó làm biến dạng, thay đổi hay thậm chí tạo ra hiện thực. Một lý thuyết hay có thể chuyển đổi khuôn mặt xã hội và nếp sống hàng ngày. Một cuốn sách, một bản tuyên ngôn, đôi khi một câu khẩu hiệu có thể huy động người ta lao vào chỗ chết.

Trong một cuộc thăm dò dư luận về trợ cấp xã hội do National Opinion Research Center thực hiện năm 2006, khi được hỏi tiền trợ cấp xã hội là để“assistance to the poor” (giúp đỡ cho người nghèo), 65% người được thăm dò trả lời là chính phủ đã chi ra “too little” (quá ít). Nhưng nếu thay nhóm từ “assistance to the poor” bằng “welfare” thì 45% trả lời là nhà nước đã chi ra “too much” (quá nhiều). Mặc dầu “assistance to the poor” và “welfare” đều có nghĩa là giúp đỡ cho người có lợi tức thấp. Mới đây ở Việt Nam, chỉ vì dùng từ “tan xác” (thay vì máy bay rơi, hay máy bay bị tai nạn) trong một cuộc thăm dò ý kiến độc giả để mô tả chiếc máy bay Casa 212 bị tai nạn, mà nhà báo Mai Phan Lợi bị mất việc, bị điều tra và bị báo nhà nước tố cáo, lên án dữ dội. Cũng thế Việt Cộng thì khác Cộng Sản; tù nhân lương tâm, bất đồng chính kiến thì khác phản động. Vân vân.

Trong vận động tranh cử, quy cho đối thủ bằng một từ hay một nhóm từ ngắn gọn, cụ thể, tính cách tiêu cực và dễ nhớ, có thể biến chữ thành hiện thực, khiến cho cá nhân đó bị dính liền với chữ y như thể là một sinh mệnh. Chữ đột nhiên trở thành nhân cách, bản sắc, thói quen hay quan điểm của người đó. Marco Rubio, ứng cử viên của đảng Cộng Hòa, là một tay trẻ tuổi hùng biện, nhưng cách ăn nói lập đi lập lại của ông trong khi đi vận động tranh cử khiến cho ông bị gọi là “robotic” (máy móc). Rubio Robot trở thành một cách nói ẩn dụ, ám chỉ Rubio. Trong một lần tranh luận tại New Hampshire tháng 2/2016, Marco Rubio (đang có điểm thăm dò dư luận rất cao, ngang ngửa với Trump) cố gắng thoát khỏi cái nhãn hiệu quái ác này. Nhưng trong khi cố thoát, ông lập đi lập lại đến bốn lần câu “He knows exactly what he’s doing.” Nắm cơ hội này, Chris Christie, một ứng cử viên khác, chể giễu ngay: “Thấy chưa, đó chỉ là một phát biểu 30-giây-học-thuộc-lòng” (the memorized 30-second speech). Chỉ trong vòng ít phút sau, đoạn video quây lại lời nói lập đi lập lại đó lan truyền khắp mạng lưới điện toán hình ảnh của một Rubio “the memorized 30-second speech”! Nhóm từ này trở thành biệt danh mới của Rubio! Và với biệt danh này, Rubio bị thua phiếu một cách thảm hại tại cuộc bầu cử sơ bộ đảng Cộng Hòa diễn ra vài ngày sau đó tại tiểu bang New Hampshire. Quả là một cách chụp mũ vô cùng hiệu quả!

Nhưng chính Trump mới là bậc thầy trong nghệ thuật chụp mũ. Ông gọi các đối thủ, đôi khi khá tùy hứng, bằng những tên khác nhau: chế giễu dáng người nhỏ nhắn, thấp của Rubio là small Rubio; chế giễu cái tật hay uống nước của Rubio khi đi vận động sweat Rubio. Chể giễu đối thủ nặng ký Hillary về việc bà này bỏ phiếu ủng hộ cuộc xâm lăng Iraq (rồi sau đó, xin lỗi) hay sử dụng email cá nhân (rồi sau đó xin lỗi) là crooked Hillary (Hillary lươn lẹo). Chế giễu cung cách vận động từ tốn, đơn điệu của Jeb Bush bằng low-energy Jeb, hoặc chế giễu số tiền quyên góp khá nhiều của Jeb là “puppet of the donors” (con bù nhìn của những người tài trợ). Trong một lần tranh luận, Trump gọi Cruz là “Lying Ted” (Ted dối trá). Trong thực tế, không hẳn Cruz dối trá, nhưng cách nói của ông ta có cái gì ít đáng tin trong lúc Trump thì nghe có vẻ thành thật. Rõ ràng là Trump cường điệu hóa, nhưng ông ta dường như tin những điều ông ta nói và nói thẳng ra những gì mình nghĩ. Rốt cuộc, hóa ra, cách chụp mũ của Trump có hiệu quả: Ted Cruz trông có vẻ dối trá thật! Tóm lại, có thể nói, chụp mũ là một đòn tu từ độc hiểm, một cách đặt tên tuy đơn sơ, khôi hài và thậm chí hạ cấp nhưng có một hiệu quả đáng kể. Các đối thủ của Trump trong đảng Cộng Hòa dường như bất lực, không tìm ra được cách đối phó, ngoài những phản ứng khá thụ động hay im lặng chịu trận.

            Nói chung, cách sử dụng ngôn ngữ của Trump giản dị nhưng sắc bén hơn các đối thủ. Ông nói ngắn, gọn, trực tiếp, khẳng định, dứt khoát. Theo cuộc nghiên cứu về ngôn ngữ của các ứng cử viên tổng thống năm nay,[2] thì trong cách chọn chữ, Sanders là nhất, trình độ trên học sinh lớp 10, chỉ thua Reagan chút ít. Kế đó là Rubio, tiếp theo là Hillary và Cruz. Trump xếp hạng chót, tương đương trình độ lớp 7. Về văn phạm, Rubio cao nhất, trung bình ở lớp 7; Hillary, Sanders và Cruz thấp hơn nhiều. Còn Trump vẫn ở hạng chót. Về từ vựng, phong phú và thay đổi nhiều nhất từ diễn văn này đến diễn văn khác là Hillary. Là một chính trị gia chuyên nghiệp, Hillary hiểu rõ sự khác nhau giữa các loại khán giả đến nghe, nên thay đổi cho hợp sở thích và quan điểm của mỗi loại người. Trump vẫn ở hạng chót, với một số lượng từ vựng giới hạn. Tuy thế, do tính cách dễ hiểu và trực tiếp, cách nói của ông dễ dàng truyền đạt đến nhiều thành phần khác nhau trong cùng một lúc.Vả lại, là người có xu hướng chống lại cơ chế quyền lực hiện đương, từ chính phủ ở Washington cho đến bộ máy điều khiển hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa, Trump xuất hiện như một khuôn mặt mới lạ, không giống cung cách đơn điệu của các chính trị gia chuyên nghiệp và do đó, dễ lôi cuốn quần chúng, nhất là những người da trắng quá chán nản với những bế tắc chính trị thường diễn ra trong chính trường Hoa Kỳ.

Tất nhiên, các chính trị gia và giới học giả đánh giá thấp Trump. Ít ra là lúc đầu. Lý do rất đơn giản: họ cho rằng thái độ thận trọng và sử dụng ngôn ngữ thích hợp trong cung cách ứng xử với quần chúng là tiêu chuẩn phổ biến, được mọi người chấp nhận.Tiêu chuẩn đó không hẳn lúc nào cũng hay, cũng đúng và cũng gây nên hiệu quả mong muốn nhưng rõ ràng là một cách ứng xửđầy ưu thế, nhất   với những người nổi tiếng.Vô hình trung, điều này tạo thành một trục văn hóa quyền lực bao gồm giới trí thức, ngành truyền thông và ngành giải trí (academia/media/entertainment Axis). Chữ/nghĩa của Trump là một nghịch đảo đối với trục văn hóa đó. Thay vì “phải đạo” (political correctness = PC), ông ta ăn nói bừa phứa theo kiểu “chống-phải đạo” (anti-PC); thay vì lời nói phải trước sau như một (nhất dĩ quán chi = nhất quán)để tạo sự tin cậy, Trump là phi-nhất quán. Nhiều lần, Trump flip-flop một cách hồn nhiên, thậm chí, như một thủ thuật. Hôm nay nói thế này, mai nói thế khác và mốt lại nói khác nữa.Tất nhiên, đây là khuyết điểm. Nhưng ông tìm cách khai thác nó như một lợi điểm. Trước khi ông ta đến nói chuyện trong một cuộc tập họp quần chúng nào đó, thường thì khán giả và báo chí không đoán biết ông ta sẽ nói những gì, sẽ sỉ nhục hay xúc phạm những ai và sỉ nhục, xúc phạm kiểu nào. Điều này khêu gợi trí tưởng tượng và sự tò mò của quần chúng, nhất là đối với giới truyền thông, luôn luôn cần tin giật gân. Chả thế mà, so với các đối thủ, Trump tiêu rất ít tiền để quảng cáo, nhưng lại hưởng được sự chú ý tối đa của nghành truyền thông đến nỗi giới kinh tế gia ước tính trị giá đến cả hai tỷ đô la nếu phải thuê bao trực tiếp.

Bảng phân tích sau đây cho ta một cái nhìn về cách ăn nói biểu lộ tính cách con người như thế nào:[3]

 1

 

Theo thứ tự con số từ cao đến thấp, người có vẻ nói láo nhiều nhất là Cruz (+ .88), kế đến là Rubio (-.10), rồi Hillary (-.46), Sanders (-.65) vàít nói láo nhất – có nghĩa làthành thật nhất – là Trump (-.97).

Cruz trông ra vẻ“giáo sư” nhất (+0.89) kế đến là Sanders (+0.74) rồi Hillary (+0.24).Trump là người ít có vẻ “giáo sư nhất” (-1.78).

Cũng theo thang điểm trên, người ăn nói ít đàn bà nhất (hay có tính cách đàn ông nhất) là Sanders (- 3.18).Trong lúc đó, người ăn nói có vẻ đàn bà nhất lại là Trump (+ 4.24) rồi sau đó mới đến Hillary (+ 1.14). Nói khác đi, Hillary ít có vẻ đàn bà hơn Trump. Trump “đàn bà” vì hay đề cập đến “cái tôi” của mình: tôi giàu, tôi giỏi, tôi đúng. Ông sử dụng cách nói nhắm vào cảm tính người nghe (xây bức tường ở biên giới Mexico-Mỹ, cấm người Hồi giáo nhập cư), hay nói kiểu xách mé, xuy tì cá nhân, chẳng hạn chế giễu tật hay uống nước của Rubio. Nói chung,  ngôn ngữ của Trump có tính sỉ nhục và kỳ thị. Những nhà nghiên cứu cho đó là thứ ngôn ngữ gây xúc động (emotionally-charged language), tuy khó nghe, nhưng lại khiến cho Trump có vẻ thành thật (hơn các ứng cử viên khác).[4]Trong lúc đó, Hillary thường dùng những từ nghe kêu (big words), nặng tính suy tư và kế hoạch hơn là gây xúc động, chẳng hạn như chính phủ, gia đình, kinh nghiệm, thành tích, y tế, tiền nong, trợ cấp, vân vân. Nghe không có gì mới, nếu không muốn nói là “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”!

Ăn nói có vẻ là một người thất vọng nhất là Cruz (+1.16), kếđó là Trump (+.23) và ít thất vọng nhất (lạc quan nhất) là Rubio.

Người ăn nói có vẻ “tổng thống” nhất là Hillary (+1.99) kếđó là Sanders (+.92) vàít “tổng thống” nhất là Trump (-3.17).

Tóm lại, Trump thường chiếm cái “ít nhất” và “nhiều nhất”.

 

Văn và thơ

 

Hillary là người vất vả nhất trong cuộc vận động tranh sự đề cử của mình vì sự nổi lên bất ngờ của Sanders. Sanders đề ra một cuộc cách mạng, gọi là cách mạng chính trị (political revolution) dựa vào quần chúng: tố cáo giới tài phiệt, đòi tăng lương tối thiểu, đòi miễn phí cho sinh viên đại học. Để chống lại một Hillary sành sõi và là ứng cử viên con cưng của đảng, được sự hỗ trợ dồi dào về tiền bạc của giới giàu có, Sanders đưa ra hình ảnh của một Hillary nhận tiền tài trợ của Wall Street và chỉ phục vụ quyền lợi cho giới tài phiệt. Để lôi kéo thế hệ trẻ, thế hệ millennials (Millennial Generation = những người trẻ tuổi ra đời trong khoảng trước và sau năm 2000), Sanders hô hào học đại học miễn phí. Để lôi kéo giai cấp công nhân, Sanders đòi hỏi tăng lương tối thiểu lên 15 đô la/giờ và đề ra chính sách y tế toàn dân, ai cũng được bảo hiểm sức khỏe không tốn tiền. Tóm lại, Sanders xuất hiện như một niềm hy vọng, một hình ảnh mới mẻ và sáng lạn của tương lai. Ngay lập tức, ông thu hút một cách mạnh mẽ giới trẻ. Trong lúc những cuộc nói chuyện của Hillary chỉ có chừng vài trăm người tham dự, cao lắm là 1000, hầu hết là giới già, những cuộc tập họp của Sanders thường rất hoành tráng, rất sôi nổi với sự tham dự cuồng nhiệt khác thường của hàng chục ngàn người. Điều đó đưa đến chỗ Sanders thắng Hillary ở rất nhiều tiểu bang, có nơi thắng rất đậm. Có lúc, trước phong trào ủng hộ Sanders của giới trẻ, tưởng chừng như lịch sử được lập lại: một Hillary nguyên đệ nhất phu nhân và thượng nghị sĩ nổi danh hoàn vũ thua một Obama da màu vô danh tiểu tốt một cách cay đắng 8 năm trước đây.

Để chống lại Sanders, Hillary làm gì?

Bà ta sử dụng một ý tưởng khá lạ: campaign-in-poetry, govern-in-prose. Ý tưởng này xuất phát từ một thành ngữ dân gian, you campaign in poetry, you govern in prose” (vận đồng bằng thơ, cai trị bằng văn) đã được Mario Cuomo, vốn là thị trưởng New York, biến thành một ẩn dụ chính trị dùng làm tiêu đề tranh cử. Quái! Văn thơ thì dính líu gì đến vận động tranh cử tổng thống? Hillary chẳng phải là nhà văn và Sanders cũng chẳng phải là nhà thơ. Hãy nghe Hillary giải thích: “Như quý vị biết, ta có thể nói tất cả mọi sự ta muốn nói trong khi tranh cử, nhưng một khi bầu cử xong rồi, chúng ta phải cùng nhau làm việc để giải quyết vấn nạn mà đất nước đang gặp phải.” Với một người từng trải trong chính trường, Hillary biết rõ biến những lời hứa hẹn thành hiện thực là một điều rất khó. Khi chưa nắm quyền, người ta có thể hứa hẹn đủ điều, nhưng khi nắm quyền rồi, thực tế không cho phép thực hiện được. Cho nên, bà không hứa hẹn. Bà không muổn chỉ “hô khẩu hiệu” hay “tranh cãi tu từ” mà chỉ muốn đưa ra kế hoạch, muốn giải quyết vấn đề bằng kinh nghiệm và kiến thức.

Thì ra thế! Với Hillary, những chính sách Sanders đề ra trong cuộc tranh cử chỉ là những bài thơ. Thơ thì tùy hứng, tùy thích, muốn gì nói nấy, không cần quan tâm tới chỗ có thực hiện được hay không. Nghĩa là những hứa hẹn vu vơ. Còn bà, bà chỉ quan tâm đến việc thực hiện những gì có thể thực hiện được. Liệu có làm được thì mới đề ra, liệu không làm được thì …thôi. Chẳng thế mà, các bài diễn văn của Hillary nặng về các sáng kiến vàchính sách, nhưng nhẹ về ước mơ. Trong một lần tranh luận, được hỏi về ưu tiên hàng đầu là gì, bà liệt kê một lô các điều cần làm, từ sử dụng điện mặt trời cho đến hạ giá thuốc hay chăm sóc gia đình, vân vân. Theo bà, phe cấp tiến đi tìm vần thơ, trong lúc bà là một người đam mê những điều cần làm để đưa ra quốc hội thông qua, nghĩa làbàchỉmuốn viết văn, thứ văn xuôi, văn tả thực. Hillary cho rằng Sanders hình như tin tưởng rằng ông ta có thể hoàn thành chương trình của ông như một chiếc đũa thần, vung chiếc đũa lên là…mọi chuyện thay đổi, là cách mạng hoàn thành. Đây cũng chính là điều mà bà cáo buộc ứng cử viên trẻ tuổi da đen Obama trước đây. “Lý thuyết không đủ, một tổng thống phải thực tế,” Hillary phát biểu. Bà không quan tâm đến những ý tưởng nghe rất hay trên giấy tờ nhưng không bao giờ thực hiện được. Hillary gọi Sanders là ứng cử viên một-vấn-đề (one-issue candidate); hơn thế nữa, ứng cử viên tưởng tượng (imaginary candidate).

Trong lúc đó, Sanderstập trung, chuyên tâm quãng diễn thế giới quan và viễn kiến của mình, không cần biết đến những trở ngại. Hình ảnh một Sanders tóc tai nhàu nhò, bạc phơ, dáng dấp nghệ sĩ, ăn nói hùng hồn, nhiệt tình trước hàng chục ngàn thanh thiếu niên ngời ngời sức sống, là một bài thơ lớn, đủ sức đánh bạt một Hillary đệ-nhất-phu-nhân-thượng-nghị-sĩ-bộ-trưởng-ngoại-giao.Điều quan trọng không phải là tài hùng biện, nghệ thuật tranh cãi của ông, mà là niềm cảm hứng và sự say mê của những người trẻ đang khát khao sự thay đổi. Thành thử, các luận cứ thực tế mà Hillary nêu ra không dễ dàng đánh đổ được cơn lốc Sanders. Giới trẻ vẫn tìm đến Sanders. Như trước đây giới trẻ tìm đến với Obama, chỉ vì họ tin rằng “Yes, we can.” Họ mơ mộng. Họ thích được vuốt ve bởi niềm hy vọng hơn là những trở ngại trong thực tế.

Dường như dần dần, Hillary đã nhận ra điều đó. Trong những lần vận động về sau, Hillary có thêm vào một ít chất “thơ”: cũng đòi tăng lương tối thiểu lên 12, rồi 15; cũng phê phán giới tài phiệt, phê phán Wall Street…Báo chí gọi là bà bị Sanders đẩy dần sang “tả” (tả khuynh). Và rốt cuộc, bà cũng thắng. Hú hồn! Thực ra, cái cách làm thơ của Hillary chỉ là thứ thơ gượng, chẳng gây nên tác dụng gì đáng kể. Chẳng qua, ngọn lửa Sanders cũng chỉ là lửa rơm. Ông khoái trá với giới trẻ mà quên mất giới già, khoái người da trắng mà quên mất người da màu, khoái mặt nổi mà quên mất bề chìm. Người ta thà ăn cơm nguội mà yên tâm hơn ăn cơm mới, biết đâu đau bụng!  Viết văn dở còn hơn làm thơ hay.

 

 

 

 2

Thực ra, Hillary chẳng hề viết văn.

Còn Sanders thì chẳng muốn làm thơ. Thậm chí, ông quên luôn cả người làm thơ cho mình. Do một tình cờ trong khi đi lục tìm hồ sơ của Sanders tại Burlington tháng 6 năm 2015,  một thông tín viên của tờ Guardian Anh, tìm thấy một bài thơ viết tay có tựa đề là Burlington Snow (Tuyết Burlington).Tác giả là một nhà thơ tên tuổi Hoa Kỳ, Allen Ginsberg.[5] Ginsberg là người Mỹ gốc Do Thái, cũng như Sanders. Bài thơ được viết vào một ngày tuyết phủ tháng 2 năm 1986, khi nhà thơ đến thăm Burlington và thăm người thị trưởng 4 nhiệm kỳ của thành phố này là Sanders. Tuy không hề nhắc đến tên Sanders nhưng rõ ràng là bài thơ được cảm hứng bởi – và gián tiếp ca ngợi – người thị trưởng xã hội chủ nghĩa này. Được phổ biến rộng rãi trên mạng lưới trong thời gian Sanders đi vận động tranh cử, bài thơ đã tăng thêm niềm cảm hứng cho những người yêu thơ và các người ủng hộ Sanders.[6]

Bài thơ tìm thấy quả là một tình cờ lý thú trong cuộc tranh cử năm nay.

 

 3

 

 

                        Socialist snow on the streets

                        Socialist talk in the Maverick bookstore

                        Socialist kids sucking socialist lollipops

                         Socialist poetry in socialist mouths

                         —aren’t the birds frozen socialists?

                        Aren’t the snowclouds blocking the airfield

                        Social Democratic Appearances?

                        Isn’t the socialist sky owned by

                         the socialist sun?

                        Earth itself socialist, forests, rivers, lakes

                        furry mountains, socialist salt

                        in oceans?

                        Isn’t this poem socialist? It doesn’t

                        belong to me anymore.

                        (Tạm dịc: Tuyết xã hội chủ nghĩa trên đường

                        Chuyện trò xã hội chủ nghĩa trong tiệm sách Maverick

                        Những đứa bé xã hội chủ nghĩa mút kẹo xã hội chủ nghĩa

                        Thơ xã hội chủ nghĩa trong những cái miệng xã hội chủ nghĩa         

  • phải chăng những con chim cũng là những nhà xã hội chủ nghĩa lạnh cóng?

Phải chăng những đám tuyết xã hội chủ nghĩa phủ kín phi trường cũng là Những Diện Mạo Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa?

Phải chăng bầu trời xã hội chủ nghĩa cũng được sở hữu bởi mặt trời xã hội chủ nghĩa?

Đất đai chính nó cũng là xã hội chủ nghĩa, rồi rừng, rồi sông, rồi hồ ao, núi rừng rậm rạp, và cả muối trong đại dương cũng xã hội chủ nghĩa

                        Và ngay cả bài thơ này cũng xã hội chủ nghĩa? Nó chẳng còn thuộc về tôi nữa rồi)

            Bài thơ không có gỉ đặc sắc, nhưngtạo khá nhiều ấn tượng vì sự lập đi lập lại nhóm từ “xã hội chủ nghĩa”. Nó không nói đến hình ảnh một thiên đường hay một xã hội hoàn chỉnh, hạnh phúc mà chỉ đưa ra những hình ảnh đầy ước mơ của một xã hội, nơi mà mọi sự vật đều nhuốm màu xã hội chủ nghĩa, từ tuyết trên đường phố cho đến bầu trời, chim chóc, mặt trời…Và kể cả chính bài thơ. Isn’t this poem socialist? It doesn’t belong to me anymore. À, thì ra, xã hội chủ nghĩa có nghĩa là phi-cá nhân! Bài thơ mang hơi hướm của một khôi hài ý nhị.

            Rất nhiều lần, nhìn Sanders hùng hồn thuyết trình về cuộc cách mạng chính trị của ông trước hàng chục ngàn thanh niên sinh viên học sinh lứa tuổi millennials, tôi không khỏi nhớ lại niềm say mê của thế hệ chúng tôi ở Việt Nam thời thập niên 1960. Một số bạn tôi say mê lý tưởng Cộng Sản và tham gia hoạt động. Riêng tôi và nhiều bạn bè khác thì không thích Cộng Sản, nhưng hầu như ai cũng ước mơ một cuộc cách mạng xã hội: bình đẳng, dân tộc, giải phóng, không còn áp bức, bất công, không có kẻ giàu người nghèo…Thực tế cho thấy, trong cả thế kỷ qua, tất cả chỉ là những ước mơ. Cái gọi là xã hội chủ nghĩa chỉ đưa đất nước vào chỗ lạc hậu, áp bức, chiến tranh, nghèo đói. Những tưởng các kinh nghiệm cay đắng từ các nước Cộng Sản   chủ nghĩa xã hộitrôi hẳn vào lãng quên của lịch sử, ấy thế mà ở nước Hoa Kỳđại tư bản vào thế kỷ 21 này, vẫn còn một Sanders hùng hồn hô hào cách mạng xã hội chủ nghĩa và lôi kéo hàng trăm ngàn thanh thiếu niên vào cuộc.Chẳng lẽ ông muốn biến Hoa Kỳ thành một Trung Cộng, Việt Nam? Hay Bắc Hàn, Cu Ba?

Đúng là ông Sanders làm…thơ!

            Nói thơ và văn, nhưng chẳng có bài văn nào cũng chẳng có bài thơ nào. Chỉ là một cái nắp đầy thơ để che đậy một hiện thực văn xuôi xương xóc!

 

 5

                                                                         *

Người và chữ

 

Sau những ồn ào náo nhiệt đua tranh của những người muốn thử sức, bây giờ chỉ còn Trump đối diện với Hillary. Một ông/một bà. Hai ứng cử viên và hai bộ máy tranh cử bắt đầu vận hành. Bây giờ thì không còn văn. Cũng chẳng còn thơ. Mà là một cuộc đấu loại hoành tráng kéo dài đến tháng 11. Chính sách thì đã có. Chiêu bài cũng đã có. Chiêu thức nào sẽ được sử dụng? Những vết đen nào trong tiểu sử cá nhân sẽ bị đem ra soi mói, mổ xẻ? Biến động xảy ra, tạo ảnh hưởng lên cuộc đua?

Riêng tôi, tôi quan tâm đến chữ/nghĩa. Nên để kết luận bài viết, tôi chọn ra một số lời/chữ điển hình mà Trump và Hillary phát biểu trong nhiều dịp khác nhau.

Trump:

  • My life has been about winning. My life has not been about losing.” (Đời tôi chỉ toàn là thành công. Đời tôi không hề thất bại)
  • Part of the beauty of me is that I am very rich.” (Một phần trong cái đẹp ở tôi là tôi rất giàu)
  • We can’t continue to allow China to rape our country” (Chúng ta không thể cho phép Tàu cứ mãi hiếp dâm đất nước chúng ta)
  • With the proper woman you don’t need Viagra” (Với người phụ nữ thích hợp thì bạn không cần đến Viagra)
  • I will build a great wall – and nobody builds walls better than me, believe me – and I’ll build them very inexpensively. I will build a great, great wall on our southern border, and I will make Mexico pay for that wall. Mark my words.” (Tôi sẽ xây một bức tường lớn – tin tôi đi, chẳng ai xây tường giỏi hơn tôi đâu – và tôi sẽ xây chúng giá rất rẻ. Tôi sẽ xây một bức tường lớn, thật lớn trên biên giới phía nam nước ta, và tôi sẽ buộc Mexico phải trả tiền xây tường. Hãy nhớ lời tôi nói.)
  • It’s freezing and snowing in New York – we need global warming!” (Ở New York, trời quá lạnh và tuyết nhiều – chúng ta cần ấm nóng toàn cầu!)
  • I’ve said if Ivanka weren’t my daughter, perhaps I’d be dating her.” (Tôi đã nói là nếu Ivanka mà không phải là con gái tôi, có lẽ tôi sẽ hẹn hò với nàng)

 6

 

 Hillary:

  • Like it or not, women are always subject to criticism if they show too much feeling in public.” (Dù thích hay không, phụ nữ luôn luôn dễ bị phê bình nếu họ bày tỏ quá nhiều xúc cảm giữa chốn công cộng)
  • I have a million ideas. The country can’t afford them all.” (Tôi có cả triệu ý tưởng. (Nhưng) đất nước không thể dung chứa tất cả chúng)
  • The difference between a politician and a statesman is that a politician thinks about the next election while the statesman think about the next generation.” (Sự khác nhau giữa một chính trị gia và một chính khách là chính trị gia thì suy nghĩ về cuộc bầu cử sắp tới trong khi chính khách thì suy nghĩ về thế hệ sắp tới)
  • I think that you can disagree with people and debate over their positions with issues without engaging in the politics of personal destruction.” (Tôi cho rằng bạn có thể không đồng ý với người khác và tranh cãi về các vấn đề họ nêu ra mà không mưu đồ phá hoại cá nhân)
  • If I want to knock a story off the front page, I just change my hairstyle.” (Nếu tôi muốn lấy đi một câu chuyện ra khỏi trang bìa, tôi chỉ cần thay kiểu tóc)
  • Women are the largest untapped reservoir of talent in the world. (Phụ nữ là hồ chứa tài năng lớn nhất chưa khai thác hết của thế giới)
  • Human rights are women’s rights, and women’s rights are human rights.” (Quyền con người là quyền phụ nữ và quyền phụ nữ là quyền con người)
  • I think that if you live long enough, you realize that so much of what happens in life is out of your control, but how you respond to it is in your control. That’s what I try to remember.” (Tôi cho rằng nếu bạn sống đủ lâu, bạn sẽ nhận ra rằng bạn không thể kiểm soát hết rất nhiều điều xảy ra trong cuộc đời của bạn, nhưng bạn có thể kiểm soát được cách mà bạn đối phó với chúng. Đó là điều mà tôi cố nhớ)

Trump: lạ chữ, lạ nghĩa.

Hillary: quen chữ, quen nghĩa. So so!

Người sao chữ vậy! Phải chăng?

 

*

 

 

Cứ bốn năm một lần, người Mỹ lại lấy dao  kéo ra tự giải phẫu chính mình. Khác với tinh thần tốt khoe xấu che thường thấy, Mỹ lại tốt khoe, xấu cũng khoe. Vận động tranh cử y như thể là cái dịp để các ứng cửviên tố cáo chính đất nước mình. Nước Mỹ rốt cuộc, qua tranh cử, là một con bệnh kinh niên. Cái mã ngoài nào là giàu có, văn minh, tân tiến, hùng mạnh, nhân quyền, tự do, dân chủ, vân vân và vân vân, qua miệng của các ứng cử viên, là một đất nước đầy dẫy những điều tiêu cực: bất công, giết người, khoảng cách biệt lớn lao giữa giàu-nghèo, tham nhũng, kinh tế suy thoái, người giàu thìtrốn thuế, kẻ lợi tức thấp lại đóng thuế nhiều…Sự hiện diện của Sanders với hàng trăm ngàn sinh viên học sinh ủng hộ cũng như sự hiện diện của Trump với những chính sách mới lạ, khác thường, cực đoan, cho thấy nước Mỹđang đối diện với những vấn nạn lớn lao. Y như thể nước Mỹ này là một cái gì đang hư hỏng, tan rã. Nó cần một cuộc “cách mạng”: political revolution (Sanders). Nó mất đi tính cách vĩ đại vốn có, nên phải “make America great again” (Trump). Các tầng lớp nhân dân bị ngăn cách, không được hưởng thụ quyền lời đồng đều, cần phải phá vỡ các rào cản: break down all barriers (Hillary).

Ấy thế mà, cái nước Mỹ đó, mới đây, lại vẫn được Putin, con người Nga kiêu ngạo ấy, thừa nhận: Mỹ vẫn là siêu cường.

Cái gì làm Mỹ trở thành một siêu cường? Có lẽ vì nó biết giải phẫu chính mình.

Nó biết mình là một con bệnh. Luôn luôn có bệnh. Nhà nước là một con bệnh. Đảng phái là một con bệnh. Không ai là hào quang của ai. Không ai là anh hùng của ai. Không ai là sự nghiệp của ai. Không ai là thần thánh của ai. Không ai phải nợ ai. Không ai phải biết ơn ai. Không có cái gì làđúng, sai vĩnh viễn.

Vâng, Mỹ là siêu cường.

Một siêu cường bệnh hoạn!

 

 

Trần Hữu Thục

(6/2016)

[1]Words  and Reality in Societal Life, Nikolai Alexandrovich Berdyaev (1874-1948).

  Xem: http://www.berdyaev.com/berdiaev/berd_lib/1915_206.html

[2]Tracking the language of public figures/Kayla N. Jordan and James W. Pennebaker, University of Texas at Austin.

Xem: https://wordwatchers.wordpress.com/

[3] Bđd

[4]Donald Trump’s language could win him the presidency, Daily Mail, Jun 25, 2016
  Xem: http://www.dailymail.co.uk/sciencetech/article-3502925/Donald-Trump-s-language-win-presidency-Candidates-use-emotional-words-votes-times-crisis.html

[5]Allen Ginsberg (1926-1997), thủ lãnh của phong trào Thế hệ Beat (Beat Generation) Hoa Kỳ, tác gia bài thơ nổi tiếng “Howl” (Tiếng tru).

[6]Allen Ginsberg’s Handwritten Poem For Bernie Sanders, “Burlington Snow” (1986), trang mạng Openculture.

   Xem: http://www.openculture.com/2015/07/allen-ginsbergs-handwritten-poem-for-bernie-sanders-burlington-snow-1986.html

CatLuoi

“Quyền lịch sử” của Trung Cộng trên Biển Đông là quyền gì?

 

Trong vài ngày qua từ các trang mạng xã hội, diễn đàn, cho đến các tầng lớp, thế hệ Việt Nam trong cũng như ngoài nước, một luồng sóng cảm tình dành cho Philippines tràn ngập, nhiều hơn cả khi quốc gia này bị cơn bão Yolanda càn quét cách đây ba năm. Đây là một tình cảm rất tự nhiên giữa những người cùng số phận nhỏ nhoi nhưng phải đương đầu với một Trung Cộng to lớn và đầy tham vọng.

 

Ủng hộ Philippines không có nghĩa ủng hộ chủ quyền của Phi trên các đảo Philippines đòi hỏi mà là ủng hộ một nước dân chủ nhưng sức yếu chống lại một Trung Cộng bá quyền bành trướng.

 

Phán quyết của Tòa án Trọng tài Thường trực (Permanent Court of Arbitration, PCA) không có nghĩa sẽ làm ngưng tranh chấp và phần thắng chỉ thuộc về  Philippines vì rất nhiều quốc gia trong vùng có quyền lợi trực tiếp nhưng chưa chọn cách giải quyết tranh chấp qua phương pháp trọng tài.

 

Ý nghĩa quan trọng trong phán quyết là quốc tế hóa được cuộc tranh chấp, tạo khả năng mặc cả đa phương giữa các bên liên hệ trước một hội nghị hay trước tổ chức trọng tài quốc tế, giới hạn chiếc bẫy “thảo luận song phương” chỉ nhằm “câu giờ” của Trung Cộng.

 

Với những quốc gia chủ trương quốc tế hóa Biển Đông, chiến thắng của Philippines mở ra cánh cửa đàm phán xa hơn về quyền lợi và trách nhiệm một cách bình đẳng giữa các nước trong vùng.

 

Với các cường quốc Mỹ, Nhật, chiến thắng của Philippines giúp cho họ thêm lý do quốc tế để can thiệp cụ thể và tích cực hơn trong tranh chấp.

 

Một cái tát của PCA chỉ nhắm vào mặt Trung Cộng thôi, đó là việc phủ nhận quan điểm “quyền lịch sử”, lý luận cốt tủy mà Trung Cộng dùng để biện hộ cho “đường lưỡi bò” trên Biển Đông.

 

Như chúng ta đều biết, trong hầu hết các văn bản, tuyên bố, phát biểu, các lãnh đạo Trung Cộng luôn nhắc tới nhắc lui câu “quyền lịch sử của Trung Quốc” để cho rằng 90% của Biển Đông vốn thuộc về Trung Quốc không phải hôm nay mà từ hai ngàn năm trước.

 

Nhưng tòa phán: Toà nhận thấy dù trong lịch sử, những người đi biển, ngư dân từ Trung Quốc và các nước khác đã sử dụng các đảo tại Biển Đông nhưng không có bất kỳ bằng chứng nào cho thấy về mặt lịch sử Trung Quốc đã chỉ một mình thực hiện việc kiểm soát vùng nước này cũng như tài nguyên tại đây. Vì vậy, Toà kết luận không có cơ sở pháp lý để Trung Quốc yêu sách quyền lịch sử đối với tài nguyên tại các vùng biển phía bên trong “đường 9 đoạn“.

 

Đặng Tiểu Bình và “quyền lịch sử”

 

Vào thập niên 1960, Đặng Tiểu Bình là trưởng phái đoàn đại diện Trung Cộng trong đàm phán với Liên Xô về chủ quyền của các đảo Trân Bảo, Ẩn Long và Hắc Hạt Tử trong khu vực sông Ussuri. Khi có phiên họp, phái đoàn họ Đặng không chỉ mang theo giấy tờ tài liệu mà còn chở theo nhiều toa xe lửa chứa đầy sách vở và đồ vật để chứng minh “quyền lịch sử” của Trung Quốc trên các đảo này.

 

Trung Quốc vốn là một nước đông dân, diện tích rộng, có nền văn minh phát triển sớm, có chiều dài lịch sử mấy ngàn năm, do đó, việc tổ tiên họ đã từng đến, từng đi đánh cá, từng đặt chân một đôi ngày, từng mô tả trong văn chương thơ phú về các hòn đảo đó thì cũng không có gì là đáng ngạc nhiên. Những tài liệu phía Đặng Tiểu Bình đưa ra hay vật dụng họ góp nhặt được dù bao nhiêu cũng không thuyết phục Liên Xô hay chứng minh những đảo đó thuộc chủ quyền của Trung Quốc.  Dĩ nhiên hai đàn anh CS không đưa tranh chấp ra PCA như ngày nay.

 

Sau hơn 20 năm vừa đánh vừa đàm, một hiệp ước biên giới Liên Xô – Hoa đã được ký kết lần đầu vào tháng 10 năm 1991, lần nữa vào tháng 10 năm 2004 với Nga và lần cuối cùng vào tháng 7, 2008 cũng với Nga. Cả Trung Cộng lẫn Nga đều biết, lý do chính của xung đột trước đây không phải là lãnh thổ mà là sự tranh chấp quyền lực của hai nước cộng sản đàn anh trong phong trào cộng sản quốc tế. Khi Liên Xô sắp sụp đổ, chủ quyền trên các đảo vốn không chứng tỏ một tiềm năng kinh tế nào không còn là yếu tố quan trọng để giằng co, tranh chấp nữa. Cái gọi là “quyền lịch sử” không đóng vai trò gì trong hiệp ước biên giới giữa Liên Xô và sau đó là Nga với Trung Cộng.

 

Tân Hoa Xã giải thích “quyền lịch sử

 

Theo báo Time, hôm 12 tháng 7 vừa qua, các đài truyền hình Trung Cộng cho chiếu một số tranh hoạt họa của Tân Hoa Xã như là cách để giải thích cái gọi là “quyền lịch sử” của Trung Cộng trên Biển Đông.

 

Một trong số tranh hoạt họa là mẫu đối thoại ngắn giữa ba con thú đại diện cho ba thành phần trong vụ kiện. Một con cáo đại diện cho PCA, một con khỉ tí hon đại diện cho Philippines và con Panda dễ thương đại diện cho Trung Cộng. Con Panda trả lời câu hỏi tại sao Trung Cộng có “quyền lịch sử”, bởi vì “chúng tôi đã giong buồm và đánh cá trên biển Nam Trung Hoa ngay cả trước khi Chúa Jesus ra đời”.

 

Việc cho rằng người dân Trung Hoa đã từng “giong buồm và đánh cá” nên Biển Đông thuộc Trung Cộng nghe phi lý đến mức buồn cười; tuy nhiên, đây lại là lý luận chiến lược mà Trung Cộng áp dụng trong đàm phán biên giới từ ngày lập quốc CS năm 1949 tới nay.

 

“Quyền lịch sử”  dưới mắt  Hitler và các lãnh đạo Trung Cộng

 

Đối với quốc tế, “quyền lịch sử” của Trung Cộng đúng như PCA phán quyết không có giá trị gì nhưng với không ít dân Trung Cộng bị tuyên truyền tẩy não, đó lại là quyền “thiêng liêng, bất khả xâm phạm”.

 

Quan điểm cực đoan Đại Hán này là sản phẩm của bộ máy tuyên truyền bắt đầu từ thời Đặng Tiểu Bình và nâng lên thành “Giấc Mơ Trung Quốc” dưới thời Tập Cận Bình.  Họ Đặng và nay họ Tập cho rằng Trung Cộng không chủ trương xâm lược quốc gia nào hay dân tộc nào mà chỉ thu hồi lãnh thổ và lãnh hải vốn thuộc Trung Quốc.

 

Lý luận ngụy biện và điên cuồng này là bản sao quan điểm của Hitler đã dùng để khai mào cho Thế chiến Thứ Hai khi y cho rằng Đức chỉ nhằm “phục hồi những lãnh thổ vốn thuộc về Đức nhiều thế kỷ”.

 

Tương tự, khẩu hiệu “100 năm sỉ nhục” được các lãnh đạo Trung Cộng dùng làm củi để đun lò lửa dân tộc cực đoan tại Trung Cộng cũng không khác gì lời lẽ Hitler đã viết về hiệp ước Versailles trong Mein Kampf: “Mỗi điểm của hiệp ước đã ghi sâu vào ý thức và con tim của dân tộc Đức và đốt cháy họ cho đến khi tâm hồn của sáu chục triệu dân bùng lên ngọn lửa công phẩn và nhục nhã”.

 

 

Như vừa viết ở trên, ngay cả việc người dân Trung Hoa hai ngàn năm trước đã thật sự có giong buồm trên Biển Đông, có ghé Hoàng Sa, Trường Sa vài hôm để bắt yến, tức cảnh sinh tình hạ bút vài câu thơ và được đời sau ghi chép lại cũng không thể cho rằng Hoàng Sa, Trường Sa thuộc quyền lịch sử của Trung Cộng.

 

Lịch sử thế giới để lại vô số tài liệu của các nhà thám hiểm, thăm dò, kể cả dấu tích của đoàn viễn chinh lừng danh Viking do Leif Erikson chỉ huy từng khám phá ra Bắc Mỹ vào thế kỷ 11 trước Christopher Columbus vào thế kỷ 15, nhưng không tổ chức quốc tế nào căn cứ vào các tài liệu lưu trữ để cho rằng chủ quyền biển đảo của một quốc gia phát xuất từ người đã thăm dò, thám hiểm hay khám phá ra vùng đất đó.

 

Một lãnh thổ, đất hay đảo, của một quốc gia phải là lãnh thổ được phát hiện, chiếm hữu, điều hành trong hòa bình, có tính pháp lý, đơn vị hành chánh chính thức, được ghi lại trong bản đồ của quốc gia đó và được quốc tế công nhận chứ không phải cưỡng chiếm bằng võ lực như Trung Cộng đã làm đối với Philippines và Việt Nam.

 

Tập Cận Bình, kẻ nuôi cọp đang lo cọp sẽ ăn thịt mình, do đó, không lạ gì trong thời gian ngắn tới đây, y vẫn sẽ tuyên bố hung hăng kể cả những hành động gây hấn với các nước láng giềng để xoa dịu lò lửa cực đoan Đại Hán tại lục địa nhưng chính y cũng biết gió đã đổi chiều.

 

“Quyền lịch sử” của Trung Cộng về chủ quyền trên Biển Đông thực chất chỉ là quyền ăn cướp.

 

Trần Trung Đạo

ca

Không Đánh Người Chạy Lại

 

Nhã Nam

 

 

Ngày 30 tháng 6, bộ trưởng chủ nhiệm văn phòng chính phủ Mai Tiến Dũng trong cuộc họp báo đã đọc bản thông báo chung, cho biết , nhà máy thép Formosa đã nhận lỗi trước người dân Việt Nam, ngoài 500 triệu đô la, còn đưa ra 5 cam kết về bồi thường, hổ trợ, nên chính phủ có chính sách thể hiện lòng nhân của chế độ qua khoan hồng, độ lượng, đánh kẻ chạy đi chứ không đánh người chạy lại, mà không truy tố v.v…..

Theo bản tuyên bố trên, Mai Tiến Dũng có nhắc đến lòng nhân của chế độ (không là lòng nhân của dân tộc) đối với Formosa, theo tôi hơi muộn, vì lòng nhân này đã được thể hiện ra sớm trước đây rồi :

Vào ngày 12 tháng 06 năm 2008 phó chủ tịch tỉnh Hà Tỉnh Võ Kim Cự đã ký giấy cho thuê khu đất với giá rẻ mạt để thành lập nhà máy thép Formosa của Đài loan, trong đó có cổ phần của trung cộng, rồi thay vì thời hạn 50 năm, đã ưu ái cho phép đến 70 năm và sau đó, thứ trưởng tài nguyên – môi trường còn cho phép đặt ống thải ngầm dưới đáy biển để xã chất thải vô tội vạ. Đây là nguyên nhân chính cho tai họa của hôm nay.

Ba tháng trước đó, ai cũng biết, chất thải của Formosa đã gây lên thảm họa, cá chết trắng bờ  từ bờ biển Hà Tỉnh,Quảng Bình, quảng Trị và cho đến Thừa Thiên, Huế, thế nhưng vì lòng nhân của chế độ, để gián tiếp chạy tội dùm cho Formosa, họ đã đưa lên những luận điệu rẻ tiền để cho thấy, tác nhân tạo ra môi trường biển bị ô nhiễm không do Formosa, qua ý kiến của tiến sĩ Nguyễn Tác An, cá  chết ở biển Việt Nam là do già yếu (!), là do người dân đại, tiểu tiện nhiều xuống biển,  và nhất là trong cuộc họp báo, thứ trưởng tài nguyên – môi trường Vũ Tuấn Nhân đã tuyên bố, là do thủy triều đỏ…..và để minh chứng môi trường biển bị ô nhiễm không phải là điều đáng lo âu qua việc, phó chủ tịch Hà Tỉnh Đặng Ngọc Sơn cùng một số nhân viên của tỉnh đã bày ra trò hề ấu trỉ, xuống tắm biển và ăn cá biển tại chỗ để chứng tỏ cho người dân thấy tắm biển và ăn cá biển tại đó vẫn còn an toàn.

Trước luận điệu bao che cùng với trò hề ấu trỉ, tắm biển và ăn cá biển vô liêm sỉ đó đã khiến người dân phẩn nộ. Sự phẩn nộ này được người dân, đa số là giới trẻ thể hiện qua, đã cùng nhau xuống đường khắp nơi, nhất là tại các thành phố Hà Nội, Sài Gòn và Đà Nẵng trong những ngày của ba tuần lễ đầu tháng năm, đòi hỏi các giới chức thẩm quyền liên hệ phải cho biết rõ ràng và minh bạch, tác nhân nào là nguyên nhân đã gây ra thảm họa , cá chết trắng bờ này.

Thì lại một lần nữa, chính quyền lại tỏ lòng khoan dung của chế độ cho Formosa, bằng cách dùng lực lượng côn đồ công an: còn đảng, còn mình, đã thẳng tay đàn áp, bắt bớ và đánh đập một cách thô bạo mà không cần biết đến đến già, trẻ,lớn  bé gì cả.

Thảm họa của ô nhiễm môi trường biển của bốn tỉnh miền Trung, chỉ đơn cử một vài điển hình, ai cũng biết, thiệt hại rất lớn, trước mắt cũng như  lâu dài:

  • Hàng triệu ngư dân tại bốn tỉnh miền Trung đang gặp khó khăn về cuộc sống

vì mất nghề đang sinh sống và không biết khi nào mới trở lại được nghề cha truyền, con nối của mình

  • Về ngành du lịch.
  • Rất lớn về ngành xuất cảng thủy sản.
  • Môi trường biển, nếu được làm sạch ,và để được phục hồi lại như cũ,phải

cần thời gian ít nhất là 50 năm.

Với thiệt hại trầm trọng như vậy, đúng ra cộng sản Hà nội phải ra lệnh tạm ngưng hoạt động của nhà máy, điều tra nguyên nhân tạo ra biến cố ô nhiểm để từ đó thẩm định thiệt hại về cuộc sống của hàng triệu người dân trong bốn tỉnh miền Trung và môi trường ,và nếu vi phạm sẽ đưa ra tòa. Thế nhưng, cộng sản Hà Nội lại dễ dàng chấp nhận, sẽ không truy tố, khi nhận 500 triệu đô la, thay vì hàng chục tỉ ( 19) tỉ đô la, như BP đã bồi thường cho vụ chảy dầu trên vịnh Mễ Tây Cơ năm 2008 trước đây, cùng với 5 cam kết.

Qua sự quyết định trên, chúng ta thấy, cộng sản Hà Nội đã không vì quyền lợi của tổ quốc, của dân tộc, mà chỉ vì quyền lợi của phe nhóm của họ mà thôi. Nếu tình trạng này kéo dài, đất nước sẽ đi về đâu?

Để đấu tranh chấm dứt tình trạng trên,người dân trong nước ( người Việt hải ngoại), đa số là giới trẻ , (như trong lần phát biểu với giới trẻ của tổng thống Obama trước đây, ông nói, giới trẻ việt Nam chiếm 70% dân số nên tương lai, vận mệnh của đất nước nằm trong tay các bạn), trong nhiều năm qua trước đây, các bạn đã cùng với người dân dấn thân để lên tiếng đòi hỏi thay đổi cơ chế độc đảng toàn trị bằng cơ chế đa nguyên, đa đảng nhưng không quan tâm nhiều đến thay thế chế độ, dưới nhiều hình thức khác nhau: bằng thỉnh nguyện thư, bằng báo chí lề trái, bằng xuống đường ôn hòa,bất bạo động v.v….. Nhưng các bạn đã nhận được gì ở chế độ ? Chẳng những không lắng tai nghe, chế độ Hà Nội đã đàn áp tàn bạo, trù dập, bắt bớ, bỏ tù……..Do đó, lúc này các bạn có nghĩ, thời điểm đã đúng chưa để tiến thêm một bước, như câu nói của Yersin trước đây: cộng sản không thể thay đổi, chỉ thay thế ?

Một số hình ảnh trong buổi sinh hoạt:

 

ThuMoi

Picture 248

Picture 248

BÃO VỀ

 

 

Dọn dẹp tang thương một buổi sáng
Mưa giông về phố
Đêm kinh hoàng in vết
Bức tranh dang dở
Môi buồn phủ lấp
lệ thù
Bước xuống bậc tam cấp là con đường trải kẽm gai
Nhuộm tràm
Bàn tay chặn những hân hoan
Bàn chân bước những bàn chân uất nghẹn
Một buổi sáng rã rời thèm lời nói từ môi người tha thiết
Không phải tiếng của loài dã thú
Hô những câu vang vang tanh mùi phủ dụ
Tanh mùi chết chóc
Lạc giữa thành phố từng bầy côn trùng láo liên thèm khát
Từng bàn tay kiệt quệ
Từng trái tim đập nhịp đau thương
Sáng dọn dẹp nỗi buồn
Của mấy ngàn năm gộp lại
Của giống nòi cắn xé giống nòi
Bức tranh căng những dấu đinh tươi máu
Cậu trẻ gục bên đường ôm khẩu hiệu tự do
Một ngày tiên liệu bão về …

 
Chiêu Anh Nguyễn
10-07-2016

HoaVang

HOA VÀNG TRƯỚC MẶT

 

 

Xin được nhặt những tình sầu trên gió

Thả bay đi cho ngào ngọt bay về

Chút mây hồng theo mãi bóng trăng khuya

Tìm ánh sáng thiên đường kia muôn sắc

 

Là thi sĩ nhiều khi cũng trầm mặc

Lúc tim đau máu lệ vẫn vui cười

Yêu trần gian và yêu cả đất trời

Cho bóng tối sớm lui về quá khứ

 

Em có thấy những ân tình ẩn dụ

Chốn tử sinh năm tháng nặng duyên hờ

Ta cần gì trong câu hát lời thơ

Mong con chữ mang ân dài nghiã rộng

 

Viết cho em những ưu tư rất mỏng

Cuộc đời này đầy thao thức trở trăn

Chốn nhân gian bàng bạc ước mơ thầm

Những ngày mới có hoa vàng trước mặt.

 

 

 

Hoa Văn

 

 

 

 

CHÀO CUỘC ĐỜI

 

 

Sáng nay thức dậy chào hoa bướm

Chào mặt trời lên chào một ngày

Đông tới hay Thu buồn vẫn đó

Lá bâng khuâng thức ngủ còn say

 

Chim vẫn hót nghe vàng mặt đá

Lửa bình minh rực sáng đường đi

Thơ chưa cạn ý từ trong vắt

Lòng nhủ lòng ôm giọt nắng chia

 

Năm tháng qua đi hằn dấu mặt

Trái tim xanh vọng tiếng ngàn đời

Tình vẫn đẹp giữa lòng nhân ái

Bên tiếng ca vang cát bụi phơi

 

Sáng nay thức dậy chào hoa bướm

Chào mặt trời cao chào cuộc đời

Tình cũng trăm năm tròn nỗi nhớ

Bình minh về vẫy gọi niềm vui.

 

 

 

Hoa Văn

 

 

 

 

THU VỀ BƯỚC MỎI

 

 

Đời có biết bao nhiêu là dấu hỏi

Trên đường đi mòn mỏi với thời gian

Lữ khách ơi! vàng đá cũng phai tàn

Đi đi mãi Thu về chân bước mỏi

 

Chiều xuống núi kể lể gì mây khói

Gió đong đưa cho lá rụng qua bờ

Người tìm gì trong tiếng nhạc lời thơ

Nắng chẳng còn lâu mưa sầu ngập lối

 

Lữ khách cùng ta đường đời lầy lội

Tự xa xưa và mãi mãi sau này

Hạnh phúc nào cho nét đẹp trên tay

Hãy giữ trọn đừng rơi vào bất hạnh

 

Mỗi bước đi dù hoa tàn nguyệt lạnh

Nụ cười hồng chất ngất bóng yêu thương

Người và ta thôi nhớ những đoạn trường

Dẫu đời sống chỉ toàn là dấu hỏi????

 


Hoa Văn

 

 

 

TÌNH YÊU LÀ BẤT TẬN

 

 

Cuộc rong chơi nghe chừng gần tới đích

Chốn văn chương mấy thuở lá hoa vàng

Nỗi buồn nào cũng có nắng hân hoan

Và vui nào cũng bay vào cửa gió

 

Là thi nhân tâm hồn thường bỏ ngỏ

Ý thơ ngoan có lúc cũng cạn cùng

Ngọn đèn khuya  chữ lệ cũng rưng rưng

Nụ cười nhỏ vẫn thơm nồng bóng nghĩa

 

Lối yêu thương bước đi tình thấm thía

Gọi tên em lòng hoang phế ngại ngần

Bóng chiều nghiêng bên dòng mực phân vân

Trên trang giấy cũng ân cần gạn lọc

 

Hoa Văn

Me2

KHU VƯỜN THƠ ẤU

 

Con trở lại thăm khu vườn thơ ấu

Thuở mẹ còn… sàng gạo dưới vầng trăng

Con khát sữa ngồi khóc bên bờ giậu

Mẹ mỉm cười sương rụng trắng vườn khuya

 

Con còn nhớ dưới hàng cau lá thấp

Cây đào nghiêng, giàn mướp, giậu mồng tơi

Con theo mẹ nhặt rau, gôm quả chin

Lưng mẹ còng vóc hạc nắng chiều soi

 

Con lớn lên theo tiếng chày giã gạo

Bên giọng hò xứ Quảng mẹ à ơi!

Bên trang vở ê- a màu mực tím

Tuổi thơ con chập chững bước vào đời

 

Rồi binh lửa lan tràn qua làng Bưởi

Khoác chinh y con vội vã lên đường

Chiều cuối Hạ mẹ bỏ làng di tản

Hàng cau xanh cháy đỏ lệ mẹ tuông!

 

Hai mươi năm trên bước đường luân lạc

Quảng đường dài con giấu một niềm tin…

Trong tâm tưởng con giấu từng nỗi nhớ

Bóng mẹ hiền con giấu giữa buồng tim.

 

Trong đáy mắt con chứa niềm u uẩn

Cánh tay gầy con hái nụ đau thương

Môi khô cằn con gọi tên đất nước

Hồn thơ con chuyên chở bóng cố hương.

 

Con trở lại khu vườn tìm dấu tích

Mẹ chẳng còn… quét lá cuối sân xưa

Chỉ còn lại giây trầu, mồng tơi úa

Giữa nắng vàng con ngỡ đúng trong mưa.

 

 

Đỗ Vĩnh Khanh

 

 

 

 

 

TÂM SỰ NGƯỜI LÍNH GIÀ

 

 

Mầy ỏ lại bên dòng u uất sử

Tao cúi đầu từ tạ mẹ ra đi

Đêm hãi hùng mắt lệ nhòa sương biển…

Biển trùng trùng sóng hát khúc biệt ly

 

Mầy ở đó ngày dài hơn thế kỷ

Đếm đau thương trên mỗi ngón tay gầy

Trong ngục tối cắn vành môi rớm máu

Hô muôn năm một chủ nghĩa…đọa dày!

 

Tao lạc dấu đường biên cương vời vợi

Gió sông hồ lạnh lạnh thổi xa xa

Mãi khoắc khoải một quê hương bỏ lại

Núi đồi mây nơi có nắng mưa sa.

 

Mầy thường nhắc bước chân thời ly loạn

Đạp non cao, cỏ biếc giữ sông hồ

Áo trận sờn vai, đôi giày vẹt gót

Tắm sương trời cùng đắp áo poncho.

 

Rồi một chiều nơi chiến trường Núi Đất

Mầy bị thương lúc tin mất sơn hà

Tao cõng mầy xiêu xiêu trời trở bấc

Máu của mầy nhuộm đỏ mảnh tàn y

 

Vào y viện xem mầy không quyền sống

Vết thương mầy máu chảy đỏ đường quê

Vợ mày xé chiếc áo dài ngày cưới

Băng cho mầy nước mắt chảy dầm dề

 

Bốn mươi năm tao quen đời thua thiêt

Dĩ vãng kia cứ mãi quắt quay về

Câu ca cũ ru mầy giấc hôn mê

Ngôn ngữ mù lòa, dòng thơ man rợ.

 

 

 

Đỗ Vĩnh Khanh

TRANH TRONG NGÀY

 

Cheo1

CHÈOsơn dầu trên canvas 43″ x 51″ – Bùi Suối Hoa

Suy nghĩ bên đèn đỏ ở Nara

NhatBan

 

 

 

Hai tuần trước trên đường từ cố đô Nara về lại Kyoto, chiếc xe bus du lịch dừng trước đèn đỏ của một ngã tư. Một toán học sinh Nhật khoảng lớp sáu hay lớp bảy băng qua đường. Nhật Bản đang vào mùa hè và học sinh còn nghỉ học nhưng các em hình như đang trở về từ một sinh hoạt tập thể nên đều mặc đồng phục áo trắng quần xanh.

 

Đèn bắt đầu chớp. Ba em cuối cùng trong toán cố vượt theo bạn dù tiếng chuông trên trụ đèn đã báo sắp hết giờ dành cho người đi bộ. Dĩ nhiên xe bus tiếp tục dừng để các em đi qua hết. Ba em cuối cùng băng nhanh qua đường nhưng thay vì chạy theo cùng các bạn, các em dừng lại, sắp hàng ngang nghiêm chỉnh hướng về phía xe bus và cúi gập người xuống để xin lỗi và cám ơn anh tài xế.

 

Nhìn học sinh Nhật, người viết chợt nhớ thế hệ mình ngày xưa. Học trò miền Nam được dạy không chỉ cúi đầu thôi mà còn vòng tay để chào, cám ơn hay xin lỗi các bậc trưởng thượng. Trên đường, khi gặp một đám tang đi qua, chúng tôi được dạy phải đứng nghiêm trang và dở mũ xuống nếu đội mũ, cúi đầu kính tiễn biệt người quá cố cho đến khi xe tang qua hẳn mới tiếp tục đi. Khi thầy hay cô vào lớp, chúng tôi được dạy cả lớp phải đứng dậy chào và chờ cho đến khi thầy hay cô ngồi xuống, chúng tôi mới được ngồi. Khi có người lớn tuổi đến nhà, chúng tôi được dạy phải vòng tay cúi chào thưa theo đúng thứ bậc so với cha hay so với mẹ. Dù đang đi đâu, khi nghe tiếng Quốc Ca cất lên, từ một trại lính hay một công sở nào đó, chúng tôi được dạy phải đứng lại nghiêm chỉnh để chào cho đến khi bài Quốc Ca chấm dứt. Mỗi sáng thứ Hai trên bảng đen trong lớp học bao giờ cũng bắt đầu bằng một câu châm ngôn đầu tuần thắm đậm tình dân tộc như “uống nước nhớ nguồn”, “ăn trái nhớ kẻ trồng cây” hay tương tự và chúng tôi được dạy phải dành vài phút đầu tuần để học về ý nghĩa của câu châm ngôn đó. Trong giờ Công Dân Giáo Dục, chúng tôi được dạy trung thành với tổ quốc Việt Nam chứ không phải với riêng một đảng phái nào. Trên tường của trường Trần Quý Cáp ở Hội An nơi người viết học và hầu hết trường trung học, tiểu học ở miền Nam đều có hàng chữ chạy dài “Ngày nay học tập, ngày mai giúp đời”. Và rất nhiều lễ nghi, phép tắc đạo lý đáng quý, đáng giữ gìn khác.

 

Hôm trước, Nguyễn Hồng Quốc, một bạn học lớp đệ Tam (lớp 10) ở Trung Học Trần Quý Cáp kể lại trên Facebook “Qua Trần trung Đạo mình có được thông tin về thầy Phan đình Trừng sau 44 năm không gặp , thầy dạy sử và công dân mình thời trung học đệ nhị cấp ,thầy có giọng nói hùng hồn đầy tự tin nghe thầy giảng bài thật thú vị … năm đệ Tam vào giờ công dân thầy kêu mình lên dò bài , thầy đặt trên bàn lá Quốc kỳ thầy bắt mình tay phải đặt lên lá cờ, tay trái đặt lên ngực đọc lời tuyên thệ “Tôi là công dân VNCH nguyện tuyệt đối trung thành với Tổ quốc Xin thề. Xin thề” Mình đọc thật to và dõng dạt được thầy cho 20 điểm trên 20 … Thấm thoát đã 44 năm rồi từ một đứa học trò hồn nhiên vô tư ngày nào giờ đây tóc đã hoa râm“.

 

Câu chuyện rất bình thường của 44 năm trước nhưng kể lại cho các thế hệ hôm nay nghe giống như chuyện cổ tích.

 

Miền Nam phải chịu đựng chiến tranh và tàn phá nhưng vẫn cố gắng hết sức để duy trì và phát huy các giá trị nhân bản trong chừng mực còn phát huy được. Từ những hố hầm bom đạn, bông hoa tự do dân chủ vẫn cố nở ra, vẫn cố vươn lên. Nhựa nguyên nuôi dưỡng thân cây non đó là Hiến pháp VNCH.

 

Hiến pháp VNCH do chủ tịch Quốc hội Lập hiến Phan Khắc Sửu ký ngày 18 tháng 3 năm 1967 ghi rõ: “Ý thức rằng sau bao năm ngoại thuộc, kế đến lãnh thổ qua phân, độc tài và chiến tranh, dân tộc Việt Nam phải lãnh lấy sứ mạng lịch sử, tiếp nối ý chí tự cường, đồng thời đón nhận những tư tưởng tiến bộ để thiết lập một chánh thể cộng hoà của dân, do dân và vì dân, nhằm mục đích đoàn kết dân tộc, thống nhất lãnh thổ, bảo đảm Độc lập Tự do Dân chủ trong công bằng, bác ái cho các thế hệ hiện tại và mai sau.”

 

Những yếu tố nào làm cho người Nhật ngày nay đươc nhân loại khắp năm châu kính nể?

 

Câu trả lời dễ dàng và nhanh chóng mà ai cũng có thể đáp là nhờ nền tảng văn hóa Nhật. Thật ra câu trả lời đó chỉ đúng một phần. Nền văn hóa của một đất nước chỉ xứng đáng được kính trọng khi nền văn hóa đó không chỉ là kết tụ giá trị văn hóa riêng của dân tộc mà còn phải phù hợp với giá trị văn minh chung của thời đại.

 

Không ai phủ nhận Đức là quốc gia có nền văn hóa cao nhất tại Châu Âu. Trước năm 1945, Đức là một trong ba quốc gia được nhiều giải Nobel nhất. Bao nhiêu triết gia, khoa học gia, văn sĩ, thi sĩ nổi tiếng thế giới đã sinh ra ở Đức. Nhưng chế độ Quốc Xã Hitler do chính nhân dân Đức bầu lên lại là một trong vài kẻ giết người tàn bạo nhất trong lịch sử loài người và chà đạp lên mọi giá trị văn minh của nhân loại.

 

Nhật Bản trước năm 1945 cũng vậy. Nhật Bản có giá trị văn hóa cao, một dân tộc có kỹ luật nghiêm khắc nhưng không phải là một nước văn minh nhân bản. Bước chân của đạo quân Nhật đi qua cũng để lại những điêu tàn, thảm khốc từ Mãn Châu, sang Triều Tiên, xuống Mã Lai, Singapore, Việt Nam không khác gì vó ngựa của đạo quân Mông Cổ đi qua trong nhiều trăm năm trước. Cơ quan mật vụ Nhật tại Singapore tàn sát khoảng 50 ngàn người dân Singapore một cách không phân biệt. Chính sách đồng hóa thay tên đổi họ đối với Triều Tiên là một bằng chứng tội ác khó quên. Nạn đói tại Việt Nam năm 1945 với hàng triệu đồng bào miền Bắc chết thảm thương một phần là do chính sách ác độc tịch thu thóc để nuôi ngựa của quân đội Nhật.

 

Do đó, câu trả lời chính xác, chính hiến pháp dân chủ 1946 đã làm cho nước Nhật hoàn toàn thay đổi, giúp cho người Nhật biết kính trọng con người, không chỉ riêng con người Nhật như trước đây, và tôn trọng luật pháp mà chính họ đặt ra.

 

Phần nhập đề của Hiến Pháp 1946 khẳng định chính phủ do dân và vì dân của Nhật Bản sẽ hợp tác hòa bình với tất cả các quốc gia trên thế giới trong ánh sáng tự do dân chủ, đặt chủ quyền của nhân dân làm căn bản cho hiến pháp và kính trọng sâu sắc của Nhât về quyền của con người được sống trong tự do và không sợ hãi. Tóm lại, cơ chế chính trị thời đại chuyên chở trong Hiến Pháp Nhật 1946 hội nhập hài hòa với văn hóa Nhật và làm cho dân tộc Nhật khác đi trong nhãn quan thế giới.

 

Việt Nam cần thay đổi gì?

 

Con thuyền Việt Nam đang phải chở một cơ chế chính trị độc tài, lạc hậu về mọi mặt so với đà tiến của văn minh nhân loại, một nền giáo dục hủy diệt mọi khả năng sáng tạo, một xã hội tham nhũng thối nát trong đó giới lãnh đạo thờ ơ trước đòi hỏi bức thiết của nhân dân và nhân dân không có niềm tin nơi giới lãnh đạo.

 

Việt Nam cần thay đổi. Ai cũng có thể đồng ý như vậy, nhưng thay đổi gì trước? Đổi mới kinh tế? Cải cách giáo dục? Chống tham nhũng? Nới lỏng chính trị? Không. Một mảnh ván, một lớp sơn không làm chiếc thuyền chạy nhanh hơn.

 

Như người viết đã viết trong bài trước, những hiện tượng bất nhân, độc ác giữa người và người đang thấy tại Việt Nam chỉ là quả chứ không phải là cây và do đó hái dăm trái thối hay thậm chí hái hết trái trên cây đi nữa sang mùa khác chúng sẽ được sinh ra. Tội ác sẽ không bao giờ xóa được khi các nguyên nhân gây ra tội ác vẫn còn tồn tại.

 

Và nguyên nhân chính của mọi thảm trạng trên đất nước ngày nay là cơ chế độc tài CS. Do đó, thay đổi mà Việt Nam cần là thay đổi cơ chế CS đang thống trị Việt Nam bằng một chế độ tự do dân chủ làm tiền đề cho công cuộc phục hưng toàn diện Việt Nam.

 

Trần Trung Đạo

 

NguyenHue.jpg

 

KHOẢNG TRỜI XÁM

 

 Trương Đình Phượng

 

Trời u ám, mây như tấm màn xám bọc lấy khoảng không gian, gió vần vũ, xác lá vàng rơi ngập đường. Nguyễn Du ngồi bên ấm trà nóng, mắt mơ màng nhìn vào cõi thinh không. Hình ảnh những phận người trong cõi trần gió bụi lần lượt lướt qua tâm trí Du.

Cuộc đời Du trải qua bao thăng trầm biến thiên, nay đã ngán ngẩm bả phù danh. Du chỉ muốn an nhiên tự tại thả hồn vào mây trời trăng nước, nhưng lòng Du cứ luôn đau đáu về số phận những kẻ thấp cổ bé họng trong cõi nhân thế này.

Du nâng chén trà uống một ngụm, vị trà sen thơm ngát lan tỏa, xông lên mũi làm tâm trí Du khoan khoái. Du như bồng bềnh trong cõi hư huyễn.

Du đang miên man trôi trong giấc mơ thì tiếng người nô bộc bất ngờ vang lên bên cạnh:

-Dạ bẩm ông.

Du giật mình choàng tỉnh quay lại hỏi khẽ:

-Có chuyện gì vậy?

Nô bộc đáp:

-Dạ thưa nhà cái Xoan cho người sang nhờ ông viết giúp bài văn tế ạ.

-Nhà Xoan ai vừa chết vậy?

-Dạ bẩm chồng thị đi tìm trầm trong rừng bị ngã xuống vực mà chết.

Toàn thân Du rúng động. Nhà cái Xoan hoàn cảnh bần hàn, Trần Chung  chồng thị trước đây cũng là một tay học trò có tiếng nhưng vì đường công danh trắc trở đành gác việc bút nghiên, lao vào dòng đời kiếm miếng cơm manh áo.

Cha Trần Chung đã chết vì bị triều đình xử chém trong một vụ án văn. Nhà hắn còn mẹ già hơn tám mươi tuổi, một vợ và ba đứa con nhỏ.

Hai mắt Du rơm rớm lệ, khẽ nói:

-Ngươi vào mài mực rồi đưa giấy bút ra đây cho ta.

Người nô bộc đưa giấy bút ra. Du chấm mực viết một mạch xong bài văn tế , trao cho người nô bộc nói:

-Ngươi đưa sang cho nhà Xoan, à nhớ mưa ít đồ hương vàng  thay ta sang thắp cho Trần Chung vài nén nhang nhé.

Người nô bộc dạ khẽ rồi cúi mình chào Du. Còn lại một mình Du lại chìm vào suy tưởng. Trên ngọn cau đầu hồi tiếng con cú rúc lên từng nhịp  buồn thảm. Dưới mảnh sân rêu con chó co ro thu mình trong ổ rơm, ư ử rên vì lạnh. Du bất giác thở dài….

Mấy tháng nay Nguyễn Huệ đem quân ra thăng Long với danh nghĩa phò Lê diệt Trịnh. Kẻ sỹ khắp nơi tìm đến đầu quân cho Huệ. Khản bảo Du:

-Chú có tài sao không theo Huệ cống hiến vì dân vì nước.

Du lơ đãng nhìn đám mây cháy cuối trời khẽ nói:

-Ai cũng bảo Huệ là tay dũng tướng tài năng xuất chúng, có tấm lòng quảng đại, tài trí hơn người riêng em lại nghĩ khác.

Khản hỏi:

-Ý chú thế nào?

Du đáp:

-Anh chờ rồi sẽ thấy.

Dứt lời quay đi, im lặng. Khản lắc đầu, rời gót.

Đêm thu không khí êm như nhung. Du ngồi dưới ngọn đèn dầu lạc, tâm trí để cả vào ngòi bút, mỗi chữ như tút từ gan ruột, nước mắt Du lặng lẽ rơi.

Người nô bộc mỗi lần mở hé cửa ra nhìn thấy Du đang say sưa đưa bút, lắc đầu, đóng cửa lại.  Du buông bút. Cho tay vào miệng, nghiến chặt. Năm đầu ngón tay bật máu. Du lẩm bẩm:

-Thế sự đa đoan, ta biết làm gì. Dòng sông đục ngầu ta chỉ là con cá nhỏ biết phương nào mà bơi về đây.

Sáng sớm mưa như trút. Du ngồi bên mái hiên ngắm mưa rơi. Lòng ngổn ngang trăm mối.

Thời gian này Du vẫn để tâm nghe tin tức ngoài Thăng Long. Huệ đã tiêu diệt bọn phản loạn và trao lại quyền bính cho vua Lê. Tuy nhiên đó chỉ là vẻ bề ngoài. Thực sự Huệ vẫn nắm toàn bộ quyền chính  trong tay. Hôm qua Khản lại sang. Khản nói:

-Chú nói đúng, Huệ là tên khốn nạn. Hắn thừa nước đục thả câu, lần này hắn đem quân ra Hà Bắc thực chất là muốn chiếm đoạt giang san của nhà Lê chứ đâu phải có bụng tốt giúp dẹp phản loạn. Anh tính tập hợp kẻ sỹ kéo quân ra Bắc sống mái với Huệ một phen. Chú có ý kiến gì chăng?

Du nói:

-Anh đừng nên vọng động. Thời thế bây giờ đang hỗn loạn như canh hẹ. Nhà Lê cũng chả tốt đẹp gì. Cứ để cho Huệ và vua  Lê đấu đá với nhau.

Khản nói:

-Thiên hạ nói chú là kẻ bạc nhược thật chả sai. Anh đã nhìn lầm chú.

Du nhìn theo dáng Khản lắc đầu. Khản cũng như mọi người vĩnh viễn không hiểu được tâm can của Du.

Mưa mỗi lúc một dữ dằn. Du tựa đầu lên tay, chập chờn đi vào giấc ngủ.

Thăng Long thành. Đêm mùa xuân.  Du ngồi bên bàn, ngọn đèn dầu lạc khi mờ khi tỏ. Tiếng đàn nguyệt cầm như từng sợi tơ xuyên vào tâm hồn Du.

Mọi âm thanh cuộc sống lúc này dường như không còn tồn tại, chỉ có người con gái mảnh mai ngồi trước Du từng ngón tay thon mềm đang lướt trên những cung đàn ma mị.

Khuôn mặt người đẹp sầu như cánh hoa chiều muộn. Du lặng lẽ quan sát, lòng như không uống rượu mà say.

Trời khuya dần. Ngoài phố lác đác bước chân của những kẻ lang bạt. Du bước lại mở hé khung cửa sổ. Ánh trăng nhờn nhợt chiếu vào gian lầu nhỏ, không khí khăm khẳm.

Người đẹp đã dừng đàn, đang lặng lẽ nhìn Du. Du nói, âm thanh như vẳng về từ cõi xa xăm nào đó:

-Mai ta đi rồi, chả  nhẽ  nàng không có gì muốn nói cùng ta sao?

Bàn tay người đẹp khẽ vòng qua tấm thân gió bụi của Du, một cảm giác dịu dàng ấm áp. Tâm hồn Du chao đảo. Gió xuân như chiếc lưỡi tình nhân lả lướt trên khuôn mặt rám mùi dâu bể. Du cầm lấy bàn tay bé nhỏ của người đẹp.

-Lần này chia tay không biết có còn ngày gặp lại, nàng hãy vì ta mà sống cho thật tốt nhé.

Người đẹp tựa đầu vào vai Du, giọng oanh đượm nỗi thê lệ:

-Chàng không thể nán lại cùng thiếp thêm dù chỉ một ngày thôi sao?

-Đời kẻ nam nhi lấy gian nan làm thuyền, lấy đường xa gió bụi làm nhà, lấy khát vọng thay trời đổi đất làm chí hướng, nàng hiểu không?

-Thiếp hiểu. Những ngày qua ở bên nhau những tâm sự của chàng khiến thiếp thêm hổ thẹn bởi mình chỉ là gái giang hồ, phận liễu bồ mềm yếu không thể cùng chàng xông pha gió bụi cùng tạo nên nghiệp lớn.

Du thở dài:

-Trai thời loạn da ngựa bọc thây, gái thời loạn lênh đênh bể khổ. Thật đúng lắm thay!

Du quay lại, hai bàn tay đặt lên bờ vai thon của người đẹp. Hai đôi mắt nhìn nhau vừa đắm đuối thiết tha vừa trăm mối tơ vò.Người đẹp khẽ tựa vào ngực Du từng lời nói như bàn tay mượt mà xoa dịu trái tim Du:

-Chàng hãy ôm thiếp cho thật chặt có được không? Sao đêm nay thiếp thấy thân thể thiếp lạnh lẽo quá. Hãy sưởi ấm tâm hồn kẻ hèn mọn này trong những giây phút sau cùng để mai này hai ngả biệt ly mỗi khi mưa khóc sương hờn thiếp nhớ về đấng trượng phu để cõi lòng cô độc tìm thấy sự ấm áp.

Du ôm chặt người đẹp. Gió đêm lẻn qua khung cửa sổ đùa giỡn ngọn đèn dầu lạc chập chờn chực tắt.

Bên ngoài tất cả đã chìm vào sự im lặng muôn đời của đêm khuya. Du khép cửa sổ lại, dìu người đẹp đến bên giường….

Trái tim hai người tăng nhịp theo từng cung bậc cảm xúc. Du nói:

-Ta và nàng chỉ là hai kẻ lưu lãng giang hồ gặp gỡ nhau là duyên phận ly biệt cũng là duyên phận, xin nàng hãy nhận của Du này một lạy gọi là sự cảm tạ nàng bấy nay đã cho ta nương náu chốn này.

Người đẹp giơ tay ngăn cản:

-Đừng chàng đừng làm thế.

Tiếng dế buồn thảm thả vào màn đêm thăm thẳm. Bàn tay Du lần theo từng cúc áo của người đẹp…Hơi thở của người đẹp dồn dập.

-Không, ta không thể…

Du vùng đứng dậy. Chạy lại mở tung cửa sổ. Ngoài trời đang mưa. Từng giọt nước thi nhau bắn vào thân thể Du. Khuôn mặt Du ướt đẫm. Du thấy lòng mình ngập tràn sự thống khổ. Du yêu nàng nhưng Du không thể…

Người đẹp gài lại áo, lặng lẽ ngồi xuống bàn, những giọt lệ âm thầm rơi. Họ cứ như thế kẻ ngồi người đứng, mà trong tâm hồn đang từng cơn bão giông vần vũ…

Du tỉnh dậy chiều đã buông đầy mảnh sân gạch. Người nô bộc đặt ấm trà trước mặt Du nói khẽ:

-Dạ mời ông dùng trà.

Du quay lại nhìn người nô bộc cười, nụ cười của người bạn dành cho người bạn.

Du nói:

-Ngươi vào thu xếp hành trang, mai chúng ta lên kinh.

Đã gần bảy năm trôi qua, kể từ độ Du rời Thăng Long, bao nhiêu mong nhớ Du cất giữ dưới đáy lòng. Lần này quân Tây Sơn kéo ra Bắc , lòng Du bỗng trào dâng niềm lo lắng cho người con gái năm xưa. Du từng nghe người ta nói về Huệ. Huệ là tay kiêu hùng, sức vóc như mãnh hổ, trí tuệ hơn người nhưng Huệ lại là tay thô lậu trong lối hành xử với đàn bà. Những kẻ đi theo Huệ bảo rằng Huệ là kẻ háo sắc, thấy gái đẹp như chim ưng thấy gà con. Đã có biết bao nhiêu dân nữ bị chứng dâm cuồng của Huệ làm cho “nát liễu tan đào”. Huệ có thói quen mỗi lần hành lạc thường bắt người đàn bà cởi trần truồng nằm dưới nền đất rồi Huệ lấy rượu đổ khắp thân mình, Huệ lại vạch miệng đổ rượu cho đến khi  đối phương say ngất ngư, lúc bấy giờ Huệ cởi hết áo quần đứng nhìn con mồi cười sảng khoái…

Mỗi lần Huệ hành lạc kéo dài cả tiếng đồng hồ, thõa mãn Huệ nằm lăn ra ngủ.Huệ ngủ thường hay ngáy.Tiếng nói của Huệ như chuông vỡ , cái uy khiến kẻ khác run sợ. Nhưng tiếng ngáy của Huệ lại ri rí như tiếng cú rúc trong đêm trường tăm tối.

Những thôn nữ sau khi đã bị Huệ chiếm đoạt sự trong trắng sẽ bị tiệt luôn đường sống, những kẻ dưới trướng Huệ lôi con mồi ra một nơi kín đáo bóp cổ cho đến chết rồi cắt nhỏ ra từng phần đào đất chôn chặt, sau đó san phẳng, người ngoài nhìn vào không thể phát hiện ra chỗ đó vừa bị đào xới.

Thủ đoạn đó của Huệ được bọn hạ nhân giấu nhẻm như mèo giấu cứt lại thêm những hành vi “ tự vẽ mặt anh hùng” của Huệ càng khiến nhân dân bốn cõi nhìn Huệ như một vị thánh sống. Trong quân của Huệ có tay Trương Thoại làm người chăm voi cho Huệ vốn là bạn tri giao của Du, thi thoảng hai người vẫn biên thư thăm hỏi nhau. Qua lời kể của Thoại, Du nắm bắt khá rõ về con người của Huệ.

Thoại còn tiết lộ với Du, không chỉ là kẻ dâm ô mà Huệ còn là tay khát máu. Năm 1777 Huệ đem quân đánh thành Gia Định nhân dân trong thành nguyện trung thành với chúa Nguyễn nhất quyết thà chết không đầu hàng. Huệ điên tiết ra lệnh cho quân lính chôn sống hai mươi hộ dân tổng cộng hơn một trăm nhân mạng hòng đe dọa dân chúng trong thành. Sự việc này lịch sử không hề nhắc đến!

Những điều ấy Du giữ kín trong lòng. Du biết Huệ là kẻ có tài kinh bang tế thế nhưng bản thân Huệ xuất thân hèn kém, giống như con cú phút chốc biến thành phượng hoàng từ kẻ tay trắng bỗng đâu quyền hành đầy tay, dĩ nhiên những thói xấu tiềm ẩn lâu ngày sẽ theo đà mà bộc lộ.

Ngày mai Du sẽ trở lại Thăng Long, ngoài mục đích gặp lại người con gái năm xưa Du còn muốn xem sự tình ngoài đó hiện nay thế nào.

Ăn cơm chiều xong Du cho người sang mời Khản. Nghe bảo Du có chuyện quan trọng về Thăng Long cần bàn, Khản không kịp thay đồ tất tả đi theo người nhà Du.

-Chuyến này em định cùng anh ra Thăng Long xem xem sự tình ngoài đó thế nào. Theo ý em chỉ cần hai anh em mình đi là đủ, chớ nên mang theo  người hầu  lỡ có sự việc gì xảy ra thêm rối.

Khản nhấp ngụm trà, nói:

-Chú nói cũng phải. Hiện nay Huệ như thế nào chúng ta chưa nắm rõ tốt nhất chớ nên đánh rắn động cỏ.

Du đáp:

-Tính anh cương trực hay hành động nóng vội, lần này anh phải thật bình tĩnh có chuyện gì cũng từ từ tính toán.

Khản cười ha hả:

-Chú cứ làm như anh là trẻ mục đồng không bằng. Rứa nhé để anh về thu xếp, chú ngủ sớm đi, mai anh em mình lên đường.

Khản ra về. Du cầm mãi chén trà trên tay, nhìn vào bóng tối. Từ phía dòng Lam vẳng lên điệu “giặm kể” buồn da diết. Du buột miệng thốt:

-Mai ta lại phải rời mảnh đất thân thương này rồi!

Làn gió lạnh phớt qua sân. Tiếng dế ngoài thềm xoi xói…
!

Thăng Long thành qua cơn binh biến phờ phạc như người phụ nữ bị hiếp dâm. Những ngôi nhà kiến trúc cầu kỳ nay cửa lủng ngói nát. Nét mặt dân chúng người nào người nấy lấm la lấm lét như tù mới được tha.

Du và Khản ghé vào quán nước bên đường. Du hỏi bà cụ chủ quán:

-Nghe nói từ khi Nguyễn Huệ đem quân ra dẹp loạn đời sống dân chúng ổn định lên nhiều phải không cụ?

Bà cụ nhìn quanh dò xét hạ giọng nói:

-Hình như hai bác là người Nghệ?

Khản đáp:

-Đúng vậy.

Bà cụ nói:

-Chả giấu gì các bác từ khi Huệ ra đây làm bao nhiêu việc thất đức khiến nhân dân oán hận nhưng quân Huệ như beo như cọp nên dân chúng ai cũng sợ chả dám lên tiếng. Vua Lê thì ngu hèn Huệ nói gì cũng nghe. Trăm quan có mắt như mù.

Du liếc mắt ra hiệu với Khản, lấy tiền trả tiền nước chào bà cụ rồi hai anh em vội vã đi tìm nhà trọ. Chiều buông nhanh, thành Thăng Long run rẩy như người mới ốm dậy.

Đêm. Kinh thành Thăng Long tĩnh lặng. Có vẻ như qua cơn binh biến sự nhiệt náo của vùng đất này đã bị bóp nghẹt thay vào đó là sự đìu hiu, hoang phế.

Chỉ có nơi nhà thổ không khí mua hoa bán nguyệt vẫn diễn ra rôm rả như thường. Thời đại nào cũng vậy, chuyện nhục dục luôn là món ăn khoái khẩu của loài người. Cái nghèo khổ, túng quẩn hay cuộc sống luôn bị cái chết rình rập không khiến người ta quan tâm bằng nhục cảm thể xác.

Du và Khản chậm rãi tiến về phía khu phố “Bình Khang”. Mấy năm nay Thăng Long thành kỹ viện thi nhọc mọc. Mỗi kỹ viện ra sau càng được xây dựng kỳ công hơn, từ lối trạm trổ tinh vi đến lối trang trí lòe loẹt với mục đích chèo kéo khách làng chơi.

Hai bên đường những cô gái trạc tuổi đôi mươi ăn mặc hở hang, uốn éo chào mời. Khản nắm chặt tay, nghiến giọng:

-Hủ bại quá đi mất, nhà Lê đến thời mạt vận rồi. Ngay giữa chốn kinh thành mà ô uế thế này thử hỏi sao mà dân không loạn nước không nhơ.

Du nói khẽ:

-Anh bình tĩnh, hãy nhớ chúng ta đi chuyến này tránh được rắc rối từng nào hay chừng đó.

Khản vẫn còn hậm hực:

-Thật sự ta đã thờ nhầm chúa.

Hai người thận trọng đi đến Tĩnh Nguyệt Lầu. Du muốn rẽ qua thăm người năm cũ. Lần này ra Bắc theo chủ ý của Du nên Khản hoàn toàn chấp nhận nghe theo chỉ đạo của Du.

Hai người lấy phong thái đạo mạo bước vào, ngay lập tức năm sáu cô nàng môi hồng má thắm chạy lại xun xoe:

-Ôi hai vị đại quan nhân, lâu quá mới thấy hai vị ghé chơi, khiến tụi em nhớ quá giời.

-Ấy ấy, mày tham vừa thôi chứ, để vị này cho tao.

Thôi thì trăm câu ngàn câu ong ve . Khản cau mày khó chịu. Du day day áo Khản. Khẽ cười nói:

-Xin các nàng cho hỏi hiện nay nàng Nguyệt Cầm có còn ở đây nữa chăng?

Mấy cô nàng liếc mắt nhìn Du lại nhìn Khản. Một cô nói:

-Không ngờ hai vị cũng là tay trăng gió không phải dạng vừa. Nguyệt Cầm cô nương hiện tại vẫn là “món đồ quý” ở chốn này, tuy nhiên hôm nay hai vị đến muộn mất rồi. Đêm nay Nguyệt Cầm cô nương đang bận tiếp một vị khách vô cùng quan trọng, một vị anh hùng uy vũ bốn phương.

Một ý nghĩ chạy nhanh qua đầu Du, lẽ nào kẻ đó là Huệ chăng.

Ngay lập tức Du nắm tay Khản chạy nhanh lên lầu, mấy cô ả không ngăn kịp la oai oái. Đã gần mười năm nhưng Du vẫn còn nhớ rõ căn phòng năm xưa. Cẩn trọng hai người tiến sát lại. Phía trong tiếng một người đàn ông, giọng như sấm rền:

-Nàng hãy chiều ta đêm nay, đảm bảo rồi đây ta sẽ trao cho nàng cuộc sống phú quý đầy đủ.

Tiếng người đàn bà run rẩy, van vỉ:

-Xin ngài hãy tha cho thiếp, nếu Ngọc Hân công nương mà biết thì cái mạng hèn của tiện thiếp có khác gì con sâu con kiến, chết không đất dung.

Cộp tiếng chén dằn xuống mặt bàn:

-Khốn nạn, ả là cái quái gì, ngay cả chuyện làm cho đàn ông sướng khoái ả cũng chả biết, thì mang danh công chúa thật uổng quá.

Du ghé mắt nhìn qua khe cửa. Một gã đàn ông uy phong lẫm liệt đang ngồi rót rượu uống như voi, đích xác là Huệ.

Người đàn bà vẻ đẹp chim sa cá lặn tay ôm chiếc đàn Nguyệt ngồi co rúm dáng điệu sợ sệt. Người đó chính là ý trung nhân trong mộng của Du.

Huệ đứng dậy tiến về phía người đẹp. Bàn tay thô bạo chộp lấy bờ vai nàng. Nàng run lên:

-Ngài say quá rồi, ngài về nghỉ ngơi đi mai tiện thiếp xin hầu đàn tiếp.

-Ta chưa bao giờ sayrượu, nàng nên biết Huệ này chỉ say một thứ mà thôi, đó là giang san Đại Việt này. Từ khi ta sinh ra trên cõi đời này đến nay thiên hạ luôn nhìn Huệ này bằng ánh mắt khinh thường, ngay cả anh em của ta cũng xem nhẹ ta, ta thề phải làm nên nghiệp lớn cho chúng nhân mở mắt mà nhìn Huệ này đầy ngưỡng mộ.          Nhưng đêm nay, ha ha, ta mới phát hiện ra ta còn say một thứ nữa, đó chính là sắc đẹp có một không hai của nàng.

Người đẹp hoảng hốt đứng dậy, thoát khỏi bàn tay của Huệ. Huệ lao đến như con hổ khát mồi.

-Nàng đừng cố cưỡng, hãy ngoan ngoãn chiều ta, thuận ta thì sống nhược bằng nghịch ta thì chỉ có nước chết mà thôi.

Sự dồn ép của Huệ đẩy người đẹp lui dần đến sát chân tường. Nàng nhìn Huệ đầy căm hận. Huệ cười sảng khoái:

-Ta nói rồi,cái gì mà Huệ này muốn nhất quyết dành cho bằng được.

Bên ngoài hai bàn tay Du nắm chặt tưởng chừng gãy từng khớp xương, toàn thân Du run lên vì phẫn uất, Khản đứng bên bầu máu cũng sôi lên sùng sục. Khản cảm thấy tởm lởm thay cho một kẻ được thiên hạ tôn xưng là đấng anh hùng đội trời đạp đất.

Hai bàn tay thô của Huệ ôm chầm lấy người đẹp, sự quẫy đạp của nàng thành vô dụng dưới sức mạnh beo cọp của Huệ. Huệ nắm tóc nàng kéo lê lại giường, vật nàng xuống, Huệ chộp lấy bình rượu trên bàn, đổ vào miệng nàng:

-Uống đi, uống với ta nào, say rồi hành lạc mới thống khoái.

Du nghiến răng nghiến lợi nói thầm “Qủa đúng như lời đồn của thiên hạ, hắn là một tay bệnh hoạn”.

Khản đưa tay sờ thanh gươm bên hông, bụng bảo dạ:

-Đêm nay ta thề băm vằm tên khốn nạn này, bây giờ ta mới hiểu vì sao hắn lại dựng Lê Chiêu Thống lên làm vua. Hắn muốn cho một kẻ nhu nhược hèn yếu hờ hững ngồi ngôi cao để dễ bề thay triều đổi ngôi khi cần, không ngờ mưu kế của ngươi thâm độc đến vậy.

Bên trong người đẹp đã bị Huệ nhồi rượu say khướt, tấm áo trên mình nàng đã bị Huệ xé rách lộ ra bầu ngực căng đầy. Hai hàm răng Du cắn vào nhau bật cả máu.

Khản đưa chân đá văng hai cánh cửa, nhảy vào phòng, chỉa mũi gươm vào Huệ thét lên:

-Hồ Thơm, ngươi là tên chó chết.Một kẻ dâm loàn, tàn bạo như ngươi không xứng đáng được muôn dân ca ngợi.

Huệ quay lại, hai mắt đỏ ngầu, hai con tròng vằn lên từng tia máu:

-Mi là ai?

Khản dõng dạc:

-Ta là Nguyễn Khản.

Huệ cười ngạo mạn:

-Thì ra là con cò hen Ngàn Hống.

Khản lao về phía Huệ quyết tâm một đường kiếm lấy mạng Huệ, Huệ lách người rút nhanh thanh gươm bên mình, vung lên gạt kiếm Khản.

Xoay tay đâm thốc vào ngực Khản, máu phún ra, Khản gục xuống, máu trào ra như suối.

Đúng lúc đó rượu cũng vừa ngấm sâu vào nội tạng Huệ, Huệ gục luôn xuống bàn, ngáy ri rí. Du liều thân lao vào phòng, nhìn nhanh ý trung nhân rồi mau chóng xốc lấy Khản tẩu thoát.

Lịch sử ghi chép rằng “Bấy giờ có cựu tham tụng Nguyễn Khản ở Nghệ An ra khuyên Đoan Vương “nên sai tướng đóng giữ kinh thành. Còn chúa thì rước  xa giá vua Lê đi Sơn Tây, không chế miền thượng du để toan tính việc cử sự sau này. Vả lại ở bãi Tự Nhiên (Thường Tín, HàĐông) kíp thả cầu phao để chặn thủy sư của giặc. Hai bên bờ sông đóng đồn quân theo lối “vẩy sộp” để đề phòng có sự xô xát xung đột. Lại xin chiêu dụ bọn giặc thủy như Trương Dao và Ba Bá, ban thêm quan tước cho chúng, khiến chúng chặn đánh phía sau quân Thủy Tây Sơn. Huệ và Chỉnh đã nêu danh nghĩa phò Lê, nhưng khi vào kinh thành không gặp được Lê hoàng thì tiến hay lùi cũng đều bất lợi. Một khi giặc mỏi mệt, hết lương ăn, tình thế tất không ở lâu được. Bấy giờ ta kíp viết thư phi báo cho các hào mục Thanh Hóa và Nghệ An khiến họ chận đánh đường về của Tây Sơn thì dù không bắt được Huệ, Chỉnh, chúng cũng bị thiệt hại nặng. Chứ nếu giao chiến với chúng thì kiêu binh (của ta) quyết không thể dùng được. Nếu thua một trận hết sạch như chùi, việc nước tất hỏng mất “. Chúa toan nghe theo mưu chước của Khản, nhưng các quân họp lại, làm ầm lên, cho rằng Khản đưa giặc đến, rồi chực giết Khản.

Nguyễn Khản  phải xin đi Sơn Tây, Hưng Hóa chiêu dụ nghĩa sĩ, được một tuần quân ứng mộ khá đông ông giao cho em là tri phủ Nguyễn Trứ điều khiển tại Mỹ Lương. Ông được lệnh chúa triệu hồi, vừa về thì bị cảm bệnh, ông qua đời ngày 17/9Â.L.  (1786)”

Cái chết của Khản là do chính tay Huệ giết lịch sử đã không ghi chép lại.

Du trở lại quê nhà. Sau khi an táng anh xong, hai năm sau Du về  ở tại quê vợ Quỳnh Côi, Thái Bình , và sống một cuộc sống khép kín.

Ngày qua ngày Du giam mình trong nhà, không đi đâu, đêm đêm Du chong đèn tận khuya mài mực viết nên những bài thơ gan ruột, nỗi nhớ thương người con gái năm xưa luôn hiện về dày xéo tâm hồn Du.

Có hôm người nô bộc bưng bữa sáng vào phòng cho Du, Du hỏi:

-Bên ngoài trời trong hay xám?

Người nô bộc nói:

-Dạ trời quang đẹp lắm ạ.

Du xua tay bảo người nô bộc đi ra, thở dài tự nhủ:

-Trời quang đẹp sao? Nhưng sao xã hội vẫn còn tăm tối ?

Bao giờ thì đời sáng đây?

Năm 1802 Nguyễn Ánh tiêu diệt nhà Tây Sơn lập nên triều Nguyễn  sau nhiều lần thoái thác Du chấp nhận ra làm quan,  trải qua nhiều vị trí khác nhau, được cử đi xứ nhà Thanh, tuy nhiên trong thâm tâm Du không hề muốn vướng bận cân đai áo mũ. Lòng Du lúc nào cũng đau đáu nhớ về người con gái năm xưa. Kể từ sau đêm đó Du hoàn toàn bặt tin tức của nàng. Du tự nhủ, có lẽ nào đêm đó sau khi  chê hoa chán nguyệt Huệ đã thủ tiêu nàng?

Du bị bệnh dịch chết ngày mồng 10 tháng 8 âm lịch (16 tháng 9 năm Canh Thìn (1820) lúc 54 tuổi.

Nghe nói trước lúc trút hơi thở cuối cùng Du hỏi người nhà:

-Chân tay ta lạnh chưa?

Người nhà đáp:

-Dạ sắp lạnh rồi.

Du lại hỏi:

-Hôm nay trời ra sao?

Người nhà đáp:

-Dạ trời quang đẹp ạ.

Du bảo mở cửa ra, bên ngoài lá bắt đầu rơi, mưa lác đác. Du thở dài:

-Cuối cùng trời vẫn xám!

Du nhắm mắt, nét mặt dường như vẫn còn đượm nỗi đau đời !

 

Trương Đình Phượng

 

NgoiBuon2

SAO ANH CHỌN SỰ CHIA LÌA

 

Hãy ở lại cùng em đi anh
Cuộc đời này rộng lớn
Anh bỏ đi rồi
Bơ vơ, bơ vơ
Em.

Cơn gió nào quật tung cánh cửa em cẩu thả khép hờ
Chờ anh mỗi đêm về sau bao nhớ nhung tuyệt vọng
Gió xô lệch trái tim em cóng lạnh
Ở lại cùng em đi anh.

Rồi ngày lại nắng xanh
Em sẽ kể anh nghe những chuyện từ xa lơ xa lắc
Những câu chuyện làm em mau nước mắt
Anh cười thắt thẻo đau.

Em sẽ lại mặc váy hoa
Sẽ đi tất nhiều màu
Sẽ là em đểnh đoảng như anh từng biết
Quê mùa như anh từng biết
Xin anh nương náu cuộc đời
Xin anh đừng bỏ em.

Sao anh không ở lại
Em sẽ cùng anh yêu cuộc đời này hơn trước ngày em đến
Cõi người giờ mênh mông thế
Nhỏ nhoi em bè bạn với chênh vênh.

Bướng bỉnh ơi sao không nghe em
Anh chọn sự chia lìa trong đau đớn
Anh bỏ em ở lại
Xé lòng em quăng quật chốn vô thường.
Nguyễn Hồng

 

 

VuongNgocMinh

minh họa Vương Ngọc Minh

 

Tôi ngồi U Mê Trời/ sáng.

 

với khái niệm- đồ chơi

giơ hai tay minh con

gratulations các

ngài thơ chính là sự

 

mát rượi từ vòm ngực

em ở đó khởi lên

và chảy nhiều ý nghĩ

vị lai khứ hồi- sự

 

trở lui nhưng đừng suồng

sã úp chữ chật mặt

trời vào tiệc khoan hồng

thánh/ và do đó ở

 

sự tư riêng mang ẩn

dưới nỗi lòng- minh con

gratulations các

ngài thơ luôn lộ một

 

khoảng cách giữa minh mẫn

với vô minh thứ tình

cảm mầu nhiệm chả ăn

thua gì có nẩy nòi

 

thì minh sẽ dành cho

các ngài tháng năm dài

hoan hỉ ròng rã hòng

các thi hữu kiệm thu

 

lời ăn lỗ chịu có

dặm thêm hơi thở mang

mác hòng tiếp nối câu

chuyện thừa kế tiên nhân

 

anh sản nghiệp rất tư

tình (vô tình) đã phạt

ngang một cách dứt khoát

congratulations

 

minh sẽ giấu hết các

đường nhăn mặt nạ hình

nhân (là rác- không thể

khác!) sự thật thì “giết

 

lầm hơn bỏ sót” đấy

lúc hồ chí minh đi

vào hang pác- bó đã

tuyên bố thẳng thừng vào

 

mặt chu văn tấn một

người tày gian manh hai

mắt hồ chí minh trợn

ngược sau trở thành châm

 

ngôn ta nói “gìn vàng

giữ ngọc cho hay” đấy

câu của nguyễn du một

lần nữa minh congra

 

tulations các ngài

thơ cứ mỗi giờ đều

hóng tiếng quẫy đập của

thi hữu tợ cánh của

 

đại bàng đập tôi không

nỡ giết một bài thơ

song thất (cặp bảy) cũng

chỉ phải hối hả đi

 

nhận diện cái bãi quê

mà cái bãi quê ấy

đích thị là thân thể

em không sai một tị!

..

vương ngọc minh.

 

 

Đọc thơ lê khiêm trung.

 

 

“ông khiêm!” tôi mở mắt ra

a! chốn này..

ngoài hồ tây nắng đã tắt hẳn

tiếng con điếm vừa kêu

váng lên

 

cơ hồ

ùa cả vào tâm tưởng

lời của nó chảy êm- tợ điệu

“ầu ơ!” ông ru cháu

tràn khắp sàn phòng

lan tận chỗ đang nằm

 

tôi lồm cồm

ngó đồng hồ

thấy nguyên rừng bông- tím và

thời gian

là con vạc lượn thực thấp

gần sát mặt nước hồ tây

 

tại sao lại hồ tây? tôi

không hiểu sao

đứng lên

cầm đầu ngọn cây chổi

cong

dài độ sải tay

khuấy cho nước hồ thành màu

 

chừng một giờ

sau

tôi lẫn mặt hồ tây

yên tĩnh- tợ lá sậm

chỉ nước có phần đậm thêm

 

tôi ngã xuống

lăn vòng

vòng

căn phòng với trạng thái gần như nửa mê

nửa tĩnh

 

con người ở việt nam bây giờ cứng đờ

nặng trĩu

u tối

huống chi tôi “chưa chi mối

mọt

gặm nhắm thân thế..”

lúc tự nhủ thế

thì cảm thấy bằng lòng với các thứ đang nắm trong tay

 

“thơ” tôi nói “mình sinh trưởng ở sài gòn

nên bỏ qua

tất thảy thôi!”

 

chẳng mơ hồ gì cả “anh minh!”

khi đấy

nhà thơ đinh thị như thuý gọi tôi

cô ưa gọi thẳng tên tục

“cá đã tụ sát đáy hồ tây”

 

cô nói “chả câu được con nào!”

tôi très ra

chỗ gần đỉnh cây sồi

chăm chú nhìn

nguyễn du

 

loài rùa còn rôm rả

như người

hai con ngươi

đột nhiên lọt tròng

bò dưới mặt đường

i hệt hai con gián

 

“ông khiêm!”

..

vương ngọc minh.

July4th

MongManh

 

Truyện ngắn của Nguyễn Hồng

 

Mặt hồ phẳng và trong. Ly ngỡ mình có thể chạm đáy khi giơ tay khuơ khuơ vào mặt nước. Anh từ phía mũi thuyền hét thất thanh rồi lao về phía nàng. Ly. Đừng. cẩn thận ngã. Tiếng hét đột ngột của anh làm Ly giật mình rồi rụt tay vào như một phản xạ. Nhưng nhanh như cắt, Ly thấy từ đáy hồ đám rong rêu dềnh dàng, đong đưa dịu dàng như đang chào đón nàng. Nàng cười thích thú. Và luyến tiếc tạm biệt. Anh kéo nàng vào lòng. Vỗ về. Ngốc ạ. Hồ này có cá dữ đấy. Ngửi thấy mùi hơi người nó kéo xuống luôn. Nàng rúc nách anh. Yên ổn. Bậy nào. Đâu có đáng sợ đến vậy chứ. Đám rong rêu từ đáy hồ đang nhảy múa trong đầu nàng. Nàng nhắm mắt. Nụ cười vẫn chưa tan. Nàng thì thầm. Anh. Em thấy cả một lễ hội ở dưới đấy. Một bữa tiệc lộng lẫy. Có cả nhạc. Hoa. Và nến trắng. Có cả anh. Và em. Anh hôn vào trán nàng. Dịu dàng.Ngủ chút xíu đi em. Khoảng 30 phút nữa mới tới nơi. Mùi rượu phả ra từ anh thơm và ấm nồng. Gió hồ nhẹ đưa đẩy. Cả một quãng dài đi ô tô trước khi chuyển xuống thuyền làm nàng thấm mệt. Nàng níu anh chặt hơn. Và ngủ.

Theo kế hoạch anh sẽ đưa nàng xuống biển. Ông bác sĩ già trễ kính xuống cánh mũi chăm chăm nhìn anh. Nửa thấu hiểu, chia sẻ, nửa như là mệnh lệnh. Tĩnh dưỡng là quan trọng nhất nhưng phải có không gian. Sự khoáng đạt và trong lành của biển rất tốt cho người bệnh trong quá trình phục hồi cả thể chất lẫn tinh thần. Lời khuyên của bác sĩ bây giờ với anh là phao cứu sinh. Anh bấu víu và làm theo tất cả. Vì nàng.  Nàng cũng đã rất hồ hởi cho chuyến đi. “Không biết em có sức để trụ lại với sóng không nữa, anh. Hôm qua quậy ở hồ bơi một chốc em đã thấy mệt. Nhưng em thích. Lâu lắm rồi chúng mình lại hò hẹn”. Tiếng nàng nhẹ như hơi thở. Anh nghe. Rồi thút thít đau. Sự ân hận dày vò và hiện hữu. Nếu không giữ được bình tĩnh anh sẽ lại buột miệng. “anh xin lỗi”. Nhưng anh đã kịp giữ lại. Lời xin lỗi của anh bây giờ với nàng đã không cần thiết nữa nhưng anh sợ sẽ là nguồn cơn cho nàng trở bệnh.  Nàng  sẽ lại hồi tưởng và lần dò cái nguyên cớ anh phải nói lời xin lỗi nàng. Anh cố gắng xua đuổi nhưng sự dày vò cứ lởn vởn trong đầu như một áp lực. Ngày anh tạm biệt nàng bên chân cầu thang cạnh bờ rào phủ kín giống hồng leo của Pháp. Anh nhìn sâu vào mắt nàng. Mùi thơm da thịt nàng. Mùi hương hoa hồng quyện sương sớm làm anh chộn rộn và thành khẩn. Chờ anh nhé, anh đi rồi anh sẽ về. Nàng im lặng gật đầu. Mắt nàng ngân ngấn nước. Tin tưởng và chờ đợi. Tờ giấy đăng ký kết hôn còn chưa kịp khô mực.

Nàng chưa hình dung được về mình của chuỗi ngày không có anh nhưng nàng biết chắc chắn mình phải sống.  Ngôi nhà ngập tràn hình ảnh anh. Căn phòng ngập ngụa hơi thở anh.  Mùi đàn ông anh để lại đêm đêm dỗ dành nàng. Nàng sống nhiều hơn bằng trí tưởng tượng. Sự lặng lẽ của nàng làm mọi người ái ngại. Lẫn với sự thương xót. Và tiếc nuối. Sơn bảo. Sao không chờ người ta về rồi lại đăng ký kết hôn. Ba năm đâu có ngắn. Đâu có gì là chắc chắn. Nàng xoay xoay tách cà phê, chả thèm nhìn vào Sơn. Bậy nào. Sơn chỉ được cái lo bò trắng răng. Kệ tớ. Tớ ổn. Nàng không nói thì Sơn cũng biết nàng đang ổn. Mắt nàng lấp lánh hạnh phúc khi kể về anh với Sơn. Sơn nghe. Và hầu hết là im lặng. Đôi lúc Sơn có cảm giác nàng đang độc thoại. Hai đứa thân nhau từ nhỏ, 12 năm chung lớp. Lên đại học cứ tưởng sẽ không phải chung nữa như lời Sơn dấm dẳng trong nhật ký để lại nhưng rồi vẫn chung. Kỳ quặc. Có lúc Sơn cáu bẳn. Ly. Bà là yêu quái kiếp trước xuống đây hành hạ tui. Ly làm chi nên tội đâu Sơn nói vậy. ừ nhỉ. Ly có làm chi nên tội. Nhưng cứ là Ly gần gũi, thân thiết như hơi thở thế mà hồn vía Ly để cả nơi khác làm Sơn tủi thân. Nhớ đêm lửa trại trước khi chia tay, Sơn trộm rượu ba uống lấy uống để chỉ mong có dũng khí nói với Ly rằng Sơn thương Ly lắm lắm nhưng rồi Sơn say. Ly cuống quýt gọi mọi người đưa Sơn vào phòng y tế. Rồi cuống cuồng gọi cho ba mẹ Sơn. Sơn lại bị ba mẹ mắng. Bị Ly rủa là khùng.  Tập tành chi mấy thứ đó hả Sơn. Sơn cũng chỉ kịp níu tay Ly lại và nói. Ly à…. ly à….tại Sơn bị đau bụng, cứ tưởng uống rượu vô cho nó sát trùng. Thế thôi. Sơn đâu dám mở lời. Cho đến tận bây giờ Sơn vẫn bên Ly thế. Đôi lúc say xỉn Sơn tự trách mình sao không thể nói lời yêu với Ly, biết đâu sẽ khác. Nhưng Sơn lại tự trả lời rằng biết đâu nói ra Ly lại ngại ngùng, lại lúng túng, lại không thể là bạn nữa. Ánh mắt Ly đâu có dành cho Sơn. Nên thôi. Sơn bằng lòng để được là bạn đồng hành của Ly mỗi ngày.

Đôi lúc anh thấy khó chịu với cách Sơn nhìn Ly, chăm sóc Ly và lo lắng cho Ly. Anh giận dỗi. Ly ngăn. Bậy nào, anh. Sơn là bùa hộ mệnh của em đấy. Có cho kẹo Sơn cũng chả thèm yêu em. Bạn gái Sơn có mà đầy, chỉ là hắn ta chưa chịu duyệt thôi.  Dần dần qua tiếp xúc anh thấy Sơn cũng dễ gần. Quan trọng là Ly giữ khoảng cách và nguyên tắc của một người bạn. Đôi ba lần đi chơi, đi ăn Sơn có dẫn bạn gái theo. Anh thấy tin tưởng và cũng coi Sơn là bạn. Ly chỉ mong có thế. Nàng tự hào. Anh thấy chưa. Sơn ổn mà. Đã là bạn em thì ai cũng phải ổn. Anh yêu nàng hơn từ những phút hồn nhiên trẻ con như thế. Yêu như thể không có người đàn bà nào có thể kéo anh ra khỏi nàng. Nhưng mùi oải hương xứ lạnh ma mị và quyến rũ. Người đàn bà xứ tuyết nồng nàn gấp gáp làm anh thỏa mãn. Sau mỗi cuộc yêu, anh nhớ nàng. Khuôn mặt trẻ thơ và giọt nước mắt sắp rơi trước lúc chia tay ám ảnh anh. Anh chậc lưỡi. Rồi anh sẽ về. Rồi anh sẽ là anh của nàng như cũ. Xa thế  nàng làm sao biết được. Những phút giây anh ngập trong rượu mạnh và đàn bà là những phút giây anh nhớ nàng, thèm khát nàng. Bản thân anh không kiềm chế được, không tin được.Tình yêu anh dành cho nàng vẫn thế. Nguyên vẹn.

Khoảng cách nửa vòng trái đất mỏng tang qua một cái clic chuột. Nàng hồ hởi mở mail uống từng dòng yêu thương anh trao gửi mỗi ngày. Nhưng lần này không là hương hoa hồng leo giống pháp. Không là những nụ hôn như muốn cháy màn hình, không là nồng nàn yêu thương muốn xóa nhòa thời gian và khoảng cách. Là mùi oải hương tang tóc và cay độc. Những bức hình thơm mùi da thịt đàn ông đàn bà. Nàng lặng phắc bất động. Tim nàng muôn vàn kim châm. Toàn thân nàng lạnh cóng và tê liệt. Nàng ghẹt thở. Đông cứng. Nàng không biết vì sao nàng tỉnh dậy được trên tấm ga giường trắng nồng nặc mùi thuốc sát trùng. Bốn bức tường trắng tinh hoang lạnh. Một bình hoa hồng cắm cẩu thả. Và Sơn. Nàng không nói gì. Chỉ mở to mắt nhìn Sơn. Giọt nước mắt cứ ngấn ngấn trên mi không rơi được.

Sơn đau đớn nhìn Ly câm lặng mỗi ngày. Đau đớn hơn mỗi ngày Sơn nảy sinh ý định thay nàng nhắn tin yêu thương với anh. Đơn giản là Sơn muốn mọi việc không rối tinh lên trước khi Ly khỏi bệnh. Trong lúc bế Ly trên tay mềm oặt và thiếu sức sống Sơn chỉ muốn đấm vào mặt người đàn ông Ly lựa chọn. Sự căm phẫn trào lên trong mắt Sơn thành những tia lửa. Sơn nghĩ mình có thể băm vằm người đàn ông này. Tiếng còi xe cấp cứu hú rát phố. Sơn kìm lòng tất tả lo cho Ly.

Tin nhắn của người đàn ông từ bên kia bán cầu dày dần lên. Lẫn với sự trách móc, giận hờn, yêu thương là sự hoảng loạn thực sự. Anh làm sao biết được người đàn bà đó kiếm địa chỉ của Ly vào lúc nào. Làm sao biết được Ly có những bức hình mà đến chết anh cũng phải giấu. Sơn biết làm gì khi Ly đang ngơ ngác sống, ngơ ngác khóc cười với ngày 3 mũi tiêm và vô vàn thuốc uống. Bác sỹ chuẩn đoán Ly bị chấn động tâm lý mạnh dẫn đến tổn thương một phần não bộ. Sơn giằng xé dữ dội. Chừng ấy thời gian bên Ly, chăm sóc Ly Sơn nhận ra tình yêu Ly dành cho anh là thật. Thứ tình yêu giản đơn và tinh khiết. Sơn biết làm gì hơn ngoài lời nhắn anh hãy chăm sóc cho Ly thật tốt.Và Sơn đi.

Anh giấu tâm trạng cầu cứu một sự tha thứ từ Ly trên suốt hành trình bay. Vì anh biết chừng ấy thời gian của biến cố đủ để Ly lắng lại và bình tĩnh đón nhận. Một phần, qua những nhắn nhủ từ Sơn, anh biết Sơn đã cố gắng thật nhiều để bao biện cho anh. Lẫn với sự nể trọng anh thầm cảm ơn Sơn. Ly đón nhận từ anh ánh mắt khẩn khoản của một con thú bị thương đang dồn đến đường cùng. Ly bằng lòng như là an phận. Miễn là anh trở về. Miễn là Ly vẫn còn có anh. Vòng tay anh vẫn ấm mềm và dịu dàng thế. Hơn ai hết Ly biết Ly đã rất nhớ anh. Ly đợi chờ anh. Nụ cười Ly yếu ớt và mỏng manh như ánh ngày sắp tắt khi anh quỳ gối nói lời xin lỗi. Không sao rồi anh, anh về là ổn rồi. Ly không khóc. Ly thấy lòng mình đang tãi ra, giằng xé, va đập và có lúc là trống rỗng đến vô cùng.

Và mỗi ngày anh lại cầu hôn nàng

Và mỗi ngày anh lại chăm sóc nàng.

Ly bình thản đón nhận. Với anh đấy là một may mắn. Anh thấy hạnh phúc hơn khi mỗi ngày trôi qua lại được thấy Ly như đang an nhiên, bình lặng. Nàng hay cười một mình hơn. Và ánh mắt thì xa xăm, diệu vợi. Anh tin vào khả năng chuộc lỗi của mình hay tin vào sự yếu đuối bản năng của Ly? Anh không rõ. Nhưng anh thấy nhẹ nhõm. Anh làm sao biết được trong đầu Ly thi thoảng hình ảnh bình hoa hồng cắm cẩu thả lại xuất hiện. Nó cứ đi trở lại và lẫn cả vào giấc mơ  của nàng. Nhẹ nhàng và bình yên.

Kế hoạch đi biển đã định. Nàng đã rất háo hức và chờ đợi nhưng rồi nàng bảo thôi không muốn đến biển nữa. Nàng biết Sơn đang có chuyến công tác ở vùng ấy vào thời điểm ấy. Anh chiều nàng. Anh hứa sẽ làm tất cả vì nàng.

Khách sạn quay mặt về phía hồ. Đứng từ ban công nhìn xuống mặt hồ phẳng và trong tận đáy. Thi thoảng có những cơn gió nhẹ chạm mặt hồ rồi tan. Lòng nàng lao xao sóng.  Ánh trăng từ phía đồi phả xuống lấp lánh muôn ánh vàng. Anh bận bịu một vài cuộc điện thoại nhưng mắt anh luôn dõi theo nàng. Nàng bận bịu suy nghĩ về những con sóng cứ gợn lên mỗi lúc một dày trong tâm trí nàng. Những con sóng xô đuổi nhau dồn dập. Nàng tựa vào lan can thở dốc. Tách trà hoa cúc tỏa thứ hương dịu ngọt. Bất giác nàng muốn được anh ôm thật chặt. Nàng muốn nói với anh rằng nàng đã rất yêu anh. Nàng muốn anh kết thúc cuộc điện thoại sớm hơn và ôm nàng, hôn nàng. Nàng nhắm mắt xua đuổi mọi suy nghĩ. Hình ảnh những bông hồng gai nhảy múa kiêu hãnh trong đầu nàng. Nàng lẩm bẩm. Đúng là đồ khùng. Khùng thật. Mắc mớ chi phải thế, nhỉ. Mải mê suy nghĩ, nàng quên mất nói lời yêu anh.

Quay đầu là bờ. Mẹ bảo với nàng vậy. Bạn bè bảo với nàng vậy. Kể cả Sơn. Sơn hết dỗ dành rồi nghiêm khắc. Anh ấy yêu Ly đấy. Đừng giận nữa. Đàn ông mà. Và Sơn, biết đâu cũng sẽ thế. Cả nàng nữa. Nàng cũng đã ra sức bao biện. Miễn là anh trở về. Miễn lại được ôm anh. Hôn anh. Miễn lại được đắm chì trong hơi thở anh. Mùi rượu lẫn mùi đàn ông của anh đã làm Ly mê đắm đến nghẹt thở. Rồi Ly và anh sẽ có những đứa con. Những đứa con sẽ rất đẹp xinh vì giống cả anh và Ly.

Nhưng.

Ánh trăng non mỏng mảnh rải tấm thảm vàng liêu trai và ma mị. Mùi hương hoa hồng dẫn dụ. Nàng rón rén theo. Nàng rụt rè chạm tay vào mặt hồ. Đám rong rêu từ phía đáy hồ nhảy múa và rủ rê nàng. Có cả nhạc. Nến trắng. và hoa hồng. ơ kìa.    Có cả Sơn. Đúng là Sơn. Sơn làm gì ở đây. Nàng đã từ chối đến biển chỉ vì nghĩ rằng Sơn cũng ở đó. Nàng sẽ không toàn tâm với anh khi nghĩ Sơn đang ngay cạnh mình, đang cô đơn bên lề hạnh phúc của nàng.  Chỉ nghĩ đến đó thôi nàng đã không chịu nổi và nằng nặc đòi anh thay đổi kế hoạch. Nàng trốn tránh Sơn ở vùng đất xa lạ này. Cớ sao Sơn lại kiếm tìm nàng. Cớ sao vậy Sơn. Sơn. Sơn là yêu quái kiếp trước xuống đây hành hạ Ly. Sơn có làm chi nên tội đâu mà Ly nói vậy. ừ nhỉ. Sơn có làm chi nên tội. Nhưng cứ là Sơn gần gũi, thân thiết như hơi thở thế mà Ly không tài nào chạm tới được. Ly thấy có lỗi. Ly xin lỗi Sơn.

Không. Ly không có lỗi. Ly. Tỉnh dậy đi. Ly.

Người ta vớt được xác Ly phía bên kia bờ hồ. Một đám tang lặng lẽ và không nước mắt. Đáng đời con đàn bà phản trắc. Đàn bà phản bội chồng thì chỉ có kết cục đó thôi. Nghe đâu là chết vì đi theo tiếng gọi của tình yêu đấy. Gớm nhỉ, lãng đãng chả khác gì phim ăn liền.

Những vòng hoa xếp ngay ngắn cứ đầy lên che lấp mộ nàng, lặng lẽ tỏa thứ hương thơm kỳ quặc. Có người bảo đó là mùi hoa oải hương đấy. Có người bảo, không,  đó đích thị là hương hoa hồng. Loại hoa hồng dây leo giống Pháp.

Nguyễn Hồng

Chuyện từ vùng biên giới Bắc-Nam Hàn

 NamHan

 

Tuần trước người viết có dịp thăm vùng phi quân sự giữa biên giới Bắc và Nam Hàn. Người hướng dẫn du lịch là một sĩ quan quân đội Nam Hàn về hưu và nói tiếng Anh lưu loát. Ông vừa làm việc thiện nguyện tại đài tưởng niệm Chiến Tranh Triều Tiên ở thủ đô Seoul và vừa làm hướng dẫn viên cho du khách nên có hiểu biết rộng rãi về lịch sử và thời sự Nam Hàn. Người viết cũng đọc khá nhiều sách vở về đời sống của người dân Bắc Hàn và hiểu chính sách tẩy não thâm độc của chế độ họ Kim từ khi sinh ra cho đến tuổi trưởng thành nên không lấy làm lạ. Chuyến xe du lịch chỉ có bốn người nhưng người hướng dẫn lẫn người viết đều quan tâm đến những vấn đề lịch sử, chiến tranh, thời sự nên thảo luận sôi nổi suốt đoạn đường từ thủ đô Seoul lên vùng biên giới.

 

“Làng hòa bình” bên kia sông Imjin

 

Buổi sáng trời mưa trên sông Imjin, máy hình chụp không rõ lắm nhưng nhờ ống nhòm đặt trên trạm quan sát dành cho du khách gần vùng phi quân sự nên thấy khá rõ sinh hoạt của người dân Bắc Hàn dọc biên giới. Nhiều nhóm nông dân đang làm ruộng trên cánh đồng, một số chăn bò, một số khác cấy mạ. Ngoài ra, bên kia sông còn một dãy chung cư tương đối sang trọng.

 

Khu nhà sang trọng này được Bắc Hàn đặt cho một cái tên rất cao quý: Làng Hòa Bình (Kijŏng-dong). Khu vực có điện đàng hoàng và mỗi đêm đèn được bật sáng khi trời vừa tối. Nhưng không lâu sau khi được xây dựng, các cơ quan truyền thông quốc tế khám phá ra không ai sống trong những khu nhà đó. Nhà không có cửa kiếng và đèn được mở tắt tự động đúng giờ. Những người duy nhất hoạt động trong khu vực là phu quét đường, nhưng chính họ cũng chỉ làm công việc tuyên tuyền để gây ấn tượng “làng Hòa Bình” đang sinh hoạt bình thường.

 

Cách một dòng sông hẹp nhưng đời sống vật chất và nhất là tinh thần giữa Nam và Bắc Hàn xa như thiên đàng và địa ngục. Trong lòng người viết chợt dâng lên niềm thương cảm cho số phận những con người bất hạnh bên kia.

 

Với chính sách trồng người thâm độc của bộ máy tuyên truyền Bắc Hàn, cái nhìn của người dân Bắc Hàn về mọi lãnh vực đã hoàn toàn bị thay đổi. Họ có thể không còn biết tủi thân cho cuộc đời nô lệ của mình mà trái lại lại cảm thấy vui và hãnh diện với “chân lý” “không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã đóng đinh vào nhận thức họ từ khi mới ra đời. Cũng chính “chân lý” đó đã giết khoảng ba triệu người Việt Nam và đang tàn phá một dân tộc có hơn bốn ngàn năm văn hiến.

 

Trong trường học, học sinh Bắc Hàn được dạy người dân Nam Hàn nghèo đến nỗi không có nhà để ở phải sống trong gầm cầu và ăn mặc rách rưới. Mỗi khi nhìn sang bờ nam sông Imjin, người dân Bắc Hàn bị tẩy não cảm thấy xót thương cho dân Nam Hàn khốn khổ đang chịu đựng “dưới gót giày đế quốc Mỹ”. Họ hãnh diện vì hạt lúa họ gieo, nắm mạ họ cấy là chính từ bàn tay “độc lập, tự do” của họ chứ không phải “ăn bám đế quốc Mỹ” như mấy chục triệu người miền Nam. Họ được dạy Bắc Hàn là xứ sở thần tiên nhất trên đời. Không ít người dân Bắc Hàn sinh ra, lớn lên, già nua và chết đi trong “niềm kiêu hãnh” đó.

 

Trong tất cả các nước từng chịu đựng chiến tranh do chủ nghĩa CS xâm lăng, có lẽ Triều Tiên là gần gũi và dễ so sánh với Việt Nam nhất nên nghĩ đến Triều Tiên không khỏi cùng lúc liên tưởng đến Việt Nam.

 

Bên kia sông Bến Hải

 

Đa số người Việt bên kia sông Bến Hải một thời đã nghĩ về miền Nam giống như người dân Bắc Hàn đang nghĩ về Nam Hàn. Ngay cả hôm nay không ít trong số trong số họ vẫn chưa gạt bỏ hẳn nhận thức đó. Hơn Bắc Hàn ở chỗ, tại Việt Nam, không chỉ những người dân sống trong các vùng rừng núi xa xôi hẻo lánh mà ngay cả những người có trình độ học vấn cao, mang hàm phó giáo sư, giáo sư, tiến sĩ cũng bị nhiễm loại vi trùng “không có gì quý hơn độc lập tự do” tương tự.

 

Sau 41 năm, một số đã biết đó không phải là sự thật và biết mình bị lừa gạt nhưng vẫn cố tìm một lý do “khách quan” để biện minh, để lý giải cho nhận thức sai lầm của mình. Họ không đủ can đảm để chống lại chế độ và cách lý giải dễ dàng nhất là đổ thừa cho hoàn cảnh, cho số phận, cho lịch sử thay vì cho đảng CSVN.

 

Khi được hỏi “Nếu Mỹ không can thiệp bằng quân sự kịp thời, theo anh, liệu tình huống sẽ ra sao?” Người hướng dẫn chỉ về phía Bắc Hàn và nói “Nếu Mỹ không can thiệp, miền Nam không thể ngăn chận được CS miền Bắc”, “Rồi sao?” “Còn sao nữa, hôm nay chỉ có một Triều Tiên Cộng Sản như Bắc Hàn vậy đó”, anh trả lời nhanh và gọn.

 

Mỹ cũng can thiệp để ngăn chận CS tại miền Nam Việt Nam nhưng trong một tình huống khác. Thế chiến Thứ Hai chấm dứt từ lâu và một cuộc chiến tranh, dù quy ước hay du kích, cũng không thể thắng bằng chiến lược chỉ tập trung phòng thủ miền Nam.

 

Mối liên hệ giữa Chiến tranh Triều Tiên và Chiến tranh Việt Nam

 

Nếu không có Chiến tranh Triều Tiên, cục diện chiến tranh Việt Nam có thể đã khác. Chiến tranh Triều Tiên để lại cho cả Trung Cộng lẫn Mỹ một bài học về giới hạn sử dụng phương tiện chiến tranhh, hỏa lực và nhân lực. Đối với Trung Cộng, Bắc Hàn và Bắc Việt là vòng đai an ninh (buffer zone) của Trung Cộng và Mỹ chỉ muốn ngăn chận CS từ vĩ tuyến 17 chứ không muốn tái diễn cuộc chiến trực tiếp với Trung Cộng dù thắng cũng vô cùng tốn kém một lần nữa.

 

Dân Nam Hàn may mắn hơn VNCH vì Kim Nhật Thành sau khi không nuốt được Nam Hàn đã chấp nhận ngưng chiến. Họ Kim độc tài tàn bạo nhưng còn biết dừng lại, Hồ Chí Minh và lãnh đạo CSVN thì không. CSVN nhất định “chống Mỹ cứu nước” cho đến khi nào CS hóa toàn cõi Việt Nam. Sinh mạng của nhiều triệu người Việt, tương lai bao nhiêu thế hệ Việt Nam, viễn ảnh một Việt Nam nghèo nàn thua sút phần lớn nhân loại không nằm trên bàn tính của Bộ Chính trị đảng CSVN. Bài học chiến tranh Triều Tiên chưa phai mùi thuốc súng với hơn 3 triệu người thiệt mạng chỉ trong vòng 37 tháng đánh nhau không làm họ phân vân. Khả năng Mỹ trực tiếp đưa quân tham chiến và nhiều triệu tấn bom sẽ được ném xuống hai miền không khiến họ do dự. Lãnh đạo CSVN chỉ cần chiến thắng, dù chiến thắng trên máu xương của đồng bào ruột thịt, trên xác đám trẻ thơ vừa mới chào đời, trên cảnh tương tàn phân hóa tận cùng của đất nước.

 

Trường hợp giáo sư Oh Kil-nam

 OhKilnam

Hiện có mấy chục ngàn người dân Bắc Hàn đào thoát sang Nam Hàn bằng nhiều cách và thật khó tin nhưng cũng có người từ Nam Hàn đào thoát sang Bắc Hàn. Nỗi tiếng nhất là trường hợp đào thoát đi và đào thoát về của giáo sư kinh tế Oh Kil-nam.

 

Oh Kil-nam là một trí thức Nam Hàn có đầu óc tả khuynh và tham gia các cuộc biểu tình chống chính phủ Nam Hàn trong đầu thập niên 1980. Ông ta bị ảnh hưởng bởi tư tưởng CS khi học tại Đức và những lời tuyên truyền đường mật của Bắc Hàn nên đã đưa cả gia đình gồm vợ và hai con gái đào thoát sang Bắc Hàn năm 1985 qua ngã Đông Đức rồi Liên Xô. Khi đến Bắc Hàn, Oh Kil-nam mới biết đó không phải là thiên đường mà là địa ngục trần gian. Mỗi ngày ông ta phải học tập tư tưởng Juche của Kim Nhật Thành và ban đêm phải đọc những tin tức, bài vở tuyên truyền trên đài phát thanh phát sóng sang Nam Hàn.

 

Năm sau, 1986, Oh được Bắc Hàn cử sang Đức để tìm cách lôi kéo thêm các trí thức Nam Hàn khác đang du học tại Đan Mạch. Khi vừa bước xuống phi trường, Oh đi thẳng đến văn phòng di trú tại phi trường để xin tỵ nạn chính trị mặc dù vợ và hai con gái vẫn còn bị giữ lại tại Bắc Hàn.

 

Năm 1992, Oh Kil-nam trình diện tòa đại sứ Nam Hàn và trở lại Nam Hàn. Sự ngu xuẩn của Oh Kil-nam, như chính ông thừa nhận, khiến ông ta chịu đựng đau khổ đã đành nhưng kéo theo sự chịu đựng của ba phụ nữ vô tội. Từ khi Oh Kil-man đào thoát khỏi Bắc Hàn, vợ con ông ta bi tống giam vào trại tập trung và sống trong điều kiện vô cùng đau khổ. Bà Oh Kil-nam cuối cùng đã chết trong trại tập trung năm 2012 và số phận hai con gái của ông ta cũng bặt tin.

 

Người viết chợt nhớ đến câu nói của Yuri Alexandrovich Bezmenov, một chuyên viên tình báo Liên Xô đào thoát sang phía tự do, diễn tả tình trạng tinh thần của những người bị tẩy não: “Ngay cả mang anh ta tới tận Liên Xô và chỉ cho anh ta thấy trại tập trung, anh ta cũng không tin… cho đến lúc anh ta bị đá ngay vào đít, khi bị giày đinh đạp lên anh, rồi anh ta mới hiểu. Nhưng không phải trước đó. Đó là thảm kịch của trình trạng bị băng hoại về đạo đức trong con người.” Câu nói của Yuri Alexandrovich Bezmenov là một chứng minh hùng hồn cho trường hợp của “nhà trí thức” Oh Kil-nam. Ông ta chắc đã đọc rất nhiều sách vở về CS nhưng không thấy được bộ mặt thật của chế độc độc tài dã man Bắc Hàn cho đến khi đặt chân sang Bình Nhưỡng.

 

Những Oh Kil-nam Việt Nam nên sống ở “Làng Hòa bình” một thời gian

 

Việt Nam có rất nhiều Oh Kil-nam.

 

Sự kiện “Tôn Nữ Thị Ninh chống Bob Kerrey” vừa qua cũng cho thấy tầng lớp “băng hoại về đạo đức” như Alexandrovich Bezmenov phát biểu còn dẫy đầy tại Việt Nam.

 

Giống như Oh Kil-nam Nam Hàn đã phó mặc số phận vợ con trong trại tập trung Bắc Hàn, những Oh Kil-nam Việt Nam là những người có kiến thức nhưng thiếu đạo đức. Đạo đức mà họ có chỉ là đạo đức giả. Tại sao? Họ học các nguyên tắc dân chủ, từng sống trong chế độ dân chủ, rao giảng các lý thuyết dân chủ cho học trò, khoe khoang kiến thức về dân chủ nhưng lại cong lưng làm nô bộc cho một chế độ độc tài lạc hậu đã bị xếp vào quá khứ đau thương tang tóc của nhân loại. Không có tầng lớp xăng nhớt này, bộ máy già nua CS sẽ phải ngừng hoạt động.

 

Nhiều tác giả phê bình bà Tôn Nữ Thị Ninh và phe cánh đề nghị họ nên mở mắt nhìn xa sang các nước tự do, dân chủ và thịnh vượng để biết Việt Nam cần phải vượt qua và đi lên với phần đông nhân loại. Không. Bà Tôn Nữ Thị Ninh và phe cánh đâu cần phải nhìn sang châu Âu, Nhật Bản, Nam Hàn vì họ đã học ở đó, đã sống ở đó hay đã đến đó nhiều lần. Nhưng họ có mắt mà không thấy. Bởi vì, nỗi khổ đau và sự chịu đựng của con người không thể thấy được bằng đôi mắt thường mà bằng đôi mắt lương tri.

 

Và người viết chợt nghĩ, biết đâu nếu họ sống trong “Làng Hòa Bình” của Kim Jong-un một thời gian với hy vọng như Yuri Alexandrovich Bezmenov nhận xét cho đến khi “bị đá ngay vào đít, bị giày đinh đạp lên” như Oh Kil-nam, đôi mắt lương tâm và đạo đức trong con người họ sẽ có dịp mở ra.

 

Trần Trung Đạo

01-carousel-lg

Chiều Xuống

 

gần xong bữa cơm mở

mắt lên “bùm!” tương lai

của tôi trớ trêu lại

nắm giữ quá khứ của

 

kẻ khác (tôi có kêu

lên- what what!) và cứ

đinh ninh như thế giờ

đến hết đời tôi sẽ

 

hết đứng lại ngồi có

nằm xuống “bùm!” chỉ để

ý hóng kẻ mình nắm

giữ quá khứ đang ở

 

đâu? hiện đang làm gì?

tương lai có dính dáng

chi tới quá khứ của

tôi? để rồi sẽ chỉ

 

chuyên chú chuyện tìm kiếm

người trớ trêu tương lai

của tôi lại nắm giữ

quá khứ của họ cốt

 

trao trả cho xong “bác

đã nằm yên bác hãy

nằm/ bác nằm như thế

thế cho xong/ bác nằm

 

yên nhé! nằm yên nhé/

nam bắc muôn nhà đít

đở cong.” giờ thì phút

qua phút giây qua giây

 

“bùm!” chạng vạng tới bình

minh ngay ngày giờ này

trớ trêu tôi mới thấy

tuổi càng ngày chồng chất

 

tóc bạc nhiều thêm hai

tròng mắt bắt đầu dợn

sắc đỏ (những u ám!)

bụng bự và tất yếu

 

phản ứng chả còn nhanh

nhẹn tuy nhiên giở lap

top “bùm!” tay gõ mặt

chữ hai mắt tôi cứ

 

ngước ngó khoảng trống phía

trái hộp sọ (hư vô)

mặc cảnh chung quanh đời

tôi mới đó đà nhuốm

 

quạnh quẽ sờ cuống họng

hoá ra mình bị quăng

đến cõi người ta trước

cả trí nhớ tôi a

 

hèm “đừng nóng chú mày!”

..

vương ngọc minh.

 

 

8

MỘT CÁI CHẾT 

Phía mặt trời lên
Sáng nay
Tôi nhìn thấy con sâu đo ngồi khóc
Bên nấm mồ chiếc lá
Rất nhẹ
Tôi đi qua những con đường cạn kiệt diệp lục
Nghe lũ cây thút thít kể cho nhau nghe về mùa xuân
Một mùa xuân đã thành dĩ vãng!
Thành phố vẫn bình thản chảy qua dòng xe ồn ã
Bỏ quên bên lề đường mù mịt bụi
Người đàn ông tật nguyền ngồi vét chút dư đêm
!
Đêm qua hình như ông đã mơ
Một giấc mơ về xứ sở thần tiên
Nơi đó cuộc sống là chiếc bánh ngọt khổng lồ
Và những kẻ khốn cùng như ông là những đứa trẻ hồn nhiên
Ngồi trên đôi cánh mặt trời
!
Thằng bé con chân trần
Mặt mày nhớp nháp
Đứng nép bên bức tường sần sùi
Chằng chịt những hình vẽ ma quái
Đôi mắt thèm thuồng nhìn miếng bánh mỳ
Người khách vừa vứt vào đống rác
!
Hình như đêm qua
Nó nằm mơ
Nó mơ thấy một mái nhà
Nơi đó có mảnh vườn be bé
Bốn mùa rực rỡ loài hoa mang tên hạnh phúc
Nơi đó có lời ru êm dịu và bàn tay trìu mến!
Nó giật mình tỉnh thức
Vì những đòn vọt từ chiếc roi người đàn ông mang trang phục hòa bình
!
Tôi lắc đầu xua tan những ý nghĩ xót thương
Lặng lẽ vác tâm hồn đa cảm
Trượt dài theo dòng sông người đang cuồn cuộn dửng dưng!
Phía cuối mặt trời lên
Con sâu đo trút hơi thở sau cùng!

 

Trương Đình Phượng

DoanQuanDi

MeGiaChienSi

 

MẸ CHỜ BÊN BẾP LỬA

 

Bao lâu rồi mẹ còn đây cô quạnh,

Giữa thôn làng xa khuất tháng năm qua.

Ngày nắng hạ đến chiều đông mưa lạnh,

Lủi thủi một mình mẹ nhớ về xa.

 

Mùa xuân đó mẹ chờ bên bếp lửa,

Nồi bánh chưng dành đón con xa quê.

Thời chinh chiến mãi núi rừng gian khổ,

Con ra đi tan binh lửa con về.

 

Rồi mẹ đợi, đợi hoài sau trận chiến,

Phố tan hoang nhà trống vườn điêu tàn.

Con trai mẹ ngã xuống ngày binh biến,

Con không về, đau đất mẹ lầm than!

 

Ngày tháng trải dài trên thân cô độc,

Rồi sẽ gặp con cuối nẻo đường trần.

Con thay mẹ dâng đời cho Tổ Quốc,

Máu con chan hòa trên đất Tổ nghìn năm…

 

Lây lất sống từ khi con xa khuất,

Đất nước điêu tàn, sông cạn đồng khô.

Bọn Hán tặc tham tàn giành biển đảo

Muốn non sông mình thành lệ thuộc vong nô!

 

Con còn đâu để mẹ già trông ngóng,

Nhìn quanh mình vẫn thống khổ nơi nơi.

Bao tháng năm, mẹ một mình một bóng

Khóc quê nhà và khóc lá xanh rơi!!

 

UYÊN THÚY LÂM

 

 

 

ĐOÀN QUÂN ĐI

 

Mùa Thu đã hoe vàng theo sợi nắng,

Hoa cúc nở thờ ơ triền suối vắng.

Mắt ai hoài xao động bóng quân di

Chiến địa hoang tàn ghi dấu phân ly.

 

Đường hành quân sục sôi miền nắng cháy,

Ta biết em ngóng chờ tin chưa lại.

Đồng đội còn bên chiến luỹ hào sâu

Nên đôi ta vẫn cách bến giang đầu.

 

Ầm ào vọng phía trường sơn vạch núi,

Đoàn quân đi chập chùng làn mưa bụi.

Vẳng thôn xa nghe tiếng mẹ ru hời

Ngủ ngoan con! Cha về lúc yên vui.

 

Trong gió lộng vang vó câu chiến mã,

Nắng cháy da hay mưa rừng tơi tả.

Tận hiến thân này cho đến tàn hơi

Đâu thể buông gươm súng ngủ bên trời!!

 

Tháng năm qua tóc pha mầu sương tuyết,

Từng lớp người viết sử xanh hùng liệt.

Tổ quốc trường tồn qua Đinh Lý Trần Lê

Thì em ơi! Em gắng đợi ta về.

 

UYÊN THUÝ LÂM

Buổi ra mắt những tác phẩm văn học của nhà văn Nam Dao

 

2_NamDao

nhà văn Nam Dao

1

Hòng Thi hát giúp vui

 

Thứ bảy 3 giờ chiều ngày 11 tháng 6, nhóm anh em văn nghệ Boston đã giới thiệu với người đọc những tác phẩm văn xuôi của nhà văn Nam Dao gồm 4 tiểu thuyết lịch sử: Gió Lửa, Đất trời, Bể Dâu 1, Bể đâu 2 cùng 7 cuốn khác bao gồm: truyện vừa , kịch và tập truyện ngắn. Tổ chức tại Lầu 2 Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng Việt Nam ( Viet Aid ) số 42 Charles street, Dorchester – MA

Dầu ngoài trời mưa và ảm đạm đã làm ban tổ chức ái ngại, nhưng khách yêu văn học vẫn đến tham dự và đến đúng giờ. Ngay trong những phút đầu chưa khai mạc thì đã có khách mua sách.

Chương trình buổi ra mắt sách đơn giản nhưng ấm cúng. Mở đầu nhà thơ Trần Thu Miên đã giới thiệu qua về tác giả Nam Dao là Giáo sư Kinh Tế học, Đại Học Laval Département d’ Economique, Pavillon de Seve Cité  Universitaire, Ste Foy G1K 7P4 Qc, Canada. Anh rất ngưỡng mộ nhà văn Nam Dao vì thế trước đó anh đã có một buổi mạn đàm với nhà văn Nam Dao trong một chương trình truyền hình của Người Việt Boston.

Phần phát biểu của nhà thơ Chân Phương nói về những nỗ lực của các nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử trong đó có nhà văn Nam Dao, anh đưa ra những dẫn chứng cho thấy những công phu khi phải viết tiểu thuyết lịch sử. Bài nói chuyện đã gây rất nhiều ấn tượng cho người nghe.

Cũng trong phần đóng góp phát biểu, nhà văn Phan Huy Đường – đến từ Paris đã nhắc lại kỷ niệm và tỏ lòng mến mộ nhà văn Nam Dao ngay từ những tác phẩm đầu và cũng vì thế trở nên bạn thân. Trong vài phút ngắn ngủi, ông đã trả lời những thắc mắc của nhà thơ Trần Thu Miên về công việc dịch thuật của ông mà lâu nay trong giới đã rất quan tâm về một nhà văn đã có công lớn khi chuyển ngữ những tác phẩm văn học Việt Nam sang tiếng Pháp và giới thiệu rộng rãi trên thế giới.

Sự có mặt của tác giả trong phần phát biểu mà mọi người mong đợi thật giản đơn, nhà văn Nam Dao không cầu kỳ chỉ vắn tắt cho biết ông thật sự viết văn vào những năm 90’s và chọn thể loại tiểu thuyết lịch sử với mục đích phân tích lịch sử theo dạng tiểu thuyết để cho người đọc có cái nhìn tập trung hơn và những truyện lịch sử được xây dựng từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh ( thế kỷ 17 – 18 ) cho đến cận đại. ông cũng nhắc đến những án văn học như nhân văn gia phẩm, những bi kịch trong đời sống chung quanh ta….

Chương trình còn được thu hút bởi MC Tạ Khánh Yên giới thiệu anh em văn nghệ khu vực góp vui với những ca khúc mới và cũ  quen thuộc như Hồng Phi- hoa tím ngày xưa, Thanh Hằng- tanggo tím, Bùi Thạch Trường Sơn với Nắng Paris, Nắng Sài Gòn của Ngô Thụy Miên, Nguyễn Ngọc Phong ngâm một bài thơ đã làm rung động hàng triệu người nghe trong thời gian qua: Đất nước minh ngộ quá phải không anh của Trần Thi Lam được phụ họa với tiếng sáo của Tấn Nhật Bích và tiến đàn tranh của Anh Thảo, phần trình diễn hát với harmonica và guitar của Chân Phương cũng tạo sự hấp dẫn đối với khác giả. Nguyễn Trọng Khôi trình bày một ca khúc mới phổ nhạc từ thơ một người bạn.
Buổi ra mắt sách đã tạo được một không khí thân mật. Sau giờ bế mạc mọi người còn nán lại trò chuyện, chụp hình lưu niệm và trao đổi với nhau những mối quan tâm đến nền văn học Việt Nam.

 

MỘT SỒ HÌNH ẢNH TRONG BUỔI RA MẮT

 

MẠN ĐÀM CÙNG NHÀ VĂN NAM DAO

 

 

Tranh KÚM

ỨNG VIÊN ĐÁNG NGẠI NHẤT

 

TRUMP_RepublicParty

 

GiayMoi

THIEPMOIRAMATSACH

 

Quý bạn có thể tìm sách Nam Dao trên amazon

 

1/ mua trực tiếp online với amazon.us (http://www.amazon.com/s/ref=nb_sb_noss?url=search-alias%3Dstripbooks&field-keywords=nam+dao)

 

2/ mua qua  ThiVan edition : giá bìa trừ 15% và miễn cước phí với số tiền mua lớn hơn $35,00. Liên lạc nxb.thivan@gmail.com

 

 Nhung Con Nguoi

Authored by Dao Nam

1

List Price: $18.00

5.5″ x 8.5″ (13.97 x 21.59 cm)
356 pages . This is a memoir of the author with many Vietnamese poets and writers who have gone through a repressive cultural environment for nearly 50 years.

 

Trang nguyen so

Authored by nam dao
2

List Price: $14.00

5.5″ x 8.5″ (13.97 x 21.59 cm)

170 pages

A search for true happiness by coming back to self with a fresh glance at the today mad world

 

Tieng Cong

Authored by Nam Dao
3

List Price: $14.00  5.5″ x 8.5″ (13.97 x 21.59 cm)
174 pages

American and French tourists arrive Sapa, a region in North Vietnam where the Hmong people lived since immemorial time…Suddenly, the echo of Gong, a musical instrument with deep sounds and melodies, resounded faintly and created an indelible impression…Its echo awakes the wound that has never healed yet and still revealed the identity of the people in this far away mountain region…

 

7 vo kich

Authored by Dao Nam
4

List Price: $18.00

5.5″ x 8.5″ (13.97 x 21.59 cm)
362 pages

7 plays in Vietnamese

 

trong buot pha le

Authored by nam dao
5

List Price: $14.00

5.5″ x 8.5″ (13.97 x 21.59 cm)
210 pages

This is a collection of short stories based on writer’s memory of many travels all over the mad world.

 

 

Bo Kia

Authored by nam dao
6

List Price: $14.00

5.5″ x 8.5″ (13.97 x 21.59 cm) 154 pages.

Bo Kia is a novel relating the escape for freedom of a group of Vietnamese who looks toward having a decent life without fears of oppressions. But a mysterious force prevents them to realize their project…

 

 

 

khoang choi voi

Authored by dao nam
7

List Price: $14.00

5.5″ x 8.5″ (13.97 x 21.59 cm)
262 pages

Short Stories with an Asian view on life and problems of survival all over the world today

Đất nước mình ngộ quá phải không anh

thơ Trần Thị Lam, Nguyễn Ngọc Phong diễn ngâm:

 

 

bienChet

Dẫu thế nào con cũng trở lại miền trung

 

 

dẫu thế nào

con cũng trở lại miền trung

nơi mẹ đã ôm con bằng vòng tay bao la của biển

nơi giấc ngủ con được ru bằng tiếng sóng

nơi những ngọn phi lao nô đùa cùng tuổi thơ con

mẹ ơi!

con muốn tìm lại mảnh trăng tròn

treo lơ lửng đêm rằm nơi cửa biển

con muốn nhìn nước của đại dương và bầu trời xanh biếc

cánh chim hải âu và ngọn hải đăng

con yêu miền trung yêu biển quê mình

yêu những con còng hiền lành

và những ngư dân chất phác

yêu những đôi tình nhân

để lại dấu giày trên cát

đêm và những chiếc thuyền câu lấp lóe ngoài khơi

mẹ ơi!

xa quê hương con ngồi ở một góc trời

con nhớ biển nhớ vòng tay của mẹ

miền trung năm nào cũng đón những cơn bão dữ

năm nào cũng ngâm mình trong lũ lụt kinh hoàng

và bây giờ biển khóc dân lầm than

nhìn cá chết trắng bờ thương miền trung quá đỗi

biển bình yên cả triệu năm 
nay bỗng thành nạn nhân của những mưu đồ đen tối

nạn nhân của bọn người không có trái tim

dẫu thế nào

con cũng trở lại miền trung

nơi mẹ đã ôm con bằng vòng tay bao la của biển

mỗi người một tay cùng nhau cứu biển

biển sắp chết rồi không lẽ cứ ngồi yên?

 

Phạm Cao Hoàng

May 26, 2016

 

 

tumblr_static_tumblr_static__640

“Mr. JOE”

 

Trần Thị Kim Lan

Năm giời rưởi sáng hôm nay tôi đến hồ bơi.  Các gương mặt quen thuộc tỏ vẻ  ngạc nhiên vì tôi tới sớm hơn thường lệ.  Bà Mary 82 tuổi bơi hai tiếng hằng ngày, hay nhắc nhở mọi người quan tâm sức khỏe.  Bà hỏi có phải tôi mất ngủ nên đến sớm.  Tôi đáp không, trái lại đêm qua tôi ngủ một giấc ngon lành vì được một ngày vui, lên tinh thần.  Bà Mary nhướn mắt chờ tôi nói tiếp.

  • Tôi đi đám táng một người không quen biết, chỉ nghe được việc làm phi thường vô cùng cao quí của người có biệt danh “Mr. Joe.” Ông từ giả cõi ngày 2, tháng 5, hưởng thọ 88 tuổi. Hôm qua có buổi lể tưởng niệm tại một nhà thờ ở New Hampshire.

“Em lái xe đi xa vậy ?” Bà hỏi.   “Không,” tôi đáp.  “Tôi đi với những các bạn mới quen khác lứa tuổi, khác nghành nghề.  Có người lui tới thăm viếng ông Joe, có người gặp ông vài lần trong những cuộc quyên tiền giúp trẻ em tàn tật ở Việt Nam, riêng tôi chỉ nghe đến tên ông khi có tin ông mất.  Tuy nhiên chúng tôi cùng chung ý muốn:  Tiễn đưa một tâm hồn cao qúy.  Đường dài  cả hai tiếng lái xe nhưng chúng tôi không ngừng chuyện trò, nói về nghĩa cử của ông cùng cảm xúc ông truyền qua từng người.  Tôi chỉ lắng nghe và tiếp nhận những ý tình cao đẹp.  Bà Mary nói: “Ờ, o, một sự giao cảm thánh thiện sẽ tạo thêm sức mạnh.  Kể tiếp đi.  Ông ấy làm những gì để giúp trẻ em người Việt?”  Tôi đáp:

  • Tôi nghe nói ông động lòng trắc ẩn thấy trẻ em bại liệt bị bỏ bê ở Việt Nam nên ông bán nhà dùng tiền mang hằng trăm trẻ khuyết tật sang Mỹ chữa bệnh, rồi tiếp tục quyên tiền giúp thêm năm trăm em khác bên nhà có điều kiện ăn học. Sau cùng ông hiến xác cho trường đại học Harvard nghiên cứu.
  • Ông ấy tất hiện thân của Đấng CứuThế.  Phải có niềm tin Chúa mãnh liệt mới làm được như vậy.  Bà Mary nói.

 

Là một tín đồ trung hành của Thiên chuá giáo bà được dịp say sưa giảng về đức tin của  bà. Tôi gật gật rồi xin phép bơi nhẹ ra xa, không dám nói chi về sự tín

-2-

ngưởng,  bởi tôi không thấu triệt một tôn giáo nào, phần thì mang nổi thất vọng về sự phản đạo của một số mệnh danh. “tu sỉ.” Tuy nhiên tôi không khỏi mừng cho những ai có niềm tin nơi các đấng thiêng liêng.

Cả ngày hôm nay tôi miên man nghĩ ngợi về đức tin và ôn lại cảnh tượng buổi lể hôm qua.  Tổng cộng có hơn hai trăm người Mỹ và trên dưới sáu mươi người Việt.  Chúng tôi hát Thánh ca, lắng nghe  những lời tạ ơn của các vị lão thành và thanh thiếu niên Mỹ, Việt, những người đã cùng ông chia sẻ lý tưởng từ thiện hoặc tiếp nhận sự giúp đở nơi ông.

Lần lượt mổi người gợi lại những kỷ niệm và nhắc nhở công đức của ông bằng những lời lẽ chân thành đầy cảm xúc.  Qua đó tôi được biết thêm ông Joe có óc tổ chức tinh vi, đầy lòng bác ái, và tận lực nuôi dạy những đứa trẻ bệnh tật lạc loài.  Dù trong tuổi hưu ông làm việc không ngừng, lo từng miếng ăn giấc ngủ của mổi em, đối phó  với chánh quyền hai nước Việt, Mỹ về thủ tục nhập cư, liên lạc với các bệnh viện việc điều trị  và giải phẩu cho các nạn nhân khuyết tật.  Riêng ông bị bại từ nhỏ nên ông hiểu được sự bất lực kẻ tật nguyền.  Vì thế việc mở mang trí tuệ là mục tiêu của ông.  “No excuse for ignorance.”  (Đừng dung thứ cho sự dốt nát). Một vị lập lại lời ông Joe.  Mục sư bạn ông  Joe tin rằng kẻ nào yêu qúi Chúa kẻ đó chan chứa tình nhân loại.  Đức tin là món quà của Chúa và Ngài đã ban cho Joe. Tình thương của Joe là chất keo gắn bó, là gạch nối giữa người với người.   Joe từng nói: “The word needs to hear the word “God.” (Thế giời cần nghe chữ “God.”)

Sau tiếng vỗ tay một ông lên tiếng cho biết nhờ ông Joe bảo bọc một cô bé bị phỏng mà anh ta có được đứa con gái nuôi người Việt.  Cô bé ngày nay đã có gia đình.  Nhờ ông Joe anh được nghe con gái gọi tiếng “Ba.”

Kế đó một người Việt bày tỏ sự cảm kích việc làm của ông Joe, một người ngoại quốc thương người Việt Nam, trong khi nhiều người Việt giàu có mà chẳng màng để  tâm đến kẻ hoạn nạn.  Tôi đoán ông muốn nhắn nhủ  ‘người trong một nước phải thương nhau cùng.’  Nhờ quen biết những người nhiệt tình bỏ công góp của cho việc thiện, tôi tin người Việt chúng ta trên đất lạ quả có thương nhau.  Nhưng làm sao biết được anh hùng vô danh?

-3-

Đã từ lâu tôi không khóc nhưng nước mắt cứ trào ra khi một thanh niên Việt mặt mủi khôi ngô nụ cười thiện cảm lê chân yếu đứng trước quan khách nói lời cảm tạ.  Cậu tên Tuấn, tiếng Anh lưu loát, phát âm chuẩn.  Được ông Joe nuôi nấng và giao phó trách nhiệm tiếp tục công trình từ thiện của ông, Tuấn nguyện sẽ noi gương ông. “Tôi có được ngày nay là do lòng tử tế của ông Joe.” Tuấn nói. Và bằng cử chỉ nhẹ nhàng lịch sự cậu mời khách bắt đầu nhập  tiệc.

Chúng tôi được dịp thưởng thức một bửa ăn ngon do công sức của bạn hữu và con nuôi của ông Joe.

Trên đường về chúng tôi trò chuyện cởi mở hơn, trao đổi sở thích, ước mơ cùng hoài niệm.  Ba người mẹ trẻ chuyên nghiệp, kiêm giáo viên tình nguyện dạy tiếng Việt, giao con cho chồng đi đám tang, chốc chốc điện thoại hỏi thăm bầy trẻ, nhắc nhở vài điều.  Chú thợ điện, thêm nghề đánh cá, ăn ít làm nhiều, trôi dạt khắp nơi, vợ con không thiếu, hiện sống trong tình bè bạn.  Chú hay cười lộ khoản trống mất vài răng cửa, không nghe nói sẽ chỉnh hình.  Bác tài, một thầy giáo góp công sức phục vụ cộng đồng nhiều năm, tình nguyện lái xe, vừa tìm đường qua các ngõ ngách, vừa lắng nghe những câu câu chuyện sôi nổi khác đề tài kể cả hương vị quê hương, không quên phụ họa vài câu ý nghĩa.  Phu nhân của bác tài  đẹp, đãm đang, vui tính, còn thơm mùi bánh cưới, mới sang Mỹ vài năm nên lòng trĩu nặng nổi buồn xa xứ.  Chị thèm gần gủi đồng hương, luôn tiếc nuối những lần gặp gở sớm chia tay.

“Tình thương đẻ tình thương, hận thù sinh hận thù.”  Câu nói này tôi có nghe qua bổng thấy thấm thía.  Tình người của ông Joe chan hòa.  Ông ra đi tạo cơ duyên cho cuộc hội ngộ này.  Tôi, một hành khách quá giang cũng được kết nối thân tình.

Về nhà tôi gọi vài người thân của ông Joe được biết có tin ông trên mạn. Nhấn mủi tên dưới nhan đề “Children Medical Connection” hình ông Joseph B. Bodanza  hiện lên Youtube.  Trông ông đẹp lão với nụ cười hiền hậu bên mấy em  Việt bở ngở.  Nhân viên tường trình cho biết ông từng là giáo chức và một vài

 

-4-

chuyên ngành khác. Theo lời thuyết phục của một người Việt thuê nhà, ông miễn cưởng làm một chuyến đi Việt Nam.  Cảnh đẹp xứ này làm ông ngây ngất, cảnh sống lây lất của trẻ em tàn tật gợi nơi ông  xúc động tận cùng, ông quyết tâm phải làm việc gì  thay đổi cuộc sống của những tâm hồn non nớt thiệt thòi mọi mặt.  Ông tình nguyện về Việt Nam những chuyến đi sau, và từ đó đời sống của bao trẻ em bất hạnh thân thể vặn vẹo vì bệnh tật đã thật sự đổi mới từ hình dạng  đến cách suy tư.

Nhà báo tờ Boston Globe Sam Allis ghi lại vài chi tiết như sau:

Năm 1996, ông Joe, 68 tuổi đi Việt Nam lần đầu.  Hai năm sau ông thành lập “Children Medical Connection.”  Ông nhận tiền trợ giúp và bạn bè tận lực tiếp tay nhưng tự mình đãm trách mọi việc.  Hơn 15 năm qua ông làm việc trong tình trạng suy tim và chứng ung thư kịp thời chữa trị.

Nhà văn Michael H. Cunningham, một người từng kề cận hổ trợ ông, nói với tôi qua điện thoại: “Cho tức là nhận.  Tuy không có ý nhận nhưng Joe đã được nhiều người biết ơn và qúi mến. “Mr. Joe” về thế giới bên kia để lại món quà tinh thần và tâm linh bất diệt.  Vậy chúng ta hảy tiếp tục chia sẻ với mọi người.”

Tôi gác máy, viết về ông, gửi đến bạn một tâm hồn cao qúi: “Mr. Joe.”

 

 Trần Thị Kim Lan
16/05/16

FluteSaler

Một thoáng bên đường

    (Tặng em Ng. bán dạo)

 

Xuyên qua những thứ vô tình

xuyên qua những quân cuồng loạn

em đi lặng lẽ về nhà.

 

Buổi chiều chập chờn hạnh phúc

trong thời kì khủng hoảng thất thường

 

tay em cầm mấy ổ bánh mì

đứa con thơ và người chồng đau yếu

chắc bây giờ đang đói, nhớ em.

 

Tấm áo cũ sờn

che buồng tim vĩ đại

qua phố sang lồng lộn kêu gào

trở về ngoại ô xa lắc

bóng trăng treo.

 

Lê Trinh

 

 

Uyên ương

 

 

Đi qua những tháng năm gian lao lặng lẽ

thân hình tiều tụy của em là tinh thần lớn của anh.

 

Cơn run rẩy của em làm trái tim anh co lại

tung ra những sức mạnh vô cùng.

 

Những trò hề làm với đôi ta rồi quay lại nấm mồ.

 

Không giây phút nào hạnh phúc rời uyên ương

sự tin tưởng như mặt trăng thay lại mặt trời.

 

Anh sẽ cười trong những khắc giờ của cái chết

như một cuộc dọn nhà để đón em về.

 

Lê Trinh