Feeds:
Posts
Comments

co-gai-trong-chiec-ao-the-bui-tien-tuan

tranh: Bùi Tiến Tuấn

Em Sài gòn ngại nắng e mưa

 

em,

Sàigòn giờ điệu đà còn hơn trước

em đi xe đạp cong tay che dù

em đi xe “coupe”

thẳng tay che dù

những cánh tay mang “găng” dài tận khuỷu

em mặc áo rách

và quần đã phai màu

em Sàigòn, em Sàigòn

những bàn tay thon,

níu những cán dù như níu mộng

em ngại nắng,

e mưa

mà chẳng sợ biển dâu

 

đã hết rồi những con mưa không ướt đất

mưa Sàigòn,

giờ ướt lạnh em tôi

dù em mặc áo dài trắng, quần lót mini

hay em mặc quần phai màu

áo rách vai

em vẫn mang “găng” tay dài tận khuỷu

em vẫn che dù ra đường

vì ngại nắng e mưa

em ngại nắng mưa làm cháy tóc đen da

hay em sợ

buổi chiều không muốn rụng

 

em Sàigòn,

em một lần mất tích,

những hồn ma

vất vưởng giữa phố phường

những hồn ma

đi tìm nhặt trên lề đường

những giọt nắng giọt mưa của ngày tháng cũ

 

em,

Sàigòn bây giờ áo dài vẫn trắng

(nước sông Sàigòn có giặt sạch được tương lai?)

em,

quần lót mini

mỗi ngày đổi một màu theo mưa nắng

vẫn mập mờ thấp thoáng

giữa hai vạt áo dài

quấn quýt vờn bay

em Sàigòn…

giờ nón lá không che mặt

nón che buổi chiều đang rụng xuống vai ai

 

Trần Nghi Hoàng

Advertisements

_poXRrU

Langston Hughes: “Lời Negro của Những dòng sông[i] và “Hãy để Nước Mỹ là Nước Mỹ Lần nữa

Lời người dịch: Langston Hughes (1902-1967) là tên tuổi sáng chói của “Harlem Renaissance,” khuynh hướng khám phá đời sống và tuyên dương vẻ đẹp văn hóa của người Mỹ gốc Phi (African-American) trong thi ca và nghệ thuật Mỹ, đặc biệt trong thập niên 1920. Khuynh hướng này khơi dậy nguồn năng lượng sáng tạo mãnh liệt của các nhà văn, nhà tư tưởng và nghệ sĩ da đen và da màu. Từng có những tư tưởng chính trị cực đoan, gần gũi với chủ thuyết cộng sản, Hughes bị FBI liệt vào danh sách nguy hiểm về an ninh cho đến năm 1959. Ngôn ngữ thơ của ông tối giản nhưng bất ngờ với “chơi ngôn ngữ” và tính tượng trưng cao, hướng tới cảm hứng sử thi và tình yêu nước lớn lao thông qua trực giác cá nhân.

The Norton Anthology American Literature, 9th Ed. nhận xét, “Trong vòng ảnh hưởng của những khả thể nghệ thuật mở cho các nhà văn của Harlem Renaissance, dựa trên những hình thức (nghệ thuật) dân gian thôn dã của người Mỹ gốc Phi, trên những truyền thống và thể thức du nhập vào nước Mỹ từ châu Âu và Anh quốc; hoặc là trên những thể thức văn hóa mới của người da đen tại các đô thị Mỹ- Hughes chọn nhắm công việc của ông tới đời sống hiện đại, thành thị của người da đen. Ông tạo lập cấu trúc khổ thơ của ông dựa trên nhịp điệu ngẫu hứng của Jazz và tiếp nhận vốn từ trong ngôn ngữ đời thường của người da đen vào thơ.” (834)          

 

 

Lời Negro của Những dòng sông

 

 

Tôi từng biết những dòng sông:

Tôi từng biết những dòng sông cổ đại như trái đất và lâu đời hơn dòng máu người trong những mạch máu con người.

 

Linh hồn tôi lớn dậy thẳm sâu như những dòng sông.

 

Tôi tắm trong dòng Euphrates khi bình minh còn trẻ.

Tôi dựng căn lều tôi bên dòng Congo và sông ru giấc ngủ tôi.

Tôi phóng tầm mắt qua sông Nile tôi xây

Cao trên đó những kim tự tháp.[ii]

Tôi nghe tiếng hát dòng Mississipi khi Abe Lincoln xuôi dòng tới New Orleans, và tôi thấy bộ ngực bùn của sông chuyển rực vàng toàn vẹn trong hoàng hôn.

 

Tôi từng biết những dòng sông:

Cổ đại, những dòng sông bóng chiều.

 

Linh hồn tôi lớn dậy thẳm sâu tựa những dòng sông.

 

 

 

Hãy để Nước Mỹ là Nước Mỹ Lần nữa

 

Hãy để nước Mỹ là nước Mỹ lần nữa.

Để người là giấc mơ người đã từng là.

Để người là kẻ mở đường trên đồng rộng

Kiếm tìm mái nhà nơi người thấy tự do.

 

(Nước Mỹ chưa bao giờ là nước Mỹ với tôi.)

 

Hãy để nước Mỹ là giấc mơ những người đang mơ mơ thấy-

Hãy để người là miền đất hùng vĩ đại của tình yêu

Nơi không có những nhà vua đồng lõa, chẳng kẻ độc tài bạo ngược

Âm mưu nghiền nát con người.

 

(Người chưa bao giờ là nước Mỹ với tôi.)

 

Oh, hãy để quê hương tôi là xứ sở nơi Tự do

Được cài lên vương miện với vành hoa ái quốc không lầm lẫn[iii]

Dẫu cơ hội là có thực và cuộc đời là tự do

Sự công bằng trong không khí ta đang thở.

 

(Chưa bao giờ là sự công bằng cho tôi,

Cũng không có tự do nào trên “quê hương của tự do”.)

 

Hãy nói đi, bạn là ai mà thì thầm trong bóng tối?      

Và bạn là ai mà kéo tấm mạng che khuất những vì sao?

 

Tôi người da trắng nghèo, bị dối lừa, chia rẽ,

Tôi người da đen cam chịu những vết sẹo đời nô lệ.

Tôi người thổ dân bị truất khỏi quê nhà,

Tôi người di dân níu chặt nguồn hi vọng tôi theo đuổi-

Và thấy duy chỉ một chân trời như nhau cũ kỹ, xuẩn ngốc

Của chó cắn chó, của uy quyền nuốt tươi kẻ yếu.

 

Tôi người trai tràn đầy sức mạnh và hi vọng,

Quẩn quanh trong xích xiềng vô hạn tự cổ xưa

Của lợi ích, quyền uy, sở hữu, của tranh đoạt đất đai

Của tranh đoạt vàng! Của tranh đoạt những gì khiến người ta thỏa mãn!

Của việc được làm! Của tiền được trả!

Của sở hữu tất thảy những gì cho riêng lòng tham ở một con người!

 

Tôi người nông dân, trói mình vào đất.

Tôi người công nhân bán mình cho máy móc.

Tôi người da đen, kẻ nô lệ cho bạn trọn đời.

Tôi là mọi người, nhu mì, đói khát, tầm thường-

Thực đã đói hôm nay bất kể giấc mơ.

Đã chiến đấu hôm nay- Oh, Người Mở đường!

Tôi người chưa bao giờ đứng lên phía trước,

Người lao động cùng khổ bị bán suốt nhiều năm.

 

Thực tôi là người mơ giấc mơ nguyên bản của chúng ta

Trong Thế giới Cũ này, khi còn kẻ tôi đòi của những ông vua,

Người mơ giấc mơ sao kiêu hùng, dũng cảm, và chân thực,

Rằng dẫu uy quyền còn ngạo ca thách thức

Trong từng viên gạch từng viên đá lát, mỗi đường cày mới rạch

Đang làm nên nước Mỹ như người sẽ trở thành[iv].

Oh, tôi người thủy thủ tiên phong vượt những trùng dương

Trong kiếm tìm những gì tôi hình dung sẽ là mái nhà mình-

Cho tôi, người bỏ lại bờ sóng Ireland đen thẳm

Những cánh đồng xứ Poland, trảng cỏ England,

Và xẻ thân từ Lục địa Đen tôi tới

Để xây đắp “quê nhà, xứ sở tự do”.

 

Tự do?

 

Ai nói về tự do? Chẳng phải tôi?

Hẳn là chẳng phải tôi? Hàng triệu người giải thoát hôm nay?

Hàng triệu người bị bắn rụng khi chúng ta tranh đấu?

Hàng triệu người được không gì chúng ta được trả hôm nay?

Cho tất thảy những giấc mơ chúng ta từng mơ

Cho tất thảy những bài ca chúng ta từng hát

Và tất thảy niềm hi vọng chúng ta giữ gìn

Và tất thảy những ngọn cờ chúng ta giương

Hàng triệu người được không gì cho chúng ta được hôm nay-

Chỉ trừ giấc mơ ngày nay hầu như đã chết.

 

Hãy để nước Mỹ là nước Mỹ lần nữa-

Xứ sở chưa bao giờ từng là-

Và sẽ phải là xứ sở- nơi tất thảy con người đều được tự do.

Miền đất của tôi – người nghèo đói, người thổ dân, người Da đen, TÔI-

Người tạo ra Nước Mỹ,

Người của máu và mồ hôi, đức tin và thống khổ,

Người của bàn tay nơi lò thép, người của luống cày dưới mưa[v],

Phải mang lại giấc mơ kiêu hùng lần nữa.

 

Phải, hãy gọi tôi bất cứ tên xấu nào bạn chọn-

Lưỡi gươm của tự do không thể vấy nhơ.

Từ những con người đang sống trên mọi người như bầy đỉa,

Chúng ta phải lấy về xứ sở chúng ta lần nữa,

Nước Mỹ!

 

Oh, vâng,

Tôi nói thật chân tình,

Nước Mỹ chưa bao giờ là Nước Mỹ với tôi,

Và tôi đã nguyện lời thề này

Nước Mỹ sẽ là!

 

Ra khỏi những phiêu giạt, hoang tàn từ cái chết “đầu trộm đuôi cướp” của chúng ta

Sự cưỡng đoạt, mục ruỗng của phản bội, đánh cắp và gian dối,

Chúng ta, con người phải chuộc lại

Xứ sở, hầm lò, cây cối, những dòng sông.

Những núi đồi và đồng ruộng vô biên-

Tất thảy, tất thảy trải dài những tiểu bang xanh tươi vĩ đại-

Và lần nữa tạo ra nước Mỹ!

 

Khánh Phương

Hoàn thành ngày 31 tháng 12, 2017

 

[i] Nguyên tác: The Negro Speaks of Rivers. “Negro/-oes”là cách tự gọi tên mang tính nhân chủng và chủng tộc của người da đen, khác với “Nigger” là cách gọi miệt thị của người da trắng dành cho người da đen.

[ii] Nguyên tác: “I looked upon the Nile and raised the pyramids above it.” Người dịch tách làm hai đoạn vắt dòng để nhấn mạnh nhịp điệu và hình ảnh hùng vĩ của câu thơ.

[iii] Tư tưởng đề cao nguồn gốc Trung-Tây Âu và miệt thị các cộng đồng di dân-thiểu số ở Mỹ thường bị lầm lẫn với tinh thần “ái quốc”, ví dụ như hiện nay tâm lý bài trừ người Hồi giáo đôi khi được hiểu lầm là “yêu nước”(chú thích của người dịch).

[iv] Nguyên tác: “That’s made America the land it has become.”

[v] Nguyên tác: “Whose sweat and blood, whose faith and pain/ Whose hand at the foundry, whose plow in the rain”. Người dịch thay đổi cấu trúc cú pháp nhưng giữ nguyên ý nghĩa.

 

Xem nguyên tác tại đây:

https://www.poetryfoundation.org/poems/44428/the-negro-speaks-of-rivers?gclid=EAIaIQobChMIqoW2y4y22AIVB7jACh2R2QaSEAAYASAAEgLI8_D_BwE

https://www.poets.org/poetsorg/poem/let-america-be-america-again

 

KhanhKiet

lụa thất thần

 

 

lần hồi

thơm một dấu tay

người quyn tơ giấy.  để gầy vóc.  lem

thơm run một cánh hoa mềm

trong nắng

trước gió

ngoài thềm trăng          lay

bây giờ dáng lụa xiêu ngây

dâng nghe sầu khó cuộc bày

tôi

          em

có tôi.  rồi.  có  em không

có nhau chạm nỗi tang bồng thiên thu

cuối đông.  thắp

ngọn đèn mù

 

 

 

hoàng xuân sơn

8 dec. 2017

Hani-Mazhar

HẠT CÁT

 

Từ vô lượng biển sông
Đến sa mạc mênh mông
Đâu đâu cũng là cát
Có có mà không không!

Tôi đi suốt cuộc đời
Chân cát bụi muôn nơi
Linh hồn và thân xác
Như phận cát nổi trôi.

Tôi đi cùng biển dâu
Như hạt cát không màu
Sáng mai mặt trời mọc
Đêm tàn vầng trăng thâu.

Đắm trong cõi vô minh
Cát hằng hà lênh đênh
Bão giông chìm đêm tối
Nắng lửa hồng thủy tinh.

Tôi nghe lời cát ru
Cùng sóng biển thiên thu
Đời người như tia chớp
Giữa luân hồi âm u!

Ôi! Cát trắng cát vàng
Hồn vũ trụ mang mang
Thấy trong một hạt cát
Lấp lánh cả thế gian!

Hạt cát ơi hạt cát
Lấp lánh đẹp vô biên
Trong nhiệm màu phép tắc
Có hồn ai nhập Thiền.

 

TRẦN THOẠI NGUYÊN

 

MÙA ĐÔNG NHỚ MẸ

 

Mùa đông về, lòng con nhớ Mẹ!
Bàn tay thèm hơi ấm bếp xưa.
Giữa trời đất mênh mông đông lạnh thế
Cuộc đời con chao đảo cánh nôi đưa!

Khắp thế gian không nơi đâu ấm bằng lòng Mẹ

Dẫu mùa đông băng giá bốn bề
Dẫu máng cỏ hài đồng trong đêm đen cõi thế
Trong lòng Mẹ đời đời vẫn ấm sáng rực sao Khuê!

Mẹ ơi! Cõi lòng Mẹ thiêng liêng
Dẫu cuộc đời con bảy nổi ba chìm
Dẫu trời mùa đông băng giá buốt
Con về trong lòng Mẹ hết ưu phiền!

 

TRẦN THOẠI NGUYÊN

 

 

NÓI VỚI EM YÊU CUỘC ĐỜI

 

Cuộc Đời tươi đẹp làm sao!

Ngày xanh nắng gió đêm sao trăng đầy.

Mai về ngủ dưới hàng cây

Mộ bia khắc tạc những ngày yêu em!

 

TRẦN THOẠI NGUYÊN

 

21151574_1605085839513255_8623614591675977493_n

TÌNH MÃI ĐẸP TRONG MƠ

 

 

 

 

  Tình còn mãi đẹp như trong cổ tích

  Một mùa yêu thương ghi khắc trọn đời. 

  Cõi nhân gian chốn u trầm tĩnh mịch

  Trong lặng thinh anh tìm ánh sao trời. 

 

  Như nàng Tấm hoá thân vào trái thị,

  Em thơ ngây say giấc ngủ bên bà. 

  Mơ hoàng-tử, mơ lương duyên tuyệt mỹ,

  Anh bên em, cần chi đến lụa là. 

 

  Em an nhiên tâm hồn theo suối mộng,

  Dáng trang đài ánh mắt biếc bâng khuâng. 

  Khúc tình ca ngân trong chiều gió lộng

  Nghìn xưa sau còn đọng nét thanh tân. 

 

  Lời yêu thương có đôi vầng nhật nguyệt,

  Đến cùng nhau như thuở trước an bày. 

  Về sau nữa duyên tình càng tha thiết,

  Nghĩa ân đầy bao thuở chẳng phôi phai. 

 

  Đôi chim hót líu lo trong nắng sớm,

  Chân mây hồng toả ánh ngát lưng trời. 

  Qua song cửa bình minh tươi vừa chớm

  Tình trong mơ còn nguyên nét rạng ngời. 

 

   UYÊN THÚY LÂM

intermission

HỒI ỨC TRONG MÁU

 

 

1.

 

Những cuốn sách được nghiền nát rồi hòa với nước làm thành một thứ thuốc chích bơm thẳng vào máu đã tỏ ra là một liệu pháp hiệu nghiệm trong việc giáo dục và đào tạo những nhân cách tiên tiến. Chính vì thế mà tôi tiếc khi phải đem bán từng cuốn sách. Nó chẳng được mấy bát cơm hay mấy ly cà phê. Chắc chắn là đã từng được bơm cái thứ nước hòa với bột sách ấy, khi có những lúc tôi không kiểm soát được chính mình. Zarathoustra đã nói như thế hay Alexis Zorba chịu chơi xúi giục, tôi vẫn ngồi lì ở một góc phố nhâm nhi cô gái bán cà phê và cả những cô gái tất tả đi qua với cái mông lép. Không thể nào biết chuyện gì sẽ xảy ra khi đột nhiên những cuốn sách bị lôi ra đường rồi châm lửa đốt. Họ bảo như thế là tốt hơn. Tốt hơn thì nhất định nên làm. Nhưng tôi bảo tôi cần mấy đồng bạc để trưa nay ăn cơm. Họ bảo muốn ăn cơm thì hãy lao động. Đúng là như thế. Chúa cũng bảo như thế. Nhưng tôi vẫn muốn bán mấy cuốn sách cũ hơn là đem đốt. Ít ra thì cũng có một ly cà phê sáng để nhâm nhi cô gái bán quán và nhâm nhi những cô gái đi ngoài đường. Và khi chúng ta nhâm nhi nhau, máu thịt chúng ta nuôi nhau chẳng là cũng bõ bèn biết bao cái thời gian vàng bạc châu báu trên trần gian này. Tôi đã cầm quyển sách từ khi bốn năm tuổi gì đó ở nhà một ông giáo làng và chưa kịp nhận ra mặt chữ thì đã phải di cư theo ý của đấng toàn năng đến một khu rừng cao su đang mưa. Tôi nhận ra một điều là cứ mỗi khi tôi làm một cái gì đó có tính cách thay đổi thì trời mưa. Những hạt mưa rơi nhanh từ trời xuống những chiếc lá xanh. Từ những chiếc lá xanh, những hạt mưa rơi chậm xuống mái bạt. Âm thanh trên lá, âm thanh trên bạt và cả tiếng gió xạt qua đám lá, cào trên tấm bạt tôi đã nghe rất rõ và ngửi thấy cả mùi hôi của đất bốc lên. Tôi chẳng bao giờ quên những âm thanh đầu tiên và cái mùi muôn thuở ấy cũng như hình ảnh của ngôi nhà bốc cháy. Đồng tiền có những dòng chữ con gái (tôi đoán thế), một bên viết: Một con vịt xòe ra hai cái cánh, bốn con vịt xòe ra bao nhiêu cái cánh? Ở mặt phía bên kia, dòng chữ viết bên cạnh con rồng: Chúc “you” luôn hạnh phúc. Tôi bỗng nhiên nghi ngờ mọi sự. Bốn con vịt có phải thực sự xòe ra tám cái cánh? Và “you”, you có hạnh phúc không? Và dù bốn con vịt có bao nhiêu cánh đi nữa, you có hạnh phúc hay không, đồng tiền ấy tôi vẫn đổi được một tách cà phê và mấy điếu thuốc. Quyển sách đã gấp lại bằng câu “Thật tình ta chẳng hiểu gì hết, tuyệt nhiên không. Nó là thế đấy” không để lại một chút ám ảnh nào. Cơn mưa cào trên mái bạt gần năm mươi năm trước bây giờ vẫn cào trên mái bạt. Quán cà phê góc phố nhấp nhổm bỏ chạy. Bọn nó tới. Cô chủ quán nói anh làm ơn ngồi sát vào chân tường. Tôi lúc nào cũng ở chân tường. Ông cậu rao bán thuốc chuột ở một cái chợ bé như một cái mẹt. Tôi không hiểu nổi làm sao ông vẫn kiếm đủ tiền để hút thuốc phiện. Cuộc phiêu lưu của ông kết thúc ở tuổi bốn mươi chín khi ông không còn rao được nữa dù thuốc chuột của ông vẫn công hiệu. Lúc ấy máy cassette chưa thịnh hành, người ta vẫn phải khóc và tụng kinh bằng mồm của mình. Cô chủ quán vội vàng dọn dẹp bàn ghế. Chiếc xe dép từ từ chạy qua. Những người ngồi trên xe chỉ trỏ với khuôn mặt đe dọa. Khi họ đi khuất, cô chủ quán lại bày bàn ghế ra. Tim cô vẫn đập thình thịch trong lồng ngực. Tôi bảo muốn vào viện tim mà chờ được tới phiên mình khám thì hoặc đã ngoẻo hay là tự khỏi bệnh. Cô gái cười. Tôi hỏi em cao thước mấy? Một thước năm mươi. Tôi bảo em cao thêm hai tấc nữa thì làm người mẫu được. Tại sao lại cứ phải làm người mẫu. Danh giá lắm à? Không danh giá thì cũng dễ kiếm tiền. Bằng cách làm điếm à? Không, nói thế oan. Người mẫu tất nhiên là đẹp, mà đẹp thì nhiều cơ hội lắm. Tôi lại chỉ thích bán cà phê thôi. Vì sao? Vui. Nhưng kiếm tiền sao bằng người mẫu. Cũng không hề gì, niềm vui của em là một ngày có vài chục ngàn, diễu những người đàn ông tư lự và cười với những người đàn ông bông lơn. Tôi là người để em diễu hay cười? Để khóc. Em có năng khiếu tấu hài đấy. Đóng kịch bây giờ cũng nhiều tiền, em thích đóng kịch không? Ngày nào em cũng phải diễn với khuôn mặt niềm nở. Phát minh mới trong công nghệ sinh học, thuốc chuột đa năng có thể dùng để uống hoặc xoa bóp đều công hiệu như nhau, bà con cô bác mua hai gói bổn hiệu tặng thêm một gói. Ông cậu chắc chắn phải niềm nở hơn em. Chuột chết nhiều đến độ vị sư già tụng kinh cầu siêu bảo ông này nghiệp chướng chồng chất không thể siêu thăng được. Lời cảnh báo ấy chẳng có ý nghĩa gì trong sự mơ hồ của thế giới, nhưng nó đã biến thành nỗi sợ hãi khi mười hai đạo tì khỏe mạnh không nhấc được chiếc quan tài lên. Mợ tôi và mọi người trong họ xúm vào lạy lục ông sư: Xin thày mở lòng từ bi cứu độ, tốn kém bao nhiêu cũng cố lo toan cho chu đáo. Ông sư nói: Sống đi đường nào, chết về nẻo ấy. Cứ để cho người chết giải quyết việc của mình. Mọi người cầu xin: Hãy giải oan cho chúng tôi. Ông sư nói nghiệp ai người ấy gánh, phúc ai người nấy hưởng. Họ hỏi lại sư: Thế thày bảo chuột có phải là sinh linh không? Tất nhiên đó là sinh linh, còn có thể là kiếp phận của một ai đó. Nếu những con chuột chết đòi báo oán thì sao? Người chết đã chết rồi. Người sống cần phải được tử tế, thày bảo thế có đúng không? Tất nhiên là đúng. Vậy thì chẳng những cần phải giúp cho ông giết chuột siêu thăng mà cả những nỗi niềm oan khuất của chuột cũng cần phải được một phen phổ độ. Ông sư nói: Cái khó không phải tôi khó, nhưng khó là chỗ làm sao mời được bảy mươi hai vị sa di để cùng hành lễ. Xin thày cứ chỉ dạy. Nếu mọi người tha thiết thì tôi xin mách bảo, ở thiền tự Lăng Nghiêm hiện có bảy mươi hai sa di được tuyển chọn đặc biệt tinh tuyền đang tu tập ở đó, hãy thỉnh họ đến đây. Ôi thế thì khó thật. Có tiền mời chưa chắc đã xong. Lúc ấy, anh Hai tôi còn nhỏ, nhưng tật hay nói leo, oang oang cái mồm: Tiền thì đã đành, nhưng còn có cách sai người khác nữa là dùng quyền. Mình không có quyền thì mượn quyền người khác. Mẹ tôi bảo, mày chỉ được cái hóng hớt. Thứ dân mạt hạng như mình thì mượn đâu ra quyền mà hành người khác. Một ông bạn của mẹ tôi đột nhiên lên tiếng. Ông nói rất nhẹ nhàng: Cháu nó góp ý hay đấy, tôi có người bạn làm lãnh đạo ở đây, để tôi nhờ thử xem. Chẳng biết câu chuyện lòng vòng thế nào. Chỉ trong vòng mấy tuần trà, bảy mươi hai vị tăng sinh nghiêm cẩn và trẻ trung đã có mặt trong sân nhà cậu. Anh Hai nói nhỏ vào tai tôi: Mày hãy cầu cho quốc thái dân an. Tôi hỏi lại: Cầu cho cậu siêu thoát chứ? Tất nhiên rồi, cậu mà không siêu thoát thì quốc thái dân an thế chó nào được. Cậu thì liên quan gì đến quốc gia đại sự? Không phải cậu liên quan mà chuột liên quan. Tôi sợ lại phải nghe anh Hai lý sự nên không hỏi nữa. Các vị sư đã xếp thành hai hàng. Họ chắp tay ê a tụng kinh. Giữa tiếng chuông tiếng mõ, tôi buồn tình cũng lẩm nhẩm đọc: Nhất dương chỉ, nhị thiên đường, tam quốc chí, tứ đổ tường, ngũ vị hương… Cậu thì chắc đã đủ tứ đổ tường, nhưng cháu chỉ thích ngũ vị hương. Năm em Spice Girls, em nào cũng sướng. Đột nhiên cỗ quan tài bốc cháy. Ông cậu được tắm lại một lần nữa giữa sự kinh hoàng của mọi người. Vị cao tăng an ủi: Đấy là điềm lành khi chúng ta chứng kiến nhãn tiền một cách giải thoát. Ở trước nấm mộ, chờ lúc mọi người đã ra về, tôi viết vào tờ giấy dòng chữ : “Nơi an nghỉ của người đã sống và chết trong lửa”, rồi lấy cục đá dằn trên mô đất mới đắp. Kể ra cũng hơi cường điệu, nhưng tôi nghĩ ông cậu chẳng phải đã thật sự sống với ngọn lửa bàn đèn và chết trong quan tài bốc cháy sao. Tôi nhìn thấy vú cô gái trong áo khi cô cúi xuống đặt bình trà lên bàn. Ngọn lửa trầm lặng âm ỉ và buồn phiền. Ông cậu cũng đã từng bỏ nhà đi giang hồ gần mười năm theo một gánh hát. Nghe đâu ông cũng đã sống với một bà trong Nam. Chẳng biết điều gì đã khiến ông quay trở về quê nhà để tất tưởi và câm nín trong tiếng rao bán thuốc chuột với một nhịp điệu không bao giờ thay đổi. Em cho anh thêm mấy điếu thuốc lẻ. Tôi hỏi cậu làm gì trong gánh hát. Cậu bảo viết tuồng. Tôi nói viết tuồng thì cần gì phải đi theo đoàn. Cậu nói cũng có thể không cần, nhưng cậu đi là vì cậu muốn viết cho một người đóng. Người cậu yêu? Cũng không hẳn vậy. Còn có một bà khác phải không? Cậu nói có những điều người ta không thể vượt qua được. Đấy có phải là đàn bà không? Cậu im lặng. Công nghệ sinh học làm chuột chết không đau dù đứt từng khúc ruột. Anh không hút thuốc dổm đâu nhé. Yên tâm, đồng chí cứ bình tĩnh mà suy nghĩ. Tôi có thể suy nghĩ điều gì ngoài một nỗi mơ mộng bọt bèo. Nhiều lần đi xem kịch và tiếp xúc với cả những cô đào cải lương, tôi vẫn tự hỏi đâu là cái cậu mê đắm. Những người đàn bà nghệ sĩ, cậu nói, chỉ thực sự là họ trong vai diễn. Lúc ấy, họ có đôi cánh của thiên thần, con mắt của quỉ và cái miệng của chiêm bao. Tôi lại chỉ thích thấy đàn bà trong lúc đói. Có thể bảo cậu kể chuyện giang hồ, nhưng chưa bao giờ tôi dám hỏi tại sao cậu nghiện. Một lần khác, cậu nói không có một giới hạn nào mà người ta không thể vượt qua. Tôi bảo cậu không nhất quán. Cậu cười: Thượng đế cũng có nhất quán đâu. Sau đó cậu nghiêm trang: Đó chính là cái bí ẩn nhất của tạo hóa. Tôi nói Thượng đế thì quả là không hiểu được, nhưng ngay cái việc cậu lấy vợ làng cũng là điều khó hiểu với tôi. Đấy, một ông rất mực dân chơi, thế mà lại lấy một bà nhà quê vừa dốt nát vừa xấu. Hôm ăn lễ hỏi, tôi nghe kể lại, mẹ tôi đã khóc sướt mướt. Mẹ thương cậu. Tại sao cậu lại chấp nhận số phận hẩm hiu để sống với một người đàn bà nửa người nửa khỉ? Gia đình người đàn bà ấy không giàu. Bà ngoại tôi chỉ nói một câu duy nhất: Nó là một cô gái đức hạnh. Có một điều gì đó đồng cảm giữa cậu và bà ngoại về đức hạnh của đàn bà chăng. Em đi chơi với anh không? Anh mua tặng em cái gì nhé. Tặng anh đủ rồi. Anh thì cần phải bù lỗ hơi nhiều. Tôi chỉ biết rằng không bao giờ cậu dám đi chung với mợ ngoài đường. Tôi tưởng tượng cuộc nói chuyện giữa bà ngoại và cậu. Bà nói: Tao đã chọn cho mày một chỗ. Cậu trả lời: Con không muốn lấy vợ. Bà: Muốn hay không muốn cũng cần phải lấy. Cậu: Thôi được, tùy ý mẹ. Ngày tàn phai. Cậu ngồi giữa buổi chiều và cảm thấy sự phù phiếm của mình. Không uống rượu, sự vô vị làm cho nỗi hoang mang trở nên không chịu nổi, cậu đến nhà lão tổng nằm bẹp ở đó nuốt khói. Em cứ bay đi. Không có thiên thần nào chết giữa không trung cả. Nhưng Thượng đế chết trong rượu. Em vẫn hát bằng lời của anh. Nhưng người đàn ông trong anh đã chết. Chúa bảo người ta chỉ thực sự sống sau khi chết. Nhưng người ta đã hiểu sai cách nói ấy. Tôi đứng dậy. Ngày khô khốc. Tất cả mọi ngọn lửa đều tắt. Không thể hút thuốc được nữa. Hãy tưới xuống thể xác tôi héo úa những giọt nước em nín nhịn. Tôi mò mẫm giữa phố. Thượng đế đã sai lầm. Ngày cậu lấy vợ, mẹ tôi bỏ đi. Bà ngoại chỉ im lặng. Việc giao tiếp bà giao cho mấy ông chú. Quan viên bốn họ vui vẻ ăn nhậu. Tôi tìm đàn bà trong quán xá. Cậu kể chuyện tình của cậu đi. Cậu bảo giản lược lại thì mọi chuyện tình đều giống nhau. Nhưng cháu muốn biết chi tiết. Nụ hôn ngây dại. Ai ngây dại? Chỉ có nụ hôn ngây dại. Cháu muốn biết người ngây dại. Không phải đàn ông cũng không phải đàn bà. Sao lại thế? Nó là một con quỷ. Cháu có sợ quỷ không? Cháu chưa gặp. Quỷ thì không cần phải tìm. Những người đi một mình thường hay thấy nó. Tôi vẫn đi một mình chờ đón cơn cám dỗ. Quỷ bảo tôi phải bù lỗ. Những người đàn bà ngoại tình nhìn đi nơi khác. Trong giấc mơ, cô gái chỉ cười. Một khoảng cách không bao giờ vượt qua được chính là sự nhút nhát. Tận cùng của khát vọng, tôi là một xác chết. Ở mỗi nơi cậu tới, cậu đều biết đàn bà ở đó chứ? Một cách nào đó. Làm thế nào cậu thoát được họ? Linh hồn của đàn ông vốn bị giam giữ trong ngục kín của đàn bà như một thứ tông truyền. Sao cậu biết? Vì cậu ở trong ngục. Tôi cảm thấy được an ủi. Đám trẻ nhỏ vẫn hùa lên rao lớn khi nhìn thấy cậu từ xa “tin vui đến khắp mọi nhà, trung tâm công nghệ sinh học vừa phát minh ra một loại thuốc diệt chuột mới công hiệu như thần, chuột không muốn chết cũng phải chết…”  Ông bán thuốc chuột trở thành một phần ký ức của bọn nhóc. Bản thân ông bán thuốc chuột không bận tâm điều gì ngoài việc kiếm đủ tiền buổi trưa ghé nhà lão tổng hít khói. Bà ngoại tôi chỉ có cậu là con trai. Suốt bao năm cậu bỏ nhà đi không thư từ. Người cùng đi với cậu năm xưa là ông bác, anh ruột bố tôi, qui cố hương trước nói lại với mẹ rằng, cậu đang đi tìm cái mà chính cậu cũng không biết. Tôi mệt. Nhịp tim đập nhanh trong lồng ngực. Dẫu thế nào, tôi cũng cần phải sống. Cậu đã tìm thấy gì trong cuộc đời này? Tôi ngã sấp xuống. Những ánh chớp của sao băng đi qua đầu, tôi thấy từ cuối trời đằng đông hiện lên một người đàn bà mặc tang trắng, tà áo quét từ bắc xuống nam, trên tà áo lóng lánh những giọt nước mắt như đính kim cương. Mặt người đàn bà câm nín. Ánh mắt nghiêng như đang bỏ đi. Bà từ chối thế giới ư? Tôi bỗng hỏi. Người đàn bà không trả lời. Chân bà co lên và bà bắt đầu bay. Sau đó tôi chỉ còn nghe thấy tiếng khóc. Người đàn bà đầu tiên tuyên dương cái giống đực của cậu là cô gái bán hột vịt lộn. Đêm ấy, bởi lòng trắc ẩn, cậu đã ăn đúng mười hột vịt lộn cuối ngày. Và khi ăn xong, trời đã khuya lắm. Cậu nói trong cơn say: “Qua đã giải quyết cái ế ẩm cho em, bây giờ em cũng giải quyết giùm qua chỗ nằm chớ?” “Ông nói chi kỳ vậy?” “Có chi mà kỳ, chỉ bởi qua không biết về đâu đêm nay. Em có giúp qua không?” Tôi nói cậu cải lương. Cũng chính nhờ cải lương mà biết thế nào là đàn bà. Cuối cùng cậu ngủ ở đâu? Trong bếp nhà cô ấy. Cậu ngủ ở đấy mấy lần? Năm lần. Và lần nào cậu cũng phải ra đi trước khi trời sáng? Ừ. Những người phu quét đường lầm lũi. Tiếng động đầu ngày chỉ là những tiếng ú ớ của sự nuối tiếc. Tôi thích uống cà phê từ lúc trời còn mờ tối để nhìn thấy một ngày vất vả và lo toan. Những chuyến đi và sự từ biệt. Rừng cao su ngút mắt, chưa bao giờ tôi đi hết cánh rừng ấy suốt thời thơ ấu. Một đôi lần trong năm tôi thấy nó đẹp, khi tất cả mọi chiếc lá đã rụng hết, chĩa những cành khô lên trời, và khi những chiếc lá non xanh tươi thức giấc vào đầu xuân, chúng tôi đi tìm những mảng cao su khô dưới đất. Vào mùa hè, nắng làm khô vỡ quả, những tiếng nổ ròn trên ngọn cây, chúng tôi đi nhặt hột. Hột cao su có vân và màu rất đẹp, nhất là khi nó vừa nóng hổi rời cành. Tôi vẫn lưu luyến khi phải bán tất cả chúng và được đong trong một cái thùng sắt. Đó là thời gian cậu trở về sau lần giang hồ thứ hai. Và cậu không còn đủ sức để cúi lưng nhặt từng hột cao su nữa. Tôi hỏi: Cậu đã lấy mợ rồi sao còn lại đi? Cậu bảo vì cậu cần phải gặp lại một mợ khác. Bà ấy có con với cậu à? Không phải vậy, bà ấy muốn gặp cậu lần cuối cùng để biết tình yêu có thật hay không. Dường như với cậu không có gì là thật cả, phải không? Sự thật chỉ là khái niệm và nó dễ bị ngộ nhận. Chóng mặt. Tôi thấy những đứa bé bị nhốt trong những cái vòm tối, chúng kêu la đòi ra ngoài. Nhưng người đàn ông cầm gậy đứng chắn ngoài cửa, ông ta cũng la hét bảo đừng đi đâu cả. Và rồi tôi thấy nước dâng lên. Nước nhấn chìm tất cả trong ruột của nó. Lúc nào bụng tôi cũng óc ách. Không người đàn bà nào có con với cậu sao? Cậu nghĩ là có. Tại sao chỉ là nghĩ thôi? Vì cậu chưa từng thấy một đứa nào. Những người đàn ông mọc sừng giữa trán, răng nanh chĩa ra khỏi mồm. Họ đứng trên đồi cao, hai cánh tay vươn ra mỗi lúc một dài. Không một con vật nào thoát khỏi bàn tay họ. Và khi miệng họ ứ máu, sấm sét nổi lên đốt cháy tất cả mọi cánh rừng biến trái đất thành quả cầu lửa. Người đàn bà thứ hai của cậu là ai? Một mụ nạ dòng thơm như lúa. Người đàn bà cho cậu biết sống không thể thiếu tình dục. Bà như sa mạc khát nước. Hoang vu và vô độ. Bà ấy có tiền, cậu nói. Thời gian ấy cậu sung sướng. Nó thật là một cuộc rong chơi. Nhưng niềm vui nào cũng cần phải thay đổi. Cô đào hát đong đưa cái mỏ dẫn cậu đến những bến bãi xa vắng. Từ bên cánh gà, cậu se thắt bao dự cảm đớn đau. Vũ điệu và tiếng hát của cô như nỗi lòng của thiên cổ gởi vào chút phù du. Cậu điêu đứng bờ vực. Cảm giác về sự bất lực làm bồn chồn gan ruột. Một khoảng cách rất gần nhưng không thể vượt qua. Tài năng cậu và cô đào lệch nhau ở tâm thế. Tiếng hát vùi dập cậu vào hư vô. Nhan sắc thiêu đốt cậu trong hỏa ngục. Cậu đã làm một chuyện vô vọng là viết cho cô ấy diễn. Nó là một bi kịch thực sự của số phận. Bởi vì đã không bao giờ đạt tới được điều cậu muốn là cô ấy phải bay thẳng lên trời. Chỉ có tuyệt đối mới đáp ứng được cho tuyệt đối. Nhưng cậu chỉ là một con lừa. Ngày và đêm kéo lê cái số phận qua những lối mòn. Cậu đem niềm u uất vào cơn chiêm bao của khói thuốc phiện. Cô đào rũ cậu như rũ một chiếc áo rách. Cậu lê la các bến xe chia phần với lũ gái điếm. Cậu bảo sống giữa trời mới thấy trời cũng hẹp. Bọn gái điếm móc túi khách và trấn lột lẫn nhau theo một thứ trật tự riêng của nó. Cái thi vị duy nhất của cuộc sống này là không bận tâm đến ngày mai. Buồn vui nào cũng là cuối cùng. Và cậu, trong tận cùng sâu thẳm, nhìn thấy bản ngã nở hoa trên cành cây khô. Đấy cũng là thời gian cậu nhận ra rằng mọi thứ ngôn ngữ đều thừa. Hút, ngủ và chơi gái. Những ký họa phóng túng trên giấy làm cho các cô gái phục lăn phục lóc. Những ngón đàn hào hoa không chỉ làm cho gái điếm mà ngay cả mấy bà chủ quán cơm quán nước cũng mềm nhũn. Ngày ấy, có một cô bé trong veo như nước phiêu bạt đến địa ngục. Cậu không thể cầm lòng được, bảo sẽ vẽ cho cô ấy một tấm. Chưa kịp làm thì cô bé bị một đám mất dạy đưa về nhà chơi tập thể. Vỡ tử cung, cô bé chết đau đớn và sợ hãi. Cậu uống rượu liên tiếp một tháng và trong sự chếnh choáng của cảm giác, cô bé trong veo ấy luôn luôn ở trước mặt cậu với đôi mắt ngơ ngác. Cậu nghĩ cần phải giải thoát khỏi ám ảnh này bằng cách vẽ cô ấy lên vải. Và cậu đã vẽ một cô gái trong veo đến độ cậu nghĩ ánh sáng vẫn chiếu xuyên qua cô ấy. Và đôi mắt của cô ấy nhìn cậu vẫn ngơ ngác. Và cô gái vẫn bước ra với cậu. Và cậu vẫn xuất tinh bất kể ngày hay đêm. Cậu xanh mướt thịt da và vàng đục đôi mắt. Các cô gái điếm hỏi nhau, ai đã làm cho cậu đến nỗi này. Không ai trả lời được câu hỏi ấy và họ quyết tìm sự thật. Và không phải chỉ có một người nhìn thấy mà tất cả những kẻ tò mò đều nhìn thấy cô gái từ trong tranh bước ra. Họ làm lễ cúng và đốt bức tranh không cho cậu biết. Sau đó cậu ốm liệt một tháng. Lúc đó cậu không còn một ý nghĩ nào về chuyện sống hay chết. Một trạng thái lơ lửng và vô vị, không có chỗ để tới cũng như không có nơi để quay về. Nắng làm cho tôi say và tôi thấy: Những con quỉ đen chui lên khỏi mặt đất, chúng không có sừng, cũng không có đuôi, chúng nhẵn nhụi và trơn láng như con lươn. Tôi thấy lũ quỉ bò vào đám đông và chui vào trong quần họ. Sau đó tôi thấy, tất cả đàn ông và đàn bà đều cứng như gỗ. Họ đi lại khó khăn nhưng tiếng nói lại uyển chuyển và ngọt ngào. Và tất cả họ đều nói giống nhau, dự báo một cuộc thay đổi về tính giống. Tôi hỏi một người bất chợt gặp: Xin lỗi, … là đàn ông hay đàn bà? Họ lạ lùng nhìn tôi rồi bỏ đi. Tôi nhìn cả thế giới và hét: Ai là đàn ông? Không có ai trả lời. Tôi lại hỏi: Ai là đàn bà? Cũng không có ai trả lời. Lũ quỉ thò đầu ra khỏi dây kéo (quần) cười khúc khích. Tôi nhìn thấy ở gốc cây có người đang ngồi thiền. Lửa cháy chung quanh người ông ta. Tôi nhìn thấy củ của ông ấy thòi ra. Cậu bảo làm đàn ông đã khó làm đàn bà còn khó hơn. Sao vậy? Cháu cứ nghĩ xem, để thỏa mãn là đàn bà mà vẫn đức hạnh có phải khó không. Lúc ấy, tôi chẳng hiểu mấy điều cậu nói. Thoát chết sau cơn bệnh, cậu nghĩ không thể sống với mấy cô gái điếm nữa, dù họ đã quá tận tụy với cậu. Cảm giác trong veo của một linh hồn vừa được tẩy rửa, cậu bước vào thế giới tự tại và lặng lẽ. Không bất cứ một ràng buộc nào. Cậu có thể hành động mà không phải nghĩ ngợi. Những hồi niệm với cô đào hát trở nên mãnh liệt và khoan dung. Và cậu nghĩ đã đến lúc có thể vẩy tay cho cô ấy bay thẳng lên trời được. Cậu đi tìm gánh hát cũ. Dưới mái hiên đình, cô đào năm xưa ngồi ôm con cho bú. Một vẻ đẹp bình dị vô song của con người làm cho cậu lúng túng. Và cậu nghĩ, chẳng để làm gì nếu cô ấy bay thẳng lên trời, cứ để cho con người bám vào đất của nó bằng cái hạnh phúc nhỏ mọn của mình. Cậu thanh thản ra đi. Cô đào hỏi: Sao anh không ở lại? Cậu bảo: Anh chỉ muốn nhìn thấy em thế nào. Cô ấy hỏi lại: Thế anh thấy em thế nào? Cậu nói: Anh nhìn thấy em hạnh phúc. Cô đào: Anh không nhìn thấy hết. Cậu: Anh không cần nhìn thấy hết. Cô ấy gởi cho cậu một giọt nước mắt. Cậu để lại cho cô ấy một khoảng trống để điền những lời ca xa xăm. Sau đó còn dịp nào cậu gặp cô đào hát không? Tôi hỏi. Thực ra, cậu vẫn quan tâm dõi theo từng bước đi của cô ấy, và cậu nhận ra rằng, đàn bà chỉ chín mùi sau khi có con, tiếng hát của cô ấy vì thế có sức nặng hơn. Cậu có phải hối tiếc không? Không, khi chúng ta ngộ ra điều này thì cũng là lúc chúng ta bước vào mê lộ khác. Không có điểm dừng cho kẻ đi tìm. Fuck you. Con đười ươi ngẩn ngơ trước cơn mưa. Rát cổ. Người bạn cậu hỏi, tại sao cậu không viết? Viết thì được tích sự gì? Xúi trẻ con ăn cứt gà. Tôi ngồi xay những cuốn sách thành bột theo từng chủng loại. Thập toàn đại bổ gia truyền. Một cân dâm thư với ba lạng cẩm nang du lịch rẻ tiền. Bốn lạng gương danh nhân với một lạng tự học Tây ban cầm trong vòng bảy ngày. Hai lạng tư vấn tiêu dùng với bảy lạng Việt Nam sử lược. Năm lạng tự học tiếng Anh với chín lạng hướng dẫn kế toán thực hành. Một lạng võ hiệp kỳ tình với nửa cân kinh kệ. Sắc ba ngày ba đêm thành cao. Mỗi ngày ăn một miếng bằng móng tay thì hiệu quả sức khỏe có thể sánh với Hạng Vũ, thông minh có thể sánh với Trương Lương, bền bỉ có thể sánh với Lao Ái. Thế rồi cậu đi đâu? Cậu lên rừng sống chung với một người bạn. Căn chòi dựng bên bờ một con suối nhỏ. Hằng ngày cậu đi bắt cá, còn người bạn đốt rừng làm rẫy. Vào mùa nắng, bọn cậu chặt cây làm than. Có những người đàn ông đi xuyên rừng mua tất cả những thứ gì có thể mua được. Bọn cậu trao đổi lương thực và quần áo với họ. Thuốc đâu cậu hút? Đấy là thời gian cậu muốn cai. Nhưng thực ra đó không phải là lý do để cậu lên rừng. Cậu vẫn tin rằng khi chúng ta lắng nghe, chúng ta có thể nghe thấy mọi bí ẩn. Những cô gái che mặt vẫn đi ngang phần đất của bọn cậu. Họ mang theo cơm nước và dao. Để chọc ghẹo họ, cậu nằm chắn ngang con đường mòn giả như xác chết. Rồi cô gái đã cúi xuống. Khi vừa đúng tầm tay, cậu mở mắt và vít cổ cô gái. Cô gái chỉ ú ớ trong miệng. Ngày chết tiệt ấy, cô gái lại chỉ đi có một mình. Cậu kéo khăn che mặt của cô ta ra, một đôi môi khô câm nín từ muôn trùng mấp máy. Ngươi phải nói. Ngươi phải nồng nàn giãi bày khát vọng. Nhưng cô gái vẫn câm nín như cô vẫn câm nín như thế từ lúc làm người. Cậu khựng lại. Cô gái bỏ đi. Ngày hôm sau, cô đi vòng qua con đường khác. Cậu lẽo đẽo theo sau kéo co một niềm im lặng. Vào tới vùng cây buông, cô vẫn không thèm nhìn cậu, lẳng lặng chặt. Cậu giằng con dao khỏi tay cô ta, chặt điên cuồng từng tàu lá. Cô ta vẫn không nói gì. Khi cậu nghỉ tay, cô ta rót cho cậu cốc nước rồi dùng tay áo lau mồ hôi trên mặt cậu một cách dịu dàng. Cậu muốn ôm lấy cô ấy mà không thể. Có cái gì đấy từ cô ta cho cậu biết đừng để bị khinh miệt. Nó không phải là sự thánh thiện hay cao cả. Mãi sau này, cậu mới biết đó chỉ là sự ngay thẳng, mà cậu không đủ ngay thẳng để đặt trái tim mình vào lòng bàn tay cô ta. Tôi hỏi cậu: Không phải tại vì cô ấy câm điếc sao? Không, nó là phẩm hạnh lễ giáo. Tôi nhìn thấy cậu nằm úp mặt xuống đất, cả cánh rừng đổ xuống người cậu, bắt đầu là những chiếc lá, sau đó tất cả mọi cây đều bật gốc. Ngọn lửa của cô gái thiêu sống cậu. Và cậu đã nghĩ về lễ giáo theo một cách khác. Cậu nói với cô gái: Em đã làm biến đổi anh. Cậu nghĩ là cô ấy hiểu điều cậu nói. Cô ấy nhìn cậu thấu suốt vào bên trong. Cậu cảm thấy xấu hổ. Ngọn lửa liếm nhanh vào trảng cỏ. Những con thú bỏ chạy tán loạn. Tôi nhìn thấy cả chuột và mèo, nai và cọp, khỉ và voi, gấu và những con lợn rừng. Tất cả chúng đều sợ hãi như nhau. Cơn ghiền thuốc làm cậu vật vã. Cậu tự tát vào má mình, đấm vào ngực mình. Cô gái giữ tay cậu lại. Tiếng gầm gừ thoát ra từ cổ họng của cô ta tắc nghẹn. Đến lượt cô ta tự tát vào má mình, đấm ngực mình. Cô gái đã hiểu nhầm cậu. Tập trung hết nghị lực để tự trấn tĩnh, bọt mép sùi ra, cậu chắp hai tay lại và hét lớn: Không phải thế . Rồi cậu bỏ đi. Những đám ma vẫn đi qua lối này, con đường đầy ngập tiền giấy, những tờ dollar 100 lật phật theo gió. You vẫn hạnh phúc phải không? Mà you có cần gái không? Lén lút như you thì đời cũng mất sướng. Đưa tiễn you có bao nhiêu người khóc. Hỏa thiêu đài khuất nẻo giữa những người đập đá. Người ta bảo trong đá có ẩn ngọc, nhưng giấc mơ của những người đập đá là chỉ mong quẳng được cái búa. Lâu đài của you bị nguyền rủa bởi máu của những kẻ vô tội. Nhưng you vẫn là con ma nhát người. Thượng đế ở trong sa mạc với những công trình cát của người. Cậu ẩn mình trong đám lá. Những cô gái vẫn bịt mặt đi qua khu đất của cậu. Thời gian ở trong tấm vải che mặt ấy. Và thời gian làm chứng cho những nỗi niềm của họ. Con người phải tự che giấu mình dưới nhiều lớp áo và tự biến đổi mình như những hình nhân. Xin thưa với các cụ: Các cụ có thích gái trẻ không? Có ai trong các cụ không từng mua bán dâm hay quan hệ nam nữ bất chính không? Sự ca ngợi thánh đức hay tôn vinh tình dục trong sáng tạo nghệ thuật chẳng có gì khác nhau. Phẩm hạnh của người sáng tạo không phải ở chỗ anh lành mạnh hay dâm đãng. Chúa bảo: Ai trong các ngươi tự cho mình không có tội thì cứ ném đá người đàn bà này. Hãy để cho đàn bà lên tiếng. Và đừng làm quan tòa vì quan tòa cũng bị xét xử. Âm ti rất buồn phải không? Người ta dâng cúng you nhiều thứ, nhưng lại quên gửi cho you một cô gái. You thấy không, mọi nhà tổ chức đều luôn có những thiếu sót. Hãy tha thứ cho trần gian vì trần gian hệ lụy đa đoan. Có lẽ cậu sẽ ở lại mãi trong rừng và chết ở đó trong sự bình an của cây cỏ. Cậu đã chọn một chỗ nằm vĩnh viễn trên đỉnh đồi, nơi chiều chiều cậu vẫn leo lên nhìn hoàng hôn đổ xuống. Và cậu vẫn đo đếm bằng bước chân từ chỗ sống đến chỗ chết. Mấy trăm bước một kiếp người. Quá đơn giản để tiễn đưa nhau. Nhưng cây cỏ mất bình an vì những người cầm súng xuất hiện trong rừng. Cậu trở lại thành phố. Cóc nhái cũng vào thành phố. Cả ngày lẫn đêm cậu nghe tiếng cóc nhái kêu. Cậu nghĩ đến âm nhạc. Nghĩ đến lời cầu nguyện của những bà mẹ cho những đứa con. Nghĩ đến sự giải thoát kiến chấp. Cậu vào chùa lánh nạn. Rắn rết cũng vào chùa. Cả ngày lẫn đêm cậu thấy rắn rết cắn nhau và chúng cắn cả người. Cậu ra ngoài lập một cái am riêng, sống chay tịnh bằng công quả cúng dường của con Phật. Nhiều người bảo cậu buôn bán thần thánh. Cậu chỉ cười. Tiếng nói của con người trở nên ác độc. Ngôn ngữ xảo trá. Dưới chân đức Phật và trước mặt người đời, cậu từ chối đối thoại. Cậu kinh kệ bằng tiếng chuông, tiếng mõ. Nghe tiếng chuông và tiếng mõ của cậu, ma quái và âm hồn được an tịnh, cường quyền thì xao xuyến. Đấy là tiếng của hư không gọi về. Cơn nhá nhem thời cuộc nhiều oan trái. Người ta buộc nhau từng lời nói. Cậu mang tiếng đàn ra giãi bày, nhưng kẻ có tai thì ít, người lắm mồm thì nhiều. Cậu nhận ra rằng, sự yên tĩnh không phải ở không gian hay thời gian. Đóng cửa am, cậu theo dòng người chạy ngược chạy xuôi tránh khỏi bị chết oan. Người đàn bà vẫn làm công quả quét dọn trong am đòi đi theo cậu. Cậu bảo trong tâm cậu không có Phật, trên đầu cậu không có Phật, dưới chân cậu không có Phật. Bà ấy hỏi thế Phật ở đâu cho bà ấy theo. Cậu bảo Phật ở trong chùa, cứ vào trong ấy mà tìm. Bà ấy nói, thày đi rồi Phật ở với ai? Cậu bảo Phật ở với ma. Bất ngờ, bà ấy vội quay vào am. Sau này, cậu nghe tin bà ấy chết cùng với cái am đổ nát bởi bom đạn mà không biết thực sự bà ấy đã chứng ngộ chân lý hay chỉ vì một nỗi niềm tuyệt vọng. Tôi hỏi, tử vi của cậu có sao đào hoa ở cung thiên di phải không? Cậu bảo không quan tâm tới tử vi. Hãy sống như mình nghĩ. Đàn bà thích đàn ông liều mạng. Tôi vẫn bước tới hỏa thiêu đài, trên tay cầm một nắm tiền âm phủ. Cánh đồng đá lởm chởm. Tôi nói với người thanh niên đang ngửa cổ uống nước, hãy để dành cho mình một ít tiền làm giấy thông hành qua bên kia thế giới. Hắn nói: Ông cứ đi trước đi, đừng chờ. Quả là thông tuệ, tôi bảo, phải đấy. Và tôi cầm lấy cái búa của người đập đá, đập điên cuồng xuống những cục đá tảng. Một cục đá to vỡ ra, ở giữa rỗng, hiện ra hình một con cá hóa thạch. Thời gian bị nhốt lại. Tôi cầm cục đá lên ngửi. Mùi tanh của đại dương phảng phất. Khi ấy nước tràn ngập mặt đất và nối liền với trời bởi cuồng phong, Thượng đế phán: Hãy có. Tiếng nói của sự sống ứa ra ướt hai bàn tay. Đưa cục đá cho người thanh niên, tôi nói: Cục đá này bán cho người buôn đồ cổ được nhiều tiền đấy. Hắn bảo: Tôi chia cho ông. Tôi nói: Cám ơn, tôi không có ý định đi chung với anh. Tôi bước vào hỏa thiêu đài. Ba bốn cô gái đang ngồi sàng tro để nhặt cốt. Tôi hỏi: Giá hỏa táng bao nhiêu? Một trong số các cô gái nói: Làm thủ tục ở trên văn phòng. Một chiếc xe tang rồng rắn ập tới. Một người đàn ông của hỏa thiêu đài kéo chiếc xe đẩy tới. Các đạo tì đưa chiếc quan tài xuống đặt ngay ngắn trên xe đẩy. Người đàn ông kéo chiếc xe đẩy tới trước một cửa lò. Vị linh mục quàng dây hành lễ lên vai. Những ngọn nến được thắp trên nắp quan tài. Xin Chúa cho linh hồn Anna được nghỉ yên trong ánh sáng nghìn thu của Chúa. Này người, hãy nhớ mình là cát bụi… Người đàn ông đẩy chiếc quan tài vào trong lò qua hai ống lăn, rồi chất thêm củi vào trên đầu quan tài, sau đó người đàn ông tạt xô dầu vào đống củi. Khép cửa lò, người đàn ông dùng ống lửa phụt qua một cái lỗ tròn. Quan tài bốc cháy. Chúa sẽ dùng lửa để xóa sạch thế gian và xây lại trong ba ngày ngôi đền của ngài.

 

Cút

mẹ

chúng

mày

đi

cho

khuất

mắt.

 

Cuộc chiến tranh lằng nhằng. Súng bắn từ bên phải. Súng bắn từ bên trái. Súng bắn phía trước mặt. Súng bắn phía sau lưng. Cậu cũng chẳng hiểu được sao mình vẫn sống. Cuộc chiến không có kẻ bên lề. Cái chết thực sự không quan trọng, cậu dửng dưng và vô nghĩa. Quả lựu đạn gài sau tấm truyền đơn gắn dưới gốc cây kêu gọi hòa bình. Cậu bảo thằng nhóc, xé tấm truyền đơn đi. Thằng nhóc giật tấm giấy xuống cùng lúc với quả lựu đạn rơi. Thế giới chết lặng. Không, thế giới câm. Quả lựu đạn không nổ. Thôi thì hãy hút một điếu thuốc để cái chết đến từ từ. Cậu đưa bao thuốc cho thằng nhóc. Từ trong đám mây, tôi thấy ông thần đèn trùng trục bước tới và cúi rạp người xuống: “Thưa chủ nhân, xin được phục vụ ngài”. Tôi bảo: Hãy châm lửa cho thằng nhóc. Tức thì lửa từ trên đầu ông thần đèn bốc lên như ngọn đuốc. Từ rừng cao su đến trường khoảng năm cây số, tôi đi bộ qua sương sớm qua nắng trưa qua mưa chiều. Rừng âm u có rất nhiều ma. Ban ngày cũng có ma. Một hôm bụng rất đói, con ma hiện ra bắt đầu bằng cái mũ, rồi lớn dần lên to như cái nhà. Nó nuốt tôi vào bụng. Trong cái vòm tối dạ dày của con ma, tôi quờ quạng và ngửi thấy mùi cỏ rất thơm. Tôi bốc một nắm bỏ vào miệng. Con ma rú lên rồi tan biến. Nắm cỏ vẫn còn nằm trong miệng tôi. Nuốt. Con ma đã nằm trong bụng tôi. Từ đấy, tôi hay nhìn thấy ảo tượng và nghe thấy tiếng nói trong không khí. Đôi khi lão xà ích già cũng cho tôi đi nhờ trên chiếc xe ngựa ọp ẹp của lão. Lão bảo không có hai mặt trời trên thế gian. Tôi bảo điều ấy thì chắc chắn rồi và mặt trời là của ban ngày, mặt trăng là của ban đêm. Lão nói, một ngày kia mặt trời sẽ chiếu sáng cả ban đêm. Tôi bảo lão nói vui thật. Lão bảo đấy là niềm tin không phải là chuyện nói cho vui. Ít lâu sau, lão bị an ninh bắt, chẳng biết sống chết ra sao. Và tôi cũng đã hiểu như lão, một ngày kia mặt trời sẽ chiếu sáng cả ban đêm. Càng ngày càng có nhiều người cầm súng xuất hiện. Mẹ tôi lo lắng muốn đưa cả gia đình tìm nơi an toàn. Bà cầu nguyện xin Chúa quan phòng. Người mẹ của con người hiện ra trong giấc mơ, nói cứ đi đi, mẹ không bỏ con của mẹ. Sáng hôm sau cả nhà tôi dắt díu nhau về thành phố. Tôi phải bỏ học. Cả nhà tôi túm tụm trong cái chái nhà ông bác. Mẹ tôi lâm bệnh. Tôi đi bán bánh mì. Bánh mì ăn xong lại đói, tôi ước ao bánh hằng sống để khỏi vất vả, nhưng bánh hằng sống chỉ có trong thánh kinh. Ông Adam đã bị nguyền rủa và con cái của ông đã giết nhau. Không có tiền, bác tôi không bán gạo. Các em tôi ngồi khóc. Người hàng xóm thương tình bảo cứ sang nhà bà ấy đong thiếu, lúc nào có tiền thì trả. Chẳng bao lâu, tôi bị nám phổi vì lao lực. Mẹ tôi vẫn nằm bệnh. Bà cầu nguyện xin Chúa quan phòng. Người mẹ của con người lại hiện ra trong giấc mơ, soi sáng. Ngay ngày mai, con hãy ra chợ, đến quán bún của bà Phó, hỏi nhờ bà ấy một chỗ ngồi. Đấy là chỗ để con sống và chỗ để các con của con được học hành. Sáng hôm sau, mẹ tôi đã đứng lên như chưa hề bệnh tật gì, bà đi ra chợ và thấy có một quán bún nằm ngay trên lối đi chính của chợ. Mẹ hỏi: Thưa bà, bà có phải là bà Phó không? Bà ấy bảo: Tôi đây. Mẹ nói cần một chỗ ngồi để bán hàng, có thể chỉ giúp không. Bà ấy vui vẻ bảo: Con gái tôi vừa lấy chồng, bà có thể dùng cái sạp của nó, ngay bên cạnh đây, và có thể bán bất cứ cái gì. Bà ấy nói thêm: Để cho dễ, bà bán đồ ăn như tôi cũng được. Ừ, cái dễ nhất mà bà nội trợ nào cũng có thể làm được là nấu một nồi bánh đúc, mẹ nghĩ thế và sẵn mượn một cái cối xay gạo. Cả nhà tôi thay nhau vần cái cối xay bằng đá để xay gạo thành nước nấu bánh đúc. Mỗi lúc mệt lả, tôi lại thấy con ma lù lù hiện ra, nó nuốt tôi và tôi nuốt nó. Trên các tầng trời, các thiên thần ca hát với kèn đồng. Tôi thấy người đàn ông đeo tang trên đầu bước qua các đám mây. Ông ta đi tìm xác người. Ông đi đến đâu trời khép lại đến đó. Cho đến khi cả bầu trời tối lại, tôi nghe có tiếng nói: Thế giới bị phân rẽ bởi sự sống và sự chết. Hãy đi tìm kẻ khước từ cuộc sống và vượt qua cái chết. Bố tôi tìm được việc làm. Tôi vào nhà thương thí uống thuốc lao ròng rã một năm rồi đi học lại. Nhờ ơn trời, tôi học hành cũng không dốt. Cô bé ngồi đầu dãy bàn bên kia nhìn tôi thầm lặng. Mỗi khi đứng lên, ngồi xuống hay làm một việc gì đó, tôi luôn luôn nhìn cô như chờ đợi một sự đồng ý. Cô chỉ chớp mắt. Phải đến hơn một năm sau, tôi mới thay đổi cách thức tùng phục của mình bằng một lá thư tỏ tình rất ngắn, rằng:  “Tôi không nhìn thấy ai ngoài em, hãy dẫn đường cho tôi”. Ký tên: “Người mù”. Lá thư kẹp trong cuốn sách. Ngày hôm sau, cô bé trả lại cuốn sách bên trong có lá thư trả lời: “Ông ngốc ơi, cầm tay tôi đi”. Ký tên: “Người dẫn đường”. Tôi sung sướng tê liệt đến hơn một tuần lễ mới hẹn được cô bé đi chơi. Nhưng hẹn rồi cũng chẳng biết đi đâu. Ngày ấy, tôi vẫn là một cậu bé nghèo. Quần áo mặc thừa của ông chú. Chưa bao giờ vào quán nước. Tôi dẫn cô bé ra bờ sông và chỉ đủ tiền mua một gói lạc rang mang theo. Nhờ mấy hột lạc, tôi cầm tay em và trở thành người mù  vĩnh viễn. Cậu trốn việc cầm súng bằng cách xin làm cán bộ kỹ thuật. Cuộc chiến tranh tạo ra đình đám, ngày nào trong làng cũng có giỗ. Cậu theo ông phụ trách thông tin văn hóa xã vào trong làng giết thời gian bằng những cuộc nhậu mờ mịt. Không say không về. “Vô” đi ông cán bộ. Ờ phải vô mới biết nông sâu thế nào, phải không cô em? Cô em cũng vô đi cho biết dài ngắn ra sao. Những con tép sống nhảy lách tách trên đĩa. Cho xin mấy lát chanh. Này, tôi vắt chanh bỏ vỏ. Cô giáo làng ngồi nhìn cậu đăm chiêu. Nghe đâu gã thông tin văn hóa thường ghé nhà cô. Cậu hỏi: Thưa cô, cửa nhà cô có gài lựu đạn không? Cô giáo nổi quạu: Có cả mìn nữa đó. Cậu bảo: Mìn định hướng thì tôi không sợ. Tôi đi cửa sau. Mọi người cười ồ. Nào, vô. Trên bàn thờ, khói hương nghi ngút trước tấm hình một cô gái. Cái chết không được giải thích. Cô giáo nói với ông già: Bác Ba đờn đi. Ông già: Tôi đờn thì cô phải ca. Ông già với cây đàn cò treo trên vách bên cạnh bàn thờ. Tiếng gió cạ trên những lá lúa. Tiếng của thanh vắng dưới vòm cây. Từ là từ phu tướng. Bảo kiếm sắc phong lên đàng. Vào ra luống trông tin chàng. Năm canh mơ màng… Cậu  thầm hỏi cô giáo: Đoạn trường cô đã qua chưa mà u hoài thế? Rồi cậu cất giọng bông lơn: Sen xa hồ, sen khô hồ cạn. Còn lựu xa đào thì lựu ngả đào nghiêng… nỡ nào rẽ thúy chia uyên… Vỗ tay. Mấy cô bé hàng xóm đứng xem cũng vào cuộc. Ông văn hóa thông tin đứng lên điều khiển chương trình liên hoan ca nhạc tài tử cấp xóm xem ra đúng bài bản truyền hình trực tiếp. Cậu đưa cô giáo về nhà, tới cửa thì cậu ngã xuống vì say. Trong nhà cô giáo, nửa đêm cậu tỉnh. Hơi thở của cô giáo rất thơm. Có tiếng đập cửa và tiếng ồn ào bên ngoài: Xét sổ gia đình. Cô giáo ra mở cửa. Tiếng hỏi hách dịch lỗ mãng: Có người lạ trong nhà không? Cô giáo điềm đạm: Người lạ thì không có, nhưng có người quen. Bọn lính xộc vào đòi xem giấy cậu. Chúng yêu cầu cậu đi theo chúng. Ra tới chợ, cậu được giao cho ông sếp của chúng. Gã trung úy nhìn cậu: Thôi về đi ông nội. Cậu không biết nên về nhà mình trọ hay về nhà cô giáo. Cậu hỏi gã trung úy: Theo ông thì tôi nên về đâu? Gã để tay lên báng súng: Không nên mất ngủ vì chuyện vặt, thời gian không còn nhiều đâu. Đúng là thời gian không còn nhiều, cậu trở lại nhà cô giáo để cảm thấy cuộc đời không phí, dù rằng đấy chỉ là một đêm của Phật tính vô sắc tướng. Gã trung úy bị phục kích tan nát thân thể. Dư âm của tiếng nổ vẫn váng vất suốt mấy chục năm và nó làm cho một số người co rúm lại trong sự sợ hãi. Cô bé năm xưa của tôi vẫn còn ngồi bên bờ sông. Bọn điên tụ tập lại dưới lòng đường, tôi nghe chúng la hét: Hãy trùm áo mưa lên đầu kẻo nắng sẽ thiêu đốt cả tổ tiên chúng ta. Và dưới ánh nắng chói chang, bọn điên rú lên từng cơn man dại. Chúng kéo nhau đi từ phố này qua phố kia, kêu gọi người trong nhà hãy che mặt vì ánh sáng có thể làm mù mắt tất cả những ai chờ đợi nó. Cậu bảo có những người đàn bà là sinh thể của ta, nhưng cũng có những người đàn bà đưa ta đến mộ địa. Sau buổi tối gần nhau bên bờ sông với “người dẫn đường”, tôi cảm thấy có một khoảng cách không vượt qua được để đón nhận nhau. Hơn một tháng sau, chúng tôi mới lại có dịp để đi chơi chung với nhau, nhưng tôi cũng vẫn không biết cách làm cho tình yêu có thể trở nên thân mật. Tình  trạng này kéo dài suốt hai năm cho đến lúc cô bé nghỉ học đi làm. Tôi vẫn là một cậu bé ngớ ngẩn mỗi sáng dậy thật sớm ra đứng ở bến xe nhìn người yêu bước lên chiếc xe lam mù mịt khói. Ba năm lẳng lặng như thế, rồi tôi cũng đi làm. Có tiền, một cô gái có bầu vú nhão nhẹt đã khai hóa cho tôi thành đàn ông. Thêm năm năm nữa đi ngược đường, trước lúc cô bé lấy chồng, chúng tôi đã ngồi ăn với nhau, với cô bé để không hối tiếc, với tôi một cơ hội cuối. Và tôi đã biết tôi phải làm gì, nhưng tôi cũng chẳng hiểu vì sao, cả hai chúng tôi lẳng lặng xa nhau. Không bao giờ gặp lại cô ấy nữa. Trong giấc mơ tôi, người vẫn về, vẫn thiết tha, nhưng cứ mỗi lúc sắp được ôm lấy nhau thì giấc mơ tan. Một khoảng cách kỳ lạ chia lìa chúng tôi cả trong giấc mơ. Bốn mươi năm sau, tôi vẫn nghĩ đến điều này dù lòng đã dửng dưng. Số phận tôi trên bàn tay mềm mại bé bỏng đã im lìm. Cậu bảo đàn bà là một con đỉa. Tôi nhìn thấy trên bầu trời những xác người chết trôi. Từ trong miệng họ nước không ngừng ứa ra. Những con chim bồ câu ngậm cành ô liu bay qua bay lại. Tiếng đập cánh của chúng giống như tiếng ống bễ thổi trong lò nung. Góc phía tây, con thuyền gỗ đã gãy hết cột buồm nằm úp xuống phân trần với thế gian sự tuyệt vọng của mình. Tôi hỏi tại sao cậu không viết văn? Cậu bảo muốn làm nhà văn thì không được hèn, mà cậu thì không phải là người có đủ dũng khí để nói sự thật. Người viết sử có sai thì còn có người khác viết lại, nhưng nhà văn viết sai thì không ai viết lại cho anh được. Tôi bảo đừng bắt nhà văn phải vác thập giá. Cậu cười bảo cũng không ai bắt anh phải là nhà văn. Tôi quay trở lại khu đập đá, người thanh niên không còn ở đó. Tôi bước vào chòi lá trống trơn. Cái búa tạ nằm chỏng lỏn trong góc. Cầm cái búa lên, tôi hùng dũng bước tới giữa vườn đá và nhìn thấy trên tất cả mọi tảng đá đều có chữ. Nâng cái búa lên, tôi đập xuống như giết người.

 

2.

 

Ông tổ dòng họ nhà hắn đến cái cái xó làng mà bây giờ hắn nhận là cố hương từ giữa thế kỷ 19. Từ quốc lộ số 5 Hà Nội đi Hải Phòng, đến ga Phú Thái rẽ vào khoảng bảy cây số thuộc địa phận tỉnh Hải Dương, ngôi làng giấu mặt phía sau một cái làng khác sầm uất ngoài hương lộ qua một lối đi trên sống mũi. Qua ba bốn lần thiên di vì giặc giã, người làng hắn vẫn giữ cái truyền thống hèn mọn của mình là giấu mặt sau những thôn xóm sầm uất khác. Ông tổ hắn vốn người họ Dương, vì trốn tránh lệnh truy nã của triều đình nên đã cải họ thành Nguyễn và đến thôn Đũn với một lòng kính tín tuyệt đối vào sự che chở của chúa Trời. Con gái thôn Đũn mê ông vì sự chăm chỉ siêng năng và một tinh thần mạnh mẽ khác thường. Tuy trốn tránh nhưng ông chẳng hề che giấu niềm tin của mình. Không có cha cố để rửa tội theo luật, cả gia đình vợ vẫn theo ông tìm nước thiên đàng bằng cách đọc kinh sáng tối. Cái dòng dõi ấy vẫn giữ trọn niềm tin của mình cho đến năm mươi năm sau mới có một vị linh mục đến đặt sự cai trị của hội thánh La Mã và lập nên một xứ đạo. Hơn một nửa thôn Đũn đã được rửa tội. Chẳng biết Chúa có thiên vị không mà tất cả những người theo đạo ở Đũn đều làm ăn khấm khá hơn những gia đình khác không tin Chúa. Cha già Nhữ là một vị linh mục nghiêm khắc. Mỗi lần thấy bóng dáng cha là bọn trẻ con bỏ chạy, bất kể đang chơi trong sân nhà thờ hay trong chuồng gà nhà mình. Một nỗi sợ hãi không chỉ bởi roi vọt, nó là sự sợ hãi của tội lỗi. Chẳng cứ gì trẻ con, người lớn gặp cha cũng sợ. Cây ba-toong trong tay ông có thể quất vào bất cứ ai. Ngoài mười điều răn của Chúa, sáu luật điều của hội thánh, còn có luật pháp của riêng cha để cai quản xứ đạo. Bọn trẻ con lúc nào cũng thích vi phạm luật của cha trong việc vẽ bậy trên nền sân gạch tàu của nhà thờ, hoặc lén giật chuông vài cái rồi bỏ chạy. Biết mặt tội phạm là ông xách ba-toong đến nhà đánh cả bố mẹ nếu dám cản trở việc trừng phạt của ông. Ngày ông đến đã được đón rước long trọng với đủ giáo dân của cả hạt và kèn trống ầm ĩ. Người ta trải lá dưới chân ông và lấy lọng che trên đầu ông. Tất cả các vị hương lão đều quì xuống đón nhận phép lành của ông. Ngày đưa tiễn ông về nước Chúa còn trọng thể hơn gấp ngàn lần. Khi ông còn hấp hối nằm trên giường bệnh, thì cả họ đạo đã lớp trong lớp ngoài đứng đọc kinh vang cả một góc trời. Người ta cầu cho ông được chết trong tay Chúa, trong khi ông chánh trương quì dưới đất liên tục gào lên vào tai vị cha già và gào với trời xanh: “Giêsu Maria Giuse xin cứu lấy linh hồn Antôn”. Đến lúc mỏi mồm, ông chánh trương liền ghé sát vào mũi cha già để biết chắc rằng ông đã tắt thở thì đứng lên lau nước mắt. Mọi người đều hiểu cha già của họ đã lìa cõi thế. Tất cả đàn bà con gái đều khóc rống lên. Những người đàn ông thì tụ lại với nhau, họ chuẩn bị cho công việc mai táng. Một cơn mưa từ trời bất ngờ đổ xuống. Cơn mưa tầm tã kéo dài đúng một tháng, nước ngập lênh láng như một trận hồng thủy không phân biệt được đâu là cao thấp. Người ta phải dùng bốn cái cọc tre để định vị lỗ huyệt và dùng một tảng đá lớn để ấn cái quan tài cho chìm xuống. Cả làng đứng dưới mưa. Tiếng đọc kinh lẫn trong tiếng gió rít nghe âm u như lời khẩn cầu từ vực sâu. Ban kèn tây với kèn ta thi nhau thổi, tạo nên một màu sắc khác của cái chết. Trên tay mỗi giáo dân có một cành huệ trắng. Theo thứ tự, các bậc chức sắc trong giáo họ lần lượt ném cành hoa xuống mộ địa rồi đến người đã công đức nhiều tiền nhất cho việc ma chay này. Đấy cũng là người đã đóng góp nhiều nhất cho việc xây dựng nhà thờ. Người ấy cũng là ông cụ nhà hắn. Hôm khánh thành nhà thờ, ông cụ nhà hắn được vinh dự cầm dây chuông kéo tiếng đầu tiên. Tiếng chuông vang lên thiêng liêng và thâm trầm cũng là lúc cái dây chuông giật ngược lên làm cho ông cụ mất thăng bằng ngã xuống nền gạch gãy sống mũi. Từ đó cái mũi ông cụ vẹo qua một bên trông như lúc nào cũng đang đánh hơi. Khi ném cành huệ xuống mộ, ông ngửi thấy ngay mùi thối rữa của xác người. Mặc dù nước lênh láng nhưng những cành huệ cũng đủ tạo nên một nấm mộ to lớn. Sau đó, tất cả làng quay trở lại khuôn viên nhà thờ ăn uống. Người ta phải giết đến năm con bò mới đủ. Những sự tích về cha già được người ta kể lại với nhau bằng tất cả sự linh thiêng và nuối tiếc. Ông cụ nhà hắn nói: “Khi cha già bàn với tôi về việc xây dựng nhà thờ, tôi nói rằng giáo dân mình nghèo, nên liệu cơm gắp mắm. Nhưng cha già bảo, cần phải xây nhà Chúa cho nguy nga để xứng với danh ngài và nhất là để cho dân ngoại thấy đạo của ngài mang lại vinh quang cho con người. Tiền bạc thì ông khỏi lo. Chuyện đó đã có Chúa. Không phải là tôi không tin Chúa, nhưng tôi không tin là cha già có thể mò ra một số tiền lớn để xây như ý cha muốn. Nhưng cuối cùng thì ngài cũng làm cho chúng ta có một ngôi thánh đường mà không ai trong chúng ta không hãnh diện. Các ông có biết tổng số tiền mà làng ta góp được là bao nhiêu không? Nó chưa được một phần năm mươi đâu nhé”. Một lão già ngồi bàn bên cạnh chõ mõm vào: “Thế mà cụ cũng được vinh dự giật dây chuông đầu tiên đấy”. Ông cụ nhà hắn đứng lên: “Tao bảo cho mày biết, không phải tao thì đứa nào dám láo nào?” Lão già thối mồm cũng đứng lên: “Ông bảo ai láo?” “Tao bảo mày đấy. Đừng có học đòi cái thói con nhà tôm cứt lộn lên đầu nhé”. Mọi người can ngăn dìu hai ông lão ra hai chỗ khác. Dù không còn đối thủ nhưng hai ông vẫn chửi nhau cho đến lúc ông nào cũng say mèm. Khi tỉnh rượu, ông cụ nhà hắn còn lẩm bẩm: “Tao phải dạy cho mày một bài học”. Ngoài cánh đồng, những cành huệ trên nấm mộ mới bập bềnh theo dòng nước trôi đi từ từ để lại ngôi mộ trống với tảng đá nhấn chìm cỗ quan tài trong nước. Mưa vẫn tiếp tục và nước vẫn tràn trong nhà. Thóc trong bồ nẩy mầm, nhưng con người cứ rũ ra rồi chết. Cơn dịch bệnh làm chết hơn một nửa dân làng. Cái lão già thối mồm chưa kịp học bài học của ông cụ nhà hắn cũng rũ xuống chết. Ông cụ nhà hắn gom ít tài sản đem con cháu qua vùng bên tá túc.

 

Những

xác

chết

làm

chứng

gian

về

thiên

đường.

 

Khi mặt đất trở nên khô ráo và những giọt nước mắt của con người đã cạn, ông cụ nhà hắn mang con cháu về và trách móc Thượng đế rằng: “Sao ngài nỡ giết bỏ những thợ gặt?” Rồi không ngại ngần, ông cụ chấp nhận làm thông gia với một gia đình bên lương. Ngày ấy, con gái làng còn sống sót rất ít. Họ ngoại nhà hắn buôn bán chữ nghĩa thánh hiền trên cái gò làm gốm ở vùng bên mà ông cụ nhà hắn cùng con cháu đã tá túc suốt những ngày tai ương của hồng thủy. Bà cụ ngoại nhà hắn hiếm muộn chỉ có hai con trai, ông lớn thông y lý số hành nghề bốc thuốc và cho chữ thiên hạ vào dịp lễ tết, ông trẻ dạy học và hưởng đặc ân của mẹ trên mấy sào ruộng cho cấy thuê. Ngày mạt vận, bà cụ ngoại đau yếu ốm liệt cho người bảo ông lớn cắt thuốc cho bà. Ông lớn xem tinh tú trên ngón tay rồi bảo người nhà: “Không cần chữa”. Ngay tối hôm ấy, ông lớn về nhà bà cụ ngoại nói trên giường bệnh của mẹ mình: “Bà phải giao mấy sào ruộng lại cho tôi vì tôi là trưởng nam, tôi có quyền hưởng”. Bà cụ lạnh lùng bảo: “Mày làm giấy giao quyền trưởng nam lại cho thằng út, tao sẽ cho mày mấy sào ruộng ấy”. Ông lớn ngồi viết ngay và đưa giấy cho bà: “Tôi sống bằng cơm gạo chứ không sống bằng cái sĩ diện”. Bà cụ ngoại sai người mời toàn bộ gia tộc bên chồng đến chứng kiến, gạt nước mắt giao tờ giấy nhận quyền trưởng nam cho ông trẻ: “Con hãy nhận cái này. Đừng để nhục vì cơm áo”. Rồi bà gọi người hầu lấy lá chuối lót tay đuổi ông lớn ra khỏi nhà. Đêm ấy bà qua đời. Trên mảnh đất của tổ phụ, lúa vẫn tươi tốt nhưng con trai trưởng của nhà ấy sau này đã bị phong trào cải cách ruộng đất đấu tố giữa sân đình làng, người tá điền trung hậu dí đầu tên địa chủ xấu số xuống đất bắt liếm phân người tạ tội và xỉa xói bản chất gian ác của giai cấp bóc lột. Tên địa chủ chưa hưởng được bao nhiêu lộc của tổ tiên đã hộc máu chết trong nhục hình. Đám con cháu thất tán và trong một thời gian dài suốt hai thế hệ phải sống trong sự bạc đãi của đấu tranh giai cấp. Mẹ và cậu hắn thuộc dòng ông trẻ, đức độ không thiếu nhưng do động mồ động mả cũng không thoát được nghiệp chướng oan nghiệt.

 

3.

 

Nhà mày có rượu không? Ông bác sau hơn hai năm mới gặp mặt hỏi. Tôi nói nhà cháu không có rượu, nhưng nếu bác muốn uống thì rượu gì cũng có. Được. Tôi đưa ông bác về nhà sau khi ghé qua tiệm rượu chơi một chai whisky. Ông bác phấn khởi ra mặt, bảo rượu Tây cơ à. Vâng, tôi nói để cho bác lên đời. Mẹ mày, ăn với nói. Cháu vẫn nghe kể về bác, cháu rất thích. Bố mày nói à? Không, mẹ cháu. Tao cũng nghe nói mẹ mày hách lắm. Mẹ cháu buôn thúng bán bưng có gì mà hách. Buôn thúng bán bưng mà mấy thằng dân biểu phải đến nhà xin phiếu, không hách thì là gì. Thôi uống đi bác. Ông bác khà một tiếng rồi dằn ly xuống, khen: Tây nó vẫn là Tây. Ông nói thêm: Mê cái gì khổ cái ấy. Cháu thấy bác có khổ đâu. Trông thế thôi, mấy thằng nhà giàu ở khắp vùng Đũn chỉ nghe thấy tiếng ho của tao, chúng đã vãi đái ra, nên rượu thì không thiếu nhưng không phải lúc nào cũng vui. Thằng chánh tổng cũng đã từng bị tao tát cho gãy mấy cái răng vì đòi bắt tao. Bác đi ăn cướp nó đòi bắt là phải rồi. Mẹ mày, mày quên là chính lũ chúng nó mới là bọn cướp cạn. Tao đi ăn cướp thật, nhưng tao còn biết chia cho đứa khác, bọn nó có chia cho ai đâu. Có chứ, nó chia cho quan trên. Mẹ mày, chúng nó cùng một lũ. Thế bác không phải cùng một lũ khác sao? Ừ, một lũ mẹ mày. Mày không phân biệt được chính tà. You có phân biệt được chính tà không? Khi nước cuốn lên hút tất cả tôm cá quẳng lên bờ, you ra oai thần lực và con người khiếp sợ neo đậu thuyền bè vào bến, you vần vũ trên bầu trời và tiếng rống của you làm con người vỡ mật. Dự báo thời tiết có giông rải rác và đợt gió lạnh đông bắc. Pháp luật cũng thua bác à? Bác có để cho pháp luật sờ đến đâu mà thua với thắng. Nói chuyện với mày chán bỏ mẹ. Nghe tao hỏi này: Mày biết đàn bà chưa? Chắc là chưa. Chưa hay là rồi chứ sao lại “chắc là chưa?” Tại vì chưa chắc đã là biết. Mẹ mày chơi chữ với ông. Nghe cháu hỏi này: Bác biết “chơi” là gì không? Với tao là vét sạch, thế còn với mày? Ngậm miệng ăn tiền. Mẹ mày, đểu. Cháu còn phải học tập bác. Tôi chờ cơn mưa trên chiếc xe gắn máy chạy giữa đường cong của buổi chiều. Cô gái thọc tay vào túi quần (tôi), hỏi: Chim đâu rồi? Bay rồi, tôi nói. Sao bay? Sợ. Tại sao lại sợ? Chết non. Bao giờ về? Không về nữa. Nó đi đâu? Tìm tổ khác. Em giết nó trước khi tìm thấy tổ khác. Ừ, giết được cứ giết. Làm chim bảy món nhé? Tùy. Thế rồi cơn mưa đến. Cô gái bảo: Chim ướt cánh rồi. Tôi nhìn cơn mưa qua những chiếc áo trùm cánh dơi. Bàn tay cô gái vỗ về trong đũng quần, miệng nói: Mưa hay thật. Ừ, mưa che giấu con người vào u tối. Cô gái bảo mưa cổ vũ cho cái sướng được tuyên dương con chim ướt cánh của anh giữa đường phố. Còn rượu nữa không? Bác còn uống được thì cháu chiều. Alô, mang ngay một chai Chivas đến nhé. Quẳng mẹ cái điện thoại của em đi. Vô ngôn như cái cối xay có phải được việc không. Đừng tưởng cái cối xay không biết nói. Tao bảo mày câm mồm. Những cô gái líu ríu dưới cái dù màu đỏ của thế kỷ trước để cho mưa tạt ướt chiếc áo mỏng. Anh làm thơ đấy à? Thơ cái mả mẹ mày, hiếp dâm. Anh nói với em thế à? Ừ, mày là con đĩ. Tôi quẳng con đĩ xuống đường. Những gã đàn ông đói khát bâu lại như một đàn ruồi. Mày có biết đàn ông chân chính là thế nào không? Dạ, cháu học tập bác. Hãy chiếm đoạt cái không thể chiếm đoạt. Bằng cách đi ăn cướp ạ? Hạ sách. Bác bảo cháu phải làm gì? Hãy vẽ một cái ngai vàng rồi ngồi vào đấy. Bác tha cho cháu, con cháu nhà họ Dương giỏi lắm là đi ăn cướp thôi. Mẹ mày, cụ tổ nhà mày có tự ti thế đâu. Thôi bác uống đi, xong đánh một giấc, mộng kê vàng có là bao. Mẹ mày, lại còn yếm thế nữa. Thì mua vui cũng được một vài trống canh. Cứ cho là được một vài trống canh, thế mày lấy cái gì mua vui?

 

Thưa bác,

địt

một

phát

vào

thiên

thu

vạn

đại.

 

Ông bác lăn ra cười, nước mắt đầm đìa, nước mũi tèm nhẹp; cho đến khi tiếng cười khàn đục tắt lịm lưng chừng giữa đôi môi mím, nước mắt nước mũi đóng váng trên lớp da mặt nhăn nheo, ông bác chỉ còn là một cái xác vô tích sự ăn vạ nhân gian một chỗ nằm. Em thèm lắm rồi. Thì anh đã tặng em cả gấu, cả chó, cả ngựa, cứ thế mà giải trí lành mạnh. Em chỉ muốn giải trí bằng anh thôi. Đừng có mà chổng mông kêu giời thế. Có mông không chổng thì chổng cái gì? Ông bác kể rằng, trong cái chòi giữa cánh đồng để gác dưa, những người đàn bà mặc xống đi qua đấy chẳng mấy ai không bị ông đòi thuế mãi lộ. Bà nào có khoai thì đưa khoai, không có khoai thì đưa bánh, nếu không có bánh thì cứ nằm ngửa ra. Có một người đàn bà nghiêm trang và sạch đẹp vừa có bánh vừa có khoai, vẫn cứ đòi nằm ngửa ra giữa chòi. Bữa ấy, ông bác đã thu đủ thuế, bảo người đàn bà: Về đi, tha cho mày. Người đàn bà nói: Tôi đến đây có phải để xin ông tha đâu. Ông bác nhìn người đàn bà và hỏi: Muốn trả thù chồng à? Người đàn bà gắt: Hãy chứng tỏ bản lĩnh tiếng tăm của ông đi. Ông bác cười ha hả (thế ra mình cũng có tiếng tăm cơ đấy) bảo người đàn bà chờ. Ông bác bước ra ruộng tìm quả dưa chuột to nhất. Người đàn bà quì xuống ôm chân ông cầu xin: Hãy đánh tôi đi, hãy chửi tôi đi. Ông bác dùng một chân đạp người đàn bà ra và chửi: Đồ đĩ ngựa. Đôi mắt người đàn bà mờ dại: Hãy chửi nữa đi, chửi tục vào, tôi xin. Ông bác ngần ngừ rồi cũng chửi cho sướng miệng. Ông chửi từ trên xuống dưới, chửi từ trái sang phải, chửi toàn bộ súc sinh. Người đàn bà hưng phấn toàn thân bấu vào ông như những con đỉa hút máu. Bất chợt ông bác thấy quả dưa chuột không còn cần thiết nữa, ông đút quả dưa chuột vào miệng người đàn bà và chứng tỏ ông là đàn ông như thế nào. Về sau, mỗi lần người đàn bà này đến, ông bác kính yêu của cháu đều bắt bà quì xuống và bò từ cửa vào như một con chó. Phần thưởng cho bà là một quả dưa chuột to nhất ông đút vào miệng bà cùng lúc với chiếc cọc sắt ông đóng vào lòng bà. Điều tai hại nhất của việc này là người đàn bà đã tôn vinh ông như một vị thần và đòi bỏ chồng theo ông. Ông bác của cháu buộc phải bỏ chạy. Không gác ruộng dưa nữa thì bác làm gì? Xét cho cùng, đi ăn cướp vẫn là công việc gay cấn và thỏa mãn cái thú tính nhất. Người ta bảo đánh đĩ mười phương, chừa một phương lấy chồng, nhưng để trốn chạy người đàn bà ấy, bác quyết định đánh cướp nhà lý trưởng Bân tại ngay cái làng Đũn rách nát sau hai năm hạn liên tiếp. Nhờ bố nó giàu nên mới ngoài hai mươi, thằng nhãi đã được bố mua cho chức lý trưởng. Bác ghét thằng ấy vì nó tự cho là người đàn ông duy nhất trong vùng được con gái mê. Nó quên là cứ trần xì ra, cái ngữ như quả ớt của nó thì con gái nào thèm. Bác chuẩn bị rất kỹ, từ bả cho chó đến dây thừng để trói người nếu cần thiết. Bác cũng sai bọn đàn em chuẩn bị một cái thuyền to. Đêm ấy, tất cả chó lợn nhà nó đều bị bả chết, toàn bộ người trong nhà bị xông thuốc mê bất tỉnh. Sáu thằng đàn em quang gánh vét sạch đồ đạc xuống thuyền. Bác phá tủ vơ hết vàng bạc tư trang gói trong túi vải đeo trên vai. Trước khi đi, bác vén váy tặng con vợ ba của nó quả dưa chuột. Bọn bác xuống Hải Phòng chia của rồi tạm tản đi mỗi người một ngả. Bác mua một cái thuyền khác làm nghề chở hàng, nay đây mai đó, những tưởng là yên chuyện. Một buổi sáng tinh mơ khoảng hai tháng sau, không biết bằng cách nào, con vợ ba của thằng lý trưởng đã đứng trên mũi thuyền bác với cái tay nải quần áo. Ai trong các ngươi được ta chọn, thì cha ta ở trên trời cũng sẽ chọn người ấy. Số phận của các ngươi không phải là đã được định đoạt từ muôn thuở sao. Bởi thế ta bảo các ngươi, hãy chuẩn bị sẵn linh hồn, để khi con người đến, các ngươi được thanh thản ra đi. Người đàn bà ấy tuổi Dậu, bác tuổi Sửu, hợp số kỳ lạ. Chỉ trong một thời gian ngắn, với tài quán xuyến của bà ấy, bác mua thêm một cái thuyền nữa. Rồi một thời gian nữa cũng không bao lâu, bác mua được cái nhà nhà trên phố Dinh. Đấy là cái nhà mà gia đình tôi đã sống ít ngày cuối cùng trên đất Bắc trước khi xuống tàu di cư vào Nam. Phía sau căn nhà có một nghĩa địa Tây và con đường sắt chạy qua. Lần đầu tiên tôi đã nghe thấy tiếng còi tàu và tiếng bánh sắt nghiến trên đường ray rầm rập để mơ tưởng về phía trước những con đường hoan lạc. Sau này, tôi đã nhiều lần đứng một chân trên con tàu dịch chuyển cùng với gà lợn chỉ để chửi thề sự khắc nghiệt của cuộc sống. Và năm mươi năm sau, tôi mới có cơ hội ngồi yên bình trên con tàu để trở về nhìn lại căn nhà trên phố Dinh, nhưng khi đó cả cái tên phố Dinh cũng đã không còn nữa, và cái nghĩa địa Tây đã biến thành một khu dân cư tạp nhạp. Em muốn úp mặt vào mùi hương của quá khứ để ngủ. Đừng đánh thức em. Đừng cho lũ ruồi đến gần. Đừng bắt em phải bận tâm về tương lai. Hãy để cho em yên bề trong mộ phần anh.

 

4.

 

Những người đàn ông thuộc bên ngoại nhà hắn dường như đều bị đeo gông bởi một lời nguyền rủa. Tất cả họ, khi lớn lên đều rời bỏ gia đình và không một ai trở về, trừ ông cậu nghiện hút thuốc phiện. Thế hệ sau cũng vậy, họ lần lượt ra đi và chỉ để lại những tin đồn u ám. Đầu tiên là người anh bị bắt lính ở miền Nam. Anh ta may mắn được nhét vào một đơn vị không phải tác chiến và đóng quân ngay trong thành phố trung tâm. Một năm anh ta có những ngày phép và những ngày nghỉ khác, nhưng anh ta không bao giờ trở về căn nhà mà từ đó anh đã ra đi. Người ta kể rằng, cuộc sống thành phố không phải chỗ cho người thất học, và làm lính như anh ta chỉ là thứ đồ bỏ. Bởi vậy, anh ta đã dành thì giờ rảnh của mình cho việc học hành. Vừa kiếm được tấm bằng đủ tiêu chuẩn học sĩ quan là anh ta xin đi ngay. Ra trường, anh ta bị tống ngay vào một đơn vị bộ binh. Ở đấy, người ta không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc đánh nhau, bắn giết. Anh ta lên lon rất nhanh. Trong vòng ba năm, anh ta đã là đại úy đại đội trưởng. Thêm một năm nữa, người ta gắn lon thiếu tá cho anh ta và giao chức tiểu đoàn trưởng. Cùng với việc lên lon nhanh, người ta cũng kể rằng, anh ta rất sát quân. Trận đánh nào của anh ta cũng có người chết. Ở tỉnh lẻ, con gái thích được ngồi trên xe Jeep, và anh ta đã đón dâu bằng chiếc xe Jeep nhà binh của mình một cô gái đẹp nhất tỉnh. Cuộc hôn nhân làm nhiều cô gái ganh tỵ. Trong số những cô gái muốn được ngồi trên xe Jeep của anh ta chiều chiều lượn qua các đường phố có cô gái con của ông chủ cây xăng dòng họ công tử đốt tiền trăm để tìm bạc cắc. Dòng máu ngông cuồng ấy vẫn chảy trong cô ta và đến ngày của quỷ, nó trào lên ước muốn đòi dành lại người đàn ông cô mơ ước. Trong một cuộc đi chơi chung chỉ có ba người, hai vợ chồng ông thiếu tá và cô gần bãi biển, cô nói: Em rất thích bắn thử, cho em mượn súng đi. Ông thiếu tá hào hoa cho cô mượn súng. Phát thứ nhất, cô ta nhắm gốc cây dương bấm cò. Mọi người khen cô bắn giỏi. Phát thứ hai, cô quay đầu súng nhắm vào giữa ngực bà vợ. Khi cả hai vợ chồng ông thiếu tá còn đang ngỡ ngàng thì viên đạn đã nổ. Tiếng nổ hòa vào tiếng sóng đập bên ghềnh đá. Bà vợ nằm gục xuống. Viên đạn gần, không ai nghĩ người đàn bà đang hạnh phúc đó có thể sống. Cô gái bình tĩnh nói: “Hãy khai là bị bắn sẻ”. Anh ta vội quay xe đưa vợ vào nhà thương. Bà vợ được cứu sống. Dù không tố cáo chồng, anh ta vẫn phải đi tù với một nỗi oan mãi mãi. Không ai biết sau đó anh ta sống chết thế nào. Đứa con trai của anh ta không biết mặt bố, năm mười tuổi nó được bà mẹ gởi cho ông cậu vượt biên. Ở đâu đó trên mặt đất, nó tự xóa bỏ dòng dõi và nói: “Tôi được sinh ra từ biển”.

Người cháu của ông cậu út thừa hưởng vai trò trưởng tộc, nhưng anh ta chẳng quan tâm gì đến chuyện giỗ chạp. Anh ta nói người sống còn lo không xong lo gì đến người chết. Sau ngày giải phóng năm 1975,  anh ta đi kinh tế mới. Năm ấy, anh ta ba mươi tuổi và vẫn còn độc thân. Dẫu vất vả vì cày cuốc, anh ta vẫn giữ cho mình cái thú vui đọc sách. Thỉnh thoảng có dịp về thành phố, bao giờ anh ta cũng lê la ra mấy cửa hàng sách cũ tìm mua vài cuốn. Đấy là nguồn gốc mọi tai họa của anh ta. Bọn du kích ở địa phương vẫn nhìn thấy anh ta kỳ lạ. Bản chất cô độc của anh ta trở thành cái nghi ngờ của những kẻ chỉ có thể sống dựa vào số đông. Anh ta bị khám xét nhà. Vài cuốn sách của chế độ cũ đủ tang chứng cho anh ta bị qui kết là phản động. Anh ta bị bắt nhốt hơn một tuần lễ cho đến khi người ta đọc xong những cuốn sách học làm người của anh ta. Được thả về, anh ta nhận ra là không thể học làm người theo sách. Sức mạnh của con người không nằm trong mỗi cá nhân, mà nó được nâng đỡ bởi cái thiết chế xã hội. Kẻ nào nắm được cái thiết chế ấy, kẻ đó có sức mạnh. Anh ta bỏ khu kinh tế mới về thành phố sống lẫn lộn trong số đông. Người ta nói có một vị lãnh đạo chính quyền ở đấy rất giống anh ta, mà không có ai nói anh ta rất giống vị lãnh đạo nọ, bởi vì với họ hàng thì anh ta đã mất tích.

Cũng anh em nhà này, gã là người mang một thành kiến nặng về thế thái nhân tình. Gã cho rằng chẳng có ai là người tử tế, bởi thế gã không chơi với ai. Hơn thế, gã còn cho rằng dòng họ nhà gã cũng chẳng ra gì, toàn một thứ chỉ biết chửi đổng thiên hạ. Gã cặm cụi bơm gas bật lửa, bơm mực bút bi ở một góc ngã tư đường. Đám ma đám cưới trong họ có mời gã, gã cũng không đến. Gã tự coi mình như kẻ từ dưới đất chui lên. Nhưng gã là giống đực đầy đủ bộ phận, bởi vậy gã vẫn có nhu cầu làm tình với một con vật giống cái. Thượng đế là đấng hay thương xót đã run rủi cho gã một cô gái. Đàn bà cũng là một giống vật biết thương người, cô gái yêu quí cái nết cần cù của gã. Bà mẹ cô gái cũng tội nghiệp gã tứ cố vô thân, cho gã về làm rể. Ngày ấy, bố cô gái còn đang bị học tập cải tạo, có một gã đàn ông trong nhà cũng yên tâm hơn là một con chó. Người ta bảo rằng gã sa chĩnh gạo. Khi ông bố học tập cải tạo về đã đưa cả gia đình đi Mỹ theo diện bảo lãnh của nước này. Từ đó không ai biết tin tức gì về gã nữa.

Người đàn ông cuối cùng của dòng họ này đã chọn cho mình một cách ra đi khác biệt nhất. Cậu ta là cháu út của ông bán chức trưởng nam lấy mấy sào ruộng. Khi vừa học xong tú tài thì trời đất thay đổi. Những kẻ nhát gan có bao nhiêu sách đốt hết. Bọn liều thì mang sách ra chợ giời. Một khu phố ngắn biến thành cái chợ sách cũ. Để kiếm miếng ăn, cậu ta cũng mang sách ra bán. Bán hết sách mình thì đi lùng mua sách của người. Cuộc sống tạm ổn, cậu ta tranh thủ ngấu nghiến được rất nhiều chữ nghĩa nhét vào trong đầu. Sự hỗn độn của tư tưởng giống như một đám sâu bọ cắn xé lẫn nhau làm cho tâm thần cậu ta nghiêng ngả. Những cơn đau buốt bất chợt như tia chớp đánh ngang đầu làm lóe lên những ảo tượng kỳ quái, một đôi khi nó lại làm tắt phụt tất cả mọi tinh tú và để lại một khoảng trống đen tối sâu thẳm. Những nhà cai trị nhìn thấy ở đấy mầm mống của đại loạn, sách vở là bọn xúi giục, vì thế họ dẹp cái chợ của bọn rách việc ấy đi. Tất cả sách vở bị tịch thu và châm lửa đốt ngay giữa thanh thiên bạch nhật để thị chúng. Tiếc cái văn hóa thì ít, nhưng tiếc cái vốn liếng thì nhiều, cậu ta thất thểu lang thang đi nhặt giấy vụn. Có người kể đã nhìn thấy cậu ta cho giấy vào miệng nhai sau đó tu nước máy trong phòng vệ sinh công cộng. Điều quan trọng nhất là cậu ta cảm thấy mình hoàn toàn tự do. Điên là một cái quyền tối thượng, nó giải phóng con người thoát khỏi tất cả mọi qui ước. Cậu ta vạch cu đái giữa ngã tư và hò hét ở bất cứ chỗ nào cậu ta muốn. Không ai nhìn thấy cậu ta ăn, nhưng cậu ta vẫn có thể nói tiên tri cho bất cứ ai cần niềm hy vọng. Mọi lo âu trên khuôn mặt của cậu ta dần dần biến đi nhường chỗ cho sự  lạnh nhạt và với một chút méo mó ở dưới cằm, khuôn mặt ấy tỏ vẻ khinh bỉ cả nhân gian. Lần cuối cùng người ta còn nhìn thấy cậu ta trên đường, khuôn mặt ấy đã thay đổi. Cái miệng lúc nào cũng cười, chưa chắc thượng đế đã biết cậu ta nghĩ gì, bởi vì đấy là cái sản phẩm bị hỏng.

 

5.

 

Người đến để làm chứng cho thế gian. Bố tôi bảo: Mày phải làm chứng nhân lịch sử. Con xin bố, bố sinh ra con èo uột như lau sậy, chỉ việc con đứng mà không dựa vào bố đã là vinh quang rồi. Bố đừng bắt lỗi con, bởi tất cả những gì con làm không phải từ cái ý muốn sâu thẳm trong lòng bố sao. Những người đàn bà cũng bảo tôi: Anh phải chứng tỏ mình là đàn ông. Thưa các mẹ, con chỉ có một thằng giống và noi gương các bậc tiền nhân tri túc tiện túc không dám hơn. Các mẹ để con sống để con còn phục vụ tổ quốc. Bố tôi bảo: Nhi nữ thường tình, mày phải đạp dưới chân sự cám dỗ của rắn độc. Trời ơi, bố. Đàn bà sinh ra là để được tôn vinh, con có quì dưới chân họ thì cũng là phẩm hạnh trượng phu nhất ngôn ký xuất tứ mã nan truy, đỉnh cao của thẩm mỹ học thượng thừa. Những người đàn bà nhéo tai tôi, nói: Hãy phục vụ bà trước khi phục vụ tổ quốc nhé. Vâng, con xin nghe lời các mẹ, bởi vì có các mẹ mới có con. Các mẹ sung sướng là con hạnh phúc. Bố tôi quát: Sống phải có lý tưởng cao đẹp. Bố đừng đóng đinh con trên cây thập tự của những thói quen. Đừng bắt con chết vì những điều con không muốn. Và đừng bắt con phải hy sinh cho những kẻ không xứng đáng. Những người đàn bà vây lấy tôi, mơn trớn: Sự vĩnh cửu không dành cho con người, hãy tranh thủ mà tận hưởng cái phù du bọt bèo này. Các mẹ bao giờ cũng là kẻ khôn ngoan nhất trong số những người ngu. Tận hưởng cái phù du không phải chỉ là một cảm giác ngắn ngủi trên đầu ngọn dương cương, mà nhìn thấu suốt cái thế giới đang đổ vỡ. Bố tôi lại quát: Mày không thể đặt cược tương lai vào mông đàn bà. Đúng thế bố ạ, mông đàn bà nhịp lắc không đều, vũ trụ không thể từ tốn mà sinh nở. Những người đàn bà hóa đá cũng cựa quậy: Hãy giải phóng chúng tôi khỏi thời gian, cho chúng tôi chết trong sự đắm đuối mê muội. Được, muốn thì chiều. Các em hãy xếp hàng bên bờ vực và ngửa mặt lên trời cao, mưa sẽ tuôn đổ từ thiên thu tới nghìn trùng, đất sẽ sụt và núi sẽ lở, cây cối sẽ bật rễ và bay lên, các em hãy gieo mình xuống nỗi khát khao tận diệt để hiến tế cho hoang dã cái vẻ đẹp thuần khiết của dục vọng. Bố tôi bảo: Những người đàn ông chân chính không khua chiêng gõ mõ. Điều này thì quá khó. Cả những vị tu hành đức độ cũng không thể im lặng. Họ nói về cái vô ngôn và sự từ bỏ hùng hồn đến nỗi những bà bán cá cũng muốn lên bục giảng. Người đàn bà ngồi gần nhất cắn vào đùi tôi nói nhỏ: Giấc mơ là con đường dẫn tới cái chết. Tôi lặng lẽ đi vào quán trà. Nhạc hòa tấu lẫn trong tiếng cười nói của những cô gái. Anh thích cô nào để tôi giới thiệu? Bà chủ quán hỏi. Tôi nói tôi thích bà chủ vì bà biết cung phụng. Bậy nào, tôi có chồng rồi. Thì cứ để chồng ở nhà nấu cơm, giặt giũ, coi nhà… Trà có mùi hoa và mùi của các vị thuốc. Tôi chế thêm nước sôi. Và tôi muốn đổ tràn ra cho đến khi cái bình thủy khô cạn, nhưng tôi ngại không làm. Sao tôi lại không thể làm những điều tôi ước muốn, dù chỉ là dốc cạn một bình nước trên thố trà? Trời cao nguyên se lạnh và xanh xao gió, những vạt nắng bỏ trốn trên những đám mây, tôi cảm thấy thèm thịt chó chấm mắm tôm, thèm cái vẻ ngái ngủ của con gái. Đổ dốc xuống thung lũng, tôi tìm mùi rừng mới lớn. Gã lái xe ôm bảo, muốn giải trí thì vào tiệm hớt tóc thanh nữ là nhanh gọn nhất. Ngu à, trong tiệm hớt tóc thì làm gì có rừng. Cái ngành công nghiệp may tay này không xuất khẩu thành phẩm mà xuất khẩu phương tiện sản xuất. Vấn đề không phải là nhanh gọn hay chậm rãi gà mờ, cuộc sống đang đòi hỏi chất lượng đỉnh cao, ông có đáp ứng được không? Đừng nhận khuyết điểm qua quýt vì trình độ em có hạn. Tin thời tiết bảo sắp có bão. Mẹ ơi, cho con về nhà. Con đái ra quần rồi. Địt mẹ thằng lang băm, bố mày yếu sinh lý mà mày còn cho cái thực đơn trinh nữ ướp sen thì chầu ông bà sớm à. Mày có biết liệu pháp tinh thần không? Cứ nhìn lên đỉnh núi thì thành trượng phu ngay.

 

6.

 

Khi chiếc tàu há mồm mở ra nuốt những người di cư vào Nam năm 1954, hắn còn bé như quả ớt. Thành phố Hải Phòng trong ký ức của hắn chỉ có tiếng còi tàu cắt ngang mặt nghĩa địa. Nhưng những xác chết dưới hầm mộ chỉ nhe răng cười cuộc xê dịch của con người. Chắc hẳn những xác chết cũng nhìn thấy hắn và tất cả những kẻ đang bước xuống tàu há mồm phải đi theo hàng một để nhân viên y tế xịt thuốc sát trùng lên người. Tuy bé xíu nhưng hắn cũng có đủ cảm thức về cái cay đắng của nhân phẩm. Một xác chết có râu, đeo kính nói vào tai hắn: Những con chó có khi còn ít bọ chét hơn chúng mày. Cũng có thể, hắn vẫn thấy bà nội hắn bắt chấy bỏ vào miệng cắn. Nhưng một xác chết có khuôn mặt đàn bà nói: Sạch thì cũng có thoát chết được đâu. Hắn chẳng còn nhớ gì về chuyến đi ngoài chuyện ấy. Hắn cũng không biết có bị say sóng hay không. Có thể hắn đã ngủ suốt và khi tỉnh dậy, hắn nghe thấy tiếng mưa rơi trên cái lều bạt giữa rừng cao su ngút ngàn. Đối với hắn, chỉ có tiếng còi tàu và tiếng mưa mang âm sắc của sự sống. Mẹ hắn kể: Những người đi lính cho Pháp bảo phải đi vào Nam sớm, khi đất nước thống nhất rồi về. Mẹ hắn phân vân lắm, đấy là lúc đang buôn bán làm ăn được. Dầu hỏa gánh từ Hải Phòng về quê bao nhiêu bán cũng hết. Lại nữa, bia rượu, thuốc lá bán cho đám lính Tây lời lãi ngon lành như ăn trầu. Ý Chúa thì sao? Mẹ hắn quì trước hình Đức Mẹ cầu nguyện. Bức hình đột nhiên rơi xuống đất. Ngay ngày hôm sau, mẹ hắn gọi ông cậu đến giao giữ giùm căn nhà, rồi đưa cả gia đình xuống Hải Phòng. Mẹ hắn nghĩ, mang theo mấy chục cây vàng chắc cũng đủ tiêu trong vài ba năm để chờ các nhà chính trị giải quyết với nhau cái ý thức hệ. Nhưng cho đến khi căn nhà lá vách đất được dựng lên giữa rừng hoang vu Nam bộ thì hình ảnh quê nhà càng lúc càng xa. Mẹ hắn không bao giờ còn cơ hội trở về nữa, khi làn sóng di cư kế tiếp diễn ra vào những năm sau 1975 đến nước Mỹ xa xôi. Phần hắn, hắn muốn  sống và chia sẻ cái số phận mình với số phận dân tộc (quả thật to tát và lãng mạn) như một ngọn cỏ mọc trên đất quê hương chịu dập vùi. Liệu pháp tinh thần của những ngọn cỏ là mọc nhanh và mọc nhiều, biết chết vẫn mọc, và có giết cũng không chết cho dù diệt cỏ người ta đã phải diệt tận gốc. Ở đâu có nắng mặt trời ở đấy có cỏ. Cỏ tự do và cỏ ca hát trên cái hiện sinh phù ảo. Hắn tự tìm cho mình những ý nghĩa bằng cách nghiền bột sách hòa với nước bơm thẳng vào máu. Định lượng chính xác của năm trăm hai mươi ba cuốn sách với tổng cộng mười một ngàn bảy trăm trang đạt chuẩn cho hắn trở thành con người văn hóa. Không đái đường, không ỉa bậy, biết đi thưa về trình. Cho đến năm ba mươi tuổi trên người hắn vẫn không mọc một sợi râu hay sợi lông nào. Hắn vẫn biết thích và thèm đàn bà, nhưng tuyệt nhiên cái con giun ngọ nguậy tầm phào của hắn chưa bao giờ xuất tinh dịch. Bởi thế, điều bí ẩn này trở thành một hấp lực kinh hoàng đối với tất cả mọi phụ nữ có cơ may làm tình với hắn. Hắn có thể kéo cưa hò xẻ cái dương vật đen đủi của hắn trong hố thẳm của khoái cảm cho đến khi người đàn bà kiệt sức mà vẫn cương cứng như một cây sắt. Bố hắn giục: Mày phải lấy vợ và đẻ con cho tao nhìn thấy cái dòng máu mình lưu chuyển. Sau nhiều lần quanh co rồi hắn cũng phải thú thật và xin lỗi tổ tiên rằng: Con lấy vợ thì được, nhưng đẻ con thì bất khả. Y học Tây phương chẳng có giá trị gì trong trường hợp của hắn. Gã lăng băm trên núi Tà Cú xuống xem mạch cho hắn, bảo: Khí huyết bất thường, cần phải uống thuốc lọc bỏ tạp chất trong máu và điều chỉnh chân khí. Lọc máu thì có thuốc của thày, nhưng điều chỉnh chân khí thì hắn phải tự làm lấy bằng phương pháp tự kỷ ám thị và tập dịch cân kinh. Ừ thì cứ thử xem. Mỗi tuần, hắn phải lên núi Tà Cú lấy thuốc và cho gã lang băm kiểm tra kinh mạch. Câu tự kỷ ám thị hắn phải lải nhải bất kể ngày đêm là “Tao là đàn ông, tao sinh ra đàn bà và tất cả lũ chúng mày”. Dịch cân kinh tập ngày hai lần, trước và sau khi ngủ. Trong giấc mơ, hắn luôn luôn thấy người mọc đầy lông lá và nhẩy nhót leo trèo như một con khỉ. Uống thuốc và tập luyện được một năm, từ mu bàn chân những sợi lông hướng thượng một cách bất thường mọc dần lên tới hai ống chân. Đến năm thứ hai, đột nhiên dưới vực đan điền và trong hai khe nách nở xòe những chùm lông màu vàng mượt óng ả. Hắn thử gần đàn bà, nhưng vẫn không thấy tinh dịch xuất. Sang năm thứ ba, khi hắn muốn bỏ cuộc thì cũng là lúc trên mép hắn mọc râu. Những sợi râu vừa đen vừa vàng xen kẽ nhau trông như cái hàng rào. Đến lúc ấy, chỉ cần nhìn thấy đàn bà hở hang là hắn đã vãi ra. Bởi thế, lúc nào hắn cũng đeo băng vệ sinh phụ nữ và không bao giờ bỏ áo trong quần. 

 

7.

 

Những con quỉ cái nấp dưới gốc cây và quăng những chiếc áo lót cho người đi đường và bọn bán phim sex níu người ta lại. Giá rẻ anh Hai. Anh Hai thích Mỹ, Nhật hay Thái… Đen hay trắng? Con kinh bốc mùi khăm khẳm, tôi há mồm hớp một ngọn gió rồi khạc ra một búng máu. Trần gian chổng ngược hai chân để làm tình với bầu trời. Những người đàn bà vẫn bóp mũi tôi và bảo: Đừng ngửi cái mùi xú uế. Ôi mẹ ơi, con chết mất, xú uế thì cũng phải thở. Không, tao thà giết mày. Tôi cố vùng thoát, một mùi thối hơn cả chuột chết xộc đến. Tôi ọe ra. Cái mùi xú uế vẫn nằm trong bụng và nó thấm qua đường ruột vào máu. Tôi cảm thấy mình đang biến hình. Những kỳ quan của thế giới mỗi ngày một nhiều. Sự dị dạng của các nhân cách được nhân bản. Tôi muốn triển lãm tôi trên những ô gạch của đường đi. Những người đàn bà tát vào má tôi: Mày là đồ đê tiện, đểu cáng. Không khí bị nhiễm độc. Ngồi trên ngọn gió và địt trong mây, tôi vẫn còn đủ lãng mạn để sống cuộc đời này. Nhưng những người đàn bà nhất định giết tôi để giữ sự thanh danh cho thân xác. Tôi không thể trốn chạy. Thời gian mọc nấm trên người tôi. Những sợi lông hóa thạch như gai cứng đâm vào thịt, tôi nghe thấy tiếng của đám đông: Hãy treo nó lên.

  

Nguyễn Viện

 

 

 

 

 

 

 

 

KEYN-NYE-Vegas

LePaysageBleu

 

Không đề

 

Một sáng nao
em ngỡ mình vừa… khóc,
thì ra thơ cứ tự viết ra thôi,
cứ tự buồn tự hát,
cứ đầy vơi,
Treo vào thực ,
trên đỉnh đời dầu dãi!

Ngại lá xanh ngày sau rồi tê tái,
ngại khổ đau sẽ nối mãi
trần gian,
ngại lời anh như trái ngọt địa đàng,
em thành trẻ đi hoang
hư đốn…

Giữa dòng đời đục trong bề bộn,
Em chòng chành giữa hai bến nhớ – thương

Trái khổ đau,
ngày chín bỗng dậy hương,
em vẫn thế vẫn dại khờ như thể,
Vẫn dào dạt trước sóng đời dâu bể,
hạt từ tâm đón gió tự mười phương…

dẫu phương anh nắng gió cũng vô thường,
em vẫn biết vẫn cười vẫn khóc,
em đã hiểu thương yêu là khó nhọc,
sao không đành ngoảnh mặt làm ngơ…

 

Hồ Thị Hải Âu

MERRY CHRISTMAS and HAPPY NEW YEAR

Kính chúc các bạn và gia đình
một mùa Giáng Sinh an bình
và một năm mới dồi dào sức khỏe, an khang thịnh vượng.

Văn Nghệ Boston

MerryChristmas2017

 

BÔNG TUYẾT TRẮNG

thơ Ngô Thy Vân,
nhạc Nguyễn Trọng Khôi,
Trần Trung Đạo trình bày

Em Đẹp Như Con Công

thơ Nguyễn Thị Thanh Bình,
nhạc Nguyễn Trọng Khôi,
ca sĩ Đông Nguyễn:


 

NgManNhien2

tranh Nguyễn Man Nhiên

 

Một chiều ngược gió

 

Em ngược đường, ngược nắng để yêu anh
Ngược phố tan tầm, ngược chiều gió thổi
Ngược lòng mình tìm về nông nổi
Lãng du đi vô định cánh chim trời

Em ngược thời gian, em ngược không gian
Ngược đời thường bon chen tìm về mê đắm
Ngược trái tim tự bao giờ chai lặng
Em đánh thức nỗi buồn, em gợi khát khao xanh

Mang bao điều em muốn nói cùng anh
Chợt sững lại trước cây mùa trút lá
Trái Đất sẽ thế nào khi mầu xanh không còn nữa
Và sẽ thế nào khi trong anh không em?

Em trở về im lặng của đêm
Chẳng còn nữa người đông và bụi đỏ
Phố bỗng buồn tênh, bờ vai hút gió
Riêng chiều này – em biết, một mình em…

 

Bùi Sim Sim

13138811_1004753022941536_4361194388123642524_n

TRỞ LẠI NGHÌN NĂM

 

 

Nơi vùng sông băng Similaun,

Anh đã nằm lại

Từ năm nghìn năm trước.

Giày áo da đi tuyết lót rơm.

Chiếc rìu đồng cán gỗ,

Đốn ngã bao cây rừng.

Dao bén với cung tên ngang lưng

Săn thú trên non xẻ thịt.

Đá mồi lửa bên anh luôn có,

Như nhân loại muôn đời cần đến lửa hồng.

Sức trẻ đang cuộn tràn

Tay rìu tay cung kiếm.

Anh vẫn lên núi băng rừng.

 

Ngày đó

Tai hoạ nào cắt đoạn đời anh,

Bão bùng nào vùi lắp chuỗi ngày xanh!!

Đêm anh không quay về nữa.

Anh biết chăng bên góc trời mưa gió,

Còn một người lặng lẽ thức chờ anh.

Nàng đau đáu nhìn, vầng răng không tỏ.

Anh nằm lại im lìm từ đó

Trong băng giá thời gian mông mênh…

 

Trôi hết trăm năm, qua nhiều thế kỷ,

Rồi nghìn năm nước chảy đá mòn.

Bao vương quốc hình thành,

Bao đế chế lụi tàn.

Kinh đô lộng lẫy nghìn năm còn đổ nát.

Bao sắc dân đã suy tàn xiêu lạc

Mấy công trình còn lưu được ngàn thu?!

 

Anh vẫn nằm đây như để tặng ngàn sau:

Trọn vẹn ảnh hình

Giày áo, cung tên thời Đồ Đồng cổ đại.

Năm nghìn năm lặng im,

Mà sức chiến đấu như vẫn còn tuông chảy.

Cho đời sau nhìn lại Tổ tiên mình,

Xưa hiên ngang vượt phong ba, xuống biển lên ngàn.

Săn dã thú. Dựng xây, khai phá…

 

Trùng điệp sóng thời gian,

Nay soi lại trong mịt mờ dĩ vãng.

Đời phù du. Nhưng nghĩa sống vĩnh hằng không cạn,

Tự bao đời người người vẫn tiếp nối ngàn xưa

 

Quà tặng cho ngàn sau:

Dẫu đời người thoáng qua như giấc mộng

Dẫu hình hài thôi chẳng còn lưu bóng

Xin dâng hiến trí tuệ, tấm lòng, tài năng cùng khát vọng.

VUN ĐẮP CHO CÂY ĐỜI,

XANH MÃI ĐẾN THIÊN THU.

 

UYÊN THUÝ LÂM

49d5c1ed3b6b3889102cb1e3dcb11ff1

CHIỀU MƯA UỐNG RƯỢU SÔNG TRÀ

 

Tôi về Quảng Ngãi chiều mưa bay
Sông Trà mênh mông nước dâng đầy
Gió thổi mênh mông trời thơ rượu
Còn thú chi bằng cạn chén say!

Sông Trà chết giấc nay bừng tỉnh 
Bạn quê ơi! Nâng chén,đừng than!
Giá phải đêm trăng dòng lấp lánh
Có bờ xe nước múc ánh vàng…

Cây lá xanh đôi bờ vẫn mộng
Vẫn ngân vang chén rượu chiều nay
Thưa em mây gió vô cùng sóng
Bạn hữu quê hương bát nước đầy!

Anh bạn dang tay như múa hát
Đọc thơ sang sảng quán chiều mưa
Đọc thơ sang sảng Cao Bá Quát
Nhớ “Trăng Sông Trà” một đêm xưa!

Sóng nước miên man nguồn ơi biển
Nâng chén khà khà thân củi trôi! 
Cầm tay Trà Khúc lòng quyến luyến
Nửa thế kỷ buồn thân phận tôi!

Tôi biết có người lo nước lên
Đứng trên cầu ngó củi lềnh bềnh
Tôi vẫn mộng Long Đầu Hý Thủy
Nâng chén mừng “tương ngộ ngẫu nhiên”!

Bạn ơi có mấy khi tương ngộ
trong cuộc đời uống rượu Sông Trà
Say tuý luý càn khôn một độ
Cho hồn thơ nhập mộng thiên thu!

 

TRẦN THOẠI NGUYÊN
Sông Trà Quảng Ngãi,chiều thứ 7 (5/11/2017)

 

 

8cb20d151255f4479269749991c566c2

thừa tự*

 

trôi nắng vào biệt xứ

gọng kìm lau đi hoang

có thể lúc này: chái phơ của những người bạn

sắp hàng bên kia bên này chờ rao thẩm mỹ

có thể là sợi mày bạc xỉa xói nghiêm đường

[cơn thịnh nộ của trường thành gia giáo]

tôi sống lại cùng thời

quý cụ non khệnh-khạng-đường-bệ

vẻ hào nhoáng của ve áo lụa tussore màu ngà

ba-toong và ống vzố

tôi nhớ ba tôi hói đầu

mảng tóc di truyền giấu trong kẽ rượu

đi thiệt lâu hung rồi trở về

nắm tay sắp nhỏ múa vòng quanh đèn trăng

tay nắm tay chúng ta múa đều . . .

bài hợp ca chưa dứt

lại khuất du biền biệt

trung thu héo rền đông tận

mối buồn của sự thoắt gãy

mạ đìu hiu như thạp gạo

đồng tiền hao hớt giú mình vào những hòn bi lăn lóc

và anh

và chị

và em

trong chiếc vỏ bọc lộn lạo trấu tro

uá dần cửa tử

chòm lau lách hệ luỵ rong chơi trở về

trên thượng tuần âm u chớp bạc

bây giờ sương đã ủ quá thời

lê la miếu đình hương hỏa

 

 

hoàng xuân sơn

24.8.2017

*tiểu thuyết, Khái Hưng

 

 

thuỳ vọng

 

 

gởi tặng tiếng sấm NXT

nghe màu sấm dội trong sương

buông lơi vạn đại con đường thẩm tra

thảng thốt.

thấy mình đi xa

du cơn mộng cũ

kề cà thiết thân

mở hình ra. bóng thiệt gần

bờ xanh hoang tưởng

giục trần ai thêm

một lời xin

một lời. van

[êm đềm]

miếng môi vị ngọt

giữ thèm tân toan

 

tiếp thanh

 

thì liệu mà đền cho em

tháng năm lạnh nhạt tủi miền hoan ca

tiếp máu. hay tiếp theo. và

nồng độ của nắng

la ngà của mây

bàn tay. ôi. như bàn tay

cứng. khô ngón củi

ngón trầm trầy hoa

thôi-vin-một-chút-hương-nhòa

nhịp theo sóng cọ

tha la

bãi

tình

 

hoàng xuân sơn

19,20 tháng chín/2017

TÔI VIẾT TÊN EM

thơ Uyên Thúy Lâm, nhạc Nhất Chi Vũ, ca sĩ Lan Anh trình bày:

 

 

 

ToiVietTenEm

Mark Surridge

TỎ TÌNH MÙA THU 

 

Em cất thơ rồi anh ạ
Bây chừ chỉ còn anh thôi
Gió thu ngó nghiêng khe cửa
Hình như mùa rủ anh về.

Mùa thì vẫn thu như thế
Song thưa  mưa hát dịu dàng
Con chuồn chuồn đang mắc cỡ
Đêm qua hẹn bạn vội vàng.

Thôi thì cất bớt đa mang
Bình yên nghe mùa kể chuyện.

Nguyễn Hồng

 

Tua

CÂY ÐA NƠI ÐỈNH MIẾU

 

Trích một chương trong TIẾNG CỒNG

NAM DAO

                                                                                           

 

 

Chập tối, chuyến xe cuủa cà phê Sinh từ Hà Nội lăn bánh rào rạo trên lớp đá xanh raủi trước sân.  Mẹ gọi.  Khách sạn bật đèn lên. Sa từ dưới bếp vội chạy vào buồng vén tóc, xốc lại áo, rồi ra phòng tiếp khách.  Tiếng người hướng dẫn du lịch từ sân vẳng lại một thứ ngôn ngữ có thể hiểu là tiếng Anh, vì cứ chốc chốc, anh ta ngừng nói, đệm vào * exì, exì…+, nghe đoán ra là * yes, yes…+.  Mẹ mừng, đứng dậy cười hơ hơ, hỏi nhỏ *… Sa này, được bao nhiêu ? +.  Nhìn qua kẽ song cưủa sổ, Sa đáp *… bốn, năm.  Có thể là sáu khách +.  * Có thế thôi à ? +, mẹ có chiều thất vọng.  Sa tần ngần *… mùa này lạnh rồi, mẹ ạ ! +.

 

Khi khách vào, Sa lấy giọng vui veủ * Welcome to Sapa.  Do you have a good trip ? +[1][1][1].  Khách lịch sự, keủ nói * yes +, người gật đầu.  Sa đếm, thế là chỉ có bốn.  Nàng nhìn sổ rồi sắp phòng.  Một cặp, phòng lớn.  Còn hai anh độc thân này, mỗi người một phòng nhoủ.  Sa hoủi anh hướng dẫn du lịch *… Sao Hà Nội điện xuống baủo có sáu cơ mà ? +.  Anh ta nuốt ngụm nước, vừa uống vừa đáp *… khách lại boủ.  Mình phaủi nhập với khách bọn cà phê  Trốt Tơ mới đi được.  Còn một toán khác ơủ khách sạn Xuân Hồng…á+.  Nói xong, anh đổi giọng, trầm xuống một cung, bắt đầu bằng * exì, exì… +  và hẹn khách xuống phòng ăn vào lúc tám giờ tối.  Anh ngoác mồm cười nhưng không giấu được veủ moủi mệt * Please, take a rest, exì… see you later ! +[1][1][1].

Khách lục tục đi lên thang.  Sa cầm chìa khóa, đưa khách vào từng phòng, miệng hoủi * Tây ba lô à ? +.  Anh hướng dẫn cười *… một thôi+, tay chỉ, anh tiếp *… chú đây người mình !  Còn hai ông bà kia là người Pháp.  Thằng Tây ba lô là Mỹ chính hiệu đây ! +  Sa cười, nhìn cặp vợ chồng, ngượng ngập *… Ah, ah.  Bonsoir ! +[1][1][1].  * Bà này cũng là người mình, không nói được tiếng Việt bao nhiêu, nhưng hiểu một chút… +, anh hướng dẫn quay sang nhìn người đàn bà vừa nói vừa cười.  Người đàn bà trạc trên bốn mươi nghe rồi gật đầu, nhìn Sa nói trọ trẹ * … Ah, oui… tên Việt tôi là Lan.  Bích Lan… +.

 

Sapa tối nhanh tựa như chùm chăn, thoáng một cái là đất trời đen màu mực.  Ðêm không trăng, không sao.  Trước cưủa khách sạn, ngọn đèn đường màu vàng bệnh hoạn hắt một khoaủng sáng uủ ê xuống con lộ đang sưủa lại, bên lề để ngổn ngang gạch đá.  Trong phòng ăn, hai ngọn đèn nê-ông ơủ ngay giữa trần nhà, thỉnh thoaủng lại chớp chớp như động kinh, trắng lạnh lẽo khiến da mặt người tái bệch đi.

 

Ðúng tám giờ, đám khách du lịch đã đuủ mặt, quần áo tươm tất hơn.  Tây ba lô, tên là Billy, dềnh dàng đi lại bàn kéo ghế ngồi.  Nó nhìn Sa, nói đùa :

– Come on !  I= m so hungry that I can eat you…[1][1][1]

 

Người đàn ông tuổi trạc trên dưới sáu mươi tuổi lịch sự kéo ghế cho vợ.  Bà nói * Merci +.  Billy lại lên tiếng, nói với Hà, giọng mũi Texan :

– Này, bạn. Cái gì đây ?

 

Tay cầm lấy baủng thực đơn, Billy chìa ra.  Người tên Hà đọc rồi đáp :

– Thịt.  Thịt nai.  Thịt rắn…  Ðuủ thứ thịt rừng.

 

Billy nhăn nhó :

– Tao chỉ thèm một cái Big-Mac và french frites, với ketchup [1][1][1].

 

Nó quay sang cặp vợ chồng Pháp, cười nói tiếng Pháp giọng Mỹ ngọng ngịu:

– N=est-ce pas, phaủi không ?

 

Người đàn ông khó chịu nhìn vợ, hỏi nhoủ :

– Marthe, em ăn gì ?

 

Marthe ngần ngừ rồi bật cười, tay chỉ vào thực đơná:

– Này!  André… Du loup sauvage! Anh muốn thưủ không ?

 

Lắc đầu không tin,  André mỉm cười nhờ Hà dịch.  Hà gật đầu baủo :

– Thịt sói… Ðúng đấy !

1

 

André nhăn mặt.  Thằng Billy lại  hô hố :

– ƠẨ Hà Nội, ăn thịt chó nhà.  Lên đây ăn thịt chó sói… Fantastic [1][1][1] !

 

Lúc đó, anh hướng dẫn du lịch mới nói, giọng khẩn khoản :

– Chó, không phaủi chó sói đâu !  Nhưng tôi đề nghị quí vị đừng ăn.  ƠẨ đây, nhỡ đau bụng thì… chẳng phaủi như ơủ Hà Nội.  Xin hãy chọn những món thông thường như gà, bò…

 

Bữa ăn là một bữa ăn bình thường như mọi bữa ăn trong những khách sạn dành cho khách du lịch nước ngoài, vừa đắt, vừa không ngon. Sa chạy lăng quăng, lúc nào cũng cười, mang thức ăn, rót nước, và dọn bát đĩa.  So với con gái ơủ đây, Sa cao hơn nưủa cái đầu.  Tóc nàng đen màu gụ, thắt thành bím dài chấm vai.  Khi Sa baủo Sa đã hai mươi tuổi, không một ai tin.  Thằng Billy vừa nhồm nhoàm, vừa kêu :

– Mày chỉ độ mười bốn, mười lăm là cùng…

 

Sa lại cười :

– Thank you !

 

Chợt Marthe giơ tay lên làm dấu,  miệng khẽ xuỵt xuỵt.  Nàng lắng tai rồi nói nhoủ :

– Có nghe thấy gì không ?  Các bạn …  lắng nghe.

 

Mọi người ngơ ngác.  Marthe thì thào :

– Tiếng nhạc.  ChắÔc nhạc baủn xứ.  Tiếng như khèn… Lại còn tiếng một thứ âm vọng từ chất kim, các bạn nghe thấy chứ ?

 

*

 

 Sáng tinh mơ, tiếng đập đá trước khách sạn đã vang lên.  Marthe choàng chiếc áo len, ra ngoài hiên.  Lúc đó, Sa đang ngồi giặt những tấm khăn traủi bàn.  Ðến gần, Marthe vui veủ :

– Trời ơủ đây sáng lạnh nhỉ ?

 

Sa đáp :

– Thưa cô, chốc có nắng sẽ ấm lên !

 

Marthe hoủi :

– Cô, cô nghĩa là gì ?…

 

Nghe Sa giaủi thích, bất cứ ai nhoủ tuổi hơn mẹ, đều được gọi là cô, là dì… như người trong gia đình.  Cách gọi đó vừa thân mật, vừa kính trọng, và lại vừa lịch sự.  Marthe ầm ừ :

– Bên Pháp, gọi là Tata…

 

Sa lập lại *… Tata ? +.  Gật đầu Marthe tiếp :

– Không phân biệt em cuủa cha, hay cuủa mẹ.  Tất caủ là Tata.

 

Sa ngước nhìn, cười rũ rượi, rồi nói :

– Thế cháu gọi cô là Tata nhé …

 

Marthe cũng cười.

 

Bỗng có tiếng sáo ngang réo rắt từ tầng trên khách sạn vẳng lại.  Marthe lắng nghe, hoủi :

– Ai thổi sáo đấy ?

 

– Dạ, ông người Mỹ.  Tên là Freddy.  Ông ấy baủo đấy là cách gọi tắt Frederic.  Thôi, cháu phaủi vào dọn ăn sáng – Sa cười, giọng ngượng nghịu – Tata nhé…

 

Nhìn bóng Sa lẩn vào sau, Marthe lững thững đi vào khu vườn nằm phía hông khách sạn.  Chuyến xe từ Hà Nội hôm qua khơủi hành vào sáu giờ sáng.  Thế là sau mười hai giờ đường mới tới Sapa, lắm đoạn xe xóc nẩy lên, người Marthe doãi ra baủi hoaủi.  Nhìn lên cao,  mây chập chùng vây quanh che những đỉnh núi chót vót.  Mắt đaủo một vòng, Marthe tự hoủi đỉnh Phăng Xi Păng là đỉnh nào nhỉ ?  Giữa trời mây trắng kết thành những taủng bông lượn lờ dưới ánh nắng sớm vàng tươi. Ưỡn người hít đầy không khí, Marthe lim dim, tai vẫn nghe tiếng sáo ngang, miệng lẩm nhẩm theo nhạc điệu lúc trầm lúc bổng.

 

 Marthe mở cánh cổng bước lên hàng hiên. Khách sạn là một loại vila xây có lẽ từ thời Tây, ba tầng, trần cao, tường mới quét vôi vàng nhưng không che dấu được những vết rạn nứt của một thời đã qua.  Vuốt lên thớ gỗ bóng loáng của cái tay vịn cầợu thang đi lên tầng trên, Marthe bỗng tự nhiên bùi ngùi mà không rõ tại sao. Nàng lẳng lặng ngồi xuống chiếc ghế bành, vơ vẩn thả mình vào một cõi mông lung. Bất thình lình, anh hướng dẫn du lịch cất tiếng gọi khách.  Marthe bước xuống.

André ra đón vợ, vòng tay quàng lấy vai Marthe,  hôn lên má, dịu dàng  :

– Khoủe chứ ! Mình nguủ có ngon không ?

 

Marthe ngước lên, gật đầu :

– Oui… Nguủ ngon chứ, đi đường mệt thế nên nhắm mắt là không biết gì nữa…

 

Anh hướng dẫn khuyên mọi người ăn cho no trước khi đi treking[1][1][1].  * Ngày hôm nay, sẽ đi hai mươi cây số, anh giơ tay, exì, hai mươi cây đường núi chứ không phaủi đường bằng đâu !+, anh vừa cười vừa nói.   Ðám khách du lịch ngồi vào bàn.  Thằng Billy nhaủy quẫng lên :

– Ăn sáng, bây giờ thì quen ăn phơủ… No toast, no eggs [1][1][1]… chỉ phơủ.

 

Mang ra đặt trước mặt Marthe một ly cà phê, Sa chỉ về phía một người maủnh khaủnh ngồi trong góc, nói :

– Tata, Freddy đấy…  Ông ta ơủ đây caủ tháng rồi.

Ghé vào tai André, Marthe thì thầm rồi đứng dậy đi về bàn Freddy.  Marthe mời :

– Anh ra ngồi bàn chúng tôi cho vui.

 

Freddy lắc đầu, lạnh lẽo cám ơn.  Marthe chưng hưủng, ngượng nghịu :

– Anh là nhạc sĩ ?  Tôi nghe anh thổi tác phẩm cuủa Richter lúc nãy…

 

– Không!  Bây giờ tôi chỉ thổi sáo cho mình  tôi thôi !

 

Marthe nhẹ nhàng :

– Thế anh làm gì ?

 

Freddy ngưủng lên, mắt  nhìn Marthe, buông thoủngá:

–  I chase butterflies !Tôi là keủ đi săn bướm !

 

Tay chỉ vào một bộ vợt bướm to nhoủ đủ các cỡ, Freddy thủnh thỉnh tiếp :

– Ngày nào tôi cũng vào rừng… Ăn sáng xong là đi!

 

Marthe vui veủ reo :

– Cái nghề đến hay !  Thật tuyệt…

OSGSIMG_4772

Nàng quay về bàn.  André ngước mắt lên ra dấu chào Freddy, nhưng hắn đã đứng dậy, lưng quay về phía đám du khách.  Tay xách vợt bướm, Freddy đi ra, không nói năng gì.  Thằng Billy kêu lớn :

– Này  bạn, đi vui nhé!

 

Thấy Freddy không ngoái lại, nó thò ngón tay troủ vào thái dương, ý nói chắc là không bình thường.  Rồi nó quay ngón tay troủ, thọc lên trời, lẩm bẩm nhưng để ai nấy đều nghe thấy * Fuck you !  Fool ! [1][1][1]+.

 

*

 

Mẹ quờ quạng tìm các gắp than, tay quơ qua quơ lại  trên miệng chiếc lò bếp bằng gạch, rồi gọi nhỏ :

– Sa ơi !  Mẹ nghe trời lại trơủ mưa, phaủi không con ?  Gió nữa, gió to đấy !

 

Vừa múc nước đổ vào nồi, Sa vừa nói :

– Mưa rồi… Sáng trời còn trong vắt, đùng một cái là mưa.  Này, mẹ…

 

Mẹ đưa tay đỡ lấy nồi, đặt lên bếp.  Nhấc cặp kính đen ra, mẹ lấy khăn chấm mắt, rồi lại đeo vào.

– Cứ mỗi lần mắt chaủy nước là y rằng mưa.

 

Sa ngoaủnh lại.  Có lẽ caủ năm nay mẹ nhập nhòa chẳng nhìn thấy gì nữa.  Ðiều đó, có phaủi là giá phaủi trả cuủa ba năm mẹ khóc ngày khóc đêm ?  Sa không biết.  Hoặc Sa cố tình cho mình cái phép được coi như không biết ?  Mẹ lại lên tiếng :

– Ðêm qua tao lại nằm mơ thấy anh mày.  Mỗi lần như vậy, là y rằng sắp lại có chuyện gì…  Tao thấy nó gõ cưủa, tay cứ chỉ lên đỉnh Hàm Rồng, Sa ạ !

 

Sa tiếp tục thái rau.  Mẹ im lặng, quạt bếp phành phạch.  Lát sau, mẹ hoủi :

– Ông phát thư qua chưa ?

 

Sa đáp * Dạ, rồi ! +.  Nàng chắc chắn rằng dẫu không hoủi nhưng trong đầu mẹ là câu mẹ đã từng hoủi ba năm liền * có thư cha cho mẹ không con ? +. Ba năm liền Sa baủo * không ! +.  Nàng không mơủ, cất đi những bức thư đó trên kèo nhà, mặc dầu sau câu traủ lời đó là mẹ lại kêu mệt, nằm dấu mặt vào tường giaủ vờ nguủ, ấm ức khóc một mình.  Sa nhớ tới bức thư Sa bịa ra chuyện bước thêm bước nữa cuủa mẹ.  Nàng tươủng tượng veủ mặt cha  nhăn nhó lại khi đọc *… mẹ có người khác, chỉ xin cha cho mẹ yên, xây dựng một hạnh phúc mới…  và cha đừng bao giờ trơủ lại đất Sapa này nữa ! +.  Từ đó cha chỉ viết cho Sa, chẳng nhắc gì tới mẹ.  Khi traủ lời, không bao giờ Sa trách móc gì cha, úp mở để cha đoán là mẹ sống yên lành vui vẻ.  Chuyến cha vào Ðàng Trong thành một chuyến đi không ngày trở lại. Ðám bạn cũ ruủ cha về sống ơủ Ðà Lạt, rồi cha vẽ và trình bầy cho tờ báo có cái tên là lạ là Lang Biang.  Sa chưa từng thấy tờ báo.  Có dịp về Hà Nội, Sa đi tìm mua.  Người ta ngớ ra, baủo * … chưa nghe thấy !  Báo gì đấy? Chắc lại là loại Kiến Thức Phổ Thông hẳn ? +.  Sa không biết, lắc đầu.

Ðến nay, cha chưa biết là mẹ gần như mù.  Bức thư cuối, cha viết *… Sa con, cha mừng là con học xong cấp ba, và biết phấn đấu học thêm ngoại ngữ.  Cha còn một ước vọng : cha mong con học lên đại học+.  Thư traủ lời, Sa đáp *… con sẽ đi học ngành Ðiện aủnh như cha khi xưa.  Con sẽ thực hiện những bộ phim cha ao ước nhưng chưa làm được. Viết cho đất nước mình một bộ * Chiến tranh và Hòa bình + như Lép Tôn Toi, con sẽ quay phim, mời cha đóng một vai +.  Cha vội vã viết ngay *… Thôi, đừng đi theo vết xe đổ, cái ngày con vẽ ra còn xa.  Trên Ðại học Ðà Lạt, có môn Luật pháp. Cha đề nghị con học môn Luật, vì đất nước chúng ta sẽ cần, rất cần luật…  Mọi việc, cha lo.  Bây giờ con phaủi thuyết phục mẹ.  Vaủ lại, như con đã báo, nay mẹ con đi thêm một bước rồi, để con xa nhà vì tương lai chắc mẹ cũng vui lòng… +.

 

Quay sang nhìn mẹ, lòng bỗng chùng xuống, Sa ngậm ngùi nói :

 – Mẹ ạ !  Có thư đấy !

 

Mẹ vội vãá:

– Cuủa cha à.  Cha có nói gì không ?

 

Sa đáp :

– Cha baủo con đi học Luật trên Ðà Lạt, nơi cha ơủ !

 

Mẹ im lặng.  Một lát sau, mẹ tức tươủi :

– Cha có hoủi gì đến mẹ không ?

 

Như mọi lần, câu mẹ hỏi lại đẩy Sa hững người vào một trũng sâu. Nàng quờ quạng tìm lối ra, miệng cứng lại, đắng chát.  Hình phạt bắt caủ cha lẫn mẹ chịu đựng nay biến thành thứ hình phạt cho chính nàng, vừa tàn ác, vừa vô lý.  Nhưng  làm sao ngưng hình phạt đó lại được ?  Nước vạc dầu còn sôi, và trận tắm lưủa đã nung nấu thịt da ba năm rồi.  Nàng bất lực, bỗng  chạnh thương thân, nước mắt ứa ra. Mẹ lại nhấc kính lau mắt. Tránh òa lên khóc ,  Sa vội vàng đứng dậy. Nàng vấp chân  vào cái ghế đẩu để lối ra, chúi người, tay đập vào cánh cửa. Mẹ gọi hốt hoaủng :

– Sa, Sa.  Sao thế con ?

 

Sa nghẹn ngào nói trong cổ họng :

– Không. Con vấp.  Không sao đâu mà ! 

 

*

 

Ðám khách du lịch boủ chuyến treking về đến khách sạn vào cuối trưa.  Trời mù mịt mưa. Mây sà thấp xuống trùm lên núi rừng một màn sương u ám. Khí lạnh theo độ ẩm chui qua kẽ áo, thấm vào da thịt, khiến mọi người co ro run rẩy.  Thằng Billy nhìn Hà, lầu bầu :

– Fuckin= rain [1][1][1] !  Tao sợ còn mưa nữa…

 

Quay sang Sa, nó nham nhơủ :

– Hey, baby… I=m getting wet [1][1][1].

 

Marthe và André bước lại.  Xoa tay vào nhau, André lập cập hoủi Sa :

 – Cô có rượu gì, uống cho ấm bụng ?

 

Sa cười :

– Dạ có.

 

Nhìn  tấm baủng có ghi tên dăm ba loại rượu, André lắc đầu, đưa cho Hà.  Hà dịch.  Rượu mận.  Rượu đào.  Rượu táo.  Rượu rắn… André hoủi bằng tiếng Pháp có phaủi là rượu rắn chỉ là tên tươủng tượng ra không ?  Sa có lẽ chẳng hiểu gì, nói *yes, yes +, tay chỉ vào hiệu Rémy Martin, và tiếp * good, good… +.  Nàng quay sang Marthe, mắt sáng lên :

– Tata baủo ông ấy uống rượu Tây.  Ngon hơn rượu ta.  Cháu baủo đaủm không phaủi rượu giaủ !

 

Marthe cười, gật đầu.  Hà và André ruủ nhau thưủ rượu rắn.  Marthe thè lưỡi nhìn con rắn bằng cái que đũa lơ lững trong chai rượu màu vàng nhạt.  André nhấp rượu, kêu :

– Cũng được.  Hơi đắng một chút.

 

Cưủa bỗng bật mơủ, Freddy bước vào, tấm áo mưa nước nhoủ giọt.  Ðể đống vợt vào một góc, hắn cơủi áo mưa treo lên cái mắc cạnh cưủa, rồi khẽ cúi đầu chào mọi người. André kéo ghế mời. Khi Freddy bước tới, hắn mỉm cười, nhìn Marthe. André giơ tay ra bắt, nói tiếng Anh với giọng  Pháp :

– Thật là một ngày xấu trời !

 

Marthe làm thân, ân cần hoủi :

– Anh có bắt được con bướm nào không ?

 

Freddy lắc đầu.

 

– Nhưng sao anh lại có thể bắt những con bướm xinh đẹp kia nhỉ ? Marthe tiếp.

 

Freddy trầm ngâm :

– Kiếp bướm, chỉ từ năm ba ngày đến độ một tháng.  Không bắt, chúng cũng tự huủy tự diệt.  Bắt chúng, tôi biến chúng thành bất tưủ.

 

– Bất tưủ ?

 

– Vâng.  Muốn chúng bất tưủ, không phaủi dễ.  Chất hóa cơ như là chất dính lên cánh bướm thay đổi tùy theo màu, theo loại.  Hơn nữa, chỉ để lên một lớp vừa moủng.  Ðể dầy quá, màu sẽ đổi, moủng quá thì màu sẽ phai dần.  Lại còn chất phóc-môn trích vào thân bướm, và một loại véc-ni bôi lên chân, lên râu.  Làm cho một cánh bướm bất tưủ, tôi mất từ 45 phút tới một giờ… Sau đó, tôi lại ghi rõ phaủi baủo quaủn chúng ơủ điều kiện nhiệt độ nào, với loại ánh sáng nào…

53

Trố mắt nhìn Freddy, Marthe thốt :

– Nhưng chúng chết caủ rồi…

 

Freddy bật cười :

– Sự bất tưủ dĩ nhiên chỉ đến sau cái chết…  Tôi có bao giờ nói rằng tôi làm chúng sống mãi đâu.  Nhưng cái đẹp cuủa những cánh bướm kia thì tôi giữ được.  Cái đẹp đó bất tưủ.  Ðời sống cưu mang cái đẹp đó lại hữu hạn.  Công việc tôi làm là lấy cái đẹp ra khoủi sự hữu hạn sống chết.  Khaủ năng  đạt đến bất tưủ sau cõi chết  là tạo ra cõi sống cuủa cái gì  đó khác đi với sự sống trước đó, một sự sống đã có, nhưng lucÔ nào cũng tiến đến huủy diệt một cách không khiên cưỡng được…

 

André đưa tay bóp trán, lắc đầu chậm rãi :

– Tôi là bác sĩ tâm thần.  Tôi hiểu.  Với con người, câu hoủi lớn nhất vẫn là cái chết.  Trốn nó, người ta đặt ra vấn đề bất tưủ…  Ông xem đấy, khái niệm đó, như linh hồn bất tử chẳng hạn, tồn tại trong mọi tôn giáo…

 

Freddy nhìn vào mắt André :

– Sau sự chết, ông có tin linh hồn có không ?

 

Tươi cười, Marthe ngắt lời Freddy như để lái câu chuyệnsang hướng khác :

– Câu hoủi lớn nhất, là tình yêu.  Not life, but love in death[1][1][1] mà ! – mơ màng, Marthe tiếp – mà này, tôi lại nghe thấy tiếng… một thứ nhạc khí… mà không thể định loại được…

 

Freddy nghiêng tai :

– Không…  Tôi không nghe thấy gì !

 

Marthe ngước mắt :

– Có đấy !

– Xưa tôi chơi cho dàn hợp tấu Philharmony of NewYork. Không lẽ tai tôi bây giờ tồi thế.

– Anh lắng nghe đi…, Marthe nhẹ nhàng. 

 

André cũng chăm chú nghe, nhìn Freddy.  Hắn lại lắc đầu, hoủi Marthe :

– Bà là nhạc sĩ ?

 

– Không !  Tôi là chuyên viên âm nhạc.  Tôi nghiên cứu về nhạc những dân tộc thiểu số miền Bắc Borneo.

 

Freddy mỉm cười rồi đứng dậy :

– Thật ra, khi tôi muốn nghe gì tôi chỉ nhắm mắt lại một lúc là tôi nghe được.  Ðó, không phaủi nghe bằng tai, mà nghe bằng tâm caủm và trí tuệ… Có lẽ bà đang nghe như vậy, và chỉ có bà, bà mới nghe thấy tiếng nhạc khí đó.  Thanh âm, như cánh bướm đẹp kia, đã thuộc về bất tưủ rồi…

 

Nốc hết ly rượu rắn, Hà bắằt chước Freddy lịch sự  cáo lỗi rồi cũng đứng lên. Chàng đi về phía cuối phòng, mắt ngước nhìn. Trên tường, một bức tranh khổ khá lớn treo ngay chính giữa, khung làm bằng gỗ gụ đen bóng. Mỉm cười, Hà thầm nhuủ, chắc lại thêm một sự bất tưủ nữa ơủ đậu bằng sơn dầu trên cái cõi đời moủng maủnh phù du này. Ðến gần, Hà chăm chú nhìn. Bức tranh vẽ một cây đa, rễ xù xì vươn ra như vòi bạch tuộc uốn lượn quanh  cái hốc đen ngòm. Cạnh gốc cây, là cái miếu mái xiêu vẹo, chênh vênh như sắp đổ. Cưủa ngoủ toang hoác, trong miếu có một cái bàn thờ. Trên bàn thờ, lư hương vỡ làm đôi, những cây nhang cháy dơủ đã tắt nằm ngơ ngác bên một ngọn nến tàn, chân nến chaủy nhiễu xuống trông như nước mắt rơi. Phaủi để ý lắm, Hà mới thấy trên nền miếu, còn một tờ sách nát nhầu, rách rưới,  nằm chơ vơ lạc lõng.

 

*

 

 Cho đến đêm mưa vẫn raủ rích. Trừ một mình Hà, đám khách du lịch đã đi nguủ hết. Khoác áo mưa, chàng lẳng lặng ra khoủi khách sạn. Nhồi thuốc vào tẩu, Hà bật quẹt. Mùi khói thuốc thơm lừng lên rồi taủn mạn vào trong cái không gian cao nguyên ẩm ướt.

 

Sapa chỉ có một con phố chính. Phố co mình nằm cong như như một con sâu đen ngòm, với dăm khoaủng sáng hắt ra từ những khách sạn loại mini và những quán Karaoké đèn chớp chớp như cái nháy mắt mời mọc khách vào chơi. Ði dọc phố, sau Bưu Ðiện là nhà thờ Sapa. Ngôi nhà xây từ thời Tây, mái chuông nghễu nghện cắm cây thập tự chơ vơ vươn lên cao, tường gạch đoủ long lơủ, trông ngoài như boủ hoang. Một vị thừa sai còn đó, nhưng nhà thờ thật hiếm con chiên. Họ chỉ độc vỏn vẹn bốn người.  Tuy không có lễ, họ  vẫn đều dặn gập nhau ngày Chuủ Nhật. Vị thừa sai, dĩ nhiên. Một bác làm vườn nay đã già lắm. Một mụ đàn bà người Hmông, xưa nay lên chợ ngày thứ bẩy, nguủ lại dưới mái hiên nhà thờ cho đến trưa Chuủ Nhật mới về giồng [1][1][1]. Và cuối cùng, một ông cụ làm nghề ăn mày  từ đầu Cách Mạng Tháng Tám.

Hà bước qua sân, coủ dại mọc tua ra từ kẽ những hòn gạch lát đường, lững thững đi vào. Ðứng dựa cột chống mái hiên nhà thờ, chàng lại bật quẹt châm lại mồi thuốc vừa tắt. Chung quanh, sự sống chỉ còn tiếng dế rỉ raủ, tất caủ im ắng chìm vào màn đêm đen nghịt. * Pu man xi khan a…+, một tiếng nói khe khẽ vẳng lên  cạnh tai. Giật mình quay lại, Hà nhận ra một thanh niên tay đang giơ lên điếu thuốc lá xin lửa. Hà lại bật quẹt. Dưới ánh lưủa trong gió chập chờn, một thiếu nữ ngồi thu lu, mình quấn chăn, đầu đội khăn mầu đoủ au. Có lẽ, Hà thầm nghĩ, cặp vợ chồng này gập mưa đành trú lại. Anh thanh niên rít thuốc, nói tiếng Kinh giọng lờ lợ * Giồợng xa, xa la ! + như để giaủi thích. Hà chỉ tay vào ngực mình, đáp nhoủ * …Giồng tôi cũng xa,  xa đến chẳng biết ơủ chốn nào…+. Hà ngạc nhiên nghe tiếng mình nói tiếp *…và bao giờ mới về được ! +. Anh thanh niên không hiểu, nhếch miệng cười, răng vàng ánh lên trong tối. Vỗ vai anh, Hà lẳng lặng bước ra, luồn đi trong bóng đêm dầy đặc.

 

Về khách sạn, người đợi cưủa là Sa. Lách người vào, cái lạnh khiến Hà run rẩy. Sa cười :

– Mưa thế, chú đi làm gì cho lạnh. Tối mưa như tối nay, Sapa chẳng có gì. Quán Karaoké cũng đóng hết…

 

Hà hoủi chai rượu rắn uống dơủ bữa chiều, nói khẽ :

– Sa buồn nguủ cứ đi nguủ trước.

 

Cầm ly rượu đến trước bức tranh vẽ cây đa và cái miếu cổ, Hà nheo mắt ngắm. Tranh vẽ kiểu siêu hiện thực. Nhìn kỹ, nó đang tìm bắt một cái gì đó, ma quái, huyền aủo và lẫn lộn  caủ  đau thương. Thấy Hà chăm chú, Sa baủo :

– Cha cháu vẽ đấy. Chú cũng là họa sĩ ?

 

Hà lắc đầu, uống cạn ly rượu, rồi lại rót.

– Thế chú làm gì bên ấy ?

– Broker.

– Thế là gì hơủ chú ?

– Là mua qua bán lại. Mua reủ bán dắt…

– ƠẨ đây người ta gọi thế là gian thương đấy!

 

Hà bật cười. Sa lại hoủi :

– Thế chú mua bán gì ?

– Những con số. Khi mình đoán một con số sắp xuống, bán nó. Rồi mua một con số khác mình nghĩ là nó sắp lên. Ðấy, nghề cuủa tôi thế đấy…

 

Sa trề môi, giọng ngờ vực :

– Cháu chỉ thấy người ta mua sổ số. Còn mua bán như chú, cháu chưa bao giờ nghe qua…ngay như ơủ Hà Nội. Thế chú có kiếm được tiền không ?

 

Hà không đáp. Lát sau, Hà nói như nói một mình :

– Kiếm thì kiếm được, nhiều nữa là khác. Nhưng chán lắm. Hóa ra cái đồng tiền khiến người ta khổ vì nó chỉ là những con số vô hồn lên lên xuống xuống…

 

Không nhìn Sa, Hà quay sang bức tranh, hoủi

– Cha cháu đâu không thấy ?

 

Sa đáp, giọng buồn buồn :

– Cha cháu nay ơủ Ðà Lạt.

– Chắc đi vẽ. Ðà Lạt có nhiều caủnh đẹp…

 

Sa lắc đầu :

– Cháu chẳng biết. Cha cháu vào với bác P, viết lách cái gì đó, tên nghe đâu như có tấm baủng chỉ đường và trí tuệ. Cha cháu nói thế…

 

Tò mò, Hà đến gần, mắt dán vào bức tranh. Sa giọng bùi ngùi :

– Cha cháu có dậy cháu xem bức tranh này. Cây đa, chú nhìn thật kỹ, thấy gốc nó đang bị sâu bị mối ăn. Cái hốc đen đấy, nhìn chếch về phía trái, chú sẽ nhận ra những con sâu xanh xám. ƠẨ dưới, có những con mối li ti trắng…Còn lá, lá xanh đang úa, chuyển sang vàng nhưng trời không phaủi là mùa thu vì cây coủ xung quanh vẫn tươi tốt. Cha cháu baủo cây đa đang bị bệnh…

– à

– Trước đây cha cháu không cho ai xem bức tranh này ngoài bác P. Nhưng bây giờ khác rồi. Mới lại cháu mang tranh treo đây cha cháu đâu có biết – Sa bật cười, tinh quái – cây đa thế, thật là hợp với cái cái bàn thờ tổ xiêu vẹo, nến thì  đổ, hương thì tàn…

 

Mơ hồ tươủng ra một người họa sĩ cô đơn với những dằn vặt khó có ai chia seủ, Hà lặng lẽ nâng ly rượu lên môi. Giọng Sa đều đều :

– Cha cháu dặt tên bức tranh là Cây đa nơi đỉnh miếu. Nói với bác P, cha cháu baủo miếu là Miếu Xã Tắc đấy. Rồi cha cháu cười, mong có dịp đi vẽ lại Ðền Hùng cuủa thời đại mới này. Bác P buồn lắm, lại quay về cái chuyện vẫy gọi nhau và trí tuệ gì gì đó…Bác hôm ấy mời cha cháu vào Ðà Lạt. Thế là mấy hôm sau cha cháu đi…

 

Hà lại uống. Lần này chàng để caủ chai vào miệng tu ừng ực một hơi. Thấy chai rượu đã cạn, chàng baủo :

– Cho chú thêm một chai nữa !

 

Sa kêu:

– Eo ôi, chú uống ghê quá! Hơn caủ mấy ông Tây.

Mang rượu ra, Sa nhăn mặt, nói * …thôi, cháu đi nguủ đây ! +. Không đáp, Hà chỉ gật đầu. Cứ thế, Hà vừa uống vừa chăm chăm ngắm bức tranh. Ðầu dần dần nặng, Hà cúi xuống chai rượu. Cặp mắt con rắn cổ bành ra bỗng sống động nhấp nháy. Hà lại đưa chai lên tu, con rắn uốn éo múa lượn trong cái dung dịch vàng nhạt, cổ cong lên như sẵn sàng mổ vào mặt. Hà bất giác cười, ngưủa cổ tu một hơi, miệng bốc lưủa, lưỡi tê đi, môi cứng lại. Cây đa rỗng ruột bỗng ơủ đâu chìa ra những cánh tay chờn vờn  đe dọa. Con rắn nhẩy khoủi chai rượu, uốn éo bò lên bàn thờ. Nó bạnh cổ, thơủ phì phì, cong thẳng mình lên như một khúc tre già, lươủi thoăn thắt thè ra thụt vào, lấp loáng như  lưỡi dao sắc và lạnh. Hà bỗng hoảng sợ lùi lại, loạng choạng ngã chúi xuống đất.

 

Không biết bao lâu sau Hà mới có caủm tươủng ai đó đang lay mình dậy rồi kéo cho ngồi lên. Hà chỉ ngưủi thấy một mùi hương nồng ngát, hăng hắc đến từ da thịt. Cố gắng ngóc lên, nhưng nặng như đeo chì ,  đầu chàng lại gục xuống, mặt úp vào một khoaủng mềm mại. Chàng rúc vào, mơ hồ lội ngược dòng, miệng hé ra như thươủ còn bú mớm. Dẫu thoáng qua, chàng bất chợt thấy an bình, hệt như  lúc ngã vào tay mẹ chàng khi chập chững tập đi trong cõi nhân gian này. Hình như chàng gọi * Mẹ, mẹ ơi ! +. Hình như chàng khóc. Hình như chàng mân mê bầu vú đã nuôi chàng bằng những dòng sữa ngọt thời thơ ấu.

 

Khi tỉnh dậy sáng hôm sau, Hà ngạc nhiên thấy mình nằm trên giường trong phòng, với một tấm chăn đơn phuủ ngang bụng.

 

 

NAM DAO

 

Tin trong nước

Nhạc sĩ Hoàng Giác,
tác giả của Mơ hoa, Ngày về… qua đời

1

 

Nhà biên kịch Hoàng Nhuận Cầm cho biết cha của anh là ca sĩ, nhạc sĩ Hoàng Giác đã qua đời vào tối 14-9-2017 do tuổi cao sức yếu.

Hoàng Giác sinh năm 1924, quê gốc Hà Nội. Ông là người đa tài, say mê âm nhạc, thể thao. Từ khi còn là học sinh trường Bưởi ông đã tự mày mò học âm nhạc theo các tài liệu của Pháp.

Hoàng Giác sáng tác không nhiều, trong cả sự nghiệp của mình ông sáng tác khoảng 20 ca khúc. 

Hai ca khúc nổi tiếng nhất trong sự nghiệp của ông là Mơ hoa (1945) và Ngày về (1946). 

Những ca khúc này đã được nhiều ca sĩ nổi tiếng như Ngọc Bảo, Ái Vân, Mai Hoa, Anh Thơ thể hiện…

Hoàng Giác chuyên sử dụng đàn guitar, từng là giảng viên nhiều năm tại trường Trường sư phạm Nhạc – Họa. Ông còn là một ca sĩ, thường đi biểu diễn.

Nhạc sĩ Thụy Kha đánh giá nhạc sĩ Hoàng Giác dù sáng tác ít, nhưng ông là người đã đem lại sự tươi mới cho dòng nhạc Tiền chiến (1938 – 1946).

“Là người xuất hiện về nửa cuối của dòng nhạc Tiền chiến, nhưng ông Hoàng Giác đã đem lại sự tươi mới về tiết tấu, về tình cảm cho dòng nhạc này. 

Tiêu biểu là ca khúc Mơ hoa. Cách tỏ tình của ca khúc này trực diện hơn, “Cô hái hoa tươi, hãy dừng bước chân. Trên đường thầm xa, tôi nhắn cô em đôi lời…“, chứ không còn kín đáo, bóng gió như những sáng tác của các đồng nghiệp trước ông.

Ngoài ca khúc Mơ hoa, phải kể tới ca khúc Ngày về, là ca khúc Hoàng Giác viết khi ông được về quần tụ với gia đình tại Vĩnh Yên.

Ông sáng tác không nhiều, mà sau này ông chỉ dạy đàn, đi hát. Ông là một nghệ sĩ đích thực, tính cách của ông hay lắm. Ông có một người vợ Hà Nội rất đẹp”.

Con trai của nhạc sĩ Hoàng Giác, là nhà biên kịch Hoàng Nhuận Cầm cho biết gia đình đang chuẩn bị tang lễ. 

Tang lễ nhạc sĩ Hoàng Giác được tổ chức từ 9h30 đến 11h ngày 20-9-2017 tại Nhà tang lễ 125 Phùng Hưng, Hà Nội.

Chân dung nhạc sĩ Hoàng Giác chụp năm 2013 – Ảnh: NGUYỄN KHÁNH

unknown-title-1960

 

THỜI HOA ĐỎ

Dưới mùa hoa như lửa cháy khát khao
Anh nắm tay em bước dọc con đường vắng
Chỉ có tiếng ve sôi chẳng cho trưa hè yên tĩnh
Chẳng chịu cho lòng ta yên.

Anh mải mê về một màu mây xa
Về cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ
Về cái vẻ thần kỳ của ngày xưa
Em hát một câu thơ cũ
Cái say mê một thời thiếu nữ

Mỗi mùa hoa đỏ về
Hoa như mưa rơi rơi…
Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi
Như máu ứa một thời trai trẻ
Hoa như mưa rơi rơi
Như tháng ngày xưa ta dại khờ
Ta nhìn sâu vào mắt nhau
Mà thấy lòng đau xót
Trong câu thơ của em
Anh không có mặt
Câu hát về một thời yêu đương tha thiết
Anh đâu buồn mà chỉ tiếc
Em không đi hết những ngày đắm say
Hoa cứ rơi ồn ào như tuổi trẻ
Không cho ai có thể lạnh tanh
Hoa đặt vào lòng chúng ta một vệt đỏ
Như vết xước của trái tim
Sau bài hát rồi em lặng im
Cái lặng im rực màu hoa đỏ
Anh biết mình vô nghĩa đi bên em.

Sau bài hát rồi em như thể
Em của thời hoa đỏ ngày xưa
Sau bài hát rồi anh cũng thế
Anh của thời trai trẻ ngày xưa.

Thanh Tùng
1935-2017

33

Di 1

 

Giữa đêm

thắp lên một ngọn nến

 những khung tranh rỗng

tối đen.

 

giữa đêm

tôi mò mẫm tìm mình qua các kí tự

tôi mò mẫm tìm B qua các kí tự

những tổ khúc của quá khứ đã băng hoại bởi mùa thu cận kề đến

vòng xoay của những chiếc bánh xe đạp – xoay

vòng xoay của chiếc máy đĩa cũ kỹ từ thế kỉ trước – xoay

vòng xoay của những làn khói thuốc ám trong đêm vắng

và làn hơi thở nhẹ bẫng trong đêm sương này

xoay

xoay

xoay

 

bài hát được lặp lại và phát mãi miết trên điện thoại

những nhắc nhớ về B

 

giữa đêm

tôi chập chờn bay qua những linh giác tối ám

Gloomy Sunday, Longing for paradise…

những giai điệu âm u quấn riết tôi trong cùng quẩn

con hồ ly xanh về chết bên Vịnh Nước Đen

nơi màu bỉ ngạn vẫn thắm đỏ

hãy nhận lấy những u buồn này

bởi chúng ta đã đánh mất thiên đường khi tình yêu vừa thai sinh

đừng khóc

ngày đã thoái hóa bởi bóng tối

đừng để mình băng hoại bởi sự độc thoại ngàn đời.

 

Di 2

 

Ngáo chữ

Cơn đại lộ chữ nghĩa

 hợp âm bay vun vút

khúc intro mùa thu rơi lả tả những phím buôn buốt lửa

buôn buốt im lặng ngấu nghiến

buôn buốt hơi heo may lạnh quay quắt

 những quãng tám câm lặng tiếng

và người dấu bóng

 

cơn nhập tràng chữ

tựa vòng bánh xe tròn xoay

xoáy đều trong âm u của khối não tối tăm

 những ám tượng xanh nhức nhối

người hát rong đã cầm tù tiếng ca trong buổi bình minh

bằng cái chết trong sương trời nhạt

 

Sốc chữ

những đại diện thay thế số

những ẩn ức không cầm biến

luôn là hàm biến thiên qua những âm vực ảo

 parabol nở dài về vô cực ảm đạm

 giữa đêm tối ám

rũ rượi nhớ một âm báo tin nhắn đến

trong bặt âm xanh màu máu.

 

cơn ảo tưởng vụt tan nát

 em trôi về phía cực đại quên lãng

 bỏ tôi lang thang đường nhị phân không gian day dứt nhớ

khúc intro mùa thu rơi lả tả những note rời câm nín

hoang vu chữ.

 

Ly 3

 

Những ngày buồn nhất

Tôi để suy nghĩ của tôi quay về trong lũng sâu của thời ấu thơ

nơi những chiếc lá đã rách khi trượt ngang kì phân hủy cuối

mùi thơm của nước mưa trong veo trên tán rễ cây long não

nhập nhằng giữa những nhớ nhớ quên quên

 ở phía cuối cùng nhất cũng là màu trắng

của những dọc ngang ánh trắng sót mùa mía trổ cờ

người bạn họ Trịnh nói với tôi về cơn gió lộng lẫy mùa cũ

 nơi mọi thứ không hề lớn lên

và bạn nói :

đừng tuyệt vọng

 

Những ngày buồn nhất

lần theo cơn sốt trên mái tóc

chiếc mặt nạ đã vỡ tan những hình hài tưởng tượng

tiếng huýt sáo vọng từ radio những hợp âm cũ nát sau cùng

 tháng 8 đã qua nhanh như những cơn gió biến âm qua những đọt cây

 người bạn nói với tôi:

đừng khóc.

 mùa mưa rồi cũng sẽ qua.

 

những ngày buồn nhất

sự im lặng bào mòn từng đốt ngón tay

đếm thời gian sa lầy trong bóng tối

 khi những viên nén đã không còn mang đến những giấc ngủ

 em đến bằng những im lặng của chiếc bóng

bay qua những chập chờn

 trên hành lang hẹp đầy bụi

những xác gió cười tê dại

 an ủi cho những ngón tay nuốt trắng tìm kiếm đam mê

bình an là không thật

đam mê cũng không thật

kiệt cùng cho những ý nghĩa cuộc sống này

là tồn tại

sống

hít thở

sướng điên

hay trào máu

 vẫn cứ phải tồn tại

 bởi đó là ý nghĩa của sự sinh tồn?

 

Phương Uy

 

 

30

Minh họa cho chứng trầm uất.

 

tôi vẽ lên sàn phòng

ô vuông lớn đoạn vào

đứng thường trực trong đấy

thú thực chả ai hình

 

dung ra nổi cái hình

vuông được vẽ ấy lớn

cỡ nào tuy nhiên ai

ai người ta cũng cho

 

tôi giống một thằng người

nộm đứng chỉ để đuổi

chim và đồng thời ai

ai cũng đòi đặt máy

 

quay toàn bối cảnh ngày

đêm khi tôi vào đứng

thường trực trong cái hình

vuông lớn đấy thì trong

 

lúc đứng thường trực như

thế tôi không ngừng tưởng

tượng (bấy giờ) mặc dù

đang làm chuyện chả có

 

lấy chút ý tưởng nào

mới mẽ khả thi nhưng

phải nói có được sự

tưởng tượng bao la đấy

 

nó bắt nguồn từ cái

ô vuông được vẽ lớn

như thế và điều đã

đang tưởng tượng lại chẳng

 

dính dáng chi đến cái

ô vuông được vẽ lớn

đấy ai ai người ta

muốn nói gì nói mồm

 

tôi có cũng chỉ để

há to ra kêu trời

gọi đất à do việc

tôi há mồm to kêu

 

trời gọi đất khiến ai

ai thảy đều hình dung

tôi chả khác hạng tuyền

 

làm chuyện vớ vẩn quá

 

quắt ngày đêm từ mồm

tôi liên tục tuôn các

từ ngữ nhằm kêu trời

gọi đất mặt khác hòng

 

đương trả thách thức từ

số phận asshole nên

nhớ mặc dù đã già

cả đã mất (hoàn toàn)

 

khả năng chống chọi lại

cảm xúc ướt át của

người nữ nhưng chưa bao

giờ đầu hàng nhá có

 

ngày tôi còn thách thức

người/ đời muốn đâm muốn

chém (các kiểu) đây sẵn

sàng- asshole.. đọc đến

 

đây quí vị nghỉ ngơi

nhé còn muốn xem tôi

có đúng thằng ngớ ngẩn

chuyên làm tuyền thơ nói

 

về chuyện sống chết đời

người (cho tới chết!) làm

ơn hãy đọc kĩ bài

tân hình thức này nhá!

..

vương ngọc minh.

thơ Lê Anh

tumblr_ntofkcljZ51suuc8do1_1280

Tiếng Lá Chiều Thu.

 

Một tiếng lá rơi

Trong chiều thu hiu hắt

Cảm giác chia lìa đời

Lòng thấy buồn khơi                   

 

Một bóng thu héo úa

Hờ hững bên mộ bia

Cả ngàn tơ vương kia

Sầu thương ai  ở lại

 

Ta đã cùng xao xuyến

Tình chớm giấc hoa mơ

Một tháng đen nào đó

Làm mất hết bao giờ

 

Người đã vào hư vô

Đời có khi nào ngờ

Tình buông nơi đầu cỏ

Lệ lấp thành dấu khô

 

Thời gian quen lá đổ

Ngày che bóng luân hồi

Những hương mùa gần gũi

Nghe buốt lòng  xa nơi

 

Lá rơi  chiều ly biệt

Tiếng lá buồn lẻ loi

Vạt nắng tàn cuối nẻo

Xuống nằm khuất sau đồi…

 

 

CUỐI THU.

 

Khi ngày chậm nắng đi qua

Tiếng chim bỏ bạn bay xa phố này

Từ trong hồn nặng sương bày

Mùa thu đã chết theo cây xuống đường

Sân ga nằm ủ lá buông

Tàu không người đợi bến buồn gió lên

Rồi đêm cồn lạnh như thiền

Cuối đầu nỗi nhớ về bên tuổi già

Rưng rưng tàu cạnh sân ga

Hồi còi xé mộng nhạt nhòa vọng xưa

 

Thu ơi, ngày chậm đi qua

Phố nghe nắng gãy đôi ra sau đồi

Tiếng chim muộn những lẻ loi

Gọi mùa thương cũ, gọi người xa xôi.

 

Lê Anh.

 

“Chút Quà Cho Anh”

Đêm ca nhạc gây quỹ cho thương phế binh VNCH

image002 

Chút Quà Cho Anh – là những tâm tình mà đồng hương trong cộng đồng người Việt tại tiểu bang Massachusetts cùng đóng góp một bàn tay để nói lên lòng tri ân dành cho những người thương phế binh VNCH.

Hơn 42 năm từ khi CSVN chiếm lấy miền Nam cũng là bắt đầu cho nổi đau vô tận cho hàng triệu người dân miền Nam, cho những người lính VNCH, nhưng nỗi đau đớn và bất hạnh hơn vạn lần đó là nhưng người thương phế binh, với tấm thân tật nguyền, họ là những người đã và đang bị phân biệt, đối xử, kỳ thị tồi tệ nhất trong xã hội VN hiện nay. Họ phải lê lết trên những vỉa hè xó chợ để tìm cách mưu sinh. Trong tinh thần tri ân các anh, cộng đồng người Việt tại tiểu bang Massachusetts cùng với các hội đoàn và đồng hương đã tổ chức đêm ca nhạc gây quỹ quyên góp để chia sẻ một phần yêu thương cùng với những người TPB với sự yểm trợ của các linh mục tại dòng chúa cứu thế tại Saigon thông qua qua các chương trình bảo hiểm y tế, khám sức khoe tổng quát hàng tháng và những món quà nho nhỏ dành cho các anh.

 

 

Chút Quà Cho Anh

 

 

(Cảm hứng từ buổi Gây quỹ cho Thương Phế Binh VNCH ngày 9/9/2017 tại

Boston, Massachusetts)

 

Từ Boston này, xa, rất xa

Thương gửi về anh một chút quà

Quà nhỏ nhưng chứa bao tình nghĩa

Tặng những người ơn ở quê nhà

 

Các anh dũng cảm những năm xưa

Bảo vệ quê hương chống giặc thù

Hy sinh xương máu vì đất mẹ

Mang thân què, liệt, với đui mù

 

Bạo quyền đày đoạ suốt bao ngày

Thân tàn cam chịu mọi đắng cay

Lang thang, lê lết trên đường phố

Nỗi niềm tủi nhục mấy ai hay

 

Toàn thể Miền Nam nợ các anh

Nợ xương, nợ máu, nợ tuổi xanh

Người dân hải ngoại luôn ghi nhớ

Hằng mong đền đáp những ân tình

 

Boston đát lạnh nhưng tình nồng

Xa xôi, lòng vẫn nhớ non sông

Thương dân, thương nước, thương biển đảo

Đoàn kết bên nhau dựng cộng đồng

 

Mọi người nô nức đến nơi đây

Những mong đóng góp một bàn tay

Cho ngày gây quỹ thành công lớn

Để chén yêu thương được tràn đầy

 

Tiếng hát ân tình nối tiếp nhau

Gợi bao nét đẹp lẫn niềm đau

Của người lính chiến Miền Nam ấy

Ngọt ngào, cay đắng tựa tình đầu

 

Thế rồi hoạt cảnh người ăn mày

Đui mù, lếch thếch, con dắt tay

Hát dạo ăn xin nuôi đồng đội

Trách mình: nước mất, dạ rứt ray…

 

Khán giả bỗng thấy lòng quặn đau

Tưởng như sống thật ở quê nghèo

Thương người lính chiến thân tàn phế,

Bỏ tiền đây nón, cảm động sao!

 

Viết mấy dòng này gửi người ơn

Biết rằng hải ngoại vẫn chẳng hề quên

Cảm tạ quý cha Dòng Cứu Thế,

Quý thày cùng quý thiện nguyện viên

 

Nhà Dòng can đảm cho thương binh

Cơ hội gặp nhau ngọt nghĩa tình

Đến hát nhau nghe ôn kỷ niệm

San sẻ cùng nhau những nhục vinh

 

Xe lăn, xe lắc tặng các anh

Lặn lội qua vùng rác hồi tanh

Tìm gặp thăm nom người lính cũ

Sửa lại căn nhà rách chênh vênh.

 

Nhà Dòng thắng nỗi sợ bảo quyền

Thắng bao áp lực với ghét ghen

Quyết làm điều phải, điều nhân nghĩa

Mục tử nhân lành bảo vệ chiên

 

Boston xin góp một bàn tay

Cùng người thiện nguyện thật hăng say

An ủi, đỡ nâng người chiến sĩ

Vơi bớt niềm đau, nỗi đắng cay

 

Mong ngày đất nước rực bình minh

Cho hoa Công Lý với Hoà Bình

Nở rộ thắm tươi trên muôn nẻo

Chúc mừng quê mẹ được hồi sinh

 

 

 

Bác sĩ Vũ Linh Huy

Boston, ngày 9 tháng 9 năm 2017

 

400826_523062607720506_1287443542_n

Yêu

 

Hôm nay anh thấy em rồi

Một bông hoa muộn trên đồi xanh non.

Yêu em, yêu những cái còn

Yêu luôn cái đã hao mòn từ xưa.

Yêu từ thời đại hoang sơ

Yêu sang man dại, yêu chờ u mê

Yêu đi chẳng ngại yêu về

Yêu em

Như thể

Lời thề

Ma vương

Yêu em trời có một phương

Vườn sau, Ngõ trước, Bên đường,

Dưới hoa

Yêu em

Vô định là nhà

Yêu em

Yêu những cái là của em.

 

Đêm qua anh hỏi ngọn đèn

Từ đây trăng có tới miền thùy dương

Đèn soi hai ngả yêu thương

Trăng kia chỉ rọi nửa đường u minh.

Nửa này trôi nổi phù sinh

Nửa kia chìm đắm mối tình hoài mong

Lại đây anh hỏi chuyện lòng

Đã bao sương khói vào trong mắt này.

Sương rằng khói đã mù bay

Khói rằng sương đã phủ đầy biển dâu.

Cho anh đôi mắt bồ câu

Tâm tư Hợp Phố / Mối sầu Đồng Đăng

Cho anh êm ái giọng vàng

Dáng đi chân sóc điệu nằm mèo ươn.

Cho anh dòng lệ u buồn

Nhỏ to tiếng gọi ngoan tròn lời xin.

Cho anh em nhé lòng tin.

 

Viên Linh

2

HẠ HUYỀN MỘT ĐÊM KIA

 

trăng bắt đầu rọi xuống

lá không sương giật mình gió thốc chéo lưng
lạnh vuốt qua trăng dọc qua em
để lại bầu trời nụ cười gần sáng mùi lá chanh non gợi gẫm

trăng ở chân trời tây biết nắng sẽ lên
chỉ còn nửa đêm này để sáng mai vĩnh biệt
ôi ánh trăng tôi yêu hơn cả đời tôi
khốc liệt giấu dịu dàng lẫn khuất

này hôn lần cuối này hôn lần cuối
chỉ còn ít phút giây, ít phút giây tự hạnh phúc
ôm khoảnh khắc cuối cùng
anh của ngày cuồng nhiệt sẽ tan

em cởi áo làm huyệt chôn trăng
trái tim rớt theo cơn nghẹt thở
sắp tàn rồi
tàn rồi
ôi tàn rồi chia cắt
đường dơi bay khuyết viền mộ trắng
khua lưỡi hái yêu tinh

vài phút cuối cùng cho em được như lần đầu tiên
máu xòa tràn đất
rồi ngoảnh mặt
đi qua nhau như trăng qua bầu trời không lắng lại vết tích
như tháng chưa hề có bóng hạ huyền

em đưa một cánh tay dựng làm bia mộ không cần chia buồn
mai người có đi qua không cần phải nhìn

em còn một tay kia vẫy chào lận đận.

ngày đã đến ngày đã đến
đã đến

đêm hết rồi
hết rồi

không còn trăng rọi xuống thềm cửa nữa…
…..
P.N. Thường Đoan

43722548bcfaeec441616a5a1fc04e02

Vắng 4

 

Đừng mang hoa , thôi đừng hương án

. Lối về thu phủ kín rồi.

Bầu trời xám nói với tôi đừng khóc.

 Để rồi mưa vẫn, rơi.

Chữ biệt dạng, trang trắng ngày không động.

Sương thì buốt mái đầu.

Đừng mộng mị mang về điều cổ tích.

Một chiều bước khỏi đời nhau

 

Ly 4

 

những con rối rời khỏi mùa diễn cũ

 thềm xưa

lá xưa

đêm xưa

mùa đưa tiễn tứ di quan từ xuân sang hạ

có những mùa quên em trót nhỡ tay

có những giấc ngủ tôi đã mong cơn mơ đừng đến

bởi sau lúc mơ là hoang trống rụng rời

bởi nếu tỉnh ra là biết game đã hết

trò chơi của em

 và hư ảo là tôi

em

trước mặt chỉ còn khung trang trắng

chiều mưa

 đêm mưa

thềm mưa

đừng mưa nữa

gió sẽ làm ướt áo

câu hỏi một thời chưa hẳn phải xa

đừng nhắc nữa

 kí ức làm rối tóc

 vì sao yêu?

đừng hỏi nữa

lời em thảng thốt

 tội tình day dứt quên chưa?

 

Ly 3

 

Những ngày buồn nhất

Tôi để suy nghĩ của tôi quay về trong lũng sâu của thời ấu thơ

nơi những chiếc lá đã rách khi trượt ngang kì phân hủy cuối

mùi thơm của nước mưa trong veo trên tán rễ cây long não

nhập nhằng giữa những nhớ nhớ quên quên

ở phía cuối cùng nhất cũng là màu trắng

 của những dọc ngang ánh trắng sót mùa mía trổ cờ

 người bạn họ Trịnh nói với tôi về cơn gió lộng lẫy mùa cũ

 nơi mọi thứ không hề lớn lên

 và bạn nói : đừng tuyệt vọng

 

Những ngày buồn nhất

 lần theo cơn sốt trên mái tóc

chiếc mặt nạ đã vỡ tan những hình hài tưởng tượng

 tiếng huýt sáo vọng từ radio những hợp âm cũ nát sau cùng

 tháng 5 đã qua nhanh như những cơn gió biến âm qua những đọt cây

người bạn nói với tôi: đừng khóc.

 mùa mưa rồi cũng sẽ qua.

 

những ngày buồn nhất

sự im lặng bào mòn từng đốt ngón tay

đếm thời gian sa lầy trong bóng tối

 khi những viên nén đã không còn mang đến những giấc ngủ

 em đến bằng những im lặng của chiếc bóng

bay qua những chập chờn trên hành lang hẹp đầy bụi

những xác gió cười tê dại

an ủi cho những ngón tay nuốt trắng tìm kiếm đam mê

 bình an là không thật

đam mê cũng không thật

kiệt cùng cho những ý nghĩa cuộc sống này

 là tồn tại

sống

 hít thở

sướng điên

hay trào máu vẫn cứ phải tồn tại

 bởi đó là ý nghĩa của sự sinh tồn?

 

Ly 12

 

có những ngày im lặng nhớ

là có những ngày không gọi nhau

 đã qua bao ngày như thế

lòng sóng thét gào.

 

Có những ngày im lặng đếm

thời khắc vô tình trôi

những gì mình đang có

là vô hình mồ côi.

 

Có những ngày im lặng nuốt

nước mắt cùng những tai ương

vu hồi dồn dập tới

lòng người là thứ vô chừng.

 

Có những ngày im lặng ngắm

bao nhiêu người qua đường

sao ngỡ ngàng hoài không tìm thấy

khuôn mặt người tôi thương?

 

Phương Uy

 

 

 

 

9a

Độc hành 1

 

Các dãy số lớn sụp đổ trong một khúc xương

những con bọ mang ánh trăng óng ánh chui vào

nở cánh hoa lẻ loi như ngôi đền vĩ đại

dòng sông đưa lời kinh về phía đông

song sóng bước lữ hành.

 

Mắt nàng đẹp long lanh dịu dàng nhóm lửa

giữa trái tim gần thoát tục của ta.

 

Độc hành 2

 

Xung quanh cây đèn là kinh nguyện

một mùa hoa tự hủy an nhiên

những bài ca chửa hoang vượt mặt

trong cái nồi tối sẫm hồng hoang.

 

Đại ngàn đi lắc lư êm dịu

trái tim tôi hư ảo chênh vênh

rung lên những bước thú hoang phiêu bạt

niềm đam mê ngắt đoạn đến vô cùng.

 

Lê Trinh

A1gUdo61EfL._SL1500_

TRONG MẦM BIẾN. ĐÃ HIỆN

1)
cỏ hoài nhớ. nỗi hư không
chiều. toan biến hiện. tấc lòng người dưng
ai phơi. dựng lại nỗi mừng ?
cỏ thương. dặm cỏ. mây tầng tầng trôi
2)
con cò. về núi qua đời
thả thương ở lại. rải trời bao dung
phận qua. lá ủ thương rừng
ở trong phiên khúc. bỗng bừng tỉnh em
3)
nổi – chìm. bao trận đắng mềm
ngụ cư theo gió. bỗng thèm nắng hanh
người dưng. nhớ riết cũng đành
dạ chôn sâu giấc. thâu canh trở mình
4)
bậu về. đón đợi bình minh
bỏ nơi đành đoạn. qua thình lình ôm
ôm dăm nhỏ lẻ. trận nồm
ngọt ngay phần bậu. chua lòm phận qua
5)
giữa rừng. gốc tựa làm nhà
chụp ngay kinh mạch. can qua liền kề
giấc trông. nối giấc sơn khê
giật mình. cát bụi bề bề trùng khơi.
Chu Thụy Nguyên

Herbert Bayer

hân khúc

đọc joseph huỳnh văn,với nguyễn xuân thiệp

 

 

 

mỏi lưng.  sào chống.  cạn đường

nằm nghe lục thẩm du dương bến tình

sao mình còn ở loanh quanh

chiếc nôi vinh sử

khúc quành máu xương

người còn thương mình còn thương

nên thơ chống chọi với tuồng hoa bay

một lời sơ thẩm ban mai

hỏi riêng mới biết chơn mày phôi pha

ôi.  xuân mặt đẹp như là

phẳng gương giác độ phồn hoa trập trùng

 

 

hoàng xuân sơn

21 tháng bảy 2017

 

 

 

hát giữa vườn

 

khi mây tràn về am thảo

thấy ta đứng giữa vườn nhìn

một cánh chim vừa bay khuất

một nụ mầm mới chết non

 

một phiến hồn trơ như đá

cùng nhau mài nhẵn mặt tình

khi lùa tay vào trong bóng

bỗng rụng rời xướng vô minh

 

câu ca.  chữ còn được mất

mà đời dài lắm quãng ba

con sông nước mù bức đoạn

chết cho sương được lứa già

 

nụ hồng.  đừng đưa tay hái

để cho em đẹp bình minh

mặt trời mặt trời sao vội

chưa thơ ngây đã tuyệt tình

 

thôi đứng riêng chiều.  thóc giống

rải thơm cho gió về ngàn

mai sau rừng xanh phá nhạc

thăng trầm một nốt không ngân

 

 

HoàngXuânSơn

Motherwell

bình minh. đời tạ ơn nhau

 

náu thân vào giọt đêm tràn

mắt khuya rướm máu ngỡ ngàng điêu linh

núi sông chìm xuống vô minh

chừng nghe âm vọng muôn nghìn đau thương

 

choàng ôm gió đứng tìm hương

khát trăng hú quỷ vô thường cùng say

cuồng ca sương rụng nào hay

lòng reo man dại hồn bay phương nào

 

bình minh. đời tạ ơn nhau

mai sau ánh mắt trầm màu thiên thu

thưa em: môi thơm ngục tù

cháy trong hơi thở hời ru cuộc tình!

 

giấc mơ & tháng bảy âm lịch

 

âm lịch. giấy tiền vàng mã

tự biết vinh danh sự tồn tại chính nó

đôi khi nhìn thấy đức tin không màu

than khóc ngoài vỏ âm thanh đang bám víu vào tro bụi

thời gian chắc sẽ cô đọng như vũng nước mưa

 

đích thực là những hình ảnh

diêm dúa nhưng không thiếu phần đỏm dáng

nhiều con mắt trắng dã thật thảm hại

tháng bảy. lố nhố cô hồn đi lang thang

người đời mang kính râm cứ tưởng bầu trời đang tối

 

có thể. cái điều sau cùng luôn ấn tượng

đêm qua. linh hồn Má trở về nhà bằng đôi cánh bướm

tung lên cao những đóa hoa đỏ tươi màu máu

vô số đốm sáng lập lòe nhẹ rơi xuống mặt tôi

 

Khaly Chàm

 

 

 

 

 

 

 

 

a003658276-001

ANH MẤT EM RỒI SAO

 

Anh mất em rồi sao?
Còn hẹn nhau kiếp nào!
Trăng vàng xưa tóc rối
Cỏ xanh bờ chiêm bao!

KỶ NIỆM HOA VÀNG xưa
Thơ bay lừng quán trưa
Bướm tiền duyên về đậu
Cành em bướm vàng tơ.

Em nhớ chăng mùa thu
Trăng vàng THU TƯƠNG TƯ
Em hát thu quyến rũ
Hồn anh xanh áo mơ!

Còn đâu ĐÊM VĂN THÁNH
Đèn thủy tạ lung linh
Hai vì sao lấp lánh
Nụ hôn say đắm tình.

Ôi nhành HOA THẠCH THẢO
Héo úa mộng hương tàn!
Dòng sông đời hư ảo
Sóng vỗ sấu mang mang!

Hồn anh giờ cổ mộ
Sương khói tuyết thời gian!
TÌNH YÊU HOA THIÊN SỨ
Rã cánh rụng trăng ngàn!

Anh mất em rồi sao?
Còn hẹn nhau kiếp nào!
Trăng vàng xưa tóc rối
Cỏ xanh bờ chiêm bao!

 

 

TRẦN THOẠI NGUYÊN

4f31a1a36c88af109981d9e1e2e99932

Tôi/ Quê.

 

Mùa này vậy mà phía trước mặt biển phẳng lặng

tôi đang dõi mắt nhìn theo đàn sếu bay bay

rồi bóng chúng nhỏ dần trong trời cực yên ắng

xa khơi dưới dạ cầu golden gate từng vạt song đổ dài

 

tôi đứng rất lâu

tưởng tượng linh tinh chuyện trên trời trên biển

người chết trước kẻ chết sau thảy đều qua cầu

tuần tự sau trước tất thảy bước móc miệng than vãng khản tiếng

 

ngây người một đỗi bổng thấy tôi con tàu tiến ra biển lớn

lịch sử được viết bởi những con cá kình già

dưới mỗi dòng chữ bọn người tàu đông nghịt la hét tí tớn

ngọn ngọn gió ngược thổi thốc giạt tứ tán luồng cá

 

cả cười tôi nói nói vang động

ở bờ bên kia (việt nam) con người chìm đắm trong mộng

cho tay cấu mặt rướm máu thấy quả “quê hương là chum khế ngọt..”

và lũ con bám đất vừa ăn vừa đá bát hí lộng

 

sụp tối lên đường cái bước dưới ngọn đèn tâm tưởng tự nhủ

mai về có đội bàn thờ em đi theo với niềm mơ ước ấp ủ

thì hãy ráng nhớ

tôi- kẻ cho đến chết còn săm soi từng gốc cây tìm dấu thù!

..

Vương ngọc minh.

Canvas

Adam Zagajewski – Nguyễn Quốc Trụ dịch

Canvas

 

I stood in silence before a dark picture,
before a canvas that might have been
coat, shirt, flag,
but had turned instead into the world.

I stood in silence before the dark canvas,
charged with delight and revolt and I thought
of the arts of painting and living,
of so many blank, bitter days,

of moments of helplessness
and my chilly imagination
that’s the tongue of a bell,
alive only when swaying,

striking what it loves,
loving what it strikes,
and it came to me that this canvas
could have become a winding-sheet, too.

 

Canvas

 

Tôi đứng im lặng trước bức hình tối thui
Trước tấm vải bố
Có thể là
Áo khoác, áo sơ mi, cờ quạt
Nhưng thay vì vậy thì biến thành
Thế giới

Tôi đứng in lặng trước tấm vải bố tối thui
Tẩm trong nó là thích thú, đam mê và nổi loạn và tôi nghĩ
Tới nghệ thuật vẽ và sống
Tới những ngày trống rỗng, cay đắng

Tới những khoảnh khắc vô vọng
Và trí tưởng tượng lạnh lẽo của mình
Cái lưỡi chuông
Chỉ sống khi lắc lư

Thoi, cái yêu
Yêu, cái đấm
Và bất chợt tôi ngộ ra rằng thì là
Tấm vải bố này, cũng, có thể trở thành tấm vải liệm.

 

You Are My Silent Brethren

 

You are my silent brethren,
the dead.
I won’t forget you.

In old letters I find traces of your writing,
creeping to the page’s top
like a snail on the wall of a psychiatric ward.

Your addresses and phone numbers pitch camp
in my notebooks, waiting, dozing.

I was in Paris yesterday, I saw hundreds of tourists,
tired and cold. I thought, they look
like you, they can’t get settled, they circle restlessly.

You’d think it would be easy, living.
All you need is a fistful of earth, a boat, a nest, a jail,
a little breath, some drops of blood, and longing.

You are my masters,
the dead.
Don’t forget me.

 

 

Đồng bào

 

Các bạn là đồng bào im lặng của tớ
Những người chết
Tớ không quên các bạn

Trong những lá thư cũ tớ kiếm thấy những nét chữ của các bạn,
Tườn vào đầu trang giấy
Như con ốc sên ở trên tường nhà thương điên

Địa chỉ và số phôn của các bạn thì cắm trại
Trong cuốn sổ tay của tớ,
Chờ đợi, ngủ gà ngủ gật.

Bữa hôm qua, tớ ở Paris, và tớ thấy hàng trăm du khách, mệt mỏi, rét run.
Tớ nghĩ, họ giống như các bạn, họ không thể có 1 nơi chốn để ở, cứ lòng vòng không ngừng.

Các bạn nghĩ, sống thì cũng dễ dàng thôi
Tất cả những gì các bạn cần, thì là một dúm đất,
Một cái thuyền, một cái lưới, một nhà tù,
Một tí hơi thở, vài giọt máu, và mong mỏi.
Các bạn là sư phụ của tớ,
Những người chết
Đừng quên tớ.

 

Adam Zagajewski

Nguyễn Quốc Trụ dịch

quandoi

ĐOÀN QUÂN ĐI

 

Mùa Thu đã hoe vàng theo sợi nắng,
Hoa cúc nở thờ ơ triền suối vắng.
Mắt ai hoài xao động bóng quân di
Chiến địa hoang tàn ghi dấu phân ly!

 

Đường hành quân sục sôi miền nắng cháy,
Ta biết em ngóng chờ tin chưa lại..
Đồng đội còn bên chiến lũy hào sâu
Nên đôi ta vẫn cách bến giang đầu.

 

Đêm biên cương trăng mờ qua kẻ lá
Rừng âm u bóng tối phủ nương đồi.
Xao xuyến nhớ người thương chùng tấc dạ
Hai phương đời biền biệt nỗi đơn côi.

 

Ầm ào vọng phía trường sơn vách núi,
Đoàn quân đi chập chùng làn mưa bụi.
Vẳng thôn xa nghe tiếng Mẹ ru hời
Ngủ ngoan con! Cha về lúc yên vui.

 

Trong gió lộng vang vó câu chiến mã,
Nắng cháy da hay mưa rừng tơi tả.
Tận hiến thân này cho đến tàn hơi
Đâu thể buông gươm súng ngủ bên trời.

 

Tháng năm qua tóc pha mầu sương tuyết
Từng lớp người viết sử xanh hùng liệt.
Tổ Quốc trường tồn qua Đinh Lý Trần Lê
Thì em ơi! Em gắng đợi ta về…

 

UYÊN THÚY LÂM

co-gai2

Dải ruy băng màu tím

 

Elena Pucillo Truong

(Nguyên tác : il nastrino viola )

Bản dịch của Trương Văn Dân

 

Nút thắt vừa được mở.  Chiếc ruy băng màu tím dùng để cột những bức thư mà tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần, lần nào cũng đầy cảm xúc. Tất cả bắt đầu từ mười năm trước, khi tôi rời quê hương để tìm việc làm ở phía bên kia trái đất. Thật chẳng dễ chút nào… nhưng thời đó đâu có nhiều chọn lựa :  Chết hoặc sống bấp bênh với những cơn đói thường trực… Thế  là phải nắm bắt cơ hội để có thể đổi đời…  mà nào chỉ là cuộc đời của riêng tôi.

Đi, mà không biết điều gì sẽ xảy ra và thực tế là tôi đã phải trả một giá đắt đỏ. Ngay cả khi tìm được một công việc như rửa chén trong nhà hàng, tôi cũng chẳng bao giờ có thời giờ để suy tính. Chấm dứt công việc đó tôi tìm được một công việc khác, giữ chân bảo vệ ban đêm hay thay thế lão gát dan trong một khách sạn rẻ tiền. Ngày và đêm đều  giống nhau, chỉ có trái tim tôi là luôn hướng về một nơi chốn xa vời hơn mười nghìn cây số.

 Công việc bận bịu đến nỗi có nhiều lúc tôi chẳng có thời gian ăn uống. Buổi sáng nuốt vội một cái gì, một mẩu bánh mì và một tách cà phê, được nhà chủ bao cho sau một đêm làm việc, còn tiền lương thì tôi cố gắng tiết kiệm. Góp được đồng nào là tôi có thể gửi thêm về cho ba mẹ ở bên kia trái đất, hai người già có đôi mắt sáng, và chỉ vì tôi mà họ sống. Suốt đời, họ đã làm việc cật lực và cho tôi rất nhiều yêu thương, cho tôi biết mùi vị của sách vở, nhưng không đủ khả năng để lấp đầy cái khoảng trống nằm trong bao tử lúc nào cũng háu đói. Có lẽ chẳng mấy ai thật sự biết cái đói nó khủng khiếp như thế nào :  Cái lưỡi liên tục đưa qua đưa lại trong cái miệng chẳng có gì để nhai và kéo dài hằng giờ như thế mà chẳng có chút hy vọng nào là sẽ có được một chén cơm. Chỉ có trí óc mới có thể giúp ta quên nghĩ đến nó : Ba kể cho tôi nghe về những thế giới xa lạ, những cuộc phiêu lưu, nói về những cánh rừng có cọp và voi đi qua, về những cuộc nhào lộn trong lễ lạc ở các làng mạc xa xôi hay nói về âm nhạc với tiếng trống, chiêng và kèn rộn rã. Đó là những thế giới kỳ ảo,  như các hình ảnh màu sắc rực rỡ trong kính vạn hoa, trong đó ánh sáng được nhân lên để làm cho cái góc tăm tối và nghèo nàn mà chúng tôi đang sống trở nên dễ chịu.  Đó là lý do mà dù đã ra đi nhưng tôi không thể nào quên được những ánh mắt và bốn bức tường thân thương của gia đình. Tôi làm việc, làm việc. Rồi ban đêm, khi công việc đã thưa đi, cũng có thể viết thư về nhà. Và những điều tôi viết cho họ bây giờ cũng giống như thế giới kỳ ảo mà ba tôi thường kể :  Có rất nhiều người giúp đỡ tôi, một công việc nhàn hạ, thoải mái và tôi đang sống một cuộc đời đơn giản và chẳng có buồn đau…

Đó là một món quà cho ba mẹ và cũng là sự đền đáp về tất cả những hy sinh mà suốt đời họ đã dành cho tôi.

Sau đó thì những bức thư hồi âm từ xa xôi cũng đến với tôi. Thuở đó đâu được như bây giờ, chỉ cần viết rồi nhấn phím là lát sau có được tin trả lời. Thời đó, những bức thư phải cần vài tháng và trong khi chờ đợi hồi âm tôi thường tưởng tượng ra những điều mà họ sẽ viết.

“ Cảm ơn số tiền mà con vừa gửi cho ba má. Nhờ nó mà mẹ con vừa may được một bộ đồ và ba cũng mua được một cái quần mới. Ba mẹ khỏe, con yên tâm. Hãy cố gắng sống bình an và hạnh phúc. Bên này ba má chỉ cần một ít tiền để sống, điều quan trọng là con viết thư liên lạc thường xuyên để ba má khỏi trông. Con biết không, cứ mỗi lần đọc lại những bức thư, ba má cứ tưởng là con vẫn còn hiện diện ở đây với gia đình chứ không xa ngút ngàn như sự thật…”

          Với tôi cũng thế. Tôi cũng thường đọc lại những bức thư nhà rồi cẩn thận xếp lại, cột tất cả bằng một dải ruy băng màu tím. Trong những lúc đó tôi cũng tưởng như mình vẫn còn sống trong gia đình, tôi lật qua lật lại những trang giấy mỏng và nhẹ như giấy quyến nhưng đầy ắp chữ  cùng những lời khuyên để trưởng thành một người tử tế. Rồi tôi lớn lên với một nỗi nhớ thương liên tục trong tim.

Làm việc nhiều nên tôi gầy như một que củi, thế nhưng khi nghe ai hỏi, tôi liền trả lời là tại thích chạy bộ để giữ gìn sức khỏe rồi vừa cười vừa lịch sự chào họ.

          Thời gian cứ thế trôi qua và tôi bắt đầu nói thạo thứ ngôn ngữ thật xa lạ của những ngày mới đến nên tôi đọc, đọc tất  cả những gì mà tôi tìm được trong khách sạn. Có khi một tờ báo, có lúc một tạp chí khoa học hay một vài quyển sách mà một người khách đãng trí nào đó đã bỏ quên. Rồi một ngày tôi như  bị hút bởi một trang sách đầy những con số và đồ thị… rồi chợt hiểu là những phép tính trong toán học chính là một thế giới mà mình thích khám phá. Quyển sách ấy thế là chưa đủ, và tôi quyết tìm cách học thêm. Rồi hằng đêm tôi chăm chỉ học, đến nỗi quên cả thời gian đã trôi qua. Có nhiều lần mệt mỏi, thế nhưng  chỉ cần đọc lại những bức thư nhà là tôi cảm thấy tinh thần thư thái và có cảm giác là mình mạnh mẽ thêm lên. 

“ Con yêu dấu, lúc này tuy ba má đã già hơn nhưng vẫn còn mạnh khỏe. Lúc này còn có những người hàng xóm thật tốt bụng và tử tế, thỉnh thoảng họ còn đi chợ giúp ba má hay nấu cho những món ăn ngon. Ít ra thì ba má cũng chẳng đơn độc. Nhớ viết thư thường xuyên nhé, như thể con đang tặng ba má một phần đời của con và ba má rất vui vì con hạnh phúc ”

Họ đâu biết hạnh phúc của tôi chính là được ở bên cạnh họ. Nhưng như vậy cũng được thôi. Dù sao thì sự xa cách này cũng có một ý nghĩa. Hoặc chính tôi phải gắn cho nó một ý nghĩa vì mình chẳng thể làm gì khác.

Mười năm trôi qua và giờ này thì tôi có thể sống và làm việc ở nơi chốn xa lạ này nhưng vẫn cảm thấy an tâm. Tôi không còn là một chàng thanh niên nữa… mà đã là một người đàn ông trưởng thành và rất tự hào về những điều mình thực hiện. Tôi không còn làm việc ở quán ăn, cũng  không còn thức đêm ở một khách sạn  nằm ở ngoại ô thành phố. Bây giờ tôi dạy tin học và với vị trí này tôi có thể giúp đỡ nhiều sinh viên ngoại quốc đã đến đất nước xa lạ này để tìm kiếm một tương lai. Họ chẳng biết nỗi niềm của tôi nhưng tôi thì hiểu sâu sắc cuộc đời  và những hy sinh mà họ đang gánh chịu. Nhiều em kể với tôi về những cơn đói lúc còn ở trên quê hương xa vời của họ và làm tôi như thấy lại bóng mình trong gương, với đôi mắt lạc thần cũng với nỗi sợ hãi về tương lai… luôn xuất hiện trong mắt tôi thuở đó.

          Những buổi tối rảnh rổi tôi thường đọc lại những bức thư  cuối cùng của ba mẹ vì rằng đã rất lâu rồi tôi không nhận được tin gì của họ.  Hằng tháng tôi đều gửi một ít tiền đã dành dụm được, về sau càng ngày càng nhiều thêm, nhưng thư hồi âm của họ càng ngày càng thưa dần. Tôi nghĩ chắc vì tuổi già, mắt kém, nên với họ, viết  một bức thư cũng là điều khó nhọc. Và với ý nghĩ đó, tôi càng cố gắng viết cho họ nhiều hơn, hay khi bận rộn chỉ viết được vài hàng nhưng lần nào cũng bỏ kèm thêm một ít tiền. Nhưng tin tức về họ vẫn mịt mờ. Thế là cuối cùng tôi cũng phải chọn một quyết định, bây giờ thì tôi có thể  trở về quê thăm ba  mẹ và nhân tiện chào hỏi và cảm ơn những người hàng xóm tốt bụng.     

Trong những bức thư cuối cùng hình như cả ba và mẹ đều viết cùng một giọng, nhưng có lẽ lúc này thì họ đã quá già rồi, và mặc dù đã nhiều lần tôi  yêu cầu gửi cho tôi một bức hình mới chụp nhưng họ vẫn không làm. Hình ảnh họ trong lòng tôi  chắc vẫn giống như trong bức hình đen trắng cũ đã mờ, trong đó mẹ trùm khăn trên đầu còn ba thì mặc chiếc quần rộng thùng thình có nhiều mảnh vá. Giữa họ, có tôi, lúc đó còn mặc quần ngắn nên phô ra đôi chân khẳng khiu, còn hai con mắt thì bị một lọn tóc vô duyên phủ lên một cách mất trật tự.

   Cầm lấy dải ruy băng màu tím để cột lại những bức thư cũ. Lòng tôi rạo rực vì sắp đến ngày khởi hành. Ba mẹ sẽ ngạc nhiên như thế nào trong chuyến về thăm bất ngờ, không báo trước ?

***

dinh-cuong-tranh-2

  Tôi gõ mạnh lên bàn phím của máy tính, như thể trong tay đang cầm cây búa. Tôi muốn đập vỡ, tan tành, mà không sao làm được.  Nhưng thật ra tôi cũng chẳng biết mình đang làm gì. Đối với mọi người, tôi vừa trở về từ một cuộc đi chơi, một kỳ nghỉ, thế nhưng những quầng thâm dưới đôi mắt mệt mỏi, hiển nhiên đến không thể nào che giấu. Bao nhiêu nước mắt, trời ơi, bao nhiêu tiếng nấc nghẹn mà tôi vật vã nuốt trọn vào lòng, dù  vẻ ngoài vẫn cứ nở một nụ cười gượng gạo.

 

Trở về thăm nhà sau mười năm xa cách và tôi hiểu ngay lý do của những bức thư thưa thớt đến từ gia đình. Nhưng làm gì còn một gia đình nữa mà  trông mong, chờ đợi!  

Chẳng còn ai cả. Ba, mẹ… họ đã chết cách nhau chỉ vài tháng và thi thể được chôn cất trong hai nấm mộ nghèo nàn. Trên đó chỉ có một tấm bia ghi tên, lấm láp bùn đất.

Họ đã chết cách đây năm năm, còn tôi, giờ đứng trước  hai nấm mồ lạnh lẽo để nhìn hàng chữ, những con số… “ mất ngày…” “ từ trần ngày…”. Họ đã quá già và hai trái tim cằn cỗi đã không còn chịu nổi. Còn tôi, nếu bỏ lại trái tim cạnh đó cũng vẫn còn chưa đủ.

Tôi khóc nức nở cho đến hết những giọt nước mắt cuối cùng.

 

Những giọt nước mắt đầu tiên chảy xuống khi tôi đứng trước căn nhà thời thơ ấu. Vài tấm ngói còn nằm chông chênh trên bốn bức tường rệu rã và xiêu vẹo giữa đống cây cỏ um tùm. Tôi gào lên, vô ích : “ Ba, Má… các người đang ở đâu?”. Cuối cùng tôi đọc tấm giấy  đã úa vàng bọc trong chiếc bao ny-lon rách nát : “ Thư từ xin liên hệ ở nhà số 52….”

 Một ông lão đang ngồi hút thuốc bên ngoài căn nhà bên cạnh đã chỉ tôi tìm ba mẹ ở nơi nào.

-“ Họ nằm ở đó, trong nghĩa trang ở cuối làng!”

   Tôi chưa hiểu. Bước đi vài bước rôi tôi quay người để hỏi thăm căn nhà  những người hàng xóm tốt bụng.

  • “Đó, căn nhà cao ba tầng đó là căn nhà số 52”

Mỗi bước chân tôi nặng như treo đá. Thất thểu lê người đến trước cổng nhà to lớn và bắt đầu nhấn chuông.

  • Ai đó? Chuyện gì vậy?

 Đáp lời tôi là một giọng cáu kỉnh và một người đàn bà ra mở cổng, ló đầu ra :

  • Anh là ai? Cần gì ?

Chỉ vừa nói tên tôi thì mặt bà ta tái mét. Bà lẩm bẩm vài lời… đáng lý phải báo tin… phải cho ông hay…  Một sự ngượng ngập cũng xuất hiện trên nét mặt người chồng, nhưng ông ta im lặng. À, phải rồi,  trong những tình huống như thế này thì người đàn bà luôn được đưa ra để phân trần, nhỏ vài giọt nước mắt, và phía bị hại thế nào cũng mủi lòng, hay ít ra không thể phản ứng mạnh.

          Giờ thì mọi việc đâu có thể thay đổi! Năm năm đã trôi qua mà họ vẫn không cho tôi hay biết. Thời gian đầu… họ “cũng” định trả lời những bức thư của tôi, nói cho tôi biết sự thật…nhưng sau…

          Tôi khinh khỉnh nhìn những ánh mắt lấm lét trên khuôn mặt trơ trẽn của họ, nhưng không thể nói được gì. Còn bà vợ thì nói, nói rất nhiều, như thể để lấp đầy sự yên lặng tráo trở sau mỗi câu nói. Cuối cùng tôi mới nói được vài lời.

– Còn tất cả những số tiền mà tôi gửi về cho ba mẹ? Đâu rồi ?

Hai người kín đáo nhìn nhau  rồi im lặng nhìn ra xung quanh. Tôi đã hiểu tất cả và bây giờ tôi không muốn làm gì khác hơn là chạy thật xa hai con ma không có trái tim và trốn khỏi căn nhà khốn nạn đó.

Thời gian vừa đủ để tôi có thể gọi một chiếc  xe để đưa tôi về một khách sạn trong thành phố và sau đó vội  sắp xếp cho chuyến trở về trước thời hạn. Đâu còn lý do gì để ở lại, và cho ai bây giờ?

 

Thế nhưng bây giờ đây, mỗi ngày cơn giận của tôi cứ dần dà trào ra. Một cánh cửa bị dập mạnh, một câu trả lời cáu gắt bất ngờ buông ra một cách thiếu lịch sự. Năm năm chồng chất những nỗi đau, hao tốn, nhưng vì nó đời tôi còn có một mục đích. Còn bây giờ… Hình như tôi chẳng còn lý lẽ gì để tin về những điều mình làm. Mỗi buổi sáng thấy bóng mình trong gương mà như thể đang nhìn một con người khác: Hàm râu mọc dài, má hóp, hai hốc mắt trũng sâu và không còn ánh sáng. Tôi không còn là tôi nữa. Tôi không còn lịch sử, một cuộc đời ở phía sau lưng. Tệ hơn nữa là tôi cũng chẳng nhìn thấy vì điều gì để sống trong tương lai. Như thể tôi cũng bị chôn vùi trong hai huyệt mộ ở quê nhà.

Đã nhiều ngày … nhưng tôi chẳng thiết đi làm.  Tôi như bị chôn sống trong nhà và chẳng quan tâm đến bất cứ việc gì.  Những ngày đầu, tôi có nghe vài tiếng chuông điện thoại nhưng sau đó thì không. Tôi đi đi lại lại trong nhà không mục đích, di dời vài vật dụng từ bàn đến tủ sách, cầm trên tay quyển sách, mở một hộc bàn nhưng đóng liền sau đó. Rồi tôi bước qua một căn phòng khác hay lập lại những động tác vừa rồi, di dời, rờ rẫm, mở rồi lại đóng…    

          Sau một thời gian, a, đây rồi, tôi nhìn thấy  đầu của một dải ruy băng màu tím đã bạc màu. Tôi cầm lấy xấp phong bì, nhưng vì mở vội nút thắt nên làm các bức thư rời ra, lả tả. Tôi cầm lấy một bức hình đã úa màu và cảm giác như mình đang chạm vào một cái gì đó rất thiêng liêng. Rồi bằng một cảm xúc mãnh liệt tôi bắt đầu lật những trang giấy đã úa vàng và  tìm thấy trong mỗi hàng chữ một sức mạnh mới.

“ Con yêu dấu,  cảm ơn con về tất cả những niềm vui dành cho ba má. Nhưng con đừng bận tâm. Mỗi lần đọc những hàng chữ này thì cũng như ba má đang ở bên con. Hãy sống hạnh phúc. Cuộc đời đầy những khó khăn. Ba má lúc nào cũng cầu nguyện cho con, ngõ hầu con có thể sống một cuộc đời tốt đẹp. Hãy bảo trọng nhé, con yêu ”

 

Elena Pucillo Truong

Sài Gòn 7/2014
Nguồn : tập san VHNT Quán Văn số 25, 8-2014

bolai

p h ư ơ n g   t r ư ợ n g

 

 

Mùa hè bốc lên những cơn lốc nồm

thổi phồng quả bóng nhân loại

rõ ràng anh thấy em đi dưới bầu trời thủy tinh

vậy mà bỗng chốc anh lùi về nơi chốn hồng hoang dự trữ

thời tối tăm đại cổ sơ

như tình yêu ở đó những con thú long tiền sử

vẫn kêu hoài tiếng kêu mất mẹ

bầy chim luýt chuýt ôi linh xưa !

vẫn người gù lửng lơ trên tháp chuông

rùng mình cây đổ xuống từng con chiên dối thánh múa hát quanh đám lửa tàn

rõ ràng anh vừa thấy em bên ngoài hành lang

đã khuất nẻo biến mất vào bên trong những siêu thị đại cồ bàng

cánh dang to khuất mắt anh đi vào mê cung quày hàng xú chiêng đồ lót mốt

những chiếc còng số 8 miên man

nai nịt rùng rùng thời đại

lũ hình nhân trần truồng nhăn miệng cười

có con mắt nháy (hình như)

ôi ai như em hình như anh thoáng nghe em cười

đâu đó

 

 

anh đi tìm em nơi nhồm nhoàm miệng mồm khu ăn uống ngợp ngời thức ăn tây tàu mỹ nhật ấn độ cà ri cay cũng có mà ơi hỡi em rồi nơi đâu biết tìm đâu ra một quả ớt nhồng ban trưa sừng sững mùa hè dưới quê gập mình cây trái

 

 

mùa hè mùa hè ầm vang những cuộc diễu binh

phương trượng tung lên giời

picasso erotique nơi trưng bày vú mọc ngược lên đầu

tiếng đàn thoát ra nipples thời hồng

áo quần bên trong nhạc hội jazz ngoài trời

mở cửa tự do vòm đen của nắng

hoa con mắt anh tìm em trên cao một người nào huýt sáo tình tang

không có ai ôm mặt blues tiếng kèn thời xanh non dạ

những chiếc dương cầm bò lê

xin bấm vào dấu lặng sau cùng tổ khúc

người xạ thủ hô to đã tới

giờ đóng cửa

rõ ràng anh mất

hút em .

 

Hoàng Xuân Sơn

 

ROMANCE PERDUE –  Người Tình Paris

ca khúc Chân Phương – Nguyễn Trọng Khôi trình bày

 

NguoiTinhParis

landcape2

TRỌ. TRONG CHIỀU ĐẦY HƯƠNG BAY.

 

 

Ghé một lần. Và rồi vụt xa

Và em mang. Hồn ta ta bà

Mang cho tình. Đôi lần đầm thắm

Mang cho đời. Chân vội phong ba

 

………………………………………………….

 

Trọ ở đâu ? Sao trọ chốn nầy ?

Trọ vai gầy ? Trọ hương tóc bay ?

Nơi an trụ. Là trăm năm cũ ?

Trăm năm nầy ? Nơi nào vui khuây ?

 

……………………………………………………

 

Người phương nao ? Sao người chợt đến ?

Đã bây giờ ? Hay từ hư vô ?

Gọi rong rêu. Vui buồn cuồng nộ

Ái ân tàn. Một đời cây khô

 

……………………………………………………….

 

Ghé một lần. Và rồi tắt nắng

Ôm hình em. Nhân ngải phù hoa

Ôm bóng lụa. Bóng tha thướt quá

Ngước bên đời. Một trời sao xa

 

………………………………………………………….

 

Trọ ở đâu ? Chiều rồi tâm thức

Trọ trong em ? Giấc trọ thu miên ?

Nơi đến trọ. Và nơi hằng trụ

Vệt khói nào ? Tịch tà vô biên…

 

 

Chu Thụy Nguyên.

( 07 – 2017 )

 

Dan

ĐIỆP KHÚC THÁNG BẢY

 

tháng bảy

rong rêu trời quá khứ

ngọn lửa

hân hoan nở nụ cười

ngoài kia

một tàn dư lệ

đêm . nhốt tiếng thở

giữa trời lặng gió

ngày . buông trôi theo

mây bão kéo ngang đầu

tóc phai màu thế kỷ

phố buồn như sương phụ

núi ngậm bờ môi em

tôi . ngao du một thời trên răng dưới dế đoái hoài hạt mưa mau

đại lộ nghiêng nghiêng từng bước đá rêu xanh mà tưởng nhớ

một linh hồn điêu đứng chết chưa chôn giữa trời bát ngát . em

chẻ tóc vào đời trên những nhánh sông trôi ngoài sương gió đợi

đêm giao thoa nghe mưa xô vô tận số thời gian thêm đau thương

đôi cánh cửa linh hồn là mắt môi em xanh miết với trăng sao

liễu dựng những cơn buồn soi mặt bóng hoàng hôn đẫm cuối trời

hư vô tôi hoang tàn như ăn co goát ăn co thom một thời đá dựng

vườn xếp lá me bay hoa ôm đến rũ xác trong lăng tẩm hoàng thành

em còn nhớ hay em đã quên tôi lột xác em trên ngũ giác đài?

làm tình xanh óng dưới trăng tháng bảy một điệp khúc buồn

và . đêm mò mẫm vào ngực thở em với dư âm rã rời nhân thế

sầu muôn năm nghe một khúc đàn trầm cho đá ngậm lời kinh

 

cho mi ướt biển sâu

cho gió ngàn thu đợi

cho mắt biếc nở hoa

cho trời xanh vô tận

cho sa mạc hoang vu

 

tôi . làm thân con thiêu thân

em . tóc rủ bóng rèm thưa

 

một thời lửa chảy

sụp đổ pom pê ./.

 

VÕ CÔNG LIÊM
(ca.ab.yyc.  7/2017)

 

thơ Lê Anh

CallaLily

Thế Giới Này Có Em.

 

Ta ở đây người cũng bên ta        
Thời gian không đủ tháng năm nhòa
Con tim vẫn ý tìm về mộng
Đời lại thấy sầu nở thành hoa

Đâu dễ quên vì chỉ là duyên
Ngàn thu biển lặng tựa như thiền
Sóng tình dẫu khuất mùa giông bão
Cũng tạt bọt bèo theo trăng lên

Ta đã từ lâu muốn được yên
Từ tâm bỏ hết chuyện ưu phiền
Những nẻo chân đi lòng dẫu động
Mặc tàn cát bụi hắt hiu bên

Vậy mà trong tĩnh mịch có em
Rừng thiêng ngơ ngẩn dáng huyền đền
Ngày chưa đề bạt, trời chưa nắng
Chim đã bay về tụ chốn quen

Em thấy mặt ta lạnh như tiền
Ta thấy được người tim đảo điên
Biết trong hiện tại tàng mây nước
Ai nợ nần ai ? -Ta nợ em

Bóng tâm chân thật dường như ngã
Tướng hiện hình vui có chút người
Trong biển đời qua ai cần độ
Nhìn nhau yêu hết cả hổ ngươi

Tình đây còn vẫn quanh mộng mị
Đêm về soi bóng chỉ lặng thinh
Em đến chẳng riêng gì kinh kệ
Kinh cũng là em, là chân kinh

Mặc nhiên thế giới này có em
Yêu em Ta đã trở nên hiền
Biết trong tự tại mình là một
Một dấu đời dường như đã quen.

Lê Anh.

 

TỜ THƯ BÊN KIA SÔNG 

thơ Hoàng Lộc, nhạc Nguyễn Trọng Khôi



 

 

ToThuBenKiaSong_1

 

ToThuBenKiaSong_2

MH

Anais Nin

 

Võ Công Liêm chuyển ngữ

 

MỞ: Đây là một trong mười lăm truyện ngắn ở tập: “Tam Giác Vệ nữ” hay còn gọi là ‘Thổ ngơi của nữ thần Ái tình / Delta of Venus’ của văn sĩ Anais Nin. Nổi tiếng về truyện khiêu dâm. Bà là tình nhân của nhà văn dung tục Henry Miller của Mỹ. The Boarding School / Nội Trú là truyện ngắn hay nhất của tác giả; truyện được liệt vào văn chương đương đại của nước Mỹ. Những gì có tính chất gợi dục là thực với đời và khai mở một sự trụy lac buông thả. Hân hạnh giới thiệu đến bạn đọc một khám phá mới cho văn chương ngày nay.(Người dịch: vcl)

                                                                                                              *

    Chuyện kể về cuộc đời đã xẩy ra nhiều năm qua ở nước Ba Tây; thuộc vùng sâu, xa phố thị nơi đây còn giữ tập tục nghiêm khắc của đạo Công giáo mà vẫn còn lưu truyền. Những thằng con trai có phúc sanh ra đây đều được gởi vào học nội trú thuộc dòng Tên và tiếp tục mục vụ theo lề thói thời Trung Cổ. Những thằng học trò ngủ trên những chiếc giường gỗ, mỗi lần bình minh dậy đều đi lễ trước khi ăn điểm tâm, xưng tội hằng ngày và kiên tâm trông chừng từng lúc, từng khi. Một không khí khắc khe và nghiêm cấm. Những linh mục ăn những phần ăn riêng và tỏ vẻ ngoan đạo xung quanh bọn học trò. Các cha làm dáng, kiểu cách mỗi khi phát biểu. Giữa lớp học cha dòng với lớp da thâm nâu, pha chút máu Da Đỏ, bảng mặt như mặt dê xồm, tai bự dán cứng vào đầu ông, đôi mắt trũng sâu, miệng với đôi môi trề tợ như thèm uống nước, tóc rậm đen và bốc hơi mùi thú vật. Dưới cái áo dòng thụng dài màu sậm nâu những thằng học trò thường chú ý một cái gì nhô ra dưới bụng mà những đứa học trò nhỏ tuổi không thể nào hiểu và giải thích cái gì nhô ra thẳng đứng nơi ông, mấy đứa lớn che miệng cười sau lưng thầy dòng.

Đây là cái nhô đội quần hiện ra ngoài ý kiến ở giờ dạy học –trong lúc lớp học đang nghe đọc bài Đồng Qúi Xốc (Don Quixote) hoặc là Ra-Bờ-La (Rabelais) hoặc một đôi khi ngó chừng vào đám học trò, và; một thằng học trò trông có vẻ đặc biệt với mái tóc mượt mà khác vớì những đứa trong lớp, mắt và da mặt như con gái mới lớn.

Cha già tợ như muốn tránh xa ở chính ông và chỉ cho thằng con trai những cuốn sách mà ông đã cất giữ riêng tư. Những cuốn sách bao gồm những lời giới thiệu về đồ gốm vùng Inca* mà trên mỗi thứ họ vẽ những người đàn ông đứng dựa vào ở mỗi thế khác nhau. Thằng học trò sẽ hỏi những vấn đề đó mà vị linh mục già đành phải trả lời nhát gừng. Những khi khác thì nói ra không chút ngại ngùng; cùng lúc đó một số khác hiện quanh giữa người cha dòng và thấu hiểu những gì khác nhau sau ý nghĩa đó.

Ở lúc xưng tội thì đây là dịp ông cha trả lời những vấn đề cho thằng con trai. Nhiều điều vô tội mà họ tỏ rõ ở đây. Ông ta đưa vấn đề gần gũi trong thâm ý đen tối ở ‘cái hộp’ xưng tội nhỏ bé này. Những khi xưng tội mấy thằng học trò qùy gối và có thể không nhận ra linh mục, người đã ngồi khuất xa. Giọng trầm xuống xuyên qua khe cửa sổ nhỏ; đoạn hỏi: “Con đã từng khi nào mơ màng dâm dục không? Con có nghĩ về đàn bà? Con đã có lần muốn cưới người đàn bà ở truồng không? Thế thì có hành động thủ dâm trong đêm trên giường ngủ không? Con có từng đụng chạm, sờ mó ở chính con chưa? Con đã từng vọc, mơn trớn, vuốt ve ở chính con chưa? Rứa thì con làm chi cho mỗi sáng thức dậy? Dương vật có thường cương cứng không? Con có khi nào nhìn những thằng bạn học trong những khi thay quần áo không? Hoặc khi tắm chung?”.

Thằng học trò không biết chi mô răng rứa, sớm muộn hắn học được những bài học vở lòng về luyến ái, những gì mà hắn mong đợi từ lâu và là những gì cha tinh thần đã đặc những câu hỏi về hắn. Thằng con trai biết thêm nhiều điều thích thú, thỏa mãn trong khi xưng tội, thêm nhiều chi tiết xúc động và nhiều mộng mơ. Từ đó đêm nào cũng mơ với mộng. Hắn chẳng biết đàn bà là cái giống gì mà sao họ làm cho người ta mê mệt. Nhưng; đã có lần hắn thấy người Da Đỏ làm tình bằng nắm lông mềm con hươu la-ma (vicũna)* tợ như cái gì dòn và mỏng nơi con dê cái. Và rồi hắn mơ làm tình cái dòn, mỏng nơi con dê cái và làm cho hắn thao thức mỗi sáng ngủ dậy. Vị linh mục già khuyến khích và căn dặn những lần xưng tội. Hắn lắng nghe và kiên tâm vô cùng. Hắn bị ấn tượng lạ như hình phạt. Thằng con trai tiếp tục thủ dâm như thúc đẩy, hắn đi vào trong nhà Nguyện mỗi khi không có ai xung quanh, nhúng dương vật trong chậu nước thánh và coi như đã thanh tẩy. Đây là nghi thức thoát khỏi những ấm ức trong đêm tối.

Ở đó có những thằng con trai rất hoang nghịch trông giống như hoàng tử Moorish* mặt bôi đen với nét phong trần đặc biệt, một cổ xe hoàng gia và một thân hình tuyệt đẹp, quá mềm mại không xương cốt đã nhận ra, mảnh khảnh và bóng láng như tượng đồng đen.

Đấy là thằng con trai bất trị, hỗn loạn chống lại cái tục lệ xưa cũ đã phủ lên trên cái áo choàng bên ngoài. Hắn thường ngủ truồng, và; khoát áo ngủ làm hắn ngột ngạt, cong cứng khó chịu. Vì vậy mà đêm nào cũng quấn vào như những thằng bạn học khác và rồi hắn kín đáo hất tung ra khỏi người, thò tay xuống dưới cho tới khi ngủ thiếp không quần không áo.

Hằng đêm ở dòng Tên xưa cũ này như vây quanh lấy hắn, rình rập, canh chừng không để một thằng nào lén lút qua giường của hắn, hoặc thủ dâm hoặc nói thì thầm trong bóng đêm bên giường kế cạnh. Mỗi khi đến với giường ngủ là trở nên kẻ bất tuân, hắn chậm rãi và  hết sức thận trọng lật tung áo phủ ngoài và nhìn trân vào thân hình trần truồng của hắn. Nếu như có một thằng nào báo thức hắn, quở trách hắn: ‘tao đến để thấy; nếu mầy ngủ không có áo khoát lần nữa!’ Nhưng; nếu thằng đó không đánh thức hắn thì đồng ý cho hắn liếc mắt vào thân hình thằng trai trẻ đang ngủ. Thời không có chi phải quở.

Có một lần trong lúc học về cơ thể con người khi đó hắn đứng trên bục giảng cùng với cha dòng và một thằng trai giả gái đội tóc vàng ngồi ở cuối làm cho hắn giật mình; có một cái gì nhô ra dưới áo dòng của vị linh mục làm cho cả lớp thấy rõ ràng.

Thầy dòng hỏi thằng con trai đội tóc vàng: ‘Có bao nhiêu xương nơi cơ thể người đàn ông?

Thằng con trai giả gái trả lời hết sức nhu mì: ‘Hai trăm linh tám’.

Tiếng của thằng học trò khác từ phiá cuối lớp: ‘Nhưng cha Dobo có tới hai trăm lẻ chín’.

Chốc lác sau khi xẩy ra chuyện bất ngờ đó cả lớp học đưa đi dạo quanh vườn cây sinh thái thực vật. Mười đứa trong bọn chúng lạc đường về. Trong số đó có cả thằng con trai mảnh khảnh tóc vàng. Người ta tìm thấy bọn chúng trong rừng, xa một khoảng từ nơi những thầy dòng và xa cả trường nội trú. Họ ngồi xuống nghỉ chân và đặc vấn đề về sự cố xẩy ra. Họ bắt đầu ăn dâu, táo. Sao lại có chuyện đó, không một ai biết; nhưng sau đó thằng con trai giả gái tóc vàng ném ra giữa bãi cỏ, không quần không áo, đưa cái bụng ra và chín thằng khác bước qua khỏi hắn, chuyển hắn đi mà coi hắn như con đĩ, một cách dã man. Qua khám nghiệm hậu môn của hắn có dấu vết của sự đòi hỏi dục xác; trong khi khám xét thấy xướt da giữa hai đôi chân của thằng con trai đó, tất cả thịt da nhủn xuống như thân thể đàn bà. Bọn chúng nhổ nước bọt vào tay và chà xát lên dương vật của mỗi đứa. Thằng giả gái đội tóc vàng hét lên, vừa đá, vừa khóc, nhưng cả đám dằn hắn lại và xử sự cho tới khi bọn chúng thỏa mãn  ./.

 

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. cuối 5/2017).

 

Anais Nin: (1903-1977) Người Mỹ gốc Cuba. Một thời sống ở Pháp , Tây Ban Nha và sau cùng ở Mỹ cho tới ngày qua đời.

Henry Miller: (1891-1980) Người Mỹ Sống ở Pháp một thời gian dài. Trở về Mỹ và chết ở Big Sur.USA.

Ghi thêm: Điạ danh và chứng tích trong truyện cho rõ ý tác giả muốn miêu tả nơi vùng đất hoang sơ ở Ba Tây (Trung Nam Mỹ).

* Inca: Vùng đất liên hệ với những bộ lạc Da Đỏ nơi đã bị thống trị bởi Peru mãi tới khi Tây Ban Nha chinh phục và làm thuộc điạ.

* Vicũna: Giống hươu Ở Nam Mỹ, mình thon dài lông mịn như len, tìm thấy ở rặng Andes. Có tên gọi là Lama vicugna.

* Moorish: Nhóm người Tây Ban Nha xâm lược và chiếm đóng được phong như hoàng tử ở tk.thứ 8.

ĐỌC THÊM: Những truyện dịch sau đây:

– Cụm Hoa Cúc Sao của Octavio Paz (Văn thi sĩ Mễ Tây Cơ (Bản Anh ngữ)

– Người Khách Lạ của Albert Camus (Nhà văn Pháp (Bản Anh ngữ).

– Đứa con hoang Trở về của André Gide (Nhà văn Pháp (Bản Anh/Pháp ngữ).

– Mallorca/Ma-Yô-Ca của Anais Nin. (Nhà Văn Mỹ (Bản Anh ngữ)

– Lời Sám Hối của người đàn bà ở đền Kiyomizu (Nhà văn Nhật Bản Akutagawa Ryùnosuke. (Bản Anh ngữ)

– Trẻ Đồng Hoang của Charles Baudelair (Nhà Thơ/văn Pháp (Bản Anh/Pháp ngữ).

– Con Đĩ Khả Kính của Jean-Paul Sartre (Nhà văn Pháp (Bản Anh / Pháp ngữ)).

– Ngàn Cánh Hạc của Yasunari Kawabata (Nhà văn Nhật Bản (Bản Anh ngữ) )

– Thiền truyện/Tuyết Trắng của Yuko Akita (Nhà văn Thiền Nhật Bản (Bản Anh ngữ)

Những truyện ghi trên của võcôngliêm chuyển dịch hiện có ở một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo đ/chỉ đã ghi.

TRANH VẼ:  Portrait of Anais Nin’ Khổ: 12” X 16”.Trên giấy cứng. Acrylics+Mixed+House-paint..
Vcl.

AnaisNin


 

 

 

 

DSCN4590_2

bất chợt giọng nói của ngày

 

ý tưởng hiện khởi con chữ hóa thân

với hàm ý chỉ là bọt bóng mơ hồ bay ngược về trời

lũ chim sẻ nâu không cần biết về những thể nghiệm

tiếng hót ban mai như lời hứa tinh khôi trên vòm lá

hạnh phúc từ cỏ khô được kết dính dưới những mái nhà dọc phố

 

người lướt ngược chiều qua nhau lung linh hư ảo

bầu trời mở ra trong mắt ánh sáng chảy tràn xuống bước chân

những hình dung từ cơn mộng mị tự nó giải thoát khỏi cái bóng

bầy kiến quán tính vội vã nào hay cúc dại đã nở hoa

cát bụi của ngày hôm qua vẫn mặc nhiên tôn tại trước điều bí mật của thời gian

 

xin cứ tự nhiên tiên đoán

bao tiếng chuông ngân mang linh hồn chiếc lá tuyệt vọng tan nhanh vào đất

gió không hề biết vuốt ve những câu thơ mù lòa đậm sắc màu ước lệ

thành phố đã nói rằng mùa thu dường như đang về đâu đó

có thể nào chúng ta đã đánh mất sự tồn lưu ký ức

bất chợt giọng nói của ngày nhắc nhớ trong tiêm  thức

tôi và em đừng ngốc nghếch trước niềm tin tình yêu thật sự luôn vĩnh cửu 

 

Khaly Chàm

 7/2017

 

 

 

hild2

Cái chết của một người nhặt rác

 

 

Gương mặt của em không hắt chút ánh sáng cuối đường

Dù cơn mê làm nỗi đau nghỉ ngơi đôi chút

Trước khi về với cái chết dưới chân.

 

Đôi mắt em hai đóa hoa dần khép lại

Những kỷ niệm lưu vong

Những tháng năm ném đầy trái đắng

Của lầm than, cô độc, u buồn

Đôi tay gầy còn rớm máu đỏ tươi

Đôi tay chưa từng gặt được một vài quả ngọt.

 

Dưới chân cầu đen ngòm thành phố

Không thầy tu, bác sĩ, người thân

Chỉ vài người số phận như em

Lã chã tuôn dòng nước mắt đưa đường.

 

Xin đặt lên em hoa của bốn mùa

Xin hãy khắc lời ca lên bia mộ:

“Nơi yên nghỉ của một người nhặt rác

Người đã tỏa sáng trên con đường đang chết”.

 

Lê trinh

37da5b4deee8d21b9cb26179ca01219f

Về dân chủ.

 

quả thực

tôi không còn biết phải xử lí như nào

với giấc ngủ tối nay- khi có quá nhiều thông tin về cái chết của nhà đấu tranh

dân chủ cho nhân dân trung quốc- lưu hiểu ba

được loan tải đánh vào đầu

(giấc ngủ ngày còn okay) nhưng chỉ giấc đêm

nội đêm nay

 

mặc dù mỗi đêm

vừa nằm xuống tôi đều nghe tiếng chân phụ nữ

về

đòi

lấy xác tôi cho bằng được

 

phải nói không biết bao lần tôi đã cố hình dung

xem khuôn mặt

người phụ nữ ấy là ai? nhưng chịu

giờ lại phải hình dung cách xử lí giấc ngủ đêm nay- như nào

(với quá nhiều thông tin về cái chết nhà tranh đấu dân chủ cho nhân dân trung hoa

lưu hiểu ba- đánh vào đầu!)

 

tôi muốn nói

– ở đây

phụ nữ họ thích nghi giỏi lắm

lấy tấm chồng/ bất kể người nước nào

theo về quê chồng khuôn mặt họ đổi khác ngay

để thích nghi và sống cực tốt

 

không giống đàn ông- nhất là đàn ông

như tôi

sống xứ người mấy mươi năm vẫn chả bao giờ thích nghi nổi

luôn ạch đụi!)

 

một điều làm tôi thắc mắc

dẫn đến nghi ngờ- rằng- giữa tiếng chân bước về

mỗi đêm

của người phụ nữ đòi lấy xác tôi cho bằng được

với cái chết nhà đấu tranh dân chủ cho nhân dân trung hoa- lưu hiểu ba

người phụ nữ ấy thì chắc còn trinh tiết/ chứ không? tại sao lại biết rõ giờ

giấc

tôi nằm xuống

 

còn cái chết của lưu hiểu ba

với khá nhiều thông tin đánh vào đầu tôi- quả

rõ ràng là cách ông chết do bị dồn cùng đường/ bị tù tội

vướng bệnh tật

 

cứ thế tôi thả cho trí tưởng lang thang

một cách vô định

nhưng rốt cùng thì sao? chắc chắm giờ đây mỗi đêm tôi lại bật dậy thắp nhang

cầu khấn/ tôi cầu khấn giời ạ (ít nhất

năm sáu lần

cũng có thể suốt cả đêm

đêm!)

 

chính vì thế- ya

tôi không còn biết xử lí với giấc ngủ đêm nay

như nào- là vậy!

..

Vương ngọc minh.

thơ Lê Anh

NHO

TÌNH NHỚ

 

Em có bao giờ nhìn lưng biển

Nghe xa từng nỗi nhớ về nhau

Thời gian đủ làm thành ly biệt

Mỗi đêm dài như mỗi đêm thâu

 

Ai còn đây vẫn tình chết lịm

Màu tang lòng đã tím mùa yêu

Ta vẫn chờ cho dù đây đó

Hoàng hôn lên thành phố mấy chiều

 

Chuyến tàu qua cũng từng năm tháng

Góc đời xưa sao khuất bóng tìm

Nhìn theo mắt…nhìn quen sương xuống

Bến ga chìm trong phố đêm im

 

Ta thấy buồn thời gian héo đợi

Tình phân kỳ từ  cuối ra đi

Mịt mù nhau bóng chim tăm cá

Nửa hồn đau mòn mỏi chia ly

 

Trách chi nhau đã giờ biền biệt

Những yêu thương ướt một đời ta

Tóc xanh có lần mềm da thịt

Tình em nghe se sắt gần xa

 

Nhìn chân mây như nhìn lưng biển

Sóng đời cao chùng chập bạc đầu

Ta ôm nhớ về em nhòa nhạt

Chắc không còn được gặp nhau đâu!.

 

Lê Anh.

 

 

 

 

Như Chiều Mưa Vội.

 

Tôi cùng em về

Con đường bụi nhớ

Những dấu chân che

Dưới lá đêm hè

 

Nhưng mưa nhạt nhòa

Xóa ướt chân qua

Tôi buồn tiếc mất

Hương huyền ngày xưa

 

Hôm bên phố cũ

Bóng đổ lưng trời

Dấu chân hò hẹn

Lấp đầy lá rơi

 

Tôi ôm nỗi nhớ

Em ở đâu rồi

Tôi còn đây đợi

Chiều vẫn mau trôi

 

Em ở đâu nơi 

hay phiêu bạt đời

Như chiều mưa vội

Làm ướt tình tôi

 

Chiều mưa thấm đất

Mang cả tình tôi

Xuôi về cuối trời

Con đường vắng người                               

Giờ đọng mưa rơi.

 

 

Lê Anh.

 

co-gai-ly-son-1452271504

với trăng

                  

cùng hồ đình nghiêm, hành trang

 

 

 

gọi một vầng trăng cổ sơ

lắng nghe thiên thủ đôi tờ nguyệt thơm

biết vì đâu mây vang lừng

tà huy rúng động mầu ngưng pháp thiều

ngồi lặng với chùm phong rêu

dát vào thính thị mùa khêu gợi cùng

diễn trần vun vút không trung

chờ phiên lãng thuỵ gối đồng xuân tươi

tờ mộng nguyên thẩm thấu cười

lóng xương trừ bị còn hơi thở nồng

búng rạng ngời chữ không không

khoanh tay ghì ấm chút lòng khoa nghi

 

 

hoàng xuân sơn

16 juillet 2017

Thế giới phản ứng sau cái chết của Lưu Hiểu Ba

 

13/07/2017
nguồn: VOA

5Người dân Hồng Kông biểu tình trước Văn phòng Liên lạc Trung Quốc tại Hồng Kông, bày tỏ lòng thương tiếc nhà tranh đấu Trung Quốc Lưu Hiểu Ba qua đời, ngày 13/7/2017.

 

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Rex Tillerson hôm thứ Năm 13/7 lên tiếng về cái chết của nhà tranh đấu cho nhân quyền Trung Quốc Lưu Hiểu Ba.

“Hôm nay tôi cùng với người dân ở Trung Quốc và trên khắp thế giới để tang Khôi nguyên giải Nobel hòa bình năm 2010 Lưu Hiểu Ba. Ông qua đời trong khi đang thọ án tù lâu năm chỉ vì đã lên tiếng thúc đẩy cải cách dân chủ một cách ôn hòa. Ông Lưu đã cống hiến trọn đời mình ra tranh đấu để đất nước và nhân loại được tốt đẹp hơn, theo đuổi công lý và tự do.”

Ngoại Trưởng Tillerson nói thêm:

“Tôi xin gửi lời chia buồn sâu sắc đến bà Lưu Hà, vợ ông Lưu Hiểu Ba, và tất cả những người thân yêu của ông. Tôi kêu gọi nhà nước Trung Quốc hãy phóng thích bà Lưu Hà khỏi tình trạng bị quản thúc tại gia, và cho phép bà ra nước ngoài, theo nguyện vọng.

Người đứng đầu Ủy ban Nobel ở Na Uy nói chính quyền Trung Quốc phải “chịu trách nhiệm nặng nề” về cái chết của khôi nguyên Giải Nobel Hòa Bình Lưu Hiểu Ba.

Bà Berit Reiss-Anderssen nói:

“Chúng tôi quan ngại sâu sắc về việc ông Lưu Hiểu Ba không được thuyên chuyển đến một cơ sở y tế nơi ông có thể được điều trị đúng mức trước khi căn bệnh trở nặng không cứu chữa được. Chính phủ Trung Quốc phải chịu trách nhiệm nặng nề về cái chết quá sớm của ông Lưu.”

Ông Lưu, một học giả Trung Quốc sau này trở thành một nhà bất đồng chính kiến, tranh đấu cho dân chủ, qua đời ở tuổi 61, vì bệnh ung thư gan.

Các nhóm bênh vực nhân quyền nhanh chóng lên tiếng ca ngợi những thành tựu và di sản của ông Lưu trong khi kêu gọi cộng đồng quốc tế điều tra cái chết của các nhà hoạt động dân chủ trong thời gian bị cầm tù, và kêu gọi Trung Quốc ngưng đàn áp các nhà hoạt động.

Bà Sophie Richardson, Giám đốc đặc trách Trung Quốc của Tổ chức Human Rights Watch nói:

“Ngay giữa lúc căn bệnh của Lưu Hiểu Ba trở nặng, chính phủ Trung Quốc vẫn tiếp tục cách ly ông với gia đình, đồng thời không cho ông được tự do chọn cách điều trị. Sự kiêu ngạo, sự độc ác, và sự cố chấp của nhà nước Trung Quốc thật sự gây sốc, nhưng sự nghiệp tranh đấu của ông Lưu cho một nước Trung Quốc tôn trọng nhân quyền và dân chủ sẽ tiếp tục.”

Người đứng đầu Tổ chức Nhân quyền LHQ, Hoàng Thân Zeid bin Ra’ad Zeid al-Hussein, bày tỏ “nỗi đau buồn sâu sắc” trước cái chết của ông Lưu Hiểu Ba, nói rằng phong trào nhân quyền đã mất đi một “nhà vô địch kiên định.”

Ông Salil Shetty, Tổng thư ký của Tổ chức Ân xá Quốc tế nói ông Lưu Hiểu Ba đã để lại một di sản vô tận cho Trung Quốc và cho cả thế giới.

 

Lưu Hiểu Ba, người bất đồng trực ngôn

 

4Người biểu tình ở Hong Kong khóc thương ông Lưu Hiểu Ba, 13/7/2017

 

Ông Lưu Hiểu Ba, nhà tranh đấu cho nhân quyền Trung Quốc bị bỏ tù, vừa qua đời trong một bệnh viện Trung Quốc sau một thời gian chống chọi với bệnh ung thư. Nhà văn đồng thời là nhà hoạt động 61 tuổi, đã được trao giải Nobel Hoà bình năm 2010 vì “đấu tranh lâu dài và bất bạo động cho các quyền làm người cơ bản ở Trung Quốc”. Ngay cả những ngày cận kề cái chết, ông vẫn là đối tượng của nhiều tranh luận. Phóng viên Natalie Liu của đài VOA ở Washington cho biết thêm thông tin.

Ông Lưu Hiểu Ba, 61 tuổi, qua đời tại một bệnh viện ở Thẩm Dương, nơi ông được chuyển đến từ nhà tù để được điều trị ung thư giai đoạn cuối. Những ngày cuối cùng của ông gắn liền với một cuộc tranh cãi trong công chúng về việc Bắc Kinh từ chối yêu cầu của gia đình ông, xin phép đưa ông sang Hoa Kỳ hoặc Đức để được chăm sóc.

Từ lâu, ông Lưu đã nổi danh là một nhà bất đồng chính kiến trực ngôn. Là một giảng viên đại học và nhà văn nổi tiếng về phê bình văn hoá Trung Quốc truyền thống, sự nghiệp đầy hứa hẹn của ông đã rẽ sang một bước ngoặt lớn khi ông tham gia cuộc biểu tình quy mô do sinh viên dẫn đầu tại quảng trường Thiên An Môn vào năm 1989.

Sau cuộc đàn áp dữ dội của quân đội, trong sự cố được gọi là vụ thảm sát Thiên An Môn, ông bị quy là thành phần tội phạm “bàn tay đen” và bị bỏ tù.

Sau khi được phóng thích năm 1991, ông tiếp tục kêu gọi cải cách chính trị.

Ông Lưu Hiểu Ba nói:

“Nếu có tiến bộ gì về xã hội và chính trị yso6 Trung Quốc trong 20 năm qua, tất cả là nhờ các công dân đã thúc đẩy sự thay đổi. Rốt cuộc, thay đổi sẽ xảy ra khi mà các vấn đề vẫn tồn tại và có đủ những người quan tâm”.

Năm 2008, ông Lưu và các nhà bất đồng chính kiến khác đã công bố một văn kiện có tên Hiến chương 08. Văn kiện kêu gọi chấm dứt chế độ độc đảng của Trung Quốc và thành lập một nước cộng hòa dân chủ mới.

Ông Lưu Hiểu Ba nói:

“Đối với những người trong sô chúng ta trong phong trào chống đối dưới các chế độ độc tài, một phần công việc của chúng tôi là phải đối mặt với cảnh sát, và đi tù. Như vậy, một nhà bất đồng chính kiến không chỉ cần học cách chống lại áp bức, mà còn phải đối phó với các cuộc trấn áp, và bị cầm tù”.

Ông Lưu bị kết án 11 năm tù hồi năm 2009. Một năm sau, tên tuổi của ông được toàn thế giới biết đến.

Chủ tịch Ủy ban Nobel Na Uy Thorbjorn Jagland:

“Ủy ban Nobel Na Uy đã quyết định trao giải Nobel Hoà bình năm 2010 cho ông Lưu Hiểu Ba vì đã đấu tranh lâu dài và bất bạo động vì nhân quyền cơ bản ở Trung Quốc”.

Giải thưởng ghi nhận vai trò của nhiều người Trung Quốc ở trong lẫn ngoài Trung Quốc trong việc xác lập nhân quyền phổ quát.

Ông Lưu Hiểu Ba nói:

“Nhà cầm quyền có quyền lực trong tay, họ có thể bắt giữ người, chúng ta không có quyền lực như vậy, nhưng chúng ta có thể nói chúng ta không ủng hộ điều này, chúng ta chống đối điều này”.

Khi ông Lưu qua đời, ông còn 3 năm nữa nữa mới mãn hạn tù. Người vợ chung sống với ông trong 21 năm, bà Lưu Hà, đề cập tới cuộc đời của hai vợ chồng trong một bài thơ:

“Ta thích vẽ cây, vì sao vậy?
Vì thích hình ảnh cây đứng thẳng
Người nói sống mà đứng thẳng hẳn rất mệt mỏi
Ta trả lời đúng thế
Nhưng ta vẫn phải như vậy”

 

Khôi nguyên Nobel Hòa Bình Lưu Hiểu Ba qua đời

LuuHieuBa

nguồn: VOA

Nhà hoạt động chính trị người Trung Quốc, nhà văn, Khôi nguyên Nobel Hòa Bình, Lưu Hiểu Ba, qua đời tại một bệnh viện thuộc thành phố Thẩm Dương, Trung Quốc, hưởng thọ 61 tuổi. Sở Tư Pháp thành phố Thẩm Dương ra thông báo chính thức cho biết.

Ông Lưu Hiểu Ba qua đời do căn bệnh ung thư gan, vốn được phát hiện vào tháng Năm, và được công khai hồi tháng Sáu.

Được biết đến với chiến dịch trường kỳ đấu tranh cho tự do, dân chủ của Trung Quốc, nhiều người coi ông Lưu là bậc anh hùng, trong khi ông lại là cái gai trong mắt chính quyền Bắc Kinh.

Trong suốt thời gian dài, ông đối mặt với sự sách nhiễu, quản thúc và giam cầm từ phía đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 2010, ông Lưu Hiểu Ba được trao tặng giải Nobel Hòa Bình, trở thành người Trung Quốc trong nước đầu tiên nhận giải thưởng danh giá này, đồng thời cũng là một trong ba người nhận giải trong lúc bị giam giữ, sau ông Carl von Ossietzky quốc tịch Đức (1935) và bà Aung San Suu Kyi người Myanmar (1991).

Lưu Hiểu Ba sinh tại Trường Xuân, Cát Lâm, năm 1955 trong một gia đình trí thức. Ông phải trải qua những năm tháng đầy biến động của nước Trung Hoa hiện đại.

Khi phong trào đấu tranh dân chủ Thiên An Môn nổ ra vào năm 1989, ông đang là học giả thỉnh giảng tại đại học Columbia, New York. Ông Lưu sau đó trở về quê hương, tham gia phong trào vốn bị đàn áp dã man bởi chính quyền Cộng sản Trung Quốc.

Ông Lưu và những nhà hoạt động khác được ghi nhận là đã có công trong việc hạn chế bớt qui mô của cuộc tàn sát bằng cách thương lượng với các binh lính có vũ trang, mở một đường thoát trong hòa bình cho hàng ngàn sinh viên đang có mặt tại Thiên An Môn.

Ông Lưu sau đó bị bắt với tội danh “đứng đằng sau giật dây phong trào Thiên An Môn.” Mặc dù không phải chịu án hình sự và được phép đi ra nước ngoài, ông Lưu bị đuổi khỏi trường đồng thời bị quản thúc tại gia nếu vẫn tiếp tục sống trong nước. Ông Lưu Hiểu Ba được chính phủ Úc cấp quy chế tị nạn, nhưng ông từ chối.

1a

Ảnh Reuters

Sau sự kiện Thiên An Môn, ông Lưu bị giam tổng cộng ba lần, nhưng vẫn tiếp tục tranh đấu cho những cải cách chính trị. Kể từ năm 1999 đến 2008, ông dành toàn bộ thời gian của mình cho việc viết văn, cũng như giúp thành lập Trung tâm Văn bút Độc lập trung Quốc, một diễn đàn cho phép các nhà văn, nhà báo tự do bày tỏ chính kiến của mình. Ông Lưu từng ba lần được bầu làm chủ tịch của tổ chức này.

Năm 2008, Lưu Hiểu Ba giúp soạn thảo “Hiến Chương 08”, kêu gọi cho nhân quyền, tự do bầu cử. Hiến chương này được cho lưu hành vào đúng ngày 10 tháng 12, ngày Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, cũng như kỷ niệm 60 năm ngày phát hành Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền.

Ngay trước khi Hiến chương 08 được phát tán, Lưu Hiểu Ba bị bắt với tội danh nghi ngờ khích động lật đổ quyền lực nhà nước, chịu án 11 năm tù. Tháng 10 năm 2010, ông được trao tặng giải Nobel Hòa Bình. Tại lễ trao giải, Hội đồng Nobel của Na Uy đã đặt một chiếc ghế trống trên sân khấu thay mặt cho Lưu Hiểu Ba, do ông không được phép tham dự.

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã chỉ trích bản án mà Trung Quốc dành cho Lưu Hiểu Ba, cho rằng việc kết án những tiếng nói chính trị ôn hòa đã vi phạm những quyền con người cơ bản được quốc tế công nhận.

Liên minh Châu Âu, Đức, Pháp và nhiều nước khác cũng đồng thời bày tỏ mối quan ngại tương tự. Nhiều tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế, cùng với cựu Tổng thống Nam Phi Nelson Madela và 15 khôi nguyên Nobel Hòa bình khác, cũng đã lên tiếng yêu cầu Bắc Kinh trả tự do cho Lưu Hiểu Ba.

Năm 2009, lãnh tụ tinh thần lưu vong của Tây tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma, một khôi nguyên Nobel Hòa bình, cho rằng việc tù đày một người chỉ đơn giản thực hành quyền tự do biểu đạt đã đi ngược lại hoàn toàn các công ước quốc tế về quyền con người.

Ông Lưu Hiểu Ba vẫn bị giam trong tù khi tình hình sức khoẻ có những chuyển biến xấu, và chỉ được đưa vào bệnh viện vài tuần trước khi ông qua đời. Gia đình ông nhiều lần lên tiếng yêu cầu chính quyền Trung Quốc cho phép đưa ông sang Mỹ hoặc Đức để chữa trị căn bệnh ung thư gan, tuy nhiên đều bị từ chối.

Khôi nguyên Nobel Hòa bình Lưu Hiểu Ba qua đời ở tuổi 61.

(Bài viết được chuyển ngữ từ bản Anh Ngữ của ban Quan Thoại, VOA)