Feeds:
Posts
Comments

NhaSan

Đất nước đến hoa còn xấu hổ

 

Một nhà nước như không còn ai biết ngượng
Lại mọc đầy hoa xấu hổ nơi nơi
Cây thẹn thùng nép cỏ
Lá nhắm hờ mắt gió trêu ngươi

Nói dối mọi nơi
Nói dối mọi điều
Nói dối quá làm hoa đỏ mặt
Muôn năm cái không có thật
Không có thật ở đâu ?

Ai áp giải nhân dân phải tìm ra ma xó?
Đất nước nằm mơ trên quả địa cầu
Đất nước khom lưng tìm thiên đường không có
Một thiên đường ý cuội mạo lòng dân

Hoa thay người xấu hổ
Kẻ gian manh mang mặt nạ thánh thần
Hoa xấu hổ mọc trong tờ hộ chiếu
Ra nước ngoài thương người Việt tủi thân

Sự trâng tráo làm vương làm tướng
Xấu hổ ơi xấu hổ mọc nơi nào?
Kẻ ăn cắp lên truyền hình dạy người tự trọng
Lê Chiêu Thống gào: phải yêu nước như tao…

Ai đang chọn quốc hoa giữa thời quốc nhục
Đất nước ơi xin thẹn với Tiên Rồng
Trong băng hoại hoa giữ mình nhân cách
Giữa lòng người hoa xấu hổ còn không?

 

Trần Mạnh Hảo.

 

Những thần Vệ nữ vú to mông nẩy và nguồn gốc của nghệ thuật

 

Hà Vũ Trọng

Một thoáng nhìn vào hành lang triển lãm nhỏ dưới đây, gồm một số tượng thường được gọi là “Vệ Nữ” (Venus) có niên đại cách nay 40.000 năm cho tới 3.000 năm trong các nền văn hoá thế giới. Những phong cách “mới lạ” từ thời tiền sử này cho chúng ta cảm tưởng về nền điêu khắc hiện đại. Thực vậy, bởi vì nghệ thuật hiện đại của thế ki 20 chẳng qua là đứa con hoang đàng trở về với cái nôi khởi nguyên của nghệ thuật loài người, trở về với Mẹ Đất, với nguyên mẫu mà Carl Jung gọi là Mẹ Cả — nguồn mạch sáng tạo của đời sống.


 

Suốt hơn 100 năm qua, những tranh cãi về nguồn gốc của nghệ thuật vẫn còn những bất đồng. Tuy nhiên, những năm gần đây, chứng cứ đưa ra cho nghệ thuật trừu tượng tìm thấy ở châu Phi có niên đại cách đây 75.000 năm, còn chứng cứ cho nghệ thuật tượng hình cổ xưa nhất đã có cách đây 40.000 năm.

Những khai quật mới đây vào năm 2008 phát hiện ra một pho tượng nhỏ khắc trên ngà voi mamút ở Hang Hohle Fels, vùng Swabia Jura phía tây nam nước Đức. Pho tượng thần “Vệ Nữ” này được tạo ra cách đây 40 ngàn năm, khiến nó trở thành nguyên mẫu cổ nhất về nghệ thuật tượng hình và đẩy lùi niên đại sớm hơn cả 10.000 năm so với những tượng Vệ nữ nổi tiếng thuộc văn hoá Gravette (ở Pháp). Hàng ngàn pho tượng nữ thần cùng đủ mọi hiện vật và di tích đền thờ nữ thần mà những nhà khảo cổ học như Marija Gimbutas đã liên tục tìm thấy ở châu Âu và những nơi khác trên thế giới, đã làm thay đổi triệt để những cách nhìn của chúng ta về bối cảnh và ý nghĩa của nghệ thuật đầu thời Đồ đá cũ. Và không hẳn chỉ là nguồn gốc của nghệ thuật, những phát hiện này cũng làm thay đổi và đánh giá lại những thiết chế văn hoá, xã hội, tín ngưỡng của nhân loại trong mấy ngàn năm qua dưới chế độ phụ quyền với tín ngưỡng độc thần.
41

Chúng ta sẽ điểm qua một số pho tượng thần Vệ Nữ nổi tiếng và cổ xưa nhất, và cũng là những tác phẩm sáng tạo đầu tiên của nhân loại.

  1. Vệ nữ Hohle Felskhắc trên ngà voi mamút, cao 6 cm, phát hiện năm 2008 ở vùng Swabia Jura nước Đức, cũng là vùng được cho là có mặt sớm nhất của người homo sapiens ở châu Âu (Cro-Magnon). có niên đại từ đầu thời kỳ Đồ đá cũ cách nay khoảng 40.000 năm. Đây Là mẫu mực cổ nhất thế giới về nghệ thuật tượng hình nói chung. Các đặc trưng của nhiều pho tượng nữ thần vào những thời kỳ tiền sử sớm nhất thường ít chú tâm vào phần đầu, gương mặt, cánh tay hoặc bàn chân, mà đặt nặng vào những thuộc tính của sinh dục. Với Vệ Nữ Hohle Fels, cũng vậy, ngoài hai đặc trưng phồn thực thường thấy là “vú to mông nẩy”, bộ phận âm hộ còn được khuếch đại với hai bắp đùi căng tròn và hai chân dạng ra để nhấn mạnh việc sinh đẻ. Có lẽ đó là vẻ đẹp sinh học lý tưởng, ít ra là trong thời kỳ này. Giới y học ngày nay xem hình ảnh đàn bà thời tiền sử bị chứng béo phì, nhưng thật ra theo quy luật sinh tồn thì lớp mỡ dày dưới da và dưới bộ mông to xệ này hẳn nhiên có chức năng cần thiết để giữ nhiệt và dự trữ năng lượng nhất là khi người phụ nữ vừa phải sinh con đẻ cái trong những điều kiện sinh tồn khắc nghiệt nhất của môi trường thời kỳ Băng hà. Cũng có người xem đây là tác phẩm nghệ thuật huê tình (erotic) có sớm nhất của nhân loại. Tuy nhiên, khái niệm hiện đại về “nghệ thuật” hoặc “huê tình” là hoàn toàn xa lạ trong một thời kỳ không có khái niệm giam cầm gọi là “tác phẩm nghệ thuật” hoăc “khiêu dâm”. Hình tượng nữ tính thiêng liêng ở đây được tôn vinh thành nữ thần, người mẹ mang thai, sinh sản, nuôi dưỡng từ bầu vú no tròn, và lại đón đứa con trở về tử cung của Mẹ Đất để rồi lại tái sinh.

    42

  1. Vệ Nữ Dolni Vestonicelà người đàn bà khoả thân bằng gốm có màu màu đen sẫm kì lạ, cao 111 mm,  niên đại cách nay 29.000—25.000 năm, tìm thấy ở vùng nam Brno, Moravia, nước Tiệp. Bức tượng gốm này tuy có đặc trưng phồn thực tương tự với những pho tượng khác, nhưng gương mặt có hai đường vạch thành đôi mắt xếch và một vạch thẳng là mũi, và chóp đầu có bốn cái lỗ để cắm hoa, cây lá hoặc lông chim, tạo thành kiểu tóc biểu thị cho cây cối đâm chồi nảy nở từ Mẹ Đất. Pho tượng này phát hiện cùng với những tượng đầu nữ thần và những thú vật khác, được công nhận là đồ gốm cổ nhất nhân loại, và đã sớm biết sử dụng kĩ thuật nung gốm. Nghệ thuật điêu khắc trên ngà voi và gốm với những hình tượng đa dạng tìm thấy ở vùng này được xem là do bàn tay của người phụ nữ tạo ra trong thời đồ đá.

    43

  1. Vệ Nữ Ostrava, phần thân mình của tượng này cao khoảng 5 cm, khắc trên quặng haematite, cũng thuộc văn hoá Gravette tìm thấy ở Moravia, Tiệp. Niên đại cách đây 27.000 năm. Mang kiểu dáng cực hiện đại, gần như phong cách lập thể, và cái gò tam giác như một mảnh bikini hiện đại. Hình thể mảnh mai với dáng eo thon, vú nhỏ và săn chắc, bụng hơi nhô lên gợi ý giai đoạn trẻ trung và mang thai thời kì đầu.  Tiếp theo dưới đây, cũng là những Vệ Nữ Dolni Vestonice điêu khắc từ xương thú, thân thể được cách điệu hoá thành nghệ thuật trừu tượng rất “hiện đại”, trở thành những biểu tượng vật tổ về người bàn bà như là nữ tổ tiên của loài người. 

 

 

  1.  Vệ Nữ Lespugue điển hình của nền văn hoá Gravette trải dài khắp châu Âu, cách nay 27.000 năm, ở vùng Dordogne, Pháp. Khắc trên ngà voi mamút, cao 14 cm,  Vệ Nữ này không có bàn tay hay bàn chân, cặp giò thuôn nhọn dần, mục đích như để cắm đứng xuống đất hoặc cắm vào đâu đó có thể nhìn thấy. Phần ngực trên lõm thành một đường cong và uốn lên trên như chiếc đầu rắn hướng tới trước, vì vậy tất cả  phần trên mảnh mai như thể để nhấn mạnh ở phần dưới vào khả năng sinh đẻ và nuôi dưỡng. Cặp vú to thõng xuống với hai cánh tay nhỏ tựa lên hai bầu vú hoà nhập vào với cái dạ con tròn đầy; cặp mông và cặp giò phồng căng lên thành khối căng như thể đang trợ giúp cho hành vi sinh đẻ. Bộ vú và bộ mông gây cảm tưởng là bốn quả trứng to mang trong chiếc tổ của thân thể đang có bầu. Mười vạch thẳng khắc dưới mông đằng sau bắp chân tạo ấn tượng của dòng nước ối đang tuôn ra từ dạ con. Mười đường vạch gợi ý về mười tuần trăng mang thai.

 

 


  1. Vệ Nữ Willendorf, niên đại khoảng 26.000 năm, tìm thấy ở Áo. Tuy chỉ cao 11 cm nhưng nữ thần trông dáng đồ sộ, tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng này có thể tìm thấy trong đa số sách về lịch sử nghệ thuật. Bức tượng được khắc bằng đá vôi, mang đậm tính phồn thực của Mẹ Đất với cặp vú to, bụng lớn, âm hộ được khắc chi tiết, và vẫn còn dấu vết của lớp màu đất đỏ quét lên tượng trưng cho máu.  Quanh đầu nữ thần là 7 lớp bện song song vòng quanh và che kín khuôn mặt. Con số 7, con số của sự trọn vẹn, một phần tư của chu kì tuần trăng.
    49
  1. Vệ Nữ Moravany/Moravia, ở Slovakia, khắc bằng ngà voi mamút, cao 7.6 cm, niên đại 22.800 năm, cũng thuộc nền văn hoá Gravette. Bức tượng rất đẹp, không có đầu, tất cả nhấn mạnh vào tính tả châncông phu ở bụng và cặp vú nặng trĩu, biểu thị đang chu kì mang thai. Rốn và âm hộ cũng được khắc rõ nét. 

50

  1. Nữ thần Brassempouy, bức tượng nổi tiếng này chỉ còn sót lại chiếc đầu, cao 3.65 cm, khắc trên ngà voi mamút, tìm thấy trong một cái hang ở Brassempouy (Landes, Pháp), niên đại cách đây khoảng 25.000 năm, thuộc văn hoá Gravette. Đây là bức tượng có phong cách hiện đại nhất, và có lối miêu tả sớm nhất mang tính tả thực về khuôn mặt và kiểu tóc, cổ cao với những nét thanh tú.

    51

  1.  Vệ Nữ Laussel, cao 43 cm, khắc trên đá vôi, Pháp, cách đây 22.000 năm, tay phải cầm chiếc sừng bò mộng hình mặt trăng lưỡi liềm, trên đó vạch ngấn 13 ngày khi trăng tròn và 13 tháng của năm âm lịch. Bàn tay trái chỉ vào dạ con đang căng lên để chỉ sự liên hệ chu kì trăng tròn với tiến trình sinh đẻ của dạ con.

52

  1. Vệ Nữ Avdeevo, khắc trên ngà voi mamút, cao 12-15 cm, cách nay 20.000 năm, địa điềm Avdeevo này nằm ở sông Sejm gần thành phố Kursk, Nga, có liên hệ rất gần với những địa điềm đầu thời Đá Cũ ở Trung và Đông Âu. Những tượng Vệ Nữ này hình thể có biến đổi, nhưng hầu hết miêu tả những giai đoạn khác nhau của chu kì sinh đẻ.

    39

  1. Vệ Nữ Engen,tìm thấy ở hang Peterfels, Đức, niên đại cách đây 15.000 năm, khắc bằng than đen và mài tới độ nhẵn bóng tuyệt đẹp, chiều cao chỉ 4.4 cm. Đây có lẽ là hình tượng người đàn bà được cách điệu trừu tượng cao độ nhất, với bộ mông to hình trứng, có lỗ ở chóp đầu để xỏ dây da đeo quanh cổ.

 

 

                               

  1. Vệ Nữ Jomon của Nhật Bản, thuộc thời kỳ Jomon (hay Thừng văn) niên đại bắt đầu cách đây 16.000 năm và kết thúc vào 300 năm trước CN, là nền văn hoá có sự liên tục và lâu dài nhất thế giới. Dân tộc Jomon đã tạo ra sản phẩm đồ gốm thuộc loại có sớm nhất thế giới với phong cách phong phú và rất đặc dị, những hình thể người vừa trừu tượng vừa cụ tượng được cách điệu tinh tế và hiện đại, cùng nhiều tượng nữ thần mang bầu và sinh đẻ. Cũng như hầu hết ở những xã hội tiền sử khác, đồ gốm của Jomon được cho là do phụ nữ chế tác.

 

  1. Những Vệ Nữcủachâu thổ sông Ấn, thuộc nền văn minh Harappan được coi là nền văn minh đô thị lớn nhất và cổ nhất, ở vùng tây bắc Ấn Độ, cách đây 5000 năm.

 

 

1.    Những nữ thần Hồng Sơn, bằng đất nung và ngọc thạch, thuộc nền văn hoá Hồng Sơn trong thời đại đồ đá mới, ở vùng nay thuộc đông bắc Trung Quốc (trải dài từ khu tự trị Nội Mông đến Liêu Ninh). Nền văn hoá tiền sử này rất bí ẩn và có nền văn mình và kĩ thuật rất cao, có niên đại kéo dài cách đây 6700 năm cho tới 4900 năm, cũng là nơi chế tác ngọc thạch sớm nhất với phong cách tạo hình độc đáo. Tại di chỉ Ngưu Hà Lương đã khai quật ra một tổ hợp Đền thờ Nữ thần và nhiều tượng nữ thần khoả thân. Đền thờ này dùng để hiến tế nữ thần trong thời mẫu hệ, liên quan đến việc sinh đẻ và những nghi lễ phồn thực của người nữ.
62

  1. Vệ Nữ ngủ say, tượng đất sét quét màu đất đỏ, cách đây 5800 năm. Bức tượng người nữ thân hình tròn trịa và phồn thực này tìm thấy trong một ngôi đền thờ nữ thần ở Malta, nơi có lẽ thực hành việc cứu trị và những nghi lễ khác. Bức tượng thể hiện một nữ tư tế đang nằm ngủ để rồi đưa ra lời đoán giải và tiên tri từ những  giấc chiêm bao.

63

  1. Vệ Nữ hình “vĩ cầm”, đá cẩm thạch, niên đại cách đây 4800 năm, thuộc nền văn hoá Cyclades, Hi lạp.

Tham khảo:

Anne Baring & Jules Cashford, The Myth of the Goddess – Evolution of an Image, Arkana: Penguin Books, 1991

Wikipedia:

GoddessVenus figurinesPrehistory ArtMother GoddessVenus of Hohle FelsVenus of Dolni Vestonice

Các trang khác:

Venus figures from the Stone Age

The real story of Russia Paleolithic Venus

 

 

 

49d5c1ed3b6b3889102cb1e3dcb11ff1

TỐC KÝ ĐÊM 

(Cho H gã thi nhân lập dị)

1.

nằm xuống 
một vì sao cháy muộn
tôi thấy
những cánh đóm đi lạc
trong giấc mộng của mình
nỗi đau mọc mầm tự bình minh
chảy tràn
qua nách thời gian
lễnh loãng màn đêm bội thực khúc kinh sám hối

bóng trăng hạ tuần
trầm mình 
dưới vũng cây 
nín lặng
đợi 
giờ khắc trút hồn
những dấu chân sương
ánh màu bạch tạng
hút tầm vệt cô đơn
giữa khói thuốc mơ hồ.
gã đàn ông vò nát, nhai, nuốt tháng năm 
nhắm mắt chạy theo dòng lý tưởng thổ tả
2.
ánh trăng loang dần 
khung cửa nhếch nhác
gã thằn lằn 
cắn 
giỡn chiếc đuôi
sưng tấy bởi căn bệnh hủi 
cuối kỳ

quẫy đạp
giữa vũng chiêm bao đa tầng
như con cá 
choãi mình từ đám rong rêu 
sực mùi
tôi thấy
cực điểm sự phân hủy
của những cơn tiềm thức phản mùa
đàn cảm xúc vong nô
thảng thốt
bứt đứt những giác quan cảm biến
hớt hải
hớt hải
đan kết những mảng màu 
tự mãn
!
3.
những bựng vú trần gian
ung thư
nhễu nhão chất sữa cạn kiệt Protein

lũ chuột 
bĩ bõm bơi
qua con kênh lòe bịp khát khao
la liếm 
nằm kễnh khoe từng khoang bụng trương phềnh
những niệm khúc hối cải
bằn bặt dội về
từ cánh rừng hoang tàn của thời đại đĩ thõa.

trộn lẫn chiếc bóng 
nhung nhúc dòi bọ an phận 
của mình
vào đám sao không còn đủ sức tỏa sáng
tôi lắng nghe
xa xăm
tiếng bình minh lâm bồn.

 

 

Trương Đình Phượng

 

 

 

NHÀ THƠ 

Đi đến tận cùng sự cô đơn
Để gặp một sự cô đơn tận cùng khác
Đôi khi cố ngồi chính giữa ánh đèn
Để che chiếc bóng phía sau
Rồi chợt giật mình nhận ra
Thể xác đang bấu víu vào bóng
Ném sự tầm thường ra ngoài cửa sổ tâm hồn
Mong đặt bước đến miền trù phú khác lạ
Đâu ngờ 
Mình chỉ là con dế nhỏ nhoi
Đánh mất chiếc kèn trong lùm cỏ dại…

 

Trương Đình Phượng

 

 

 

HẠT GIỐNG

 

Gieo hạt niềm tin vào mảnh đất đêm đen
Tôi chờ mùa quả khát vọng bình minh
Chín
Trong cơn mơ chập chờn lúc nửa khuya
Tôi hốt hoảng nhìn thấy lũ quạ xới tung mảnh vườn

Xa xa nơi đỉnh núi
Chốn an nghỉ của tổ tiền loài Nhân Mã
Thấp thoáng ánh đèn 
Trong lâu đài hoang phế

Sáng sớm tôi ra vườn
Khắp nơi đã mọc đầy giống cây lừa dối.

 

 

Trương Đình Phượng

 

 

 

TÔI CHỜ CƠN VIÊM XOANG CỦA GIÓ 

(Cho H.. gã nhà thơ lập dị)

 

tôi ngồi
trên chấn song 
cửa sổ mở toang
tháng ba
những nhụy đào
muộn
theo gió rơi
rơi
lặng lẽ

những ý niệm
vừa mới
qua đời
lẫn trong những giọt
nước mắt của thiên nhiên

sáng tháng ba
không nắng
tôi ngồi
trên
song cửa sổ
lởm chởm
buồn
lả tả
từng hạt chiêm bao
rụng

trên dung mạo
của những tiếng chim
ồn ào
tôi nhận thấy
hình hài
những đôi mắt
lẻ loi
cất giấu
lý lịch 
lạc loài

tôi ngồi trên
chấn song
cửa sổ
bóng tối
tháng ba

âm thầm tôi
đợi
cơn viêm xoang hàm
của gió
!

 

Trương Đình Phượng

 

 

MỘT BÀI THƠ TỰ DO BỎ QUÊN 

 

Tôi bỏ quên bài thơ bên cửa sổ
Bài thơ viết về ngục tù và tự do
Sáng hôm ấy trời nắng êm và gió dịu dàng
Con chim hót say sưa trong chiếc lồng
treo dưới cành nhãn lá vàng.

Khi tôi trở về căn nhà đêm đã chật
Chiếc lồng tre nằm chỏng chơ dưới đất
Những giọt máu đỏ bầm nhỏ đầy trang giấy ghi bài thơ
Gã mèo cuộn mình trên nệm ấm tỉnh bơ…

 

Trương Đình Phượng

TranhEgonSchiele

Tranh Egon Schiele

HỞ KÍN HE HÉ

 

  1. kín đáo đứng đắn chắc không ?
    tôi tin số ít đồng lòng với tôi:
    chắc chi, còn tùy tính người
    lẳng lơ bản chất từ trời đất sinh

hữu tình ai chẳng hữu tình
phát xuất mạnh ở cửa mình tràn ra
Adam cũng giống Eva
biết che đậy tốt vẫn là tuyệt hơn

*

  1. trần truồng có tục thật không ?
    theo tôi thấy rõ tơ lông, chuyện thường
    nhiều khi rõ mặt trầm hương
    tính chất cấm địa hoang đường mất đi

vưu vật không thể tùy nghi
bày biện cố ý, nhu mì gió hay
người gian ít hơn kẻ ngay
nét hoa tinh khiết càng gây bềnh bồng

*

  1. che ơ hờ gợi dục không ?
    tôi tin rằng có manh tâm khá nhiều
    kín kín hở hở là chiêu
    nghệ thuật cao thấp lẫn liều mạng chơi

trong mười người có hai người
vẫn nuôi sở thích mời đời biết ta
thế nào “trong ngọc trắng ngà” (1)
trời cho sở hữu chẳng là của riêng ?

 

Luân Hoán
6.23AM-10.3.2017

(1) chữ dùng của cụ Nguyễn Du

A1gUdo61EfL._SL1500_

g ó c  n h ì n  c ủ a  n ú i

 

chúi mũi đụng đường sào

ai cắm trên sông hận

nước.  cản đường ta sao

thôi quay về núi đứng

 

trên mây.  trong sương buồn

lưng đau dằng dặc suối

thác gầm. rồi quên tuôn

mạch tim về đã nguội

 

thôi phường đời không dung

đáy oan cừu chưa hả

thôi còn ngọn sóng lừng

với biển cuồng hung phá

 

dải mây chiều tịnh yên

trăng điên nào thắt cổ

đêm trở mặt bưng biền

đêm.  của thời dông tố

 

thời chúng ta đã cùng

giải giao nhau đồng lõa

những chặng ngời lao lung

những muôn trùng sinh hóa

 

Hoàng Xuân Sơn

 

 

 

g i ả  t ỉ

 

[mình còn nợ nhau]

giả tỉ đêm sâu             gục

xuống

ánh đèn

giả tỉ cuộc đời rất hèn

giả tỉ mình [vẫn]

sống lèng èng           đâu?            nơi?

giả tỉ nước lã cầm hơi

xem như hạt bụi qua đời

thế thôi

 

HoàngXuânSơn

 

BW

Người đưa tin…độc địa

 

Tặng “xếp” cũ của tôi,
trung tá Huỳnh Kiêm Mậu.”
(Chuyện thật kể lại)

hlh

 

            Đưa ống nghe điện thoại ra xa khỏi tai, hướng mặt về phía trung tá Mậu, Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị, tôi nói, không lớn tiếng, đủ cho mọi người trong phòng nghe:

            -“Có khách rồi, không biết có kịp tết không?”

            Trung tá Mậu hỏi ngay:

            -“Ma chay hả? Từ đâu về?”

            -“Thiết Đoàn 16, tử trận ở Kompong Trạch, mẹ ở Gia Định.”

            Trung tá Mậu ngữa lưng, dựa vào ghế. Tôi nghe tiếng ông thở ra. Chỉ còn bốn ngày nữa là tết. Ông “mệt” cho ông hay ông “cám cảnh” cho tôi, “năm hết tết đến” còn lo việc an táng cho đồng ngũ.

            Tôi lại đặt ống nghe vào tai, tiếp tục với người ở bên kia:

            -“Huế còn đó không?

            -“Có”. Tiếng thiếu úy Huế trả lời. Tôi hỏi tiếp:

            -“Lên đường về đây rồi phải không?”

            -“Vâng!” Huế trả lời. “Tui cho một trung sĩ đi theo với tài xế. Làm sao anh?”

            Tôi vẫn giữ cái thói hay nói đùa:“Làm sao cũng chẳng làm sao!” Ở đây có người lo tiếp cho tử sĩ. Ông trung sĩ đi theo có điện thoại của tui không? Gần tới nơi thì gọi cho tui. Tui chờ ở Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp.” (Hồi ấy “Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa đang chuẩn bị hình thành – tg)

            -“Tui dặn rồi. Có phải điện thoại của anh là 30.240?”

            -“Đúng! Yên tâm đi nghe. Có chi trở ngại, tui sẽ gọi ông.”

            Huế -Trần Huế – bạn cùng khóa Bộ Binh, Thiết Giáp với tôi. Anh ta cũng như Phạm Văn Nga lại là học trò cũ của tôi, khoảng chừng hơn năm năm trước ở Huế. Cả hai thua tôi khoảng 10 tuổi.

            Sau tết Mậu Thân ở Huế, buồn tình, tôi tự  động bỏ dạy –“bỏ cục phấn bấm cò súng” – câu tôi thường nói đùa với bạn bè – Hai “ông bạn đồng khóa” thì tới tuổi động viên, thành ra, “cùng nhau đi lính Cộng Hòa”, hết Quang Trung, lên Thủ Đức, vô trường Thiết Giáp. Ra trường, tôi và Nga chọn Thiết Đoàn 17/ Kỵ Binh, đóng ở Phước Tường. Huế về Thiết Đoàn 16 ở Long Xuyên; sau tháng 3/ 1970, Thiết Đoàn thường hành quân vượt biên qua Kamphuchia. Tôi được giữ lại Bộ Chỉ Huy, tiếp nối tờ báo “Kỵ Binh”, “giữ cái nghiệp làm báo tự chọn” do một ông bạn cũ từ thời học tiểu học, đại úy Lương Thúc Trình giao cho vì Trình được biệt phái về “nhiệm sở cũ”, giáo sư ở trường trung học Trần Quí Cáp, Quảng Tín.

            Tôi kiêm luôn công việc mà tôi thường gọi đùa là “Người đưa tin… độc địa”, nghĩa là đưa tin “báo tử các chiến hữu” của binh chủng cho thân nhân của họ ở Saigon và Gia Định.

            “Tin… độc địa” vì gia đình người ta đang yên ổn, bỗng tôi tới gõ cửa báo tin thân nhân họ… tử trận. Thế là cả nhà, có khi còn cả cha mẹ già, vợ con, chị em… òa nhau lên khóc.

            Nghe tiếng họ khóc, tôi đứng như “chết trân” tại chỗ. Nhiều khi muốn trốn khỏi nhà họ nhưng không trốn được; nhiều khi muốn làm “ông Tề độn thổ” cho xong, nhưng lại không có 72 phép thần thông.

&

            Về nhận việc ở đơn vị mới được mấy hôm, Trung Tá Mậu gọi tôi tới bàn ông, biểu ngồi xuống ghế. Đứng bên cạnh ông là trung úy Nguyễn Đăng Đức, tay cầm xấp hồ sơ không dày không mỏng. Trung tá Mậu nhìn tôi một lúc, mặt hơi có vẻ nghiêm, nói:

            -“Giao việc nầy cho anh tôi yên tâm hơn. Mấy lâu nay, trung úy Đức đảm nhận nó, chưa có gì sai trái nghiêm trọng, nhưng ông Đức có bệnh hay quên; nhiều khi ông ta quên làm tôi đứng tim luôn. Việc ma chay phải hết sức cẩn thận. Gia đình người ta có người “hy sinh vì Tổ Quốc”, mình lo giúp người ta việc an táng là phải chu toàn. Lôi thôi, thân nhân thưa lên tới Tổng Thống chớ không phải tới ông Đại Tướng đâu. Vậy là họ gõ đầu thuộc cấp, từ trên gõ xuống, gõ tới mình là coi như… khăn gói ra Vùng 1, Vùng 2. Ngại lắm! Mình không sợ tác chiến nhưng khăn gói quả mướp kiểu ấy thì mất mặt anh hùng.”

            Theo lệnh trung tá Mậu, trung úy Đức trao tập hồ sơ cho tôi. Nhìn hàng chữ ngoài bìa, tôi đâm lo, “hơi lạnh giò” vì tưởng có “âm khí nặng nề” như khi Kiều gặp mộ Đạm Tiên. Đây là một cái tên có lẽ tôi chưa từng nghe bao giờ: “Hồ Sơ Ma Chay”.

            Tôi cũng “thấm” lời trung tá Mậu căn dặn: “Gia đình người ta có người hy sinh vì Tổ Quốc”… Chuyện nầy… dễ “thông cảm”, vì chính gia đình tôi, cũng không “ngoại lệ”, cũng đã có người tử trận, còn như thấy, thì thấy không ít lần.

            Tôi từng ngạc nhiên vì mấy chữ “Nhà Vĩnh Biệt” treo trước cái nhà nhỏ nằm riêng một góc phía trong Cửa Hậu, ở thành Mang Cá / Huế, cuối quân y viện Nguyễn Tri Phương mà tôi từng thấy khi mới học lớp Nhì. Tôi có bà chị, nhà ở đường Lê Văn Duyệt, con đường song song với sông đào An Hòa / Bao Vinh; bên cạnh con đường nầy, phía ngoài cửa Hậu là “Nghĩa Trang Quân Đội”. Biết bao nhiêu mồ mả ở đó. Cũng có lần tôi đi thăm chị, ngang nghĩa trang, nhằm lúc người ta sắp hạ huyệt, tiếng kèn Tây nổi lên: “Tọ ti tè, tọ ti tè…” bọn trẻ từng nhại theo “Tôi chưa tề. Tôi chưa tề!” Cái nhại nầy có phần nghiêm trang vì người ta không dám đùa với người… chết.

&

            Về chỗ, tôi mở tập hồ sơ… nghiên cứu. Ấy là nói cho ra vẻ… chớ “nghiên cứu” gì đâu! Trước hết là coi thử… phải làm gì: Báo tin là một. Thứ hai là hỏi tang gia có yêu cầu gì: phương tiện, xe cộ di chuyển (bao nhiêu xe, bao nhiêu người), nơi an táng (tại nghĩa trang quân đội hay đưa về nhà cũ, những nhà có vườn như ở Lái Thiêu, Bình Chánh, tang gia yêu cầu đưa về nhà của họ, chôn trong vườn nhà hay nghĩa trang gia đình. Cũng ngại đấy vì có vài gia đình ở vùng “mất an ninh”, lỡ khi đang làm lễ thì Việt Cộng tấn công. Đừng nói nhân đạo với “tụi nó”, có lúc nào Việt Cộng không thẳng tay giết người?!

            Có những điều phải về làm tờ trình “xin thượng cấp”, có những cái phải làm “Bưu điệp cầm tay” đem ngay sang cho “Trung Đội Chung Sự” ở Gò Vấp để xin họ giúp đỡ…

            Không có gì khó, cái gì cũng dễ.

            Quân Đội VNCH có bài bản cả rồi: đơn vị nào, người nào, ai lo việc nấy, ngoại trừ khi yêu cầu của tang gia vượt ra những điều thông thường. Cũng may, phía Quân Đội thì dự trù hoàn hảo, về phía tang gia, không đòi hỏi gì quá đáng, chỉ cần mình: “Thi hành công vụ” với một tấm lòng như thế nào đó để tang gia được chút an ủi.

            Khó nhất, chính là việc “báo tin”. Khó mở miệng nói câu “Thưa ông (hay thưa bà, thưa chị), anh (gì đó)… đã tử trận.”

            Và kinh hoàng, và sợ hãi, và cũng lắm khi đau xót, tội nghiệp vì những tiếng khóc òa lên, nghe… não lòng.

&

            Nửa giờ sau, tôi báo cáo với trung tá Mậu tôi đi “báo tin tử sĩ”, bắt đầu lo ma chay. Tài xế Chính dừng xe chờ tôi ngay cửa trước. Tôi khoái đi với “ông” tài xế nầy. Tuy không phải là dân Saigon, nhưng anh ta rành rẽ đường sá, thông minh, nhạy bén, “tìm nhà” rất nhanh.

            Hồi bấy giờ xã Phú Nhuận, xã Bình Hòa, tuy thuộc quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định, nhưng “Saigon hóa” mất rồi. Từ Saigon, qua khỏi Cầu Bông, Cầu Kiệu, nếu không tò mò, mấy ai để ý bên nầy cầu là Saigon, bên kia cầu là Gia Định: Nhà cửa san sát, cái cao cái thấp, phần nhiều mới xây, nhà cũ mất dấu cũng không ít, hết hẽm nầy, tới hẽm kia, tìm ra địa chỉ gia đình tử sĩ phải chăm chú tìm đường, hỏi thăm, có khi phải tới ngay trụ sở phường…

            Bởi vì làm công việc “báo tin dữ”, nên tôi biết nhiều con đường, và cả nhiều con hẽm nữa của “Saigon ngày nay”, và tôi có cái tên mới do các bạn cùng đơn vị đặt cho tôi: “Thổ công phía sau Saigon”. “Phía sau Saigon” là những xóm nhà lộn xộn, đằng sau những con đường lớn.

            Saigon khác với Huế.

            Huế gọi là “kiệt”. Saigon gọi là “hẽm”.

            Huế có từ Kiệt 1 tới Kiệt 5, Kiệt 10 đã là nhiều. Saigon thì hàng trăm “con hẽm”.

            Huế gọi là “trên”: Nhà số 5, “trên” 9 chẳng hạn, là đã tới chỗ tận cùng của kiệt.

            Saigon khác, bởi vì Saigon là “thành phố quốc tế”: Tiếng Tầu, tiếng Tây, tiếng Anh trộn bậy với nhau khá buồn cười.

            Đi xe Lam thì dùng tiếng Anh: “Tốp! tốp”. Là “Xì tốp” đấy. Khách đi xe lam, muốn xuống thì nói tiếng Anh với tài xế: “Tốp” (stop). Muốn ăn thì gọi “hủ tiếu”; muốn uống cà phê thì “Xí nại”, “xây chừng” là tiếng Tầu chớ gì. Tìm nhà trong hẽm thì gọi là “xiệc”: 5 “xiệc” 20, lại “xiệc” 19, v.v… “Xiệc” gốc là tiếng Tây: “sur”: 5 sur 20, sur 19. Mới tới Saigon thấy lạ, lâu ngày thành quen.

            Nhà mấy “ông lớn” nằm ngay ngoài đường lớn, khỏi “xiệc”, tìm dễ lắm. Nhà lính tráng là nhà nghèo, dân lao động, thợ  thuyền, “buôn thúng bán mẹt”, phải trố mắt nhìn gần chục cái “xiệc” mới tới nơi. Có khi khóm phường ghi không rõ, người đi tìm phải đi quanh, không phải “năm phút đã về chốn cũ”, mất vài chục phút “lại về chốn cũ” là chuyện thường.

            “Trăm hay không bằng tay quen”. Nhờ cái “quen” ấy tìm nhà cũng nhanh, tuy nhiên tôi cũng có lần kiếm hụt hơi.

            Một lần tôi với tài xế Đãnh tìm một ông già, địa chỉ ghi rất gọn: “Phi trường Tân Sơn Nhất”.

            Tử sĩ con ông già chắc không quan tâm lắm về nơi cư trú của thân phụ mình, nên anh ta, trong hồ sơ nhập ngũ, ghi đại khái như vậy. Đến phiên tôi đi tìm nhà, đâu có thể “đại khái” mà phải tìm cho được, để báo tin rằng “Con trai bác đã tử trận”. Rồi chờ…

            Ông già góa vợ khi còn trẻ, “một cha một con” sống với nhau, cho đến khi người con trai, thấy mình cần đăng lính, sau khi bị thôi thúc vì câu hát của Lam Phương: “Người thư sinh ấy đã xếp bút nghiên”… Và “anh hãy nói khoác chiến y rồi.”

            Tôi đi bộ gần như “đứt hơi” từ đầu tới cuối phi trường Tân Sơn Nhất, để hỏi thăm ông thân sinh tử sĩ; tôi mới biết thêm ông là nhân viên “Sở Quản Lý Phi Trường”. Đến ngay “Sở Quản Lý Phi Trường” cũng chẳng ai biết ông là ai vì “ở đây đông người lắm”. Phải tìm đến “ban phát lương”, bởi vì nếu ông ta có đi làm thì phải có lương.

            Bấy giờ “bà Thủ Quỹ” mới cho hay rằng, người cha của anh lính tử trận của binh chủng tôi là một ông Tô Vũ của phi trường, thời kỳ đã có nhiều Boeng 727 lên xuống phi đạo.

            Chắc chắc ông không phải là nhạc sĩ Tô Vũ của “Em đến thăm anh một chiều mưa”, “phục vụ đảng và bác ở ngoài Bắc”, đang ở ngay Hà Nội hay “sơ tán” máy bay Mỹ lên miền Trung du Bắc bộ; ông ta lại càng không phải là ông Tô Vũ bị rợ Hung Nô bắt làm con tin đời Hán Vũ Đế bên Tầu, mà chính là một ông già chăn dê cho phi trường. Chắc là mấy ông lớn “quản lý phi trường” khoái ăn thịt dê, đất phi trường thì rộng, tại sao họ không nuôi một bầy dê để có thịt dê mỗi khi tiệc tùng.

            Hỏi “bà Thủ Quỹ” chăn dê ở đâu? Bà lắc đầu: “Thiếu úy tìm quanh phi trường thì gặp ổng. Ổng không cho dê ra khỏi phi trường đâu!” Vậy là tôi lại phải “một chiều lang thang” trong phi trường” không phải để xem “người đi, người tiễn”, hay “người chia tay nơi cuối đường” (băng) mà để đi tìm ông già chăn dê.

            Hơn một giờ sau, “lội bộ rã giò”, mới gặp “ông Tô Vũ thời đại” gần Cổng Số 6 (?), chỗ gần Tổng Y Viện Cộng Hòa. Ông đang “thả dê” ăn ở đó; “thả dê” là tôi nói theo đúng nghĩa đen của hai tiếng nầy.

            Báo tin cho ông già xong, tôi phải ngồi chờ ông khóc tỉ tê.

            Ông không khóc òa như các mẹ, các chị. Ông khóc không thành tiếng, ông khóc thầm; không “thê thảm” như người đàn bà khóc con bị cọp vồ trong “Cổ Học Tinh Hoa”. Ngày trước, khi khóc vợ qua đời, ông cũng khóc thầm như thế chăng? Rồi bao nhiêu năm “gà trống nuôi con”, nếu có khi nào ông thấy thương cho người vợ chết sớm, “đầu gối tay ấp”, bên cạnh đứa con trai độc nhất, ông cũng khóc thầm như thế chăng?

            Ngày trước ông khóc vợ, nay ông lại khóc con, cũng âm thầm như hồi ông khóc vợ. Có ai biết cho ông? Có ai thông cảm cho ông, một người cha vừa mới nghe tin con “mất ngoài chiến trường”. Ông ngồi dựa lưng vào cây bã đậu mà khóc! Ông không thấy đau khi những cái gai nhọn ở thân cây đâm vào lưng ông. Nỗi đau quá lớn trong lòng ông làm ông quên đi cái đau nơi thân thể ông rồi chăng?

            Đứng chờ lâu mỏi chân, vả đi bộ nãy giờ, chân tôi cũng đã chồn, tôi cũng ngồi xuống dựa lưng vào một cây bã đậu bên cạnh.

            Một lúc thật lâu, ông đứng dậy lùa bầy dê về chuồng, cách đó cũng khá xa.

            Tôn trọng nỗi đau của người cha mất con, tôi lặng lẽ đi theo. Cho dê vô chuồng, khóa cửa lại, “việc công” xong rồi ông mới mời tôi về một cái chòi lợp tôn gần đó, để lo “việc tư”, để hỏi thăm về việc người con trai ông đã hy sinh, và hỏi thăm về việc chôn cất.

            Dĩ nhiên, đó là một “kỷ niệm đời lính” khó quên cho tôi!

 

&

 

            Công việc của tôi như thế. Bây giờ là lúc tìm nhà người mẹ tử sĩ.

            Con hẽm bên cạnh trường Nữ Trung Học Lê Văn Duyệt trên đường Đinh Tiên Hoàng, Gia Định, gần như đối diện với Lăng Ông Bà Chiểu là một con hẽm xa hun hút. Tôi có cảm tưởng như nó rẽ phải, rẽ trái rất nhiều lần, cuối cùng sẽ “đụng” với “đường Hàng Keo”, là một con đường nhỏ, chưa tráng nhựa, đối diện với Ty Canh Sát Gia Định trên đường Võ Tánh. Có phải xưa là “bót Hàng Keo” như người ta thường gọi?

            “Kinh nghiệm” không sai. Theo địa chỉ, tôi phải đi qua bao nhiêu cái “xiệc”. “Tin tức đầu tiên” khi hỏi người trong hẽm, mới hay rằng đó là một “bà già Tầu” trên năm mươi tuổi, “một mẹ một con”, con đăng lính, mẹ ở một mình. Đây không hẳn là một bà “mẹ Việt Nam” như kiểu cục Tâm Lý Chiến tuyên truyền, mà chính là một “bà mẹ Tầu” có con đi lính Việt Nam, chống “tay sai Tầu Cộng”. Nói vậy cho đúng bài bản.

            “Tin tức thứ hai”, bà vốn dĩ gốc Tàu Chợ Lớn, “yêu” một người Việt Nam, bị gia đình cấm cản. Đó cũng là “chuyện thường tình”, như dân chúng từng nghe. Đến khi có bầu, bà theo người chồng Việt Nam về ở xóm nầy; chưa được bao lâu, người chồng tử nạn xe lửa; “sinh nghề tử nghiệp”, người chồng là công nhân hỏa xa.

            Bà cũng đành ở vậy, nuôi con, không tìm về Chợ Lớn, nhà cũ, cha mẹ ruột, vì cha mẹ đã từ con. Người con trai lớn lên, giống như thanh niên cùng xóm, mười tám tuổi, anh đăng lính mũ đen. Lính mũ đen là lính Thiết Giáp. Hơn nửa năm sau, anh “hy sinh trên chiến trường Kamphuchia”. Anh ta đúng là một con người “quốc tế”: Cha Việt, mẹ Tầu, chết ở Kam-pu-chia. May mà chưa có vợ Tây hay vợ Mỹ.

            Tôi giả bộ đi chầm chậm qua căn nhà tôn nhỏ, nơi bà sinh sống một mình, tự hỏi lòng: “Làm sao mà báo tin cho bà đây?” vì chắc chắn bà thương con lắm. Nghe tin con tử trận, chết giả hay bất tĩnh là việc dễ xảy ra.

            Và bà già Tầu ngất xỉu thật, sau khi bà hỏi lại tôi một lần nữa về tin người con trai bà: “Nó “chiếc” dzồi a?”

            Nhưng rồi bà tỉnh lại ngay, chụp ngay con dao để bên cạnh, giáng lên cao và… chém tôi, kèm theo một câu chưởi: “Cha cái “xằng Xiệu” giết con… ngộ.” 

            Tôi không kịp hay cố nghe cho rõ tiếng cuối “ngô” hay “ngộ” hay gì đó. Tôi bước lui vài bước thật nhanh, có tạo một khoảng cách, tin chắc con dao bà cầm chém không tới… tôi.

            Rồi bà già Tầu khóc, khóc to, bà la to lên, chưởi mắng ai đó tôi không nghe rõ; rồi bà té xuống đất, lại ngồi lên, lại tiếp tục chưởi “xằng Xiệu”. Bà chưởi tổng thống đấy…

            Nhìn cảnh ấy, tôi nói với tài xế Chính, đứng bên tôi, mặt cũng tái xanh đi, không phải vì sợ, mà có lẽ vì ngạc nhiên, vì thấy lạ, một cảnh anh ta chưa từng gặp. Tôi nói: “Bà điên rồi mầy ơi! Bà điên rồi.”

            Nghe tiếng tôi, Chính hơi bình tĩnh trở lại, hỏi tôi:

            -“Làm sao thiếu úy, bây giờ làm sao?”

 

            Trí tôi cũng chưa ổn định hẳn, tôi trả lời:

            -“Cũng không biết làm sao?”

            Binh thư của trường Bộ Binh chỉ dạy tôi nhiệm vụ của một trung đội trưởng. Binh thư trường Thiết Giáp dạy tôi về “Thiết Quân Vận” M-113, xe tăng M-41, và đội hình hành quân, tấn công; binh thư cục Tâm Lý Chiến không có mục nầy. Tôi phải tự mình xoay xở lấy, không phải để “đối đầu với địch” mà ứng xử tốt đẹp với… đồng bào tôi như lời trung tá Mậu dặn dò.

 

&

 

            Mấy người hàng xóm chạy lại. Có người vỗ vỗ nhẹ vào má “bà già Tầu”, có lẽ muốn cho bà tỉnh lạị, có người la to: “Lấy chai dầu…” Có lẽ họ muốn xức dầu cho bà. Rồi họ làm gì đó, tôi không thấy rõ. Đúng là “tình Chòm Xóm”. Tình nầy không có ở… Mỹ.

            Có vẽ như việc bà bị ngất đi, bà bị điên, không có gì nghiêm trọng. Chưa ai biết bà vừa nhận tin con trai bà tử trận. Hồi nãy, trên con đường đi hỏi nhà để vào đây, tôi “giữ kín miệng”. Kinh nghiệm dạy tôi như thế, “không nói với ai về tin người tử trận, trước khi báo cho gia đình.”

            Yên tâm như thế, tôi quay lui, đi ra đầu ngõ. Chính đi kế bên tôi, hỏi liên tiếp:

            -“Làm sao thiếu úy? Làm sao bây giờ?”

            Tôi không trả lời, lầm lũi đi. Đến kề bên cổng trường, tôi ngồi xuống cái ghế nhỏ của một quán “càphê cóc”. Chính cũng ngồi xuống. Tôi và anh ta không ai gọi gì. Cô gái bán quán đứng chờ bên cạnh. Tôi đưa tay ra dấu biểu chờ, cô ta bỏ đi vào trong.

            Một lúc sau, tôi nói với Chính:

            -“Chờ một chút, tìm cách nào gặp bà!”

            Chính nói:

            -“Hồi nãy có mấy bà hàng xóm, thiếu úy không nói luôn đi.”

            -“Đâu được! Thấy mặt mình, bà xỉu nữa là mệt chết đó.”

            Nói với Chính câu đó là tôi nhớ một chuyện cũ. Hồi tôi còn đi học, anh Trương, hàng xóm, thường qua chơi với tôi. Anh kể, nhà quen có nuôi một con khỉ. Anh ấy hay chọc ghẹo và cho khỉ ăn vặt. Một hôm, anh đập chết một con rắn. Tinh nghịch, anh gói con rắn trong tờ giấy báo, đem cho khỉ. Con khỉ tưởng là đồ ăn, kêu cheng chéc, cầm chắc trong tay, rồi mở tờ giấy báo ra. Thấy con rắn, con khỉ nắm tay lại, chết giấc. Đến khi con khỉ tỉnh lại, mở mắt ra, lại thấy con rắn trong tay, lại chết giấc lần nữa. Tôi không biết chuyện anh ấy kể thật hay đùa, nhưng tôi thấy vui và nhớ mãi.

            Bây giờ cũng vậy. Nghe tin tôi nói, “bà mẹ Tầu” chết giấc. Nếu tỉnh lại, lại thấy tôi, chắc gì bà ấy không chết giấc lần nữa. Chuyện thiệt hay giả, tôi tránh mặt “bà mẹ Tầu” là hay nhất, suy nghĩ một chút rồi tính sau.

            Một lúc sau, tôi hỏi Chính:

            -“Khu vực nầy chắc thuộc xã Bình Hòa?”

            -“Đúng rồi, hôm trước, em tới trụ sở xã một lần.”

            -“Xe để đâu?” Tôi lại hỏi.

            -“Em gởi tại Cảnh Sát.” Chính trả lời.

            -“Cứ để đó đi. Mình tới trụ sở xã, phải nhờ địa phương.”

            Tôi đứng dậy, Chính đi theo, đến trụ sở xã phía chợ Bà Chiểu.

            Ông phó xã trưởng nói, sau khi nghe tôi bày tỏ ý kiến nhờ báo tin cho “bà già Tầu”: “Phải xuống khóm. Xã nầy dân đông lắm, chỉ thua Phú Nhuận. Khóm họ gần dân hơn.”

            Rồi ông ta hăng hái đi trước, đến trụ sở khóm. Phải chờ hơn nửa tiếng đồng hồ, anh trung sĩ khóm trưởng mới về tới nơi. Tôi đoán chừng trường hợp của anh ta. Anh trung sĩ, có một cái dù ông lớn nào đó, được biệt phái về làm khóm trưởng ở đây, mỗi ngày tà tà lui tới với khóm, xa súng đạn, giữ được chữ “thọ” cho bản thân. Không rõ vì bản tính hay vì muốn lập công, anh ta hết lòng giúp tôi.  

            Anh đến gặp “bà mẹ Tầu”, lúc chòm xóm còn ngồi đứng quanh bà, báo tin và an ủi; xong anh cho người gọi tôi vào, để tôi “chia buồn”, hỏi bà có yêu cầu gì cho đám ma người con trai.

            Tôi nghiệp “bà mẹ Tầu”, bà chẳng xin xỏ, đòi hỏi gì hết, bà chẳng biết gì về việc lo chôn cất con trai bà, chỉ sớm mai, đón bà lên nghĩa trang, cho bà “bịt khăn cho con”, và chứng kiến cảnh hạ huyệt. “Năm hết tết đến”, bà mẹ Tầu cũng như các ông bà hàng xóm, theo phong tục của người Việt, “không để đám ra ngoài năm.”           

            Tôi hẹn với “bà mẹ Tầu”, sáng mai, tôi đến để đón bà lên nghĩa trang. Các bà hàng xóm cũng muốn đi đám, tôi hứa sẽ có một xe Dodge đưa các bà đi và về.

            Trước khi ra về, tôi gặp riêng ông trung sĩ khóm trưởng, hỏi:

            -“Tình hình an ninh ở đây có yên không?”

            -“Tình hình an ninh” là cái gì?” Ông trung sĩ hỏi lại.

            -“Bây giờ người ta hay biểu tình “đả đảo”, “hoan hô”, nhất là đám “phản chiến”, “thành phần thứ ba”, bọn chúng có lợi dụng hoàn cảnh “bà mẹ Tầu” để làm gì không?”

            -“Không! Ở đây không ai theo họ!” Ông trung sĩ nói chắc.

            -“Hồi nãy tôi quên hỏi, “bà Tầu” có mời sư sãi nào không? Cần thì ở nghĩa trang có mấy ông tuyên úy. Đạo nào cũng có.”

            -“Không đâu!” Nói xong, ông trung sĩ đổi ý. “Hay thiếu úy mời một ông “tuyên úy Phật giáo”. Khóm nầy cũng có nhiều bà hay đi chùa!”

            -“Được! Có thôi. Cũng nên có một thầy cho lễ an táng, kinh kệ thêm nghiêm trang, “đủ lệ bộ”. Tôi trả lời.

            Một lúc, tôi lại hỏi:

            -“Vậy Nguyễn Thị Trừ thì sao?”

            -“Nguyễn thị Trừ nào?” Ông trung sĩ hỏi, vẻ ngạc nhiên.

            -“Ni sư Huỳnh Liên đó! Bả “nằm vạ” hoài, mấy lần tôi bị kẹt xe. Chùa bả gần đây nè! Bả tới mấy hồi.”

            -“Ở đây không ai hoan hô bả đâu. Láng cháng dân người ta đuổi bà đi, không cần cảnh sát của đại tá Đệ.”

            -“Bà nhà quê đó, bị tụi nó lợi dụng. Tôi nghĩ bả không có trình độ hiểu biết gì đâu, ngoài mấy cuốn kinh Phật. Tôn giáo mà cũng xông ra làm chính trị. Khỉ thật.”

            Chính hỏi tôi:

            -“Thiếu úy gọi Nguyễn thị Trừ nên khóm trưởng không hiểu.”

            -“Tôi gọi xách mé chơi, “không ưa được”. Người ta đang đánh giặc ngoài mặt trận, chết sống từng giây, đám phản chiến ở nhà quậy cho đã, thiệt không có lương tâm gì cả.”

 

&

 

            Nói xong, tôi đi qua hướng Cuộc Cảnh Sát Bình Hòa để lấy xe. Vừa ngồi lên ghế xong, tôi nói với tài xế Chính:

            -“Trễ rồi, xe của Thiết Đoàn 16 chắc về tới nghĩa trang, mình lên đó ngay.

            -“Kiếm ổ bánh mì thiếu úy. Em đói rồi.” Tài xế Chính nói.

            -“Coi chỗ nào có xe bánh mì thì tấp vô.” Tôi trả lời.

 

&

 

Sáng hôm sau, sau khi đến “Trung Đội Chung Sự” làm việc với toán an táng, xem huyệt và kim tỉnh xong, tôi về lại đơn vị tôi, rồi cùng mấy người nữa đi đến nhà “bà mẹ Tầu”.

Sáng sớm, tôi nói với đại úy Trang, trưởng phòng xã hội: “Cô gọi Phòng Tư cấp xe cho cô. Xe của phòng tôi phải xử dụng một mình.” Thường chúng tôi dùng chung một xe mỗi khi đi công tác chung.

Nói như vậy là tôi có chủ ý. Tôi không muốn “bà mẹ Tầu” đi chung xe Dodge với những người khác. Ít ra, cũng phải trân trọng bà một chút. Một đời nuôi con gian khổ, nay con tử trận, đem xe Jeep đến đón bà an táng cho con là một “đãi ngộ” quá ít ỏi đối với công ơn của người mẹ. Còn như “trợ cấp tổ phụ” có Phòng Xã Hội lo, không phải việc của tôi.

Khi tôi tới nhà “bà mẹ Tầu” mọi người tụ họp đã đông. Tôi vào nhà, chào bà và mọi người xong thì mời họ lên xe. Các bà cùng xóm đã lo xong một mâm lễ gồm hoa trái, nhang đèn… Tài xế Chính vội bưng lên để trên xe Dodge, và mời mọi người lên xe Dodge cùng với khóm trưởng.

Thấy “bà mẹ Tầu” loay hoay tính lên xe Dodge, tôi nói với bà ấy: “Tôi đưa bà đi”, rồi chỉ tay về phía chiếc xe Jeep. Bà hơi ngạc nhiên, rồi vội vã đi tới phía xe. Tôi lại nghĩ thầm: “Một lần rồi thôi”. Sau nầy, chẳng còn ai đưa đón bà như thế nầy đâu. Cuộc đời nầy bạc bẽo thật, trong cả tình người, không chỉ trong việc trai gái yêu nhau bỏ nhau mà thôi.

Hôm ấy, tôi để ý thấy có một cô gái còn trẻ, người hôm qua tôi không thấy. Cô đứng sát bên “bà mẹ Tầu”, mặt còn dấu đẫm nước mắt. Hình như cô ta vừa hết khóc khi thấy chúng tôi tới nơi. Không ai giới thiệu với tôi cô ấy là ai. Chắc không phải là vợ vì “hồ sơ quân bạ” của tử sĩ tôi xin ở “Phòng Một” ghi anh ấy còn độc thân. Vậy thì ai? Một người bà con, một người bạn học, một “cô láng giềng” hay một “em gái hậu phương”. Rồi loay hoay công việc, tôi bỏ qua cái thắc mắc ấy. Khi lên xe, tôi thấy cô theo sát “bà mẹ Tầu”, tôi bèn mời cô lên ngồi ghế sau cùng tài xế Chính. Bữa đó, tôi đích thân lái xe đưa “bà mẹ Tầu” lên nghĩa trang.

Trong nhà quàn, một dãy dài hơn mười cái quan tài phủ cờ nằm song song với nhau, trong cái không khí ảm đảm của nơi làm đám ma. Có mấy người đang ngồi khóc quanh một cái quan tài ở phía xa.

Nhờ buổi sáng tôi đã lên đây trước, tôi biết “chỗ” của người con trai “bà mẹ Tầu”. Tôi dừng lại trước quan tài anh ta. “Bà mẹ Tầu” hiểu là con bà trong nằm trong đó, bà khóc nức nở: “Con ôi! Con bỏ má mà đi…”  Cô gái cũng ngồi sụp xuống bên cạnh “bà mẹ Tầu” khóc theo.

Tôi đưa hàm răng trên cắn nhẹ vào môi dưới để nước mắt tôi khỏi chảy xuống theo tiếng khóc của hai người đàn bà. Thấy ông trung sĩ khóm trưởng cùng vài ông già lo đặt lễ và bịt khăn cho “bà mẹ Tầu”, tôi lặng lẽ đi ra sân. Vốn dĩ biết mình dễ xúc động, tôi tránh cái khung cảnh đau đớn nầy.

Sau khi mọi lễ lược xong, đạo tì đưa quan tài ra huyệt. “Bà mẹ Tầu” vẫn khóc nức nở, nhưng may mắn, bà không bị ngất xỉu như ngày hôm qua. Cô gái ấy đi theo, tay nắm vào cánh tay “bà mẹ Tầu”, đỡ bà đi theo quan tài.

Cô ấy khóc và mọi người cùng khóc.

Tôi đi sau cùng, bâng khuâng nghĩ tới mấy câu thơ của Huy Cận: “Kẻo thân đau chưa quen nệm giường đời. Ai đi đưa xin đưa đến tận nơi. Chớ quay lại nửa đường mà làm tủi. Người đã chết một vài ba đầu cúi.”

Không phải “một vài ba đầu cúi”. Ai cũng cúi đầu và ngậm ngùi, kẻ khóc nho nhỏ, người khóc to.

 

&

 

Ba ngày sau, là ngày “ba mươi tết”, cũng là ngày cúng “mở cửa mả” cho người chết, theo phong tục người Việt Nam.

Hôm qua, tôi báo cáo với trung tá Mậu: “Tôi đem xe đưa bà lên nghĩa trang một lần nữa, kẻo tội nghiệp “bà mẹ Tầu”; con chết rồi, một thân một mình, không ai giúp đỡ.”

Khoảng mười giờ sáng, tôi đưa “bà mẹ Tầu” tới nghĩa trang. Cô gái hôm trước, hôm nay cũng đi theo. Cô gọi “bà mẹ Tầu” bằng “má”, khiến tôi hơi ngạc nhiên.

Sau khi cúng xong, cô gái mời mấy người lính ở nghĩa trang “dùng cơm”, tức là dùng các “đồ cúng” họ mang lên hôm đó. Trong khi mấy anh lính “ăn nhậu” vui vẻ, “bà mẹ Tầu” ngồi nhìn họ có vẻ trìu mến. Vì thương con nên bà thương những người lính trẻ nầy bằng tuổi con bà, tôi nghĩ vậy. Tôi không ngồi chung với mấy người ấy; vẫn với thói quen, tôi ngồi ngoài sân. Trung úy trung đội trưởng “Trung Đội Chung Sự” ngồi bên cạnh tôi nói chuyện bâng quơ. Thấy cô gái đi ngang, tôi gọi lại, dặn vài điều. Tôi nói:

-“Bữa nay tết rồi, các nơi đều nghỉ hết. Cỡ sau tết ít hôm, đơn vị của anh Nghĩa – tên của tử sĩ – họ sẽ gởi giấy tờ về để lập hồ sơ “trợ cấp tổ phụ” cho bà cụ. Cô có rảnh, giúp bà cụ điền các thứ giấy tờ được không?”

-“Được chớ.” Cô ấy trả lời.

Tôi nói tiếp:

-“Giấy tờ đôi khi có chỗ khó hiểu. Cô có thể vô đơn vị tôi, hỏi cô đại úy Trang, hay cô Thanh Nhàn, các cô giúp đỡ cho.”

-“Được. Tôi biết chỗ thiếu úy làm việc.”

-“Cám ơn”. Rồi tôi nói tiếp. “Đúng ra thì cô có “trợ cấp quả phụ”, nhưng bởi anh ấy khai còn độc thân nên chỉ có “trợ cấp tổ phụ” thôi.

Câu trả lời làm tôi chưng hửng:

-“Tôi có phải là vợ anh ấy đâu!”

Tôi vội nói:

-“Xin lỗi. Thấy cô gọi bà ấy bằng “má” nên tôi hiểu lầm.

-“Không có gì đâu. Từ nhỏ, tôi coi bà như má tôi.”

-“Vậy cô là hàng xóm anh ấy hay, xin lỗi, hơi tò mò một chút, “hai người có yêu nhau?” Tôi nói.

-“Chòm xóm thì có, nhưng người yêu thì không, bởi vì anh ấy đâu có yêu tôi hay yêu ai!” Cô gái trả lời.

-“Yêu ai cũng không, yêu cô cũng không. Vậy chắc cô là “em gái hậu phương” của anh ấy.” Tôi lại tò mò.

-“Cái đó cũng không luôn.” Cô gái trả lời, hơi mĩm cười.

-“Anh ấy không yêu cô nên cô không làm vợ anh ấy?” Tôi lại hỏi.

-“Cũng không thiếu úy à. Lấy chồng nghèo cực lắm. Nhà anh ấy chỉ một mẹ một con, anh ấy lại là lính, làm sao mà giàu?” Cô gái trả lời, vẻ ngậm ngùi.

-“Lại tò mò một chút nghe! Chắc cô lấy chồng giàu?” Tôi hỏi.

-“Thiếu úy biết tôi sợ nghèo! Chồng tôi là một “chú ba Tầu giàu” trong Chợ Lớn.” Một lúc sau, cô ta lại nói: “Nói cho đúng, anh Nghĩa mới là người tôi yêu!” Cô ta nói, mắt nhìn ra xa ngoài đường lộ, hơi có vẻ đăm chiêu.

-“Cô có vẻ rắc rối đó. Tôi xin lỗi.” Trung úy trung đội trưởng ngồi bên tôi, góp ý vô.

-“Có gì đâu! Chồng tôi là “lính kiểng”. Anh có cái giấy phép 15 ngày đổi một lần. Một hôm, đang đi với tôi, gặp Quân Cảnh hỏi giấy, mặt anh tái mét, sợ líu lưỡi, nói không ra hơi. Anh Nghĩa thì khác, mặc đồ lính vô, tướng anh ấy ngon lành ghê! Các anh nghĩ, con gái như bọn chúng tôi, “thần tượng” ai chớ. Đời không như mình nghĩ.”

Khi ấy có tiếng gọi của “bà mẹ Tầu”, cô ta “dạ” rồi quay quả đi vô phía trong.

Một lúc sau, cô gái đi ra, nói với tôi:

-“Mẹ anh Nghĩa xin gặp “ông tổng thống.”

Chết cha! Tôi nhớ câu trung tá Mậu dặn dò hôm bắt đầu giao việc cho tôi. “Thân nhân người ta thưa lên tới tổng thống.” Tôi có làm gì sai để “bà mẹ Tầu” đòi thưa lên tới tổng thống đây. Tôi vội hỏi lại:

-“Có chi quan trọng không?”

Cô gái cười:

-“Hình như bữa hổm bà chưởi tổng thống. Bà hối hận. Chắc bà muốn xin lỗi.”

Tôi hoàn hồn. May! Tôi không có lỗi chi. Tôi nói:

-“Cô nói giúp với bà. Ông tổng thống không chấp nhất gì đâu. Ông cũng thương lính, thương các bà mẹ lính vậy mà.”

Bỗng “bà mẹ Tầu” từ phía trong đi ra, tới chỗ tôi, bà ngồi thụp xuống, chấp tay lạy tôi, khóc, nói: “Tui có tội, tui có tội.”

Tôi vội vàng đứng dậy, cùng cô gái nâng bà đứng lên. Tôi nói với cô gái:

-“Cô nói giúp với bà ấy đi. Không có gì đâu. Tổng thống là người cao thượng mà, ông có trách chi.”

Cô gái nói lại với bà ta. Có vẻ như bà yên tâm hơn.

Tôi nói với trung úy trung đội trưởng và cô gái: “Bữa đó tui nghe, chớ tổng thống đâu có ở đó mà nghe. Ông không biết đâu!”

Bà di vô phía trong, chắc để chuẩn bị về.

Đang ngồi chờ, ông trung úy trung đội trưởng nhìn tôi, nói, giọng không vui: “Thiếu úy nhớ câu cô ta nói không. “Đời không như mình nghĩ.” Cô ta yêu một người hùng, nhưng lại sợ cho người đi giữa súng đạn, đành phải lấy một “thùng nước lèo”. Tội nghiệp cô ta nhỉ!

 

 

Hoàng Long Hải

 

expo_tiaf04

LOẠN KHÚC 3

 

 

#

HDP – ngọn đồi nắng gió

tôi hay rong chơi và lạc mất bóng mình nơi đó

tiếng chim tía lia rộn bước chân về

nghe bóng tôi cười khúc khích miên mê

 

HDP – khoảng trời mộng mơ

nghìn trùng lao xao đồi cao nắng hát

tôi buồn ngơ buồn ngác

ôi con sẻ nhỏ

lim dim nhánh gió hoang đường

 

 

#

đừng như cánh diều

bay lên

để rồi dùng dằng với gió

tự do chỉ có

băng rơi!

 

#

hai tia nắng ấy cứ thì thầm kể nhau nghe về hành trình của bóng tối

chiều tàn rồi, ngày tôi sinh ra

dường như chỉ có xót xa trong từng sát-na đời sống

diễm tuyền vô vọng

cơm-áo-gạo-tiền

con người buồn hơn con chó

tru đêm

 

#

tôi xúi anh nên uống nước dừa sau cơn say

khi cả linh hồn chừng như nghe nhức nhối

và lập tức chiều nay

anh rủ tôi vào quán… xưng tội

 

 

#

là tôi của những ngày ngã ba, ngã tư

rẽ hướng nào cũng thế

giã từ những nhánh sông đời và ngàn lau vẫy gọi

tôi chọn muôn trùng gió xé tên nhau

 

 

#

ngựa 7 màu

giấc mộng trăng

tôi băng trong bào ảnh trắng

 

 

#

cuồng nộ hồn tôi treo bóng tối tan hoang lên ngàn mắt bão

anh vì sao lạc buông rơi chút ánh sáng muộn màng

cú chớp mắt tin yêu nhá lửa

tôi cong theo rèm mi gió

thốc đáy vực sâu cháy quặn hình hài

 

cảm giác đâu đây những linh hồn rệu rã

khao khát yêu thương giấu mòn tuổi tác

trĩu nặng mười đầu ngón tay

cơn bình sinh ùa về chia sớt

tôi vuốt mắt mình như gió chạm phong linh

 

#

gió giễu cợt bình minh bằng âm thanh của sóng

tôi giễu cợt hồn mình bằng nỗi nhớ anh

trong bóng đêm rầm rào tiếng cười của quỷ

tôi bạt tay đời mình bằng hằng vạn nụ hôn

 

ai mài tuổi tác trên linh hồn của đá

tôi mong đợi gì ngoài những phôi pha?

 

#

tôi nuôi nấng một loài đêm rất lạ

đêm bạo tàn, đêm hoang mang

đêm giam kín hồn tôi trong mắt lửa

cánh mỏng âm thầm hương yêu tinh

 

#

cuộn tròn… cuộn tròn…

đêm búp nhung

tướt nhuỵ

giọt tinh khôi ứa ra từ khoé mắt

bục vỡ dạt dào cơn mưa mơ

 

bung giữa hồn tôi

cánh hồng đen mướt máu

 

 

#

cảm giác ram ráp của râu và những sợi lông rạp mình vẽ vời lên thân thể

đêm qua

chiếc chìa khoá tôi đeo trên cổ bỗng hoá thành chùm lông tơ rực lửa

tôi thở ra sặc nồng mùi rượu…

 

 

#

khi không còn có thể tối hơn, đêm sẽ trở thành trong suốt

anh có nhìn thấy bóng tối co ro nằm trên giường

như chiếc vỏ chai chỉ còn sót lại vài giọt rượu

tưởng chừng ngàn năm?

 

đêm nồng hơn anh nghĩ

và tôi… cạn rỗng!

 

#

có gì để hoang mang

nơi vòng tay bất khả

gió đem buồn về biển

đêm lót sóng lên da…

 

 

#

đêm đã đầy chưa anh

tắt dùm tôi bóng tối

trên môi lời yêu mỏi

ta đang tràn gian dối

 

khi không còn gì để vui

ta xin mời nhau chơi đùa cùng những vết thương

ánh hồn muộn phơi bình minh yêu đương

cội thiên thu lung ngời lá tội

ừ thì một lần thấy vầng trăng nám phổi

cho muôn đêm ai nhả khói lên trời

 

đêm đã đầy chưa anh

tắt dùm tôi bóng khói

 

 

#

nụ cười ấy đã nở sâu vào tôi

hương tình ngây ngất

con đường ấy đang mở ra từ tôi

hoàng hôn rực ngời bóng hình đôi-tay-nắm-chặt

 

nụ cười ấy tôi yêu

như đóa thơ ngây lãng đãng bay trên vùng ngơ ngác

tôi thấy tôi từ ngày bước lạc

nơi cõi vô cùng đau đáu tuổi thơ…

 

 

 

HDP

images

ĐÊM TRẮNG

 

Tàn khuya gió gọi ngoài hiên vắng
Tôi thức mình tôi. Gió cứ vào!
Cửa khép hờ,bàn trang giấy trắng
Gió cùng tôi vẽ mộng chiêm bao!

Trên bầu trời lấp lánh trăng sao
Dưới mặt đất hoa cỏ nhiệm màu
Tôi thở luồng hơi sương khói trắng
Chập chờn bóng ảnh gió lao xao!

Đêm tĩnh lặng dòng hương tinh khiết
Tôi thức mình tôi. Đêm trắng tinh.
Xương máu gọi thơ reo gió biếc
Hồn tôi đêm trắng một trang kinh!
TRẦN THOẠI NGUYÊN
Sài Gòn,3 giờ 39 phút khuya 24/2/2017

belanger161

Tôi/ Quê

 

 

Mùa này vậy mà phía trước mặt biển phẳng lặng

tôi đang dõi mắt nhìn theo đàn sếu bay bay

rồi bóng chúng nhỏ dần trong trời cực yên ắng

xa khơi dưới dạ cầu golden gate từng vạt song đổ dài

 

tôi đứng rất lâu

tưởng tượng linh tinh chuyện trên trời trên biển

người chết trước kẻ chết sau thảy đều qua cầu

tuần tự sau trước tất thảy bước móc miệng than vãng khản tiếng

 

ngây người một đỗi bổng thấy tôi con tàu tiến ra biển lớn

lịch sử được viết bởi những con cá kình già

dưới mỗi dòng chữ bọn người tàu đông nghịt la hét tí tớn

ngọn ngọn gió ngược thổi thốc giạt tứ tán luồng cá

 

cả cười tôi nói nói vang động

ở bờ bên kia (việt nam) con người chìm đắm trong mộng

cho tay cấu mặt rướm máu thấy quả “quê hương là chum khế ngọt..”

và lũ con bám đất vừa ăn vừa đá bát hí lộng

 

sụp tối lên đường cái bước dưới ngọn đèn tâm tưởng tự nhủ

mai về có đội bàn thờ em đi theo với niềm mơ ước ấp ủ

thì hãy ráng nhớ

tôi- kẻ cho đến chết còn săm soi từng gốc cây tìm dấu thù!

..

Vương ngọc minh.

refugee

Đừng Xua Đuổi Chúng Tôi

 

 

Lạy Chúa,

Chúng con, những đứa con ngoài pháp luật

Vì mẹ cha là người phạm tội

Đến Hoa Kỳ không có giấy tuỳ thân

Ngày Xét Xử, Chúa xét tội ra sao?!

 

Cha mẹ chúng con đã phạm tội vì yêu

Vì mong chúng con có mái nhà để ở

Được cơm ăn áo mặc mỗi ngày

Ôi lạy Chúa,

Ai chẳng cần cơm áo?

Cần có nơi để được sống bình yên?

Ngày phán xét, Chúa có đuổi xua

Cha mẹ chúng con khỏi thiên đàng

Vì phạm tôi di dân không giấy tờ?

 

Các em thơ ơi,

Buổi sáng khi ngồi vào bàn ăn

Bánh mì thơm hay bát cereals

Khoai tây chiên, hay thịt bacon

Có bao giờ các em tự hỏi

Bàn tay nào góp phần mang đến

Thức ăn ngon cho bữa sáng trưa chiều?

 

Em có biết cha mẹ chúng tôi

Những người di đân không giấy tờ

Đang vất vả nhọc nhằn lao động

Trên những cánh đồng ngô, lúa

Hay các trại nuôi bò nóng cháy…

Trong chuồng heo nồng nặc tanh hôi.

 

Cha mẹ chúng tôi vẫn mỗi ngày

Từ bình minh đến khi hoàng hôn xuống

Lặng lẽ âm thầm, vội vã tay chân

Để các em khi vừa  thức dậy

Có điểm tâm ngon trước giờ đi học.

 

Cha mẹ chúng tôi

Đã phạm tội vì yêu thương chúng tôi

Nên liều thân vượt núi rừng nguy hiểm

Trốn cướp đường, trốn cảnh sát biên phòng

Bao nhiêu người chết khô ngoài sa mạc!!!

 

Chúng tôi và các em

Chia chung một bầu trời

Trên đất nước Hoa Kỳ,

Nhưng chúng tôi là người bất hạnh

Vì cha mẹ phạm tội di dân không giấy tờ.

Cha mẹ các em hay cha mẹ chúng tôi

Ai cũng muốn con mình no ấm

Có chỗ vui chơi có trường đi học

Cho tuổi thơ chạy nhảy thênh thang.

 

Chúng tôi đã lớn lên trên đất nước này

Trong những căn nhà chật chội của nông trường

Đã nhìn cha mẹ còng lưng lượm khoai tây

Hay lượm trứng trong những trại nuôi gà

Đã nhìn cha mẹ lo sợ quanh năm

Ngay cả lúc hái cà chua, dâu, táo

Để các em có trái cây tươi theo mùa luân chuyển….

 

Đừng lên án chúng tôi

Vì tội của cha mẹ chúng tôi: Di Dân không giấy tờ

Đừng xếp cha mẹ chúng tôi vào hạng giết người

Đồ ăn cướp, lũ bán ma tuý hay phường khốn nạn

Vì mỗi ngày các em ăn sáng, ăn trưa, ăn tối

Là các em ăn uống những nhọc nhằn

Từ bàn tay sần sùi của cha mẹ chúng tôi.

 

Xin những người tử tế

Đừng xua đuổi chúng tôi khỏi đất nước này.

 

Trần thu miên
tháng 3, 2017

Động, tĩnh trong thế giới Origami của Đinh Trường Giang


Nếu bạn đã quen nhìn những tác phẩm xếp bằng giấy sinh động, ba chiều, tỉ mỉ với nhiều nếp gấp phức tạp khéo léo.  Bạn hẳn ngạc nhiên và xúc động khi bắt gặp những tác phẩm giấy xếp Origami của Đinh Trường Giang. Chúng khác hẳn, tao nhã, giản dị, độc đáo và đầy tính sáng tạo nhưng không kém phần sinh động. Càng ngắm bạn càng khám phá ra chiều sâu ấp ủ của chúng chan chứa tính nhân bản trong mối liên hệ giữa con người, vạn vật và thần linh. Điểm đặc biệt nổi bật trong tác phẩm của anh là sự giản đơn và thanh nhã. Anh tạo ra các mẫu đơn giản, trừu tượng, ít nét mà vẫn lột được cái thần của vật muốn xếp. Dejan Stojanovic có nói  “Kỹ năng phức tạp nhất là phải đơn giản.” Steve Jobs cũng đồng ý với điều này “Đơn giản có thể được coi là khó hơn so với phức tạp. Muốn cho những nghĩ suy của bạn đơn giản hơn, bạn phải làm việc cật lực lắm. Tuy nhiên một khi bạn đạt được điều đó, cái giá trị cuối cùng của nó là, bạn có thể di chuyển được núi non. “
 

Đứng hay ngồi trước tác phẩm của Giang, bạn chỉ cần thở vào một hơi và để tâm hồn lắng xuống, bạn sẽ đi nhẹ vào chúng để thấy những gì bạn muốn thấy và tưởng tượng ra tác phẩm là một hình hài hay nhân vật gì đó tùy theo ý tưởng của bạn. Giống hệt một bức tranh vừa lập thể, vừa trừu tượng lại mang mang đâu đó nét ấn tượng hay siêu thực. Nghệ thuật xếp giấy Origami của anh đã thoát ra ngoài cái hình thức của một sản phẩm thủ công mà tiến vào một bậc cao của nghệ thuật sáng tác. Anh đã tạo cho tác phẩm của mình một nét riêng, một phong cách mà nhìn vào hàng loạt những tác phẩm giấy xếp khác, bạn vẫn nhận ra được cái nào là tác phẩm của anh, vì nó mang nét đặc thù không lẫn vào đâu được.
 

 

1

Pic 1. N1. Flowing Nude, 35.5cm(chiều dài/ngang)x18 cm( chiều sâu)x42cm(chiều cao), giấy vẽ màu nước Arches.
 

Khi bạn nhìn vào một tác phẩm của anh, như tác phẩm N1, chỉ với một mảnh giấy mà anh tạo nên một hình thể bạn có thể đoán ra nhiều hình tượng khác nhau, khi bạn ngắm nó dưới nhiều góc độ. Một giải khăn lụa, một tấm lưng cong của thiếu nữ đang ngồi xõa tóc, tùy bạn. Nó như một tác phẩm điêu khắc phóng lớn trưng bày ở các công viên, trong khuôn viên đại học hay trước sân một viện bảo tàng. Sắc trắng thuần khiết của giấy đưa tâm hồn con người trầm và lắng xuống vào một trạng thái tĩnh. Những nếp gấp tạo chiều sâu và bóng tối khiến hình thể chợt sinh động hẳn lên như một động lực đưa cái tâm con người trở về nguồn cội của mình. Bạn đã bước vào thiền khi xem, y như tác giả đã bước vào thiền khi tạo tác vậy.
 

2

Pic 2. Các mẫu hình Mẹ và Con, chiều cao trung bình độ 37cm, giấy vẽ màu nước Arches.
 

Dưới mắt nhìn của tôi, trong tác phẩm này anh đã cho ta xem hình ảnh vòng tròn luân chuyển huyền nhiệm, thiêng liêng của một phụ nữ từ thời thiếu nữ mang thai, sinh con, đứa con lớn lên cùng mẹ và khi trưởng thành thiếu nữ chính là cái bóng của bà mẹ hay bà mẹ đã ngã xuống để đi vào cõi vô cùng.
 

3

Pic 3. Chân dung Đinh Trường Giang
 

_______________________________

Đinh Trường Giang sinh năm 1966 tại Huế. Anh từng là sinh viên Đại học Kiến trúc TP HCM trước khi cùng gia đình sang Mỹ định cư năm 1989. Anh tiếp tục theo đuổi ngành kiến trúc và tốt nghiệp tại CUA(Washington DC) năm 1993. Năm 2008 bỏ làm cho một hãng kiến trúc lớn tại Washington DC để cùng các bạn mở văn phòng kiến trúc tại bang Maryland. Anh sáng tác Origami từ năm 1998. Từng dự nhiều buổi triển lãm về Origami tại Hoa Kỳ, Áo, Tây Ban Nha, Pháp, Do Thái, Đài Loan …
___________________________

Trịnh Thanh Thủy: Xin cho biết anh bước vào nghệ thuật xếp giấy Origami như thế nào?

Đinh Trường Giang: Khi còn học lớp 2 hay 3, ba me có mua cho sách xếp giấy, lúc đó đã thích xếp những con thú trong sách. Sau 1975, mất tất cả. Chỉ còn nhớ vài mẫu đơn giản. 1996, 3 năm sau khi ra trường kiến trúc ở Mỹ, trong một lần đi tiệm sách, tình cờ thấy lại quyển sách mà ba me đã mua cho mình hồi nhỏ, nhìn hình là nhớ lại ngay. Như gặp lại một người bạn xưa. Từ đó chơi với giấy và tìm hiểu thêm về origami. 1998 bắt đầu sáng tác cho đến nay.

TTT: Anh bắt đầu một tác phẩm ra sao, ý tưởng trước, bản phác hoạ, vật liệu thích hợp? Và tới khi hoàn thành nó mất thời gian bao lâu?

ĐTG: Tác phẩm bắt đầu từ ý tưởng. Có khi bất chợt. Có khi đã ở trong tiềm thức từ rất lâu. Có khi muốn thực hiện một ý có trong đầu. Có khi chơi với giấy rồi thấy ra những hình ảnh khác. Mình xếp giấy nhưng đôi khi giấy cũng dẫn dắt mình. Thường thì phác họa bằng giấy thường hay khổ nhỏ trước khi xếp lớn hơn. Đôi khi phác thảo nhanh lại có những nét ưng ý, khó bắt lại được khi xếp lần 2.

Thời gian? tùy tác phẩm, tùy cảm hứng, tùy..giấy. Thường thì xếp xong, để đó vài ngày xem lại, có thể chỉnh sửa cho đến khi ưng ý, hoặc chưa thích thì xếp lại cái khác .

Chị hỏi “bao lâu” , nhớ có lần ở Nhật, nghe một tay xếp hỏi Eric Joisel (nghệ sỹ origami Pháp) mất bao lâu để hoàn thành chú thiên nga “đơn giản”, Eric trả lời ” 30 năm ” 🙂 30 năm chơi với giấy, một nếp vuốt giấy thấy đơn giản trong 1 giây là kết quả của từng đó năm :). Trong câu giỡn chơi có phần sự thật.

TTT: Tôi thấy anh dùng nhiều loại giấy khác nhau, đôi khi tình cờ là giấy gói cà phê hay khăn giấy ở Starbuck để hoàn thành một vật mẫu. Loại giấy thích hợp anh hay dùng là loại nào? Với những loại giấy không thích hợp để làm, anh sẽ phải dùng cách gì để giúp vật mẫu trở nên một tác phẩm toàn hảo?

ĐTG: Giấy gì cũng có thể xếp được, nhưng dĩ nhiên để có tác phẩm giữ dạng lâu dài hay gởi đi triển lãm thì lựa chọn giấy rất quan trọng.

Những tác phẩm dùng giấy napkin làm ướt bằng trà và cà phê vẫn giữ dạng tốt sau nhiều năm (có thể dùng fixative để xịt lên một lớp mỏng nếu muốn). Giấy dĩ nhiên chịu tác động của độ ẩm, nhưng nếu bảo quản trong môi trường tốt hoặc dùng giấy dày với kỹ thuật xếp ướt sẽ không/ít bị biến dạng.

Loại giấy tôi xử dụng chính là giấy vẽ màu nước hay giấy dày làm bằng tay, thích hợp với kỹ thuật xếp ướt .

4 

Pic 4. Bò rừng Bison, 41cm Chiều ngang x 23cm chiều cao, giấy làm bằng tay.
 

TTT: Màu trắng và sự giản dị được dùng nhiều trong tác phẩm của anh, anh có thể giải thích lý do không?

ĐTG: Tôi thích sự đơn giản, thích câu nói của Saint-Exupéry “sự hoàn hảo được đạt đến không phải khi không còn gì để thêm vào, mà khi không còn gì để bớt đi “

Với tác phẩm dùng giấy một màu, chủ yếu là màu trắng của giấy vẽ màu nước, tôi muốn người xem chú tâm vào hình khối và bóng đổ mà không bị phân tâm bởi màu sắc hay các chi tiết trang trí của giấy. 

Sự giản dị của tác phẩm cũng giúp chính mình dễ thấy những lỗi cần sửa, vì so với một tác phẩm phức tạp, một nếp nhăn hay gãy của giấy mình không thích trong một tác phẩm đơn giản sẽ lộ ra rõ ràng. Cái “tưởng chừng như đơn giản” nhiều khi lại không đơn giản 🙂

Màu trắng và sự giản dị cũng phù hợp với điều mà tôi muốn đạt đến: tối giản và trang nhã

 

5 

Pic 5.  Phật 25cm chiều ngang x32cm chiều cao, giấy vẽ màu nước Arches.
 

TTT: Là một kiến trúc sư, theo anh kỹ nghệ hoạ có ảnh hưởng và liên kết nào với một tác phẩm Origami của anh không ? Hình thể rất quan trọng với một tác phẩm Origami, khi sáng tác, anh xử dụng những vòng tròn, vuông, tam giác hay chữ nhật của hình học như thế nào trong vật mẫu?

ĐTG: Học kiến trúc giúp nhìn vật thể 3 chiều, chú trọng hình khối, tỷ lệ, độ tương phản … nên cũng giúp cho sáng tác. Tuy nhiên trong các tác phẩm của tôi, người xem hiếm khi thấy bóng dáng của hình học căn bản hoàn hảo, như chị nhắc đến hình tròn, vuông, tam giá . Thay vào đó là những đường cong nương theo chiều giấy. Có lẽ người xem khi nghe “kiến trúc sư” thì nghĩ sáng tác một cách khoa học, xếp theo kiểu hình học nhiều…

Cách xếp giấy ngẫu hứng dựa vào cảm tính của tôi  có thể nói là phản khoa học 🙂

TTT: Tôi có theo dõi tiểu sử(DTG là con trai của hoạ sĩ Đinh Cường) và quá trình sáng tác của anh. Theo tôi, những sáng tác của anh là một kết hợp tinh túy của nhiều kiến thức anh có từ hội hoạ, kiến trúc, điêu khắc và thơ ca (Haiku) cũng như văn hóa Đông Phương của thiền tông trong Phât Giáo nữa? Xin anh cho biết về những ảnh hưởng có được của anh trong các tác phẩm.

ĐTG: Cảm hứng sáng tác đến từ nhiều nguồn, từ hội họa, điêu khắc, văn thơ, âm nhạc, phim ảnh …tôi thích sự tối giản và mạnh mẽ của những bức tranh thiền, sự cô đọng sâu lắng của những bài thơ thiền và Haiku, thích tác phẩm điêu khắc của Constantin Brancusi và Henry Moore, thích sự thơ mộng trong tranh Marc Chagall …

Ba là họa sĩ nên chúng tôi sống gần cọ, màu và tranh cũng như sách hội họa, điêu khắc từ nhỏ. Tuy ba chưa bao giờ dạy các con vẽ và hiếm khi góp ý phê bình sáng tác của con (cứ để phát triển tự nhiên), tôi đã học được rất nhiều khi nhìn ba mình vẽ. Từ khi chơi với giấy thì ít thời gian dành cho cọ và màu (hi vọng tương lai sẽ có thời gian quay lại). Mọi người thường bảo tài (nếu có một chút) là thừa hưởng của ba-điều đó không sai vì chắc cũng có gene J. Nhưng nền tảng văn hóa của tôi chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ me . Nhờ me mà tôi biết thêm về thơ, văn, âm nhạc, phim ảnh cổ điển .

TTT: Những nghệ sĩ Origami bậc thầy đã ảnh hưởng anh ?

ĐTG: Người đầu tiên gây ấn tượng mạnh về “thổi hồn vào giấy” là Akira Yoshizawa (1911-2005). Ông cũng là người tiên phong xử dụng kỹ thuật xếp ướt. Ngoài ra tôi thích sự đơn giản và cách điệu của Kunihiko Kasahara.

Các tác phẩm của Eric Joisel( 1956-2010 ), Vincent Floderer, Jean Claude Correa (1945-2016 )-3 nghệ sĩ origami Pháp có phong cách rất khác với tôi-cũng để lại ấn tượng mạnh. Hiện nay cũng có nhiều tay xếp mà tôi yêu thích, nhưng không kể hết ra được.

TTT: Anh có kế hoạch gì trong tương lai cho hoạt động trong nghệ thuật xếp giấy Origami không? Phát triển nó trong một quy mô rộng chẳng hạn?

ĐTG: Tương lai sẽ xếp tác phẩm khổ lớn hơn (khi nói đến origami, người ta thường nghĩ đến những tác phẩm nhỏ), tham gia thêm nhiều triển lãm với mong muốn thay đổi cách nhìn của đại chúng về origami (phần lớn vẫn cho xếp giấy là một môn thủ công chứ không phải nghệ thuật có thể sánh ngang với điêu khắc xử dụng các chất liệu khác). Cũng mong có ngày sẽ đúc các tượng kim loại tỷ lệ lớn từ tác phẩm xếp giấy. Có nhiều người hỏi về in sách, nhưng cần thêm nhiều thời gian để có một quyển sách như ý mình.

 

6 

Pic 6. Một mẫu Origami trong Dự Án tương lai
 

TTT: Cảm ơn anh, Chúc anh sáng tác sung mãn và ngày càng thành công hơn nữa

Bạn đọc có thể tham khảo thêm về thế giới Origami của Đinh Trường Giang ở đây Website: giangdinh.com

 

TEDx talk: A simple fold, a thousand words

https://www.youtube.com/watch?v=YY_EjYpHBwM

Trịnh Thanh Thủy

 

Cho Tôi xin tạ Ơn

 

Nhạc và lời: Trần Thu Miên
Hòa âm phối khí: Nguyễn Đức Thịnh
Ca sĩ Duyên Quỳnh trình bày


 

 

“Gió Nam non…”

thanh-co-quang-tri

cổ thành Quảng Trị

“Gió Nam non thổi lòn hang cóc…”

 

Hoàng Long Hải

 

Tôi yêu Quảng Trị của tôi vì tôi sinh ra và lớn lên ở nơi ấy, dù ở đó cảnh sắc có đẹp hay không.

Dù không đẹp, nhưng vì nó là nơi tôi chôn nhau cắt rốn, nơi tôi lớn lên cùng với gia đình, cha mẹ, anh chị, bà con xóm làng, học hành vui chơi cùng bạn bè, thì không đẹp, quê hương tôi cũng cứ đẹp vô ngần. Tôi yêu quê hương tôi là tôi yêu cảnh sắc nơi ấy, tôi yêu người dân ở nơi ấy, không cần biết ai giàu ai nghèo, ai bần cùng, ai sang trọng. “Chốn quê hương đẹp hơn cả”, sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư nói vậy đấy!

Người dân quê tôi càng nghèo, tôi càng thấy yêu họ hơn, mà Quảng Trị tôi thì nghèo nhất trong các tỉnh nghèo của miền Trung. Miền Trung nghèo vì miền Trung chỉ là cái đòn gánh, oằn lên vai chị, vai mẹ, như câu tục ngữ “đòn gánh đằn vai”. Hai đầu Nam Bắc mới giàu, hai đầu là hai thúng gạo: “Gạo Nam, gạo Bắc, ấy đòn miền Trung”. Phạm Duy viết như thế.

Miền Trung nghèo vì “đất cày lên sỏi đá”. “Quê hương anh, nước mặn đồng chua, quê hương tôi đất cày lên sỏi đá”. Đất ấy chỉ có thể trồng khoai sắn. Dọc miền Trung, tỉnh nào cũng nhiều khoai sắn, ăn khoai sắn thay cơm. “Bên nồi khoai mới luộc, ngát thơm vườn ngâu thưa…” Phan Lạc Tuyên viết như thế khi theo Quân Đội Quốc Gia “tiếp thu” Bình Định năm 1954.

Phạm Đình Chương cũng viết giống như thế về Thừa Thiên: “Quê hương tôi nghèo lắm ai ơi! Mùa đông thiếu áo, mùa hè thiếu cơm”.

Quảng Trị có khá hơn không? Về Quảng Trị, Phạm Duy cũng viết trong “Quê Nghèo”: “Đàn trẻ vui vì nồi cơm ngô đầy”. Cơm độn với ngô (bắp). Vậy mà bọn trẻ thấy vui vì được ăn no.

Phạm Duy, cũng như nhiều nhà thơ, nhà văn khác, chưa ai thấy hết cái nghèo “Quảng Trị của tui” đâu! Quảng Trị nghèo lắm, nghèo hơn ăn ngô, ăn khoai, ăn sắn nhiều.

            Hồi còn nhỏ lắm, tôi đã từng nghe cầu hò ru em (văn chương bình dân):

                        Gió Nam non thổi lòn “hang cóc”,
Phận em ngheo nên mồng đóc em khô”

        Sách địa lý gọi là Gió Lào, dân địa phương gọi là gió Nam. Đó là hiện tượng gió Foehn (“phơn”, gốc từ Fơn, tiếng Đức) ở miền Trung Việt Nam. Theo địa lý địa cầu, nói chung, nhiều châu lục, có hiện tượng gió Foehn.

 

Khi ngọn gió được hình thành, vượt qua những vùng núi cao, làm gió tăng tốc và mất hết hơi nước, nên trở nên khô và nóng, có khi rất nóng, gây nên nạn cháy rừng. Nhờ có gió Foehn vượt qua dãy núi Alpes nên vùng Trung Âu về mùa đông được ấm hơn. Ở Mỹ và Canada, gió Foehn vượt qua rặng Rocky Mountains, có tên là gió Chinook.

Vùng Đông Nam Á, theo sách địa lý của frère Jerôme Lê Văn Ba, và vài giáo sư dạy ở Khải Định, (tên trước 1957), gió Foehn phát xuất từ vịnh Thái Lan, thổi dọc theo sườn phía Tây dãy Trường Sơn. Càng lên hướng Đông-Bắc, gió càng mạnh và khô vì cây rừng Trường Sơn lấy hết nước.

Từ đèo Lao Bảo trở ra Bắc, rặng Trường Sơn thấp xuống, nên gió quay ngược lại theo hướng Đông-Nam, thổi suốt một vùng, từ phía bắc Thừa Thiên ra tới Thanh – Nghệ -Tĩnh.

Sách địa lý thường gọi là gió Lào vì gió từ Lào thổi xuống Việt Nam. Dân địa phương gọi là gió Nam, có lẽ người ta biết gió thổi từ vùng vịnh Thái Lan ở phía Nam mà lên.

Gió Nam, như đã nói, khô và nóng. Các vùng Thanh Nghệ, lá chuối bị khô cháy vì hơi nóng của gió. Theo kinh nghiệm của tôi khi còn nhỏ ở Quảng Trị, gió Nam thổi từ nửa đêm cho tới trưa hôm sau. Gió Nam thổi mạnh, nên buổi tối, trước khi đi ngủ, mùng đã chằn kín dưới chiếu, vẫn bị gió thổi tốc lên.

Mùa gió bắt đầu từ tháng 5 cho đến tháng 9 (Dương Lịch), mạnh nhất là vào khoảng tháng 7 tháng 8, khiến nhiệt độ nhiều khi lên đến trên 40 độ C. Cây cỏ đều khô cháy hết. Do đó, ở Quảng Trị có câu tục ngữ: “Nắng tháng 8, nám trái bưởi”.  Sau khi gió Nam dứt thổi, mùa thu tới và sau đó là “Mùa Gió Bấc”, tức “Gió Mùa Đông Bắc thổi mạnh trên biển Nam Hải” như câu tiên đoán thời tiết trên đài Saigon trước kia).

Vì từ đèo Lao Bảo trở ra, dãy Trường Sơn thấp xuống, gió quặt về phía Việt Nam, nên ngay ở đây, gió thổi mạnh lắm, ngang qua đèo. Dân địa phương gọi địa điểm gió vượt qua núi là “Khe Gió” hay “Cửa Gió”. Gần địa điểm nầy, có động Ông Đô là căn cứ của Quân Đội Bắc Việt Nam trên đường di chuyển xuống miền Nam, trên đường Trường Sơn. Các đơn vị tác chiến ở vùng nầy thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh, các tiểu đoàn Biệt Động Quân 21 và 37 của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, từng tham chiến ở Làng Vei và trận Khe Sanh cùng với các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 1968, không lạ gì với động Ông Đô.

Kế Lang Vei có hai bản làng của người Thượng (người Vân Kiều hay người Stiêng? Tôi không biết chắc). Hai bản đó tên là Bản HoongBản Cóc. Đây là những làng du canh du cư, dân chúng rất nghèo.

 

Theo tôi nghĩ, câu ca dao tôi trích dẫn ở trên, nói là “Gió Nam non thổi lòn hang Cóc…” là không đúng. Nếu nói tới Cửa Gió, Khe Gió thì có lẽ câu ca dao nói tới tên hai bản làng dân tộc thiểu số ở vùng nầy, có nghĩa là “Gió Nam non thổi lòn Hoong, Cóc”, là gió từ Lào thổi qua bản Hoong và bản Cóc rồi từ đó thổi về Quảng Trị.

Tôi không tin có hang nào gọi là hang cóc. Hang cóc thì nhỏ, làm sao có gió thổi qua?

Người xưa không mặc đồ lót, nhứt là các “nụ cười sơn cước”. Vậy thì có cái gì giữ “cái ấy” cho gió Nam khỏi làm cho khô. Cây lá còn phải khô nữa là!

Nhưng trời ơi! Có cái xứ nào trên đời nầy nghèo đến nỗi làm cho khô “cái ấy”. Mà đó là vì “Phận nghèo” (Phận em nghèo nên…” Nghèo ăn khoai ăn sắn, ăn độn ngô khoai, có đâu mà nghèo đến cái độ phải khô “cái ấy” như vầy như ở quê tôi hỡi trời???!!!

Nói phận nghèo là nói tại Trời. Không phải vì biếng nhác, ham chơi bời, cờ bạc, phá phách mà nghèo. Nghèo là tại Trời, “Trời làm cơn lụt mỗi năm” hay “trời làm gió thổi mỗi năm”. Thật vậy, dân Quảng Trị tôi không làm biếng, không ham chơi, không cờ bạc, chẳng qua vì Trời sinh tôi ra ở đấy, số phận tôi ở đấy, số phận đồng hương, đồng bào tôi ở đấy, khiến cô sơn nữ than vì phận nghèo nên “cái ấy” phải khô….

      Để kết thúc, và để rõ hơn cái ý nghĩa tôi trình bày, xin nhắc lại câu ca dao một cách trọn vẹn và trung thực:

     Gió Nam non thổi lòn Hoong, Cóc,
Phận em nghèo nên mồng đóc em khô!”

 

 

Hoàng Long Hải

(trích lại trong “Một lần về Thủ Đô, thăm các vị La Hán”)

 

 

 

 

dance

Tranh Nguyễn Trọng Khôi

TREO 

 

Bài Bolero kéo dài một buổi chiều

Sâu trong thung lũng buồn

Trong âm mưu của lũ đồ chơi

Chúng xếp hàng ngay ngắn, và treo lên

Trên tận cùng của bầu trời

Những giấc mơ cao chót vót

Giữa mùa xuân đang xanh 

Tôi thấy một nhà thơ viết những dòng khai bút đầu năm

Ông ta đang treo lên cùng với sợi dây thòng lọng

Ông ta muốn treo sợi dây lên đến tận cùng màu xanh của bầu trời

Vắt theo những đám mây, lướt qua những ngọn đền trên đỉnh núi cao nhất thế giới

Tôi xếp đặt từng lời cầu nguyện chất đầy trong cái bình bát làm bằng gốm sứ Bát Tràng có khắc một chữ An đã mòn sứt đặt trên lớp tuyết dày Tây Tạng

Treo lên sợi dây trong ý niệm về bình minh hôm sau, rồi lại, hôm sau nữa

Chúng có hình hài của những ngón tay nhọn hoắc đang rứt từng tia sáng của mặt trời

Ông ta treo hơi thở mỗi ngày, 84.600 giây, và đếm ngược, phía bên dưới kia

Đám đông đang treo cổ một con trâu, chặt lìa từng sợi gân từ hai đôi chân của chúng

Những cú đâm thủng bụng, chiếc cổ rướn lên cao tuyệt vọng

Tội ác chảy vào đôi mắt

Đám đông hò la

Thứ ngôn ngữ rùng rợn quái thú

 

Tôi đang thấy

Ông ta cố hết sức treo bài thơ lên sợi dây

Cái thòng lọng vừa đủ siết chặt 

Mang gương mặt như hình con rắn đang lơ lửng chờ tiêu hoá con mồi

Những dòng chữ đang mục ruỗng và rã nát trong cái dạ dày

Rào rạo

Chỉ còn lại cái tên ông ta

Lủng lẳng

Hãnh diện

Như một bài thơ phúng dụ 

 

 N.H.A.T 

dinhlang2

nơi chỉ bán lêu lổng ngày và vất vưởng đêm

 

 

cầm trong tay sổ thông hành đầy tem dấu xuất nhập của thời bao cấp

tôi bước vào một ngày rỗng

chói chang nắng

những hiên thềm đầy xe hai bánh

liêu xiêu bên những ly cà phê luôn khua vang nỗi buồn tan chảy

đâu đó, nét đẹp nhiệt đới bận bịu đùa cợt về mùi vị của hạnh ngộ

những chiếc áo ngực phất phơ cuộc hẹn

nắc nẻ cười chúi mũi lên dăm cửa sổ đang tò mò về một vẻ đẹp lạ lẫm bất thần ụp lên thành phố

ngọn đèn ngã trưa lải nhải theo đúng quy trình giao thông đầu tháng

những khuôn mặt ngáp nắng

chói chang không thời hạn

ngày bắt đầu bằng lắm ý nghĩ thiếu định hướng

và tôi luôn chết ngắc ngư ở lắm ngã rẽ

mở cửa ban ngày

và chỉ bán những chai rượu dành cho những kẻ

tạm trú rất xa

từ một thành phố dư đời sống thiếu vỉa hè

bẩn bụi

 

cầm trong tay sổ thông hành đầy dấu nổi chứng thực lắm ngày rỗng

tôi bước vào một thị trấn rối rắm mưa đêm

nơi có những gút mắc ướt nhẹp

những sợi tóc tới lúc phải từ biệt một trí nhớ lão hóa

một lề đường già nua mẻ vụn góc cua niên thiếu

với tiếng dế kêu hoảng hốt

một trộ mưa mây đột ngột

những chiếc lá úa những bịch ny-lông trống rỗng thời cuộc

bám vào những chiếc bánh vội vã lăn theo nhịp thở hào hển của thị trấn

những bụm nước đen ngòm bắn tung tóe lên thân phận

lắm câu hỏi lạc đường

dăm kẻ lữ đang bị óc ách

một phố phường xốc xếch

xiêm y

luôn chào đón về đêm

những cuốc xe muộn màng chuyến cuối

nơi chỉ bán những ly cà phê pha sẵn dành cho những kẻ vất vưởng phố

rất khuya, từ một chốn xa xôi

có mùi hạt cà phê rang chín chưa xay

và chưa biết cách pha chế cho đậm đà

vị lưu lạc

của nó

 

tôi ngồi từng giờ ngu muội

ở ngả ba tư năm sáu

bùng binh của ước lệ hay vòng xuyến của một cách mạng hào nhoáng

bảng tên đường là con múa rối của lòng nghi hoặc

thị trấn là chiếc mặt nạ đeo trên mặt những tuồng hát bội thèm cải lương

cư dân là những chiếc đàn lục huyền nội địa

tự an ủi mình bằng những bài ca cổ sến xẩm

mỹ thuật cách tân là mốt áo dài váy thùng se sua kiểu cách nhập cảng lậu

tôi nốc cạn ngày và đêm của phố

một thị trấn chuyên bán đêm và ngày

không giảm giá

và cũng chẳng cần tư vấn

về nghệ thuật trình diễn biếm họa

cho từng cao ốc.

 

HHiếu

ngtrkhoi

Bài Thơ Tuổi Sáu Mốt!

 

 

tôi về hưu khi Trump hết nhiệm kì

thứ nhất

 

vốn từ nguồn sống- tạo tác

nàng khá gầy

cao ngạo

đặc biệt: đứng cạnh tôi bao giờ người ta

cũng chộ đấy đóa hoa hồng

có một không hai

 

bấy giờ/ mặc nàng phản đối

cực lực

mà (mãi sau này biết ra

phản đối- do

nàng chưa bao giờ thích tính cách của hoa hồng!)

kề bên dứt khoát tôi chả nói lấy nửa nhời

 

chí công/ ngầm dõi theo

quan sát mọi lúc cá tính (cũng như các thói quen!)

riêng mảng cử chỉ cốt cách nàng khi không xài điện thoại

(nhấn mạnh: loại iphone 7 x!)

nàng bước uyển chuyển làm sao

khóe môi điểm nụ cười cực gợi cảm

luôn miệng nói “chết trước

chết sau- đều là cái chết- chắc

vô phương sống lại!)

 

thi thoảng nàng đưa tôi về căn buồng

cùng nàng giăng (nhện!) phải nói

căn buồng bao lâu rồi chỉ trùm

phủ

thứ bóng tối (nhìn thôi đã rắp tâm đồng lõa!)

nhờ nhờ/ ở đấy

 

mỗi sáng thức giấc

– hệt nhân vật 

trong tiểu thuyết “naked lunch” của willian S. burroughs

nàng hóa bọ cạp tư thế sấp bụng trên mặt tôi/ tuy nhiên

bất chợt nhìn

người ta tuyệt nhiên chẳng thấy gì

ngoài tôi nằm giẫy giụa

 

hai tay quơ quào hết sức khốc liệt 

cố bám

víu- vào khoảng không khí (rơi ra từ hồi ức!)

cứ bay lơ lửng cùng cơ man bụi

..

hiện thời tôi đang ở chơi/ trong buồng

nàng ngồi ngửa

dạng hai đùi ngoài mép sô- pha

phần bụng dưới nhô cao (mu cao!)

 

hễ mở miệng nàng nói từ ngữ phe bên này

đối nghịch phe bên kia (có khi nói ông trần văn thủy

học đạo diễn bên nga

đến nay vẫn sính nga/ ngày tối kêu nga nga!) và tôi tiếp tục giẫy giụa

mãi tới đầu (óc!) linh hoạt trở lại- bữa nay

bói chừng năm mươi phút nàng phát hoảng

 

bực lên

trèo qua người tôi/ ngồi chỗ hạ bộ

hạ lệnh tôi phải thè lưỡi để nàng cắn

cho đến cánh đồng hoa oải hương

trước trại lính presidio

nở rợp màu tím (nông nổi!) thì nhả  

 

hôm qua (move on..) thu dọn quần áo

các vật dụng linh tinh

nàng nói “đừng tìm tao

vô ích

ngoài đời mày không tranh lại thằng khác đâu- move on

man!”

 

lẵng lặng tôi gieo dưới cuộc đất

trước trại lính presidio nhiều hạt giống hoa mồng gà

nhủ “bao giờ mùa xuân trở lại

ngang phá tam giang làm câu thơ ném xuống

cùng bùa chú lổ ban!”

 

trở vào

ngó nàng bưng nồi canh hẹ

nấu với huyết lợn (tỏi!) rưng rưng

mời tôi lót dạ/ trước rời bỏ

 

thẳng thừng từ chối

tôi bảo nàng đừng tính cao ngạo hãy dùng- xong

đi!

..

vương ngọc minh.

motnguoikhac

Trần thị Kim Lan


          “Hôm nay tôi là một người khác, tôi không phải là tôi.”  Bà ngồi cạnh tôi nói.  Chúng tôi đang trên xe buýt trong chuyến du ngoạn do một hội cao niên Boston tổ chức. Nghe lạ tôi quay qua nhìn chị ta thầm nghĩ:  Bà này nói gì lạ vậy?  Bà muốn trở thành người khác?  Được chú ý, bà nói thêm: “Thiệt tình tôi không muốn là tôi hôm nay.  Tôi đi chơi cho nhẹ nhàng tâm trí.  Chị không thể tưởng tượng được mức độ tàn nhẫn của bọn chủ tiệm. Tôi làm trong khâu bán quần áo.  Họ vắt chanh bỏ vỏ, không thấy  mình cực nhọc, không thông cảm chút nào.”  Bà ngưng nói, thở dài rồi tiếp: “Toàn thân tôi ê ẩm vì nhiều năm cúi xuống nhặt đồ đạc vung vảy, vói lên cao lấy hàng hóa cho khách xem.  Khách hàng! Năm người biết điều, mười người thấy ghê! Họ thử đồ xong ném tứ tung, đổi giá hoặc giấu trong góc đợi ngày hạ giá.  Đủ mánh khóe, lắm trò gạt gẫm.  Tôi mệt lả người.  Được vài  phút nghỉ ngơi thấy như lên thiên đàng! Nhưng có được đâu.  Nào máy hình, nào những con mắt theo dõi của mấy mụ quản lý nên tôi không dám ngưng tay.  Hôm nay thì khác, tôi khỏe re, khỏi lo gì hết. Cũng may là bà hàng xóm ghi tên dùm kịp chuyến đi này.”

          Tôi nói: “Mừng cho chị được dịp thảnh thơi.”  Bà ta đáp: “Tôi cũng mừng, được gặp người nói tiếng Việt.  Lâu rồi tôi không có dịp nói tiếng Việt.  Mấy đứa con của tôi lấy vợ, lấy chồng người Mỹ.  Cháu nội, cháu ngoại chỉ nói tiếng Anh thôi.  Tôi không có bạn Việt.  Tôi sống một mình.  Tôi nuôi con một mình.  Nhưng con cái, chị biết đó, chúng chẳng màng nghĩ tới tâm tư hay ước muốn của tôi.  Vợ chồng chúng nó đi chơi, chớ hề cho tôi đi cùng.  Bởi vậy được dịp là tôi đi theo đoàn dù toàn là người Mỹ. Tôi già rồi, ngại đi một mình.” Trông chị chẳng mấy

già, tiếng nói thanh và rõ, dáng điệu nhanh nhẹn, chỉ có lưng hơi khom, tóc muối tiêu cắt gọn, nét mặt đâm chiêu.  Tôi hỏi:

          “Sao muốn làm người khác? Chị còn tươi lắm.”  

Bà khách đáp:

          “Tôi quyết ít nhất mỗi tháng một lần xóa hết hận thù.  Chồng tôi không còn nghĩa lý gì với tôi cả. Tôi xem thường người đàn ông coi cha mẹ hơn vợ con. Ổng cũng thương vợ thương con nhưng khi có cơ hội cả nhà cùng vượt biên mà anh ta chọn ở lại dù ba đứa con chưa quá mười tuổi. Người cũng học thức, sĩ quan mà, sao làm vậy đựơc? Tôi một mình tần tảo nuôi chúng lớn xứ người.  Nhờ trời đứa nào cũng nên vợ nên chồng, công việc tạm ổn.” 

          Phần số chị cũng may, có con cái thành công.  Nhưng chắc chị cô đơn vì nổi quạnh hiu.  Tôi đoán chồng chị ở lại chắc có lý do nào khác hơn là vì chữ hiếu.  Chị có nói ông ấy thương vợ con và là cựu sĩ quan Cộng Hòa, sao không di tản?  Nghĩ vậy tôi hỏi: “Chị có chắc anh ấy ở lại vì thương cha mẹ hay lý do nào khác?”  Chị vội đáp: “ Ổng yêu nước thương dân, muốn góp công xây dựng xứ sở.”  Tôi buộc mồm thốt lên: “Chị thấy không.  Chắc vì vậy nên anh không đi.” 

          Bà khách lại thở dài, nhìn ra cửa sổ, gió phất lung linh mấy sợi tóc bạc.  Không nhìn tôi chị nói:  “Chẳng biết sao mà nói.  Sau này ổng hối hận khi bị đày đi học tập cải tạo.  Nhưng muộn rồi.  Đáng đời!  Nói thiệt với chị tôi thoát nợ, tự do muốn làm gì thì làm.  Đêm ngủ thẳng cẳng chẳng ai làm phiền cả.  Tôi chỉ lo vì tiền dành dụm ít oi mà vật giá gấp đôi, gấp ba lận.  Bởi vậy đã bảy mươi mà tôi ráng làm.  Tôi trông tới ngày nghỉ hưu.  Chị không biết đâu bọn chủ ác lắm.”

          Để chị bớt lo tôi lảng sang chuyện khác:

          “Xem kìa! cảnh quá đẹp! Tôi tên Loan. Còn chị?” 

          “Tôi là Hoa. Chị mấy tuổi?”

           “Tôi cũng bảy mươi.” 

          “Sao da không nhăn?” 

Tôi cười nói:

          “Chỉ được có vậy, còn xương kêu răn rắc.”

          Hai chúng tôi cùng cười.  Chị bảo tôi  nhìn bác tài và nói: “Còm cõi  như thế mà còn lái xe đường dài đưa khách già yếu, bệnh tật, chăm lo từng nguời.  Xứ của ổng mà ổng còn vất vả huống chi bọn ăn nhờ ở đậu như mình. Đời là bể khổ!”

          “Chị đạo Phật?” Tôi hỏi.

          “Tôi tin có luân hồi.  Đời trưóc mình mắc nợ chồng, con nên đời này phải trả.”

          “Nếu mình không trả nổi thì sao?  Mình quỵt nợ vậy.”

          Chị cười to nói: “Bà nói chuyện lạ.  Nợ này không quỵt được, phải trả kiếp này qua kiếp khác.  À mà tôi thích chữ ‘quỵt’ của chị. Lâu ngày không nói tiếng Việt tôi quên nhiều.”

          “Chị không quen ai trong cộng đồng người Việt sao?”

          “Cộng đồng nào?  Có cộng đồng người Việt hả?”  Chị ngạc nhiên hỏi.

          “Có.  Dân mình đông lắm ở  Dorchester và các thành phố khác trong tiểu bang Massachussetts.”

          “Thôi đi, tôi chẳng muốn phiền, ghét ngồi lê đôi mách, ganh tị, chia phe, giựt le. … Thêm mấy ông nội tưởng còn oai, lo ăn nhậu, mèo chuột.  Tôi  nghe nói có ông cựu quân nhân nào đó còn bắt vợ hầu! Tôi thoát được cảnh đó.”  Chị ngưng nói, rỉ vào tai tôi: “ Nè đừng nói với ai tôi bép xép về họ nhe.  Họ sẽ chụp cho tôi cái mũ ‘cộng sản.’  Tôi bỏ xứ đi vì sợ cộng sản mà phải giữ mồm giữ miệng ở nước tự do. Thiệt chán!” 

Tôi góp ý: 

          “Chắc cộng đồng nào cũng vậy chị à, không ít thì nhiều. Con người mà.  Tôi có tham gia vài nhóm khác sắc dân, nghe họ vẫn hay than về sự chia rẽ và ganh đua nhau.  Mình phải bỏ qua mấy chuyện phiền toái đó mới có dịp tiếp xúc dân mình.”  Chị Hoa đáp gọn lỏn: “Thôi đi, hơi đâu!”

          Xe đã đến trạm Meridith thuộc tiểu bang New Hampshire. Chúng tôi được cặp vợ chồng hướng dẩn viên tình nguyện trong đoàn đưa lên tàu điện. Theo chương trình tàu sẽ chạy dọc theo hồ Winnipesaukee cho khách xem lá đổi màu và thưởng thức món ăn đặc biệt vào dịp lễ Tạ Ơn do một nhà hàng nổi tiếng trong vùng đảm trách.  Chị Hoa rủ tôi và hai hướng dẫn viên cùng ngồi chung bàn.

          Trên tàu nhân viên nam nữ trẻ trung mặc áo thun đỏ chói tươi cười chào đón khách.  Môt cô tóc vàng, da trắng, móng tay dài thượt sơn đen vừa đi vừa nhún nhảy, rao lên như hát: “Gà tây nguyên chất, khoai tán nguyên chất, bí đỏ, nước sốt đều nguyên chất.  Chủ trương của nhà hàng Hart là làm vừa lòng thực khách.”

Mọi người  vỗ tay vang dội.

          Chị Hoa hỏi:                                                      –

          “Có thịt gà tây giả sao?”

          “Có chứ, nếu bà trả ít tiền.”  Người vợ đáp.

          Tàu bắt đầu di chuyển.  Chúng tôi háo hức không ngừng gọi nhau ngắm cảnh.  Nhìn bên trái có trời xanh vời vợi, nước hồ sóng sánh lắc lư tàu bè, xa xa lá vàng, xanh, đỏ, tím lẩn bên nhau tô một bức tranh rạng rỡ.  Quay sang phải những toà nhà khang trang ẩn hiện sau rừng cây cao vút sum sê muôn sắc lá. Thời tiết vừa vào thu, trong lành, mát mẻ. Chúng tôi hân hoan thoải mái, bắt đầu hỏi han nhau.  Đôi vợ chồng cho biết họ từ Phi Luật Tân sang Mỹ làm việc nhiều năm, về hưu, du lịch.  Nhờ học Anh ngữ từ nhỏ và sẵn có chuyên môn từ quê nhà nên ít gặp khó khăn ở Mỹ.  Chị Hoa nói họ vô cùng may mắn và gọi họ là những “di dân ưu đãi” và là “đôi uyên ương mùa thu”  Chị xin phép cho mượn người chồng phục vụ trong chuyến đi.  Hai ông bà đồng tình hưởng ứng.  Người chồng đưa khăn, rót nước, trét bơ vào bánh ân cần để lên tay chị Hoa. Chúng tôi trêu chọc chị, cười thỏa thích.  Ông khách nét mặt cau có ngồi bàn đối diện không khỏi mĩm cười.

          Bửa ăn đã dọn ra.  Hương vị món gà tây nướng lẫn mùi nước sốt, mùi bánh mì nóng thơm lừng.  Chúng tôi vét sạch các món “nguyên chất.”

           Chị Hoa ngã người thở phào nói: “Chúng ta rất may được sống ở xứ này.  Hôm nay tôi thật là một người khác.  Tôi chẳng lo âu đau nhức gì hết.  Tôi muốn sống vui. Từ nay chúng mình làm bạn nhé!”.

 

Trần thị Kim Lan

4-zao-wou-ki-3-4-60-1-2-69-1960-min

chiêu quang

 

tôi còn thấy chút sáng trên tóc xanh

khi em khải xướng dòng triêu tịch

điêu linh suối

dạng tuỳ của đêm

mù quay vòng thao chuyền ảo ảo

là bài thơ đi muôn phương

qua mỗi trạm hành đường chung cuộc

ngậm ngùi rút lui tàn binh

sắc nhớ lay mù ngọn phướn

vàng trong tay rứt âm

tôi còn nghe được tiếng mưa

ngoài sương

qua vòng tâm lượn lờ câu hát

kinh mật

những chiếc vòng xuyến.  và tràm

cheo neo mùa cưới

đeo nghi thức

vào con thuyền nước nổi

phát cháy hồ quang

 

 

hoàng xuân sơn

7/8/2016

modern-abstract-painting-diptico-hetereo

LE. RÊVE. PERDU

1)
trong cung điện của các giấc mơ
tôi đã từng chứng kiến
người đã nuốt chửng giấc mơ
trong một giấc mơ của tôi
người đã chẳng cho phép bất cứ sự trào thoát nào
riêng thật may mắn
các giấc mơ của tôi đến giờ nầy
chưa bao giờ bị nuốt chửng
ngay lúc người ta vừa kết thúc buổi hòa nhạc
tôi đã biết rõ danh tánh
người từng nuốt chửng giấc mơ ấy
hắn không thể là một nhà thơ
bởi nhà thơ vốn luôn yếu đuối. và bất cần
2)
hẳn nhiên
gã nầy trước đó đã nuốt cả đất – nước – gió – lửa
hẳn nhiên hắn đã nuốt núi
nuốt sông
nuốt cả tiếng bị chẹn hầu bóp họng
nuốt cả tiếng rên kích ngất
của người đàn bà bị chiếm đoạt lõa lồ
3)
những tiếng chim không còn nghe hơi hướng bình minh
những bài thơ trần trụi bởi oan hồn
những quyển kinh lật mở vội
chỉ để mọi người đồng thanh hát khúc requiem
nứt vỡ và tắt nghẹn
vang vang trong cung điện các giấc mơ
và bóng dáng gã ấy
nuốt quá nhanh lời nguyện hứa
nhanh hơn cả khi tay hắn vung ra chỉ dấu
hắn đã vội vã
nuốt những chiếc lưới vừa vớt đầy người
nuốt như để từ nay
chẳng ai mong còn có thứ để mà mơ…
 
Chu Thụy Nguyên

paintings

Ở trọ

Anh biết rồi em cũng bỏ anh

Nhưng, không nói nữa

Chuyện ngày mai sẽ rõ

Còn bây giờ là thời gian tình yêu đôi lứa

Sống hết mình mặc kệ ngày mai.

 

Anh biết rồi em cũng thất vọng vì anh

Bởi tình yêu chỉ là tình yêu đơn giản vậy

Không nên tin suốt đời có nhau dù em mong mỏi

Đời anh không dừng lại một bến bờ.

 

Thôi cứ tựa vào nhau tìm hơi ấm

Rồi ngày mai mây trắng lên đường

Đành để lại nỗi buồn cho em vậy

Đời anh không dừng lại một bến bờ.

 

Lê Trinh

abstract-paintings-of-love

hãy dìu nhau…

những đánh mất ẩn tàng vào bóng tối
những đam mê lẩn khuất đã chín vàng
những nơi chốn mốc meo ngày ám khói
mãi nhập nhằng theo nhịp bước tình tang

niềm xa vắng nhẹ hều trong âm gió
trò ú tim tắt thở liệm chôn rồi
sao cứ vuốt mặt thời gian lộng lẫy
độc chất buồn thấm đắng nụ hôn môi

em truy điệu giọt chuông ngày nhắm mắt
sám hối đêm phong tỏa nghẹn lời kinh
câu thơ tôi diễn trò hề ánh sáng
chảy vào mưa khúc xạ ảo bóng mình

dửng dưng thế. mà trời cao xanh lắm
người điêu ngoa thú tội được bao lần
chúng ta ngồi trên đụn tình ngất ngưởng
đừng thề bồi thổ huyết một hồng ân

buổi sớm mai ý tưởng nào cũng mới
những hàng cây dự cảm lá giao mùa
này em ơi. tôi bắt đầu yếu đuối!
hãy dìu nhau. tìm lại thuờ ngày xưa.
khaly chàm
8/2/2017

Video đoàn người đi kiện Formosa:

 

 

https://www.youtube.com/channel/UCaYdSSxjTm3xcImvfqRrOWQ

 

 

Đoàn người đi kiện Formosa bị tấn công

_94638443_7f0d324e-1c02-42ac-a7fc-ae1e088b56fe

Đoàn người từ 3 xã Quỳnh Ngọc, Sơn Hải, Quỳnh Thọ tỉnh Nghệ An, đã quyết tâm đi bộ trên đoạn đường dài gần 200 km để nộp đơn kiện Formosa, ngày 14/02/2017. (Ảnh: Tin Mừng cho Người nghèo)

nguồn: VOA

 

Linh mục và ngư dân trong đoàn hàng trăm người đi khiếu kiện Formosa cho VOA biết họ đã bị tấn công “tàn nhẫn”, nhiều người “sống dở chết dở” khi đang trên đường, đi bộ đến Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, để nộp đơn kiện Formosa, công ty đã gây ra thảm họa ô nhiễm môi trường ở vùng biển miền Trung, khiến người dân mất nguồn sinh kế.

Tin cho hay sau khi các xe hợp đồng bị chính quyền ngăn cản, đoàn người từ 3 xã Quỳnh Ngọc, Sơn Hải, Quỳnh Thọ tỉnh Nghệ An, đã quyết tâm đi bộ trên đoạn đường dài gần 200 km để nộp đơn kiện. Tuy nhiên, họ đã bị tấn công khi đến xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Linh mục Nguyễn Đình Thục, người dẫn đầu đoàn giáo dân là nạn nhân của Formosa, cho VOA biết:

“Cảnh sát cơ động, cảnh sát giao thông và an ninh mặc thường phục đã tràn ra và tất cả khoảng mấy trăm đến cả ngàn người tràn ra vây bắt tôi và đánh đập. Bà con giáo dân đến bảo vệ tôi thì nó bắt những người làm truyền thông cho lên xe và chở đi. Mấy xe ô tô của chúng tôi chở người, chở thực phẩm là nó câu đi hết”.

Một trong số những người đi trong đoàn cho biết chỉ trong buổi chiều 14/2, đoàn đã bị tấn công đến 2 đợt.

“Có 2 giai đoạn bị đánh đập. Lúc đầu tiên nó chận xe, ép người dân vào đường, rút chìa khóa xe xong thì lôi người xuống đánh. 4-5 người mặc thường phục đánh xong rồi còng tay ép đưa lên ô tô tải (xe thùng). Đó là lần đầu tiên. Nó cũng bắt khoảng gần 10 người. Bị ở đó xong thì nó ép dân vào một bãi đất rộng ở gần đấy. Lần hai là lúc cao trào chúng giở trò ném đá. Nó mạo danh là người dân ném đá. Nhưng đó không phải là người dân mà là công an ném đá để người dân hùa theo. Sau đó nó ném lựu đạn. Dân bắt đầu hoảng loạn chạy. Chạy thì nó đuổi và nó đánh. Nó đánh rất nhiều người bị thương”.

Những hình ảnh được cập nhật liên tục trên mạng xã hội cho thấy nhiều người đã bị đánh với những vết thương khá nặng, bị rách trán, bầm mắt, dập môi… Linh mục Nguyễn Đình Thục cho biết thêm:

“Nó đuổi, nó bắt và nó đánh đập tàn nhẫn. Nó đánh đập rất nhiều người bây giờ sống giở chết giở ngoài bệnh viện. Rất nhiều người, khoảng vài ba chục người, đã bị đánh đập”.

Linh mục Nguyễn Đình Thục cho biết hiện các nạn nhân đang được cấp cứu tại các bệnh viện, trạm xá địa phương.

Giáo dân giáo xứ Song Ngọc đa số làm nghề biển, nhiều người đã bị mất nguồn sinh kế kể từ khi xảy ra ô nhiễm môi trường. Linh mục Nguyễn Đình Thục cho biết kể từ khi ô nhiễm môi trường xảy ra, rất nhiều gia đình trong giáo xứ đã phải bán cả tàu thuyền, là gia sản và phương tiện kiếm sống duy nhất, để có thể trả nợ ngân hàng và đắp đổi qua ngày. Nhưng chính quyền Việt Nam và công ty Formosa chỉ đền bù cho người dân của 4 tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế. Sau khi đã gửi đơn kiện với kê khai cụ thể thiệt hại mỗi hộ gia đình hồi năm ngoái, người dân ở Nghệ An vẫn chưa được xem xét bồi thường.

Vợ của một ngư dân tham gia trong đoàn đi kiện cho VOA biết:

“Chết sống gì chúng tôi cũng phải đi để đòi lại sự thật, đòi họ đền bù cho chúng tôi, chứ chúng tôi bị thiệt hại, chúng tôi không biết phải sống bằng nghề gì. Nếu họ có đánh đập, chúng tôi chết vì sự thật, chúng tôi vẫn cứ sẵn sàng”.

Hiện đoàn người đi kiện đang tạm nghỉ ở giáo xứ Đồng Tháp, thuộc xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Trên đường đi kiện, họ được rất nhiều người dân, giáo xứ lân cận ủng hộ, trợ giúp thức ăn, nước uống.

Trong khi truyền thông lề trái và nhiều Facebooker liên tục đưa tin cập nhật tình hình, thì trên các phương tiện truyền thông chính thống vẫn chưa có thông tin về sự kiện này.

VOA đã cố gắng liên lạc với chính quyền địa phương để xác nhận thông tin nhưng không nhận được hồi đáp.

61

BÀI TỤNG CA THÁNG GIÊNG

 

Đoàn người vui vẻ vượt qua sa mạc
Dưới cái nắng như kim chích
Sự đói khát đã cướp đi mạng sống một số người.

Gã cầm đầu liên tục hô vang
“Cố lên hỡi các bạn
Tôi đã nhìn thấy bóng đại dương thấp thoáng đằng xa”.

Đêm dần buông
Đoàn người lạc mất phương hướng
Họ khóc lóc và cầu nguyện đấng nhiệm màu.

Lương thực sắp cạn họ giết bớt những người kiệt sức
Đốt lửa và nướng thịt ăn
Trong bóng tối những đôi mắt linh cẩu sáng quắc.

Sáng sớm một trận bão cát bất ngờ ấp đến
Khi bão tan
Trơ khấc dưới bầu trời những bộ xương người hai tay chắp vào nhau.

 

Trương Đình Phượng

 

 

LẶNG LẼ 

(CHO A và V)

 
Trong bóng đêm dày khít
Gã đàn ông khoắng đôi tay tật nguyền
Cố tìm hình hài của giấc mơ bình minh.

Bầy chó cái mùa động đực
Ư ử rên sau màn sương u uất
Ánh đèn nhức nhối soi trên những đại lộ không người.

Những mái ngói thâm 
Quấn mình trong tấm tã lót. Rêu
Thời gian như những chiếc móc câu đâm vào yết hầu số phận.

Sự im lặng kéo dài
Gã đàn ông cố lắng nghe
Đâu đó những giọt máu trở mình .rơi lặng lẽ…

 

Trương Đình Phượng

 

 

 

 

TIẾNG XUÂN

 

Từng con phố dài xao xác
Kéo lê mình trong miên tịch chiều xuân
Bạt bợt hơi người sau mùi sương nhạt.

Rạc rười tiếng pháo
Bên kia dòng sông lành lạnh 
Gã điên buông mình trôi theo kiếp đò.Lặng lẽ..

Mằn mặn điệu blero ‘’xuân lạc xứ”
Kẻ tha hương vịn nỗi nhớ 
Dõi bóng quê nhà.

Vào đêm
Phố rững mỡ những ánh đèn 
Pháo giòn tan cười giữa tình đời bèo bọt
Gầm cầu 
Những người ăn mày gối đầu lên xác gió. Mơ Xuân…

 

Trương Đình Phượng

 

tumblr_n5u02msxph1rexkq8o2_500

JOUR. DE. NEIGE

1)

bay qua đi

bởi gió trăm năm

những tai nấm thánh thiện

lố nhố

cùng cọc nhọn

những chùng vai tịch lặng

đồi thoải xưa

nằm nghe hồn cội già

thở than

hay lên tiếng hát

chốn

tình ca

nhỏ xuống tuyết

nhỏ xuyến mạn thuyền hoa

lẻ bóng

2)

chạy vòng quanh

đời chạy vòng quanh

đay nghiến thân ngựa gỗ

vẫn gọi nhau

từ bờ bãi hoang sơ nào ?

nắng đầy tay

tôi vẫn chưa có thói quen

dừng gọi tôi trong tịch lặng

và bỗng là em

xôn xao chiều dương cầm

ngậm chi

giữa đôi môi son đầy tạp niệm

khiến tôi

lại nhập vào hồn tôi

bơ vơ

3)

người bước ra

từ tấm gương dựng xiên

trong mảnh vườn khuyết tật đã cũ

mắt khẽ chạm

vào một đôi luân xa

thuộc quyền uy của gió

là lúc

người đàn bà của mặt trời

đứng lên thắp sáng

những ngọn nến

nhện không kịp giăng tơ

một ngày mới vừa kịp vén màn

cho tuyết …

Chu Thụy Nguyên

Con gà trong văn hoá và hội họa Đông, Tây

 

Năm Đinh Dậu đến làm những người cầm tinh con gà xao xuyến vì đó là năm tuổi. Nó còn làm nhiều người hồi hộp trông chờ một sự đổi mới vì có vận hạn xấu trong năm cũ. Trong âm lịch, người Trung Hoa và người việt gọi năm 2017 là năm con gà, nhưng tiếng Anh và tiếng Pháp lại gọi là năm con gà trống, “Year of the rooster” và “Année du coq”. Tôi cũng lấy làm lạ tại sao người Âu lại dùng từ “gà trống” là một từ khẳng định rõ giới tính của con gà thay vì “gà” là một từ nói chung chung không phân biệt trống mái? Không biết trong quá trình dịch thuật từ Á sang Âu thế nào mà con gà trong 12 con giáp khi sang bên Âu châu nó biến thành con “rooster” hay con “coq” mà không phải là con “chicken” hay con “poulet”. Thắc mắc, tôi đi tìm hiểu thêm, lại khám phá ra rằng từ “rooster” không phải là tiếng Anh (British English) nguyên thủy mà lại là tiếng Anh Mỹ(American English) mới được phát minh sau này, của những người Puritan từ Anh Cát Lợi di cư qua Bắc Mỹ trong công cuộc đi tìm một tôn giáo mới. Họ muốn tránh dùng chữ “cock” có nghĩa con gà trống, một từ tiếng lóng ám chỉ một vật có ngữ nghĩa thô tục. Đã vậy “cock” tiếng Anh phát âm giông giống “coq” của tiếng Pháp. Có một chi tiết là lạ, tiếng American English chỉ dùng “rooster” trong cách gọi của “Luna Year”, còn những từ khác liên hệ đến gà trống lại vẫn dùng chữ “cock”, như cock-fighting(cuộc chọi gà).

Khi xem những đồ hình đã hoạ các con vật trong 12 con giáp, tôi thấy rõ ràng hình vẽ con vật tượng trưng cho năm gà là hình con gà trống. Tôi chợt nghĩ, à có lẽ đây là lý do tại sao người Âu Châu, vì tính thích chính xác, nên khi dịch thuật, họ dịch thẳng “năm con gà” thành “năm con gà trống”(Rooster year) chăng?

Thắc mắc này, làm tôi liên tưởng đến thế giới hội hoạ vẽ gà của Âu và Á vì hai biểu tượng: Sự cao quý và cái đẹp của sắc màu. 1-Gà Trống trong quan niệm Phương Đông và Phong Thủy, nó là biểu tượng của sự cao quý. 2-Trong khoa bói toán có viết “Người tuổi Dậu là người ưa cái đẹp, đặc biệt là phái nữ, họ luôn chú ý đến cách ăn mặc trang điểm. Họ cực kỳ mẫn cảm với màu sắc hơn hẳn người khác trong lĩnh vực phối màu.”

Á Đông và tranh gà
pic-1-ga-trsaeng-csoa-xu-beihong

Người Trung Hoa xem trọng Phong Thủy và họ cũng xem trọng gà trống nên gà trống trong hội hoạ được vẽ rất nhiều. Họ quan niệm, treo tranh gà trống đem tới vinh hoa phú quý, công danh, giải trừ “Đào hoa sát” cho gia chủ. Gà trống với hình ảnh tượng trưng cho ngũ đức: mào gà màu đỏ thể hiện văn đức; bước chân oai vệ, dáng đi đĩnh đạc thể hiện võ đức; khi gặp địch là chiến đấu bảo vệ đồng loại thể hiện dũng đức, khi tìm thức ăn gọi bạn đến ăn cùng thể hiện nhân đức; gà trống gáy báo buổi sáng thể hiện tín đức.

Trước hết tôi xin giới thiệu đến các bạn một bức tranh gà trống được vẽ bởi một hoạ sĩ Trung Hoa nổi tiếng là Xu Beihong(徐悲鴻, 1895-1953). Ông chuyên vẽ tranh chim và ngựa bằng mực tàu và là người đầu tiên thể hiện rõ sự cần thiết của các biểu hiện nghệ thuật, phản ánh một Trung Quốc hiện đại vào đầu thế kỷ 20. Ông cũng được coi là một trong những người đầu tiên tạo ra các bức tranh sơn dầu bất hủ với chủ đề sử thi Trung Quốc.

 

Pic 1. Gà trống trên mỏm đá của Xu Beihong (1951), mực và màu trên giấy.

 

Ngoài tranh gà, người Trung Hoa còn coi trọng đồ sứ có hình hoạ với chủ đề “gà”. Vào năm 2014, một “chén gà” đời Minh đã được bán với giá US$36.3 million, tức 281.200.000 đô la Hồng Kông qua cuộc đấu giá của nhà Sotheby tại Hồng Kông. “Chén gà” này đã lập một kỷ lục cao nhất  đối với sứ Trung Quốc từng được bán đấu giá. Chủ nhân mới của nó là nhà sưu tập Liu Yiqian, người Thượng Hải.

pic-2-ch%c2%acn-ga-36-triscu

Pic 2. Chén gà $36.3 triệu đô

 

Hàn Quốc cũng là một quốc gia trong khối Châu Á. Hoạ sĩ Jang Seung(1843-1897, thường được gọi theo tên bút danh của mình, Owon), là một họa sĩ của những năm cuối triều đại Joseon ở Hàn Quốc. Ông là một trong số ít các họa sĩ giữ một vị trí có cấp bậc trong triều đại Joseon. Được nhiều người gọi là “cha đẻ của hội họa hiện đại Hàn Quốc”. Đây là bức “Gà Trống” của ông.

pic-3-ga-trsaeng-csoa-owon

Pic 3. Gà Trống của Owon, 140.2×43.2

 

Thực ra trong bức tranh gà trống của thế kỷ thứ 19 này của Owon, chúng ta thấy bên dưới anh gà trống oai phong lẫm liệt đang nghiêng đầu được vẽ rõ nét, là một chị gà mái trắng với nét hoạ trông rất mờ nhạt. Đó là cách hoạ sĩ Owon tôn vinh anh gà trống lên trong chủ đề một cách rõ rệt.

 

Đối với nền mỹ thuật Nhật Bản, người Việt chúng ta ít được tiếp cận nhiều như của Trung Hoa. Tuy nhiên khi nhìn vào kỹ thuật vẽ tranh gà của họ, bạn sẽ không khỏi ngạc nhiên với đường nét rất sắc sảo trong tranh gà của họa sĩ Ito Jakuchu. Itō Jakuchū (伊藤 若 冲, 1716-1800) . Ông là một họa sĩ Nhật Bản trong giai đoạn giữa Edo, khi Nhật Bản đã đóng cửa với thế giới bên ngoài. Phần lớn tranh ông có chủ đề xoay quanh văn hoá truyền thống Nhật Bản, đặc biệt là gà và các loài chim khác. Nhiều tác phẩm truyền thống khác của ông hiển thị việc ông đã thử nghiệm nhiều quan điểm, và phong cách rất hiện đại khác.

pic-4-trsaeng-va-mii-csoa-ito

Pic 4. Trống và mái của Ito 

 

Việt Nam ta ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa, cũng vẽ tranh gà và thường là gà trống. Đặc biệt hơn, ngày xưa chúng ta có tranh gà, lợn Đông Hồ được vẽ và trang trí cho ngày Tết. Các nghệ nhân làng Đông Hồ hay vẽ gà, lợn vào tranh, nhưng không tả thực như nó vốn có mà đã cách điệu rất nhiều. Màu sắc, đường nét rất thô mộc, dân dã nhưng mang tính ước lệ cao. Những con gà được vẽ mang cả một bầu tâm tư, khát vọng của những người nông dân mong ước. Thời thịnh đạt của tranh Đông Hồ vào thế kỷ 17, 18.

pic-5-tranh-ae%c2%a6ng-hso-ga-thu-hung

Pic 5. Tranh Đông Hồ- Gà trống thư hùng

 

Tây Âu và tranh gà

 

Ngày xưa nghệ Thuật vẽ tranh động vật của phương Tây so với phương Đông xem ra rất khác biệt. Sự khác biệt từ, lối vẽ, dụng cụ vẽ, (bút lông, mực, giấy, lụa, cọ, sơn, vải bố), cho đến quan niệm và mối tương quan giữa con người, thần thánh và con vật. Trong khuôn khổ bài viết nhỏ này tôi không thể phân tích kỹ và tỉ mỉ về những sự khác biệt này. Mong bạn đọc xem tranh và nhận được sự khác biệt có sẵn trong tranh.

Hoạ sĩ Aelbert Jacobsz Cuyp (1620-1691) là một trong những họa sĩ phong cảnh Hà Lan hàng đầu trong thời Hoàng Kim của Hà Lan (Dutch Golden Age) vào thế kỷ 17. Đây là một bức vẽ gà trống rất nổi tiếng của ông, chúng ta thấy được chân dung những chú gà trống được miêu tả giống như thực, như đang đứng trước mặt bạn vậy.

pic-6-ga-trsaeng-csoa-aelbert-cuyp

Pic 6. Gà Trống của Aelbert Cuyp

 

Cuối cùng, tôi xin giới thiệu đến bạn một bức tranh gà trống được vẽ bởi Marc Chagall vào thế kỷ 20.

Marc Chagall(1887-1985), là một nghệ sĩ Nga-Pháp gốc Do Thái. Ông nổi tiếng với óc sáng tạo và trí tưởng tượng siêu thực. Các sáng tác của Chagall mang đầy chất thơ và tràn ngập tính hài hước, thể hiện khả năng tưởng tượng  Nhà phê bình nghệ thuật Robert Hughes gọi Chagall là “nghệ sĩ Do thái tinh túy của thế kỷ XX.”

pic-7-ga-trsaeng-csoa-marc-chagall

Pic 7. Gà trống của Marc Chagall, 1929, sơn dầu trên bố.

Xuân về, xin chúc các bạn đọc một năm Đinh Dậu nhiều sức khoẻ, thành công và hạnh phúc.

 

Trịnh Thanh Thủy

 

Tài liệu tham khảo

http://blogs.wsj.com/scene/2014/04/08/the-36-million-ming-dynasty-era-bowl/

 

 

lepaysagebleu

Tranh Le Paysage Bleu của Chagall

BUỒN ƠI CHÀO MI

tặng anh: Luân Hoán

 

xuân đến

xuân đi

xuân lại

đến*

 

xuân . nhuốm màu trong mắt em

bay theo nắng trắng theo mây

từng sợi vàng đưa

gởi vào vùng trăng

 

đêm . nhuốm màu thời gian

lên da thịt em

bạc màu sương gió

thổi xuân đi bằng cánh tay của biển

 

xuân vàng hoe trước ngõ

hoa ôm lấy bóng

và . khe khẽ động

đến chẳng ai hay

 

lã chã

rơi

giữa mùa xuân trổi . bất ngờ

với trời tháng chạp trong tôi

ôi . buồn ơi chào mi.

 

MỪNG TUỔI BẢY MƯƠI

 

sao trăng không về hôm nay

cho ta lạc bước giang hồ

đêm thủy tạ

giữa lòng sen

mừng tuổi bảy mươi ngoài

xanh ngát trời xanh lận

quay bánh xe nguyền

bỗng nhiên biến mất

ta . về đâu?

hư vô! hư vô!

không = không

đồi thông xưa

mênh mông trời bát ngát

ánh hoàng hôn mùa xuân

cỏ vươn lên khỏi tuyết.

 

ĐÓN XUÂN

 

sáng nay thức dậy sớm

đón xuân gióng tiếng giữa thinh không

tôi . đánh rấm mùa đông ./.

 

VÕ CÔNG LIÊM

* Dựa ý thơ của Mãn Giác thiền sư (1052-1096).

3289_5-mark-di-suvero-paula-cooper-gallery-untitled

GIỮA CHỢ UỐNG RƯỢU MỪNG SINH NHẬT 70

 

Tặng Nguyễn Tam Phù Sa

 

Mừng sinh nhật bạn ta giữa chợ
“Cổ lai hy”, Nguyễn Tam Phù Sa!
“Hành phương Nam” quán đời mọi rợ
Trăm năm cuộc lữ biết đâu nhà!

Thôi cứ uống tràn dăm bảy chén
Cùng em cát bụi gọi tri âm!
Ô hô! Trời đất đau như thiến
Ta vẫn cười vang! Lệ chẳng cầm!

Ta chẳng thèm chơi phường gian ác
Phỉnh lừa Nguyễn Bính chết oan khiên
Ôi dân tộc! Bẻ gươm khóc ngất
Tuổi bảy mươi! Câm nín ta điên!

Đã từng trải ngày xanh sành điệu
Thơ phương phi cùng phượng hoàng bay
Trên đỉnh chùa xưa trăng phiếu diễu
Hỡi ơi! Đời trôi dạt ta đây!

Hơn bốn mươi năm trầm luân kiếp
Thôi còn chi nữa bút tài hoa!
Đưa tay ta vãy đâu hào hiệp
Non nước làm thinh! Rượu mình ta!

Buồn quá! Nên chi ta múa hát
Khác chi xưa Bùi Giáng như nhiên.
Thõng tay vào chợ như Bồ tát
Lầm lũi! Sao ngươi gọi thánh hiền !

Mừng sinh nhật thì không thất thố
Rượu rót ra! Bạn hỡi xin mời!
“Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ
Uống say mà gọi cố nhân ơi!”

 

TRẦN THOẠI NGUYÊN

Phạm Quỳnh: Tâm Lý Ngày Tết

TET, a Vietnamese Tradition

 

Phạm Quỳnh

Đây là một trong những tiểu luận viết bằng tiếng pháp của nhà văn hóa Phạm Quỳnh, cách đây 87 năm – Vào năm 1930, được Nguyên Ngọc dịch sang tiếng Việt. 

Vào những dịp để cả một dân tộc được sống cùng nhau trong một tình cảm, một ý tưởng chung, cùng một xúc động tập thể, bao giờ cũng hiếm.

Thường đấy phải là những sự kiện quan trọng, có liên quan ngay đến đời sống của cả cộng đồng, mới có thể tạo nên sự đồng nhất như vậy về ý nghĩa và rung cảm của mọi người.

Người nước Nam cho cái may mắn được gặp một dịp như vậy thường kỳ, vào những ngày nhất định, mỗi lần năm mới âm lịch đến. Trong dịp ấy, tất cả trẻ con Nam Việt, từ đứa giàu nhất đến đứa lạc hậu nhất, cùng đồng cảm trong niềm trang trọng mơ hồ, vô danh tính, ồn áo, to lớn, độc nhất, gọi là ngày tết.

Tết cái từ ma thuật dường như chứa đựng niềm vui niềm vui mênh mông của cả một dân tộc vô tư và vui vẻ, mỗi lần một năm mới bắt đầu, lại quên bẵng đi tất cả mọi tai ương và khó khăn của họ đã phải chịu đựng suốt năm qua, và sẵn sàng khởi đầu lại cuộc sống trong hy vọng và niềm vui!

Vậy đâu là ý nghĩa của cái thực thể bí ẩn, kỳ lạ, mà người ta tôn sùng ngang như một vị thần và có một sức mạnh to lớn đến mức có thể gây cảm hứng trong mấy ngày cho cả một dân tộc cùng sống chung những tình cảm, có thể nói tạo nên một tâm hồn cộng đồng, nhất là đem lại cho họ niềm tin mỗi lần lại bừng sống lại mà ta đôi khi rất cần trong một cuộc tồn sinh thường rất khó khăn và bấp bênh?

Ngày tết còn hơn là một ngày đầu năm rất nhiều; vả chăng nó kéo dài hơn một ngày, và nếu ta tính cả những chuẩn bị trước đó cùng những cuộc vui và giải trí tiếp sau, thì đó có thể nói nó kéo dài ít nhất là ba tuần. Dù sao, tâm trạng nó gây ra không dễ bị xóa đi trong một ngày, và nghiên cứu nó quả là điều rất thú vị để hiểu được tất cả tầm quan trọng của sự trọng thể có thể coi là có tính chất quốc gia này, nếu điều đó không đồng thời cũng có ở Trung Hoa, nước Trung Hoa thật sự là Trung Hoa, nếu không phải là nước Trung Hoa Âu hóa một cách mơ hồ đang mỗi ngày kiên trì tự phủ nhận chính mình kia.

Bởi nước Trung Hoa mới, sau một cuộc tranh luận hăng say về những bất tiện và lợi ích của âm lịch và dương lịch, đối chọi người trẻ và người già vừa mới ban hành sắc lệnh áp dụng Tây lịch và bãi bỏ lịch Tàu xưa, tức là bỏ luôn cái tết. nhưng ta có thể đoán trước được rằng tập tục rồi sẽ mnạh hơn luật pháp, và kết quả của cuộc cải tổ này là người trung Hoa từ nay sẽ có đến hai cái tết: cái tết nhà nước nó sẽ không phải tết thật, và cái tết thật không còn là tết nhà nước, nhưng sẽ không vì thế mà không vượt hơn hẳn cái tết kia về mọi mặt uy tín và mọi vẻ rực rỡ vốn gắn liền với truyền thống nhiều nghìn năm.

 

 

 


Nghĩa là cái tết ở nước Nam và ở Trung Hoa còn sống lâu dài. Dù những người đổi mới có hăng hái đến mấy, nếu đến một ngày nào đó họ có thể đi đến chỗ hạn chế nó lại trong những mức độ vừa phải – đều cũng chẳng có gì là xấu – họ sẽ không bao giờ xóa bỏ nó được hoàn toàn để thay bằng ngày đầu năm Tây. Trong dịp tết, niềm vui của nhân dân vẫn sẽ tiếp tục được biểu hiện qua những tràng pháo đinh tai nhức óc và bất tận. Và nói cho cùng, nếu nhân dân tìm thấy ở đấy cái cớ để bằng lòng, thì tại sao lại tước đi mất của họ nguồn vui và khích lệ? Cuộc sống của họ nào có tươi vui gì cho lắm để mà bỏ phí đi cái dịp thỏa thích chung và vô danh tính này.

Vả chăng tết không phải là không có ý nghĩa, cố thử tìm ra “triết lý” từ đó chẳng hề là trò chơi trí óc dễ dàng.

Một trong những đặc điểm của tư duy nước Trung Hoa và nước Nam là xác lập một mối quan hệ chính xác, một kiểu song hành giữa các hiện tượng của tự nhiên và các sự kiện nhân sinh. Chúng ảnh hưởng lẫn nhau và hệ quả của mối tương quan đó là cái điều vô cùng mong manh là hạnh phúc của con người. vậy nên con người cần thường xuyên hành xử sao cho phù hợp với các quy luật của tự nhiên, vốn cũng là những quy luật của đạo lý và tinh thần, để cho các hiện tượng của tự nhiên diễn ra cho đúng trật tự vốn có của chúng và không có nhiễu loạn nào cản trở dòng chảy bình ổn của cuộc sống và hạnh phúc của con người.

Sự nối tiếp của các mùa là một hiện tượng tự nhiên hết sức quan trọng, nhất là đối với một dân tộc nông nghiệp. Theo những quan niệm cổ xưa về vũ trụ, kết thúc của mùa đông bắt đầu mùa xuân được đánh dấu bằng một giai đoạn đổi mới chung trong đó tự nhiên và các sinh vật dường như được tái sinh. Con người cần đồng cảm với tự nhiên trong đà tái sinh mừng vui ấy. Họ phải đón mừng một cách xứng đáng “mùa xuân mới” đến.

Trong mấy ngày do truyền thống đã qui định, dường như họ phải tự đổi mới mình toàn vẹn tẩy bò đi con người cũ của mình trước đây và tự trang bị cho mình một linh hồn mới; xua đi khỏi tâm trí mọi ý nghĩa u sầu, chỉ có toàn những ý nghĩ tốt đẹp, chỉ nói những lời đáng yêu, gác lại mọi hằn thù và oán hận, bày tỏ đối với mọi người, ngay cả với những kẻ thù tệ hại nhất của mình những tình cảm khoan dung và ưu ái. Bằng cách đó họ góp phần vào sự hài hòa của vũ trụ, và do đó cũng là vào hạnh phúc của xã hội và hạnh phúc của chính mình. Mọi lời nói không hay thốt ra, mọi thái độ khó chịu bò tỏ, mọi cử chỉ không phải lỗi phạm phải trong những ngày tết không chỉ là thiếu phép lịch sự vào thời điểm đặc biệt tốt lành này trong năm, mà còn là một sự phản nghịch đối với tự nhiên, và do vậy, có thể mang họa cho kẻ phạm phải.

Sự mê tín của dân gian càng tô đậm thêm và coi tất cả những gì diễn ra trong những ngày đầu năm này là có ảnh hưởng một cách bí ẩn tốt lành hay tai họa đối với cả năm.

Vậy nên trong buối sáng ngày mùng một tết, người khách đầu tiên bước chân vào một gia đình được coi như là mang lại hạnh phúc hay vận rủi cho cả năm, tùy theo chỗ tự anh ta, con cháu anh ta đông đúc hay hiếm muộn, đến ngay cả tình trạng tâm trí và tính cách của anh ta nữa và “vận may”của anh ta đang nhiều hay ít. Một người đang có tang, vừa trải qua những chuyện xui xẻo, đang có những điều thất vọng trong công việc rất thận trọng tránh bước chân ra đường trong buối sáng hết sức trang trọng ngày hôm đó em sẽ mang theo mình số đen. Để khổng phải phó mặc cho sự tình cờ đưa đến nhà mình vị khách đầu tiên sẽ ảnh hưởng đến hạnh phúc của gia đình, thông thường các cuộc viếng thăm này được thu xếp trước: người ta chọn trong số những người họ hàng hoặc bạn bè một người nào đó được coi là người hạnh phúc, giàu có, khỏe mạnh, con cháu đông đúc,…và đề nghị học đến vào buổi sáng sớm để làm vị sứ giả mang đến hạnh phúc.

 


Hạnh phúc! Ước mơ về hạnh phúc ám ảnh đầu óc và trí tưởng tượng của mọi người. Ở xứ sở này, mỗi lần năm mới đến người ta lại nói đến hạnh phúc, lại mời gọi, lôi kéo nó đến, người ta lại hình tượng hóa nó bằng trăm nghìn kiểu khác nhau. Người ta gợi ca nó trên các lời ghi và câu đối viết trên giấy điều trang trí bức tường và các cánh cửa. Và vì màu đỏ là màu sắc đặc biệt của hạnh phúc, xác pháo đỏ và những cánh hoa đào màu hồng rải dày trên các sân nhà và các bàn thờ. Cả con người nửa cũng mang một diện mạo tươi cười, đon đả, một thái độ vui sướng như để cố níu giữ niềm hạnh phúc vốn rất mong manh và khó nắm bắt giống như con chim vàng anh đậu trên cành liễu, cất tiếng hót một lúc và lại chuyền sang những cành khác. Và thật là vô cùng xúc động cái niềm hướng vọng ấy của cả dân ttộc vươn tới một cảnh sống tốt đẹp hơn mà họ mơ tưởng song chẳng phải bao giờ cũng đạt được.

Tết là gì? Tết là tiếng gọi mệnh mông của tất cả những con người của nước Nam, trong dịp đổi mới toàn bộ của đất trời và của muôn vật, gài lên niềm tin vào cuộc sống cùng niềm khát khao hạnh phúc và an vui của mình.

Nó là điều khác nửa. nó là sự thánh hóa, là biểu dương, ngợi ca tôn giáo gia đình và sự thờ cúng tổ tiên. Và với tính chất đónó là một thiết chế gắn liền ngay với cấu trúc gia đình và xã hội nước Nam, gồm có: cha, mẹ, anh chị em, nhiều khi cả chú, bác, cô, dì và ông bà nội ngoại, và đôi khi cả ông bà cố, mọi người cùng sống chung dưới một mái nhà. Những gia đình mà những thành viên phân tán suốt năm, trong ngày này gặp lại nhau đông đủ dưới con mắt nhìn của tổ tiên mà các bìa vị được gởi ra trên bàn thờ trang trí rực rỡ, ngày đêm sáng choang đèn nến và mịt mù hương khói, chất đầy những nèn vàng và bạc, những món quà của con cháu dâng lên linh hồn tổ tiên để họ sử dụng ở thế giới bên kia.

Bởi tết không những là ngày lễ của người sống; nó còn là, chủ yếu ngày lễ của những người chết thật sự tham dự vào cuộc sống của gia đình và con cháu mình. Ngày hôm trước đó bằng một lễ nhỏ người ta thỉnh rước tất cả họ về cùng dự tết với gia đình. Rồi mỗi ngày hai hai lần người ta mời họ dùng hai bữa ăn chính, chưa kể là các cuộc cúng dâng trà, hoa quả, bánh trái. Cuối ngày thứ ba hay thứ tư, là lễ lớn tiễn đưa, và các linh hồn được coi như trở về thế giới bên kia, mang theo những lời chúc tụng và những lời tâm sự của người thân mà họ vừa chia sẻ cuộc sống trong mấy ngày và bây giờ họ để lại ở thế giới bên này, nhưng vẫn luôn theo dõi, ban phúc bảo bọc.

Suốt những ngày tết, những người đã chết sống lẫn với người sống đến mức những người họ hàng và bạn bè đến thăm một nhà nào đó không bao giờ quên trước hết cúi lạy trước bàn thờ tổ tiên, bằng cách đó dâng lời chúc tụng đến những người đã chết trước khi chúc người sống. và nếu có điều hơi khó chịu ngày tết đôi khi để lại cho những người trong chúng ta, thì đấy là cảm giác mỏi lưng vì phải lặp đi lặp lại động tác cúi lạy suốt ba ngày đến mệt nhừ!

Song tóm lại, cuộc lễ mà tôi vừa cố gắng trình bày ý nghĩa nghi thức và biểu trưng đó, đánh dấu trong đời sống của mối người một giai đoạn hạnh phúc được may mắn mỗi năm lại tái một lần. Được sống đôi ngày trong niềm hoan hỉ chung, tự mình cảm nhận được niềm vui hồn nhiên, vô tư lự mà đặc biệt dễ lây truyền ấy, được hòa nhập cả tư tưởng và tình cảm với tất cả những con người trong nòi giống của mình, quả thật không phải là một niềm hứng khởi nhỏ, và chính ngày tết đem lại đem lại cho ta điều đó. Hãy biết ơn ngày lễ ấy!

Đối với tôi, nhớ lại những ngày thơ ấu và niên thiếu xa xôi, tết bao giờ cũng để lại trong tôi những ký ức dễ chịu. Nếu một ngày nào đó phải bỏ phiếu xóa bỏ nó đi, thì mặc tất cả những lý lẽ hay ho người ta có thể đưa ra để biện minh, tôi tin rằng tôi sẽ bỏ phiếu chống, dù có phải mang tiếng là một kẻ bảo thủ ngoan cố hay hỗn xược.

Thượng Chi (Phạm Quỳnh)

Diễn văn nhậm chức của Tổng thống Donald J. Trump

 

trump

Tổng thống Mỹ Donald Trump đọc diễn văn sau khi tuyên thệ nhậm chức tại Điện Capitol ở Thủ đô Washington, Hoa Kỳ, 20/1/2017.

nguồn VOA

Thưa Chánh án Roberts, Tổng thống Carter, Tổng thống Clinton, Tổng thống Bush, Tổng thống Obama, thưa đồng bào Mỹ, và mọi người trên thế giới: Xin cảm ơn.

Chúng ta, những công dân của nước Mỹ, hiện cùng tham gia một nỗ lực lớn của dân tộc để xây dựng lại đất nước và khôi phục những hứa hẹn của đất nước cho cả nhân dân Mỹ chúng ta.

Cùng nhau, chúng ta sẽ quyết định hướng đi tương lai của nước Mỹ và thế giới trong nhiều năm tới.

trump2

Chúng ta sẽ đối mặt với nhiều thách thức. Chúng ta sẽ đối đầu với nhiều khó khăn. Nhưng chúng ta sẽ hoàn thành nhiệm vụ.

Cứ mỗi 4 năm, chúng ta lại tụ tập trên những bậc thềm này để thực hiện tiến trình chuyển giao quyền lực trong trật tự và hòa bình, và chúng tôi xin đa tạ Tổng thống Obama và Đệ nhất phu nhân Michelle Obama về sự giúp đỡ niềm nở của họ trong suốt quá trình chuyển giao. Tổng thống và phu nhân Obama thật vô cùng tuyệt vời.

Tuy nhiên, buổi lễ hôm nay mang ý nghĩa rất đặc biệt. Bởi vì ngày hôm nay chúng ta không chỉ đơn thuần chuyển giao quyền lực từ chính quyền này sang chính quyền khác, hay từ đảng này sang đảng khác – mà chúng ta chuyển giao quyền lực từ thủ đô Washington, trở lại với quý vị, nhân dân Mỹ.

Trong thời gian quá lâu, một nhóm nhỏ ở thủ đô của đất nước chúng ta đã thu về những lợi lộc từ chính quyền trong khi người dân phải trả giá.

Washington nở rộ – nhưng người dân không được chia phần trong sự phồn vinh đó.

Các chính trị gia trở nên giàu có – nhưng chúng ta đã mất nhiều việc làm, nhiều nhà máy bị đóng cửa.

Giới quyền thế bảo vệ chính họ, chứ không phục vụ các công dân của đất nước chúng ta.

Chiến thắng của họ không phải là chiến thắng của quý vị; trong khi họ hân hoan ăn mừng ở thủ đô của đất nước chúng ta, thì nhiều gia đình gặp khó khăn trên khắp đất nước không có gì để ăn mừng.

Tất cả những điều đó sẽ thay đổi – bắt đầu tại đây và ngay trong lúc này, bởi vì thời điểm này là thời điểm của quý vị: nó thuộc về quý vị.

Thời điểm này thuộc về tất cả mọi người đang có mặt ở đây ngày hôm nay và tất cả mọi người đang theo dõi trên khắp nước Mỹ.

Đây là ngày của quý vị. Đây là lễ ăn mừng của quý vị.

Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ này là đất nước của quý vị.

Điều thực sự quan trọng không phải là đảng nào kiểm soát chính phủ của chúng ta, mà liệu chính phủ của chúng ta có phải do người dân kiểm soát hay không.

Ngày 20 tháng 1 năm 2017 sẽ được ghi nhớ là ngày mà người dân Mỹ một lần nữa nắm quyền cai trị đất nước này.

Tất cả những người, nam cũng như nữ bị quên lãng ở đất nước này, từ giờ sẽ không còn bị bỏ quên.

2

Lúc này mọi người đang lắng nghe quý vị.

Quý vị, hàng chục triệu người tập hợp với nhau để trở thành một phần trong một phong trào lịch sử mà thế giới chưa bao giờ từng chứng kiến trước đây.

Ở tâm điểm phong trào này là một niềm tin thiết yếu: rằng lý do tồn tại của một quốc gia chính là để phục vụ công dân.

Người Mỹ muốn có các trường học tốt cho con cái, khu dân cư an toàn cho gia đình, và công ăn việc làm tốt cho bản thân.

Đây là những đòi hỏi chính đáng và hợp lý.

Nhưng đối với rất nhiều công dân chúng ta, lại tồn tại một thực tế khác: nhiều bà mẹ và con cái lâm vào cảnh nghèo túng ở các khu nội đô; nhiều nhà máy hoang tàn nằm rải rác như những ngôi mộ trên khắp đất nước chúng ta; một hệ thống giáo dục với túi tiền đầy ắp, nhưng lại không giúp được cho giới trẻ và thành phần sinh viên tươi đẹp của chúng ta thâu thập kiến thức; tội phạm, băng đảng và ma túy đã cướp đi quá nhiều sinh mạng làm mai một biết bao là tiềm năng của quốc gia.

Thảm trạng đó sẽ chấm dứt tại đây và ngay lúc này.

Chúng ta là một quốc gia – và nỗi đau của họ là nỗi đau của chúng ta. Ước mơ của họ là ước mơ của chúng ta; thành công của họ sẽ là thành công của chúng ta. Chúng ta có chung một trái tim, một quê hương, và chia sẻ chung một vận mệnh vinh quang.

Lời tuyên thệ nhậm chức của tôi ngày hôm nay là lời tuyên thệ trung thành với tất cả mọi người dân Mỹ.

Trong nhiều thập niên, chúng ta đã làm giàu cho công nghiệp nước ngoài trong khi công nghiệp Mỹ bị thua thiệt;

Trợ cấp cho quân đội các nước khác trong khi để mặc cho quân đội của chúng ta suy yếu một cách đáng buồn;

Chúng ta đã bảo vệ biên giới các quốc gia khác trong khi không bảo vệ biên giới của chính đất nước mình;

Chúng ta đã chi hàng nghìn tỷ đôla ở nước ngoài trong khi cơ sở hạ tầng của Mỹ rơi vào tình trạng hư hại, mục nát.

Chúng ta đã giúp các nước khác trở nên giàu có trong khi sự thịnh vượng, sức mạnh và niềm tự tin của đất nước chúng ta mai một dần.

Lần lượt, các nhà máy đóng cửa và rời lãnh thổ của chúng ta, mà không mảy may nghĩ đến hàng triệu, hàng triệu công nhân Mỹ bị bỏ lại phía sau.

Tầng lớp trung lưu của chúng ta đã bị tước mất tài sản, nhà cửa, để chia lại trên khắp thế giới.

Nhưng đó là quá khứ. Bây giờ chúng ta sẽ chỉ hướng đến tương lai.

Chúng ta tập trung ở đây hôm nay và đưa ra một thông điệp gửi đến khắp mọi nơi, mọi thành phố, mọi thủ đô nước ngoài, và tại mọi trung tâm quyền lực.

Từ ngày hôm nay về sau, một tầm nhìn mới sẽ ngự trị tại đất nước chúng ta.

Từ thời điểm này trở đi, nước Mỹ sẽ được đặt lên trên hết.

Mỗi quyết định về thương mại, về thuế, về xuất nhập cảnh, về chính sách đối ngoại, sẽ được làm dựa trên những lợi ích cho người lao động Mỹ và các gia đình Mỹ.

Chúng ta phải bảo vệ biên giới của chúng ta khỏi sự tàn phá của các nước khác đang sản xuất các sản phẩm của chúng ta, cướp các công ty của chúng ta, và hủy hoại công ăn việc làm của chúng ta. Các biện pháp bảo hộ sẽ dẫn đến thịnh vượng và sức mạnh.

Tôi sẽ đấu tranh cho quý vị cho tới hơi thở cuối cùng – và tôi sẽ không bao giờ, không bao giờ làm quý vị thất vọng.

Hoa Kỳ sẽ chiến thắng trở lại, như chưa từng bao giờ chiến thắng.

Chúng ta sẽ mang về công ăn việc làm cho chúng ta. Chúng ta sẽ giành lại biên giới của chúng ta. Chúng ta sẽ giành lại sự giàu có của chúng ta. Và chúng ta sẽ khôi phục lại những ước mơ của chúng ta.

Chúng ta sẽ xây những con đường, đường cao tốc, cầu cống, sân bay, và đường hầm, và đường sắt mới trên khắp đất nước tuyệt vời của chúng ta.

Chúng ta sẽ giúp cho người dân không còn cần đến những trợ cấp và quay trở lại làm việc – xây dựng lại đất nước chúng ta với bàn tay người Mỹ và sức lao động Mỹ.

Chúng ta sẽ tuân theo hai quy định đơn giản: Mua hàng Mỹ và mướn nhân công Mỹ.

Chúng ta sẽ xây dựng tình hữu nghị và thiện chí với các quốc gia trên thế giới – nhưng chúng ta làm như vậy với ý thức rằng tất cả các quốc gia có quyền đặt lợi ích của chính họ lên trên hết.

Chúng ta không tìm cách áp đặt lối sống của chúng ta lên bất cứ ai, mà thay vào đó là tự mình thể hiện như một tấm gương cho mọi người noi theo.

Chúng ta sẽ củng cố các liên minh cũ và hình thành các liên minh mới – và đoàn kết thế giới văn minh chống chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan, chúng ta sẽ hoàn toàn tiêu diệt chúng ra khỏi Trái Đất.

Nền tảng của nền chính trị của chúng ta sẽ là lòng trung thành tuyệt đối với Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, và qua sự trung thành của chúng ta với đất nước, chúng ta sẽ khám phá lại lòng trung thành của chúng ta với nhau.

Khi quý vị mở lòng mình ra với lòng ái quốc, thì không còn chỗ cho thành kiến.

Kinh Thánh dạy chúng ta “thật tốt đẹp và dễ chịu khi con dân của Chúa trời sống với nhau trong sự hiệp nhất”.

Chúng ta phải nói ra những gì mình nghĩ một cách cởi mở, tranh luận những quan điểm bất đồng một cách thành thực, nhưng luôn luôn mưu cầu tinh thần đoàn kết.

Khi nước Mỹ đoàn kết, không có thế lực nào có thể ngăn cản nước Mỹ.

Không nên sợ hãi – chúng ta được bảo vệ, và chúng ta sẽ luôn luôn được bảo vệ.

Chúng ta sẽ được bảo vệ bởi những nam nữ quân nhân tuyệt vời phục vụ trong quân đội và các lực lượng chấp pháp của chúng ta, và quan trọng hơn cả, chúng ta được Thượng Đế bảo vệ.

Cuối cùng, chúng ta phải cởi trói suy nghĩ và mơ những giấc mơ lớn hơn nữa.

Ở nước Mỹ, chúng ta hiểu rằng một quốc gia chỉ tồn tại chừng nào đất nước đó còn phấn đấu.

Chúng ta sẽ không tiếp tục chấp nhận các chính trị gia chỉ nói suông mà không hành động – phàn nàn mà không làm bất cứ điều gì về điều đó.

Giờ đã hết lúc nói những điều trống rỗng.

Bây giờ đã đến giờ hành động.

Đừng cho phép bất cứ ai nói với quý vị rằng việc này việc kia là không thể thực hiện. Không có thách thức nào có thể đánh bại trái tim, sự đấu tranh và tinh thần của nước Mỹ.

Chúng ta sẽ không thất bại. Đất nước chúng ta sẽ phát triển mạnh và thịnh vượng trở lại.

Chúng ta đang ở giai đoạn đầu của một thiên niên kỷ mới, sẵn sàng mở khóa những điều bí ẩn trong vũ trụ, giải thoát trái đất khỏi những khổ đau do bệnh dịch, và khai thác các nguồn năng lượng, các ngành công nghiệp và công nghệ của ngày mai.

Một niềm tự hào quốc gia mới sẽ làm rung động tâm hồn chúng ta, nâng cao tầm nhìn của chúng ta, và chữa lành những chia rẽ giữa chúng ta.

Giờ là lúc nhắc lại những lời khôn ngoan từ xưa mà các quân nhân của chúng ta sẽ không bao giờ quên: cho dù chúng ta là da đen hay nâu hay trắng, tất cả chúng ta đều chung dòng máu đỏ của những người ái quốc, tất cả chúng ta đều hưởng các quyền tự do vinh quang, và tất cả chúng ta đều cùng chào lá cờ Mỹ vĩ đại.

Cho dù một em bé được sinh ra ở vùng đô thị rộng lớn ở Detroit hay ở vùng đồng bằng lộng gió của Nebraska, các em đều nhìn lên cùng một bầu trời đêm, với trái tim đầy những ước mơ như nhau, và đều được Đấng Tạo hóa truyền hơi thở cuộc sống.

Vì vậy, thưa tất cả đồng bào Mỹ, ở mọi thành phố gần xa, lớn nhỏ, trên những ngọn núi, từ bờ đại dương này đến bờ bên kia, hãy lắng nghe những lời này:

Quý vị sẽ không bao giờ bị bỏ lơ nữa.

Tiếng nói, niềm hy vọng, và ước mơ của quý vị sẽ xác định vận mệnh nước Mỹ chúng ta. Và lòng quả cảm, lòng tốt và tình yêu của quý vị mãi mãi sẽ dẫn đường chúng ta.

Cùng nhau, chúng ta sẽ làm cho nước Mỹ hùng mạnh trở lại.
Chúng ta sẽ làm cho nước Mỹ giàu có trở lại.
Chúng ta sẽ làm cho nước Mỹ tự hào trở lại.
Chúng ta sẽ làm cho nước Mỹ an toàn trở lại.

Và đúng vậy, cùng nhau, chúng ta sẽ làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại. Xin cảm ơn, Chúa ban phước lành cho quý vị, và Chúa ban phước lành cho nước Mỹ.

Vài hình ảnh trong buổi lễ nhậm chức của Tổng Thống Donald Trump

 

 

poster2

La  chanson de Lara     

 

Un jour Lara
Quand le vent a tourné
Un jour Lara
Ton amour t’a quitté
Tes yeux Lara
Revoient toujours ce train
Ce dernier train
Partant vers le chagrin

Le ciel était couvert de neige
Au loin déjà l’horizon brûlait

Cette chanson
Que chantaient les soldats
C’était si bon
Serré entre tes bras
Au bord des pleurs
Tu souriais Lara
Oubliant l’heure
La guerre, la peur, le froid

Le ciel était couvert de neige
Au loin déjà le canon tonnait

Un jour Lara
Quand tournera le vent
Un jour Lara
Ce sera comme avant

Alors cet air comme un manège
Pour toi sera
Ta chanson Lara.

               

 

Nhạt nhòa khúc mơ

( lời Việt – Hoàng Xuân Sơn )

 

 

Chìm trong tuyết trắng

từng tháng năm buồn thị thành

ngồi đây quán vắng

nghe đời nhạt nhòa khói xanh

Tìm về bến cũ

hồn vẫn mơ màng cuộc tình

gần nhau thuở ấy

đâu ngờ thời gian lướt nhanh

 

Này em, hỡi em  vòng tay êm đềm

Nụ hôn.  mắt môi.  chìm sâu mùa yêu ái

 

Một mầu luyến nhớ

là khi em lạc tình cờ

vào miền hoa nắng

chứa chan niềm vui chúng ta

Giờ còn tiếc nuối

từng cánh hoa thơm nhiệm mầu

một mùa say đắm

đâu lời hẹn thề kiếp mai

 

hoàng xuân sơn

288

Tranh Egon Schiele

Đ. Ê. M.

 

đã cố gắng giải mã những giấc mơ thành kí tự

bàn phím đầy bụi

rong rêu biến dạng buổi chiều gió lộng

hoang vu xanh

người con gái vác thập tự đi qua bức tranh

màu còn dang dỡ

cũng không ngăn nỗi cơn nắng già theo từng cơn mớ

mùa xuân tan chảy lâu rồi

 

đã cố gắng để bay lên bằng đôi cánh không màu

chập chùng trí nhớ

lời kinh đêm nhoà giấc mơ không tuổi

cho mãi ngàn năm sau

đã cố gắng để xoá đi những ngày buồn rực rỡ

lời lá khô còn đau

 

làm sao để giữ ấm cho nhau qua mùa đông này

 những que diêm không tự cháy

dòng hải lưu đỏ không tự bứt mình ra khỏi mạch máu

sự tuôn trào thấm đẫm trong nhau cũng là vô lý

 đêm ngập ngụa đêm

 

thả cái bóng mình xuống giấc mơ trầy xước

những ngón tay long lanh còn cố nuối

 tôi nói với cơn gió thổi qua ngày hôm qua

 đừng để những dòng máu chạy sai khỏi những mao mạch

nụ buồn mọc mộng trên những cọc nhọn

và đêm qua bên sông mưa

 

Phương Uy

 

khúc rời thứ ba cho T

 

Của T -cho T

 

bạn nói: đừng mần thơ nữa

người ngồi khúc khuỷu xanh xao

 đồi Thập giá lạnh căm

 khe ngàn sâu đồng tang

 có chi vui cho thơ một nụ cười

 

bạn nói: câu chữ chết hết rồi

tán tỉnh chi ai tơ xanh mật mía

 lời nỉ non thề bồi lời chung thuỷ trơ trơ

lời tụng ca ngàn năm điêu toa xảo trá

 viết làm chi đau đáu mắt môi

 

bạn nói: đừng vuốt mắt

những mi non đồng tử trừng trừng

che chắn hết lối về sâu hút

da mướt xanh nước bạc trùng trùng

 

bạn nói: đừng kết trái châu lên cây thông đừng bỏ tuyết lên máng cỏ đừng treo đèn hang đá

những mộng du đốt sáng cuộc đời anh

 khi tảng sáng là rã rời tất cả

rốt ráo bình yên là lừa mị tàn canh

 ừ thôi những câu thơ mệnh bạc

con chữ chết oan đã tuẫn tiết lâu rồi

đừng vuốt mắt và đừng cúi mặt

nay chúng tôi rồi mai sẽ anh thôi

 

Phương Uy

 

khúc rời thứ tư cho T

 

Cho T –

 

Vẽ cho ra buổi chiều khói xám

buồn như mưa qua

 vẽ cho ra ngày mùa đông áp thấp

 lạnh từ trong lòng ra

vẽ cho ra một cỗ độc đạo

tôi đi lại mỗi ngày

vẽ cho ra toà thành đóng kín cửa

không ai vào chỉ gió lay

 

vẽ ra cơn buồn ngủ

xoắn ốc kéo sập mắt mi

từ những viên sủi bọt

nỗi buồn đọng quanh thành ly

 

vẽ ra đêm dài hun hút

 cô đơn phủ ngập mái đầu

giữa màu vần vũ mây xám

 lờ đờ lên mắt nâu

 

vẽ cho ra cây thông lóng lánh sang

 giữa màu kim nhũ thời gian

 nơi cánh bướm đêm còn mơ sót

 rớt lại bụi phấn bàng hoàng

 vẽ cho ra hồng ân tuyết trắng

tôi lội ngược cơn gió mù

đèn và hoa lấp lánh

sao rơi trên chốn âm u

vẽ cho ra một tiếng nói

trôi trong chiều gió, đêm sâu

trong buổi tinh sương vừa chớm

trong mỗi ngày còn gần nhau

 

Phương Uy

 

khúc rời thứ hai cho T

 

Rằng là sẽ bay lên theo một giấc mơ
của T như T với T
rằng là sẽ như phù du xa
lặng lẽ chia dòng
như H với H
buổi chiều mùa đông ấm
bên bờ áp thấp qua
rằng lòng người thì lạnh lắm
không như mùa đông xa

rồi đến một lúc không còn gì để có thể kể nói
cơn giục giã của mùa đông tràn qua chiếc ly không màu xám
khóc hay cười cho mình?
khi cơn u mê cũng vục tan vào đất
ngày xanh như đêm sâu

đã cố nhớ một vài chi tiết trong câu chuyện cũ
mong những mùi hương sẽ lại được phục hiện sau mỗi cơn mưa
nhưng mùi hương cũng dối lừa như mưa mùa cũ, 
như tình yêu cũ,
khi cơn đau tràn ra từ hốc mắt và phủ ngập đỉnh đầu,
những rên siết từ vực sâu , 
vọng về, 
âm u trong niềm tin bị mất cắp. 
rồi thản nhiên loang ra trong đêm đen.

hàng ngàn và hàng ngàn tiếng thét,
hàng ngàn và hàng ngàn đêm đen, 
tiếng thét nào của tôi? 
đêm đen nào dành cho tôi?
khi mùi hương hoa nhài sau cơn mưa của đêm trăng xưa đã thành kí ức,
thì những mùi hương bây giờ của em cũng chỉ là dối trá lọc lừa.
đừng mượn của đêm đen những oan hờn che dấu.
nơi những ngón tay nhợt nhạt không còn không thể bưng được khuôn miệng đầy nhiệt hạch tàn phá
làm sao đến được hừng đông?

 

 

Phương Uy
17.1.17

trump-secures-gop-nomination-cartoon-morin

Tranh biếm họa của Jim Morin

Hãy Chờ Và Sẽ Biết

 

Nhã Nam 

                                                                                                                  

    Phải nói, sự đắc cử của Donald Trump, chẳng những là cơn sốc cho người Mỹ mà còn làm bàng hoàng không ít cho cả thế giới. Vâng, không kinh ngạc sao được, khi trước đó, được cả đảng Dân Chủ và hầu hết truyền thông đại chúng của Mỹ ủng hộ (hay được mua chuộc ?) nên  qua cuộc thăm dò dư luận đều cho thấy, Hillary Clinton đã chắc chắn 70% đắc cử, thế nhưng khi kết quả, Donald Trump lại thắng vẻ vang với số cử tri đoàn thuyết phục ( electoral college) 306.

    Sự thất bại của Hillary Clinton, là do đã bỏ quên thành phần trầm lặng chiếm đa số, Mỹ trắng trung lưu và nông dân, vì đã ỷ lại, cho rằng các giới đó mặc nhiên ủng hộ, do đó chỉ nhắm vào vận động các nhóm thiểu số, da đen và Latino.

   Trong khi đó, Donald Trump đã và đang bị hầu hết các giới chức quan trọng của đảng Cộng Hòa và cả truyền thống đại chúng, trừ đài Fox, bỏ rơi, chẳng những không nao núng, đã  đơn thân, độc mã đi vận động khắp nơi và đã khôn ngoan biết nhắm vào thành phần trầm lặng đó để vận động ráo riết qua cộng đồng mạng Twitter (hay do Nga giúp bằng hackers?) và sự vận động này đã đưa đến sự thắng lợi có một không hai trong lịch sử tranh cử tổng thống của Hoa Kỳ.

     Do đó, trong cuộc phỏng vấn vào ngày 11/20/16 do đài CNN thực hiện, khi ký giả Fareed Zakaria hỏi về Trump, Kissinger đã trả lời, vị tổng thống tân cử này hầu như độc nhất có một không ai mà tôi được biết………..Ông ta tuyệt đối không được ( giúp đở ) trang bị bất cứ hành trang nào, ông ta đã không có bổn phận gì với bất cứ phe nhóm đặc biệt nào, ông ta đã trở thành vị tổng thống với chiến lược căn bản của chính mình ( This president elect is the most unique that I have an experience………..He had no obligation to any particular groups, he has become president on the basic of his own strategy).

    Chính sự chiến thắng này đã làm cả thế giới, trong đó có người Việt trong và ngoài nước, lo âu không ít về lập trường và chính sách của Trump, vì trong thời gian tranh cử, ông muốn quay về với America First, đòi bãi bỏ TPP và không theo đuổi chính sách quay trục về Châu Á của Obama thì sẽ đánh mất đi sức ép để răn đe Trung Cộng về kinh tế và về quân sự .

    Dù không tiếp tục các chính sách của Obama kể trên, nhưng không có nghĩa là Trump sẽ nhượng bộ hay không có phản ứng mạnh.  Hãy nhìn lại lời tuyên bố mới đây của Trump, để biết được lập trường của ông đối với cộng sản Khi hay tin Fidel Castro vừa qua đời, ông đã phát biểu, Fidel Castro đã chết ( Fidel Castro is dead) và sau đó đã nhận xét về Fidel Castro qua lời, hôm nay thế giới chứng kiến sự qua đời của nhà độc tài tàn bạo, nhà độc tài này đã áp bức chính người dân của mình trong gần sáu thập niên. Huyền thoại của Fidel Castro là một đội xử bắn, là ăn cướp, và không thể tưởng tượng được người dân Cuba phải chịu đựng sự nghèo đói và bị từ chối những quyền căn bản của con người khi dưới chế độ độc tài chuyên chế (Today,the world marks the passing of the brutal dictor who oppressed his own people for neary six decades. Fidel Castro legacy is one of firing squads, theft, unimaginable suffering poverty and the denial of fundamental human rights while Cuban remain a totalitarian), hay lời trách móc kẻ cả của Trung Cộng. Theo Trung Cộng thì Trump phải biết, về một nước duy nhất Trung Quốc để tôn trọng, vì nó đã được thừa nhận từ 1979 dưới thời tổng thống Jimmy Carter mà còn là hội viên thường trực của Liên Hiệp Quốc, thay thế Trung Hoa Quốc Gia ( Đài Loan), thế nhưng tại sao,Trump lại nhận lời chúc mừng bằng điện thoại của bà tổng thống Thái Anh Văn của Đài Loan vào ngày 12/02/2016. Trước lời trách móc ngoạn mạn đó, Trump đã phản ứng mãnh liệt rằng, Trung Cộng đã có hỏi chúng ta về hạ giá đồng bạc của họ ( nhằm gây khó khăn cho các công ty của chúng ta trong việc cạnh tranh), đánh thuế nặng các hàng hóa chúng ta khi vào nước họ ( Mỹ không đánh thuế các hàng hóa của họ) hay xây dựng các căn cứ quân sự ở Nam hải không? Tôi không nghĩ như vậy ( Did China ask us if it was ok devalue their currency ( hard for our companies to compete), heavily tax our products into their country ( The US doesn’t tax them) or to build a massive military complex in the middle of South China sea?) I don’t think so.

    Sự cứng rắn trong những lời tuyên bố vừa qua ,dù chưa nhậm chức, đã cho thấy lập trường dứt khoác của Trump, nói là làm, hầu lấy lại uy tín của Hoa Kỳ đã bị đánh mất, vì trong tám năm vừa qua, dưới thời của chính phủ Obama, với chủ trương chủ hòa hơn chủ chiến, đã đánh mất đi lòng tin của các đồng mình và đồng thời khiến Nga Xô và Trung Cộng đã xem thường và lấn áp Hoa kỳ qua việc , Nga ngang ngược cưởng chiếm Crimea, quấy rối ở miền Đông Ukaine cũng như nhảy vào nắm vai trò quyết định chính ở  Trung Đông ( Syria) và Trung Cộng đã tung hoành cho xây cất  các đảo nhân tạo và các căn cứ quân sự với những dàn hỏa tiển phòng không khắp nơi ở biển Đông.

trump

    Để lấy lại uy thế và vai trò lãnh đạo thế giới của mình, trong lúc tranh cử, Trump đã tuyên bố hai việc trước mắt phải làm sau khi nhiệm chức là, giải quyết vấn đề Isis và kinh tế bất quân bình với Trung Cộng.

   Đối với Isis, vì Obama đã không có biện pháp quân sự mạnh nào, sau khi Bashar al-Assad của Syria vượt qua làn mức đỏ nên Nga đã ngang nhiên bước vào nắm thế chủ động về mọi vấn đề tại Isis, Syria và cả Trung Đông. Do đó trong tình huống này, Hoa Kỳ không thể đơn phương giải quyết ở Trung Đông, trong đó có Isis, Syria…..được, và cũng để đề phòng liên minh Nga-Trung nếu có ở tương lai nên buộc lòng Hoa Kỳ phải hợp tác với Nga.

    Để cho việc thương thuyết với Nga được dễ dàng sau này, Trump đã chọn một người đã làm cho cả thế giới ngỡ ngàng, vì người này, đã được huy chương cao quý của Nga do Putin trọng thưởng vào năm 2013 và chưa hề có một ngày kinh nghiệm nào về chính trị, đó là tổng giám đốc công ty Exxon Mobile Rex Tillerson vào giữ chức vụ ngoại trưởng ngoại giao. Nếu việc hòa hoản với Nga được thuận lợi thì Trump sẽ rảnh tay và dồn hết mọi nổ lực để triệt hạ tiềm năng kinh tế của Trung Cộng, tiềm năng này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến vai trò lãnh đạo thế giới của , Hoa Kỳ ở tương lai, nghĩa là Hoa Kỳ phải trực diện đối đầu với Trung Cộng. Nếu biến cố này thực sự xảy ra, sẽ làm cho Trung Cộng vô cùng nao núng và lo âu, vì nền kinh tế của Trung Cộng hiện nay đang trong thời kỳ tăng trưởng  thấp nhất cộng với nội bộ đã và đang đấu đá nhau để tranh giành nhau về quyền lực qua diệt tham nhũng, thì đây cũng là cơ hội tốt cho những thành phần thân Mỹ trong bộ chính trị Việt Nam trỗi dậy để hổ trợ cho phong trào đòi hỏi tự do, dân chủ tại Việt Nam để giải thể chế độ cộng sản Hà Nội.

    Để chuẩn bị cho việc thực hiện biến cố này,Trump đã chọn John R. Bolton, cựu đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc dưới thời Bush con, là nhân vật số 2 của bộ ngoại giao. Bolton đã từng nổi tiếng chống Trung Cộng tới cùng về xâm chiếm biển Đông và yểm trợ cộng sản Bắc Triều Tiên chế bom nguyên tử.

    Chỉ mới nhìn qua cách phản ứng của Trump đối với Trung Cộng qua cuộc điện đàm chúc mừng của Thái Anh Văn với Trump trong 10 phút, và việc chọn người cho bộ ngoại giao, Rex Tillerson, John R. Bolton và tướng thủy quân lục chiến “Mad Dog” James Mattis bộ trưởng bộ quốc phòng của nội các sắp tới , cho thấy ông sẽ là, người sẵn sàng hành động mạnh, nếu những việc đó làm thiệt hại đến quyền lợi của America first hay làm mờ đi uy danh của Make America Great Again và cũng có thể  những điều này có được đề cập đến, một trong nhiều vấn đề được thảo luận trong buổi gặp gỡ giữa Trump và Bill Gate nên khi Bill Gate vừa bước ra khỏi phòng họp, ông rất lạc quan và phấn khởi và đã tuyên bố, trước đây tôi từng ủng hộ Hillary Clinton nhưng hiện nay tôi quay về ủng hộ Donald Trump, vì qua thảo luận, tôi đã thấy được chính sách của Trump  sẽ mở ra một con đường mới cho đất nước và hy vọng rằng, con đường mới này, sẽ đưa đất nước đạt đến chốn thịnh vượng mà chúng ta đang kỳ vọng và mong muốn.

    Không biết sự thể sẽ như thế nào? Let’s Wait And See, Hãy Chờ Và Sẽ Biết, khi Trump lên điều hành đất nước trong cương vị tổng thống.

 

Nhã Nam

Hoạ sĩ Nguyễn Đình Thuần,
trăng và thiếu nữ Hoàng Thành

ndt-chan-dung

Trịnh Thanh Thủy thực hiện

 

Một ngày tôi gặp người thiếu nữ đẹp ngời áo vàng hoa cúc ở nhà họa sĩ Nguyễn Đình Thuần. Tóc nàng là những dải mây mang sóng đại dương xanh ngát. Ánh trăng hoàng thành lấp lánh trải lân tinh lên tóc nàng làm nổi bật bọt sóng trắng giữa bờ tóc đen. Đằng sau khuôn mặt thanh tú là vùng trời đá dựng, tạo một vòng cung ôm ấp lấy mảnh trăng chưa chín nửa vàng, nửa xanh. Bố cục xanh, lam, chàm, tím đậm lạt khiến nổi bật làn da và màu áo quyền quí của những triều đại Huế xa xưa. Nàng gợi nhớ một thời “Ngày xưa Hoàng Thị”, em tan trường về, anh theo Ngọ về của bao chàng trai si tình, mê luyến.

trang-hoang-thanh

Trăng Hoàng Thành, sơn dầu

Tôi bỗng nhận ra mình “fell in love” với bức tranh sơn dầu “Trăng Hoàng Thành” của Nguyễn Đình Thuần quá đỗi. Bức này theo tôi, ông vẽ với phong cách Ấn Tượng của tranh thiếu nữ vào những thập niên 50, 60. Ông cũng từng bước vào thử nghiệm thể loại Siêu Thực trong 10 năm. Tuy nhiên sau này phần lớn tranh ông có phong cách Trừu Tượng

Nguyễn Đình Thuần sinh năm 1948 tốt nghiệp Viện Mỹ Thuật Huế năm 1973 và triển lãm tranh cũng trong năm này tại Hội Việt Mỹ Đà Nẵng. Là thành viên của the East Hawaii Cultural Council-USA. Ông đã từng có tranh triển lãm tại các tiểu bang ở Hoa Kỳ, ngoại quốc và Việt Nam.

Trịnh Thanh Thủy: Anh có thể chia sẻ cùng độc giả lý do tại sao anh chọn ngành mỹ thuật và theo học ở trường Mỹ Thuật Huế?

Nguyễn Đình Thuần: Xong Trung Học, tôi bắt đầu đi làm. Theo tôi, trong chiến tranh Việt Nam ít ai thuận tình nhập cuộc vào đó khi có điều kiện. Họ không chịu khoác áo lính vì họ suy nghĩ nhiều về cuộc chiến Nam Bắc, nên họ không muốn đi. Tôi cũng không muốn nhập ngũ nên đã làm sụt tuổi khi đến hạn quân dịch. Trường Mỹ Thuật Huế gần nhà, tôi vào dự thi tuyển. Có 150 thí sinh, họ chọn ra 15 người, tôi là người đứng thứ 15. Sau đó tôi được hoãn dịch vì lý do học vấn. Đến khi tốt nghiệp ngành Mỹ Thuật vừa lúc mất nước, tôi di tản qua Mỹ.

TTT: T có xem những tranh lụa của các hoạ sĩ Việt ngày trước và rất thích. Trong một cuộc trò chuyện anh có tiết lộ khi còn theo học Mỹ Thuật Huế, anh học chuyên ngành về tranh luạ. Xin anh cho biết một chút về cách dạy hàn lâm của trường này ngày đó về kỹ thuật vẽ tranh lụa Việt Nam?

NĐT: Tôi xin kể vắn tắt một chút về kỹ thuật làm và vẽ tranh lụa. Có 2 phương thức để thực hiện. Một: Vẽ trực tiếp lên lụa bằng màu khô, dạng như trang trí. Chị Nguyễn Thị Tâm ở trường Mỹ Thuật Gia Định có làm một số như vậy cho nó nhanh. Hai: Vẽ theo lối truyền thống. Lụa vốn là lụa tơ nên ăn màu, còn lụa nylon không ăn màu. Để chuẩn bị cho một tấm lụa vẽ tranh, phải sửa soạn hồ, để tráng lên lụa mấy lớp. Mục đích để khi khô vẽ cho có nét, và cho màu không bị nhoè ra ngoài. Tuy nhiên trong khi tô 1, 2 lớp màu, phải rửa từ từ cho đến khi tấm lụa chỉ còn màu mà không còn hồ nữa. Sau đó dùng bàn chải đánh cho màu thấm vào. Khi độ đậm nhạt đã hoàn chỉnh, đó là lúc những hạt, sớ lụa đã thấm màu hoàn toàn, mặt trước cũng như mặt sau. Kỹ thuật vẽ lụa phải rất cẩn thận. Giả dụ khi vẽ người, vật hay phong cảnh trên lụa trước đó phải có sẵn bố cục, hình ảnh rồi vẽ phác mọi thứ vào bản nháp, vẽ tới, vẽ lui, chọn những nét chính đáng giữ lại sau đó mới đồ lên lụa, xong cho màu vào. Màu phải pha màu nước ở ngoài trước. Tỷ như muốn vẽ một màu tím, có thể pha màu đỏ, xanh ở ngoài chén nước màu loãng và tô cho thấm vào sớ lụa. Có khi một mảng màu phải tô cả trăm lần mới thấm, từ nhạt tới đậm dần theo ý của mình. Ngược lại mảng màu sẽ trở nên cứng ngắc vì nó không thấm vào hoặc không đi đâu cả. Thành ra muốn vẽ áo của một cô gái màu tím, mình có thể bỏ một lớp nhẹ màu đỏ thiệt mỏng. Phải dự trù cái màu đỏ ấy nó lên độ đậm nhạt thế nào, rồi dùng màu xanh phủ lên cho nó ra màu tím. Tranh lụa đòi hỏi sự tỉ mỉ thận trọng. Có khi trên bàn có cả trăm chén màu pha sẵn. Màu vẽ ngày xưa không được tốt như bây giờ trong đó có bột mà vải lụa không thể để có bột lợn cợn nên màu phải pha ra từng chén rồi tô lên lụa cả tram lần cho tới sắc độ vừa ý mới được. Cực vô cùng.

TTT: Nghe anh kể vẽ tranh lụa ngày xưa khổ quá, vậy rồi vẽ sai phải bỏ hết? chắc tốn kém lắm vì lụa đắt?

NDT: So với sơn dầu, ngày ấy lụa rẻ hơn nhiều. Một tấm lụa chỉ vài trăm đồng trong khi một ống màu đã mấy trăm đồng rồi. Thời đó tôi nghèo đâu có tiền mua sơn, mua bố, hơn nữa một năm chỉ cần 2 bài sáng tác thì đâu có tốn hao bao nhiêu nên tôi học vẽ tranh lụa. Tuy nhiên học vẽ tranh lụa có lợi vì sau này khi vẽ tranh sáng tác mình giỏi hơn về “Cơ thể học” và kỹ thuật chồng màu vì khi qua vẽ tranh sơn dầu cũng xử dụng những kỹ thuật này y như vậy.

 

Để tôi kể thêm về lý do tại sao tôi chọn lụa. Thầy dạy vẽ tranh lụa của tôi là Phạm Đăng Trí. Ông đã học dự bị ở Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương và dày kinh nghiệm về màu sắc tranh lụa. Một bức tranh của ông là “Người suối bạc” được giải khuyến khích ngoài Bắc thời đó, bạn ông là Xuân Diệu thỉnh thoảng có nhắc tới tên ông. Ở trường Mỹ Thuật, những sinh viên muốn nhập vào dòng nghệ sĩ sáng tác phần lớn chọn vẽ sơn dầu. Tranh lụa dành cho phụ nữ vì họ kiên nhẫn, tỉ mỉ, dịu dàng, hoà nhã, không nóng nảy như thanh niên, nên nó phù hợp với họ hơn. Do đó lớp dạy tranh lụa tuyển sinh viên ưu tiên cho phái nữ. Tuy nhiên khi ấy chỉ có 2 người nữ, không lẽ thầy PĐT chỉ dạy 2 người nên ông cố vận động cho lớp đông đến con số 7, thành ra 2 nữ mà có tới 5 nam!.

TTT: Anh học về tranh lụa mà lại vẽ toàn sơn dầu, xin cho biết lý do vì sao?

NĐT: Ở trường Mỹ Thuật, trong hai năm đầu sinh viên được học đủ các bộ môn là nhiệm ý có thực nghiệm. Năm thứ ba sẽ là lúc chọn ngành như luạ, sơn dầu, điêu khắc, sơn mài..v..v..

Vẽ sơn dầu rất thong thả không đòi hỏi nhiều kỹ thuật như tranh lụa cần sự mịn màng, chuẩn bị kỹ lưỡnng, không đáp ứng được tâm hồn mình lại rị mọ, hợp phụ nữ hơn nên năm thứ ba, tôi chọn vẽ sơn dầu. Vả lại những chiêm nghiệm có được lúc học vẽ tranh lụa, tôi đem qua bên sơn dầu rất có lợi. Nói đến việc chuyển tải tâm tình của tác giả trong tranh lụa chỉ có tính biểu diễn, hình thể như người và hoa cỏ thôi. Sơn dầu trực tiếp đưa tâm hồn người vẽ vào tranh, nó khiến người vẽ dễ diễn dạt cảm xúc và ý tưởng trừu tượng của mình. Theo tôi, tranh lụa có nhiều vẻ trang trí, cốt yếu làm thoả mãn cảm xúc và cảm quan người xem do bố cục, màu sắc và hình ảnh hài hoà. Sơn dầu đánh động trực tiếp, có khi đường cọ mình đi rất tình cờ không một ý niệm, đó chính là tâm tình của mình. Không gò bó, tự do thênh thang.

truu-tuong-ndt

 Tranh Trừu Tượng

 

TTT: Pablo Picasso có nói “Không có nghệ thuật trừu tượng. Bạn phải luôn luôn bắt đầu với một cái gì. Sau đó bạn có thể loại bỏ tất cả dấu vết của hiện thực.” Anh nghĩ sao về tranh trừu tượng và có cảm tưởng gì khi sáng tác tranh trừu tượng?

NĐT: Nghệ thuật trừu tượng không thể hiện đối tượng một cách hiện thực như mắt nhìn thấy, mà biểu thị những ý nghĩ, cảm xúc của nghệ sĩ về một vài nét nào đó của đối tượng. Trong nghệ thuật tạo hình, trừu tượng là sự phát huy yếu tố biểu đạt của đường nét, hình khối, màu sắc để thể hiện ý tưởng hay cảm xúc(theo wiki).

Một xu hướng trừu tượng là gì? Theo tôi, nghĩa là sau khi có căn bản về hình thể, người và cảnh vật, mọi thứ mà con mắt nhìn thấy, người sáng tạo sẽ đi tới trước với quần chúng khi bước vào xu hướng trừu tượng.

Vẽ trừu tượng, với tôi nó là một thứ giải toả tâm hồn mình, sau khi nhận chân thẩm mỹ và đi xuyên qua các thang bậc của hội hoạ hình thể, bố cục, màu sắc. Trừu tượng thích hợp với sự bộc phát của tâm hồn. Nó đẩy thẳng một cách trực tiếp tâm tư người vẽ vào tranh, không cần chọn lựa và gò bó bởi hình thể. Trong trừu tượng cái “trừu tượng” là bậc trên của “không hình dung” nữa, chứ không phải là trừu tượng không. Cái “không hình dung” nó đi thẳng vào tâm hồn người thưởng ngoạn. Họ có thể không nhìn thấy theo cái ý niệm “nhìn là phải thấy một cái gì đó”. Trừu tượng có lợi thế đi thẳng vào lòng người do tác động sắp xếp của bố cục của người vẽ, từ màu sắc cho đến độ đậm nhạt. Ví dụ khi một hoạ sĩ dùng một mảng màu trông bàng bạc, có người thấy nó nhìn giống màu mây ở quê nhà mình ngày xưa, người lại cho là nó tựa một cách đồng ở nơi mình đang sống. Nó chính là cảm thụ riêng của mỗi người. Nghệ thuật trừu tượng đi tới một độ sâu hơn, y như một câu thơ của Nguyễn Xuân Xanh “Đáy địa mùa đi nhịp hải hà”. Câu thơ đọc lên nghe rất hay, nghe được sự chuyển động của từ ngữ mà câu thơ đó không biết nghĩa gì. Thành ra có khi người làm thơ dùng một ngữ nghĩa không có nghĩa mà đánh động tới tâm hồn người đọc. Bên hội hoạ màu sắc là thứ ngôn ngữ trực cảm, trừu tượng đánh động thẳng vào cảm thụ của người xem.

siu-tim

 Tranh siêu thực “Sáu/Tám”, sơn dầu 50×50

 

TTT: Trong cuộc sống, con người thường có một chỗ dựa tâm linh là một tôn giáo. Trong một cuộc đàm đạo, anh cho biết tôn giáo của anh là “Mỹ thuật” . Xin anh cho biết tại sao Mỹ Thuật đã ảnh hưởng đời sống tâm linh của anh thế nào?

 

NĐT: Thường ngày tôi thường nói chơi với bằng hữu như thế do quan niệm về tôn giáo của con người. Tỷ như các đạo Thiên Chúa Giáo, Phật Giáo, Lão Giáo chẳng hạn, đều có mục đích đem đến sự bình an cho tinh thần và cuộc sống. Do đó tất cả đều quy về việc làm đẹp cá nhân và tập thể, trong cố gắng xây dựng nên một tâm thể bình an, mới tạo được một xã hội có trật tự và hoà bình. Mỹ thuật cũng vậy, làm đẹp con người và cuộc sống. Người làm mỹ thuật cố gắng làm đẹp tôn giáo của mình theo đường hướng màu sắc. Giống các hoạ sĩ sáng tác để lại những hoạ phẩm đẹp, như các tôn giáo muốn con người sống lương thiện với nhau, sống, cư xử sao cho đẹp. Nên tôi xem mỹ thuật như một tôn giáo vậy.

TTT: Cảm ơn anh, Chúc anh sáng tác sung mãn và ngày càng thành công hơn nữa.

 

Trịnh Thanh Thủy

 

745d363a81efe83b3d2b206b2cf4b5cf

Rồi thôi buồn cũng cũ

 

Mai mốt rồi thôi buồn cũng cũ
Mộng chút rong rêu phủ lại mình
Rồi cũng ngày qua mùi gió chớm
Trong tàn thư cũ mùa đau thương

Em thôi gác lại điều thương nhớ
Dựa dẫm lời ca một nỗi buồn
Đợi người canh sương về đếm lá
Khỏa bên đồi xanh tuổi đôi mươi

Mai mốt rồi thôi buồn cũng cũ
Em chớ đùa vui mộng giữa ngày
Tóc mai trổ nhánh ngày tím biếc
Xin đừng rót mộng màu thủy chung

Đành em một nhánh mùa cúc cũ
Vàng tươi rực nở cuối thu tàn
Người sẽ đi qua không ngoái lại
Nhìn nhau thật rõ cọng đông tan

Mai mốt rồi em chớm trăm năm
Đường liêu xiêu lạnh đường buốt căm
Chờ nhau, kẻ canh sương ngày ấy
Thu xếp một ngày chuyện cỏ cây

 

Nguyễn Hoàng Anh Thư

 

Bài thơ đã được phổ thành nhạc:

https://www.youtube.com/watch?v=JvOCbSpjRv0

 

mythofmychau

Tranh Nguyễn Trọng Khôi – Truyền Thuyết nàng Mỵ Châu , sơn dầu trên bố gai 40 x 60

 

TÌNH SỬ CỔ LOA THÀNH

( Truyện Tình Mỵ Châu – Trọng Thuỷ )

 

 

Trong cung cấm sao chàng lặng lẽ,

Không cười vui bên thiếp hiền ngoan. 

Chung mỹ tửu chiều nay ướp lệ

Chàng không vui , lòng thiếp ngỡ ngàng. 

 

Khúc Nghê Thường xiêm y rực rỡ

Rượu Bồ đào cùng uống chung môi. 

Hồi cố quốc chàng xa một thuở

Rồi lại quay về ta sánh đôi. 

 

Chàng đi ngàn dặm ngoài biên ải,

Lòng thiếp theo chàng đến cố cung.

Đâu biết lần đi là mãi mãi

Đời không cho nữa, phút tương phùng !

 

Ngàn dặm trông theo hút bóng chàng,

Trường đình quạnh vắng chẳng tin sang

Thẩn thờ gối chiếc canh thâu vắng

Một nửa vầng trăng luống bẽ bàng!

 

Tin hồng chưa lại đã can qua,

Binh biến nghiêng trời đất Cổ-Loa

Cha vững tin nỏ thần linh nghiệm

Thiếp cũng nào hay chuyện chính tà!

 

Nỏ tráo móng thiêng, thành đã mất

Em bên cha trên bước bôn đào

Nước mất, tim đau lòng quặn thắt

Tìm chàng đâu muôn nẻo binh đao ?!

 

Đâu ngờ chàng mang tâm bội bạc,

Chia tay còn hẹn buổi tao phùng. 

Lỡ binh biến phận người trôi giạt,

Lông ngỗng đưa đường cho trọn tình chung. 

 

Lông ngỗng trắng rơi dài tuyệt lộ

Nặng tình đâu cảnh giác chi cùng

Sống hết lòng mình như thác đổ

Em yêu chàng vô thủy, vô chung!!

 

Thần phán rằng : “Nàng là giặc dữ “

Cha nhìn lông ngỗng trắng sơn khê

Lòng con vằng vặc như sao tỏ

Phụ vương ơi ! Oan khuất con về…

 

Lời hẹn thề xưa chàng đã trễ

Giếng xưa chôn một khối u tình

Sóng biển đã chan hòa máu lệ

Duyên mình tan tác bởi đao binh. 

 

Ngọc trai nàng rực sáng long lanh

Khi rữa vào trong giếng Cổ thành

Tham đoạt đế quyền rồi cũng tắt

Còn vầng mây đáy giếng mông mênh!

 

Giếng Ngọc xưa chôn vùi hận cũ,

Giả hiếu hoà để chiếm cơ đồ

Thành Cổ-Loa điêu tàn sương phủ,

Lầm một lần, hận đến thiên thu!!

 

Bạc tình chàng quên nghĩa phu thê

Quên cả lời xưa buổi hẹn về. ‘

Đem tấm tình son vùi gió cát

Đất rộng trời cao thẹn ước thề !!

 

Phụ tình chàng quên cả ân sâu

Mưu đồ tham vọng giết đời nhau

Nàng sống trọn lòng không giới hạn

Tình sử ngàn năm tiếc Mỵ Châu.

 

UYÊN THÚY LÂM
(Boston)

Thơ Lê Anh

cuoctinh

Người Em Viễn Xứ

 

Em đi sầu bỏ lại         

Thành phố muộn lên đèn

Hàng cây gầy bóng rũ

Bên những con đường quen

           

Em là chim bỏ núi

Lạc mất miền thơ ngây

Bóng chim di còn dấu

Gói mộng vào chân mây  

 

Chiều xế tàn khói bay

Bến đời thương đã lỡ

Tình nào như hoa vỡ

Chết hương nguyền từ đây

 

Em chia ly nhớ gì ?

Có nghe lòng lắm khi

Mây che ngang lối về

Mây xa dần trôi đi

 

Ơi ! tình em rét mướt         

Buốt tim này mốt mai    

Nhớ em sầu mắt đỏ

Biết trong lòng vì ai ?!

 

Em nơi nào xa thẳm

Tình rưng sầu bỏ lại

Em có gì để nhớ

Cách đôi đời từ nay

Em còn gì để nhớ

Khuất sau lần chia tay…

 

Lê Anh

 

 

 

Tóc Buồn

 

 

Tóc buồn chẻ ngọn về sau

Gió đông sợi lạnh tìm nhau đầu ngày

Những đường ngôi rẽ tóc bay

Những chân tóc dựng lên cày mốc meo

Hư hao nẻo cũ về đèo     

Nắng thương tay ngọc phận nghèo dặm qua

Tóc dài nửa mộng phù sa

Chút vui trên áo xiêm pha lệ thầm

Tóc buồn gương lược xa xăm

Em hong nắng muộn nhớ năm cùng người.

 

Lê Anh.

 

 

tetdinhdau

Hành Trình Tìm Dĩ Vãng:  Texas 2016

bo

Trần Thu Miên,
Tuỳ bút ngao du

 Cây có thời đơm chồi nẩy nụ rồi có thời rụng lá trụi trơ.  Đời người cũng có lúc có thời. Ở tuổi mới lớn ta thích bỏ nhà đi chơi với bạn. Thời học sinh hay sinh sinh viên là thời vừa học vừa chơi. Thời tỵ nạn, ở tuổi 20 của tôi và của nhiều người người Việt Nam tại Mỹ là thời để làm, để học, và cũng để rong chơi với bạn bè. Rồi ngay sau khi học xong là thời chia tay gia đình bạn bè đi làm, lấy chồng, hay tìm vợ. Lần sau cùng họp bạn đông đủ của một số người, có lẽ, là lúc đi dự tiệc cưới của nhau.  Tiếp nối là thời đầu tắt mặt tối dành dụm để mua nhà, sinh con, nuôi con, và chờ con khôn lớn.  Khi con lớn khôn bỏ nhà ra đi là thời sửa soạn về hưu.  Người ở miền giá lạnh có thể suy nghĩ đến việc bán nhà tìm đường về những miền nắng ấm. Và thời gian này cũng là thời bạn bè thường gặp lại nhau ở những đám tang của người quen.  Đây có lẽ là thời sửa soạn bước vào ngõ hẹp cuối đời.

bo

     Trong quyển cổ kinh, Ecclesiastes-3, của Do Thái Giáo mà Thiên Chúa Giáo gọi là sách Cựu Ước, chương thứ ba có một bài thơ tôi rất yêu thích. Tôi dịch thoáng bài này cho bằng hữu đọc dựa theo bản Anh Ngữ của quyển Kinh Thánh Thế Giới Hiện Đại (New International Version-NIV).  Ai muốn đọc các bản tiếng Việt  khác của bài bài thơ này có thể tìm đọc trong các sách Kinh Thánh Công Giáo hay Tin Lành.  Theo truyền thuyết thì tác giả của bài kinh thi cổ này có lẽ là vua Do Thái Solomon.

Mỗi Thời Mỗi Sự

Ở dưới bầu trời này

Việc gì chả có lúc sự gì chả có thời:

Một thời chào đời rồi một thời để chết/

Một thời trồng cây và một thời nhổ rễ/

Một thời chém giết và một thời chữa lành/

Một thời phá tan và một thời dựng xây/

Một thời rơi lệ và một thời vui cười/

Một thời than khóc và một thời nhảy múa/

Một thời rải đá và một thời gom lại/

Một thời gần gũi và một thời lạnh lùng/

Một thời tìm kiếm và một thời buông thả/

Một thời gom góp và một thời cho đi/

Một thời phá đổ và một thời hàn gắn/

Một thời lặng thinh và một thời lên tiếng/

Một thời để yêu và một thời để ghét/

Một thời gây chiến và một thời làm hoà.

     Những lời kinh cổ xưa này đọc lên nghe còn mới lạ và đúng quá.  Đã đến thời mình bảo, “Bây giờ tôi đang già, ngồi kể chuyện đời tôi.” Đấy là lời thơ một ca khúc tôi viết về đời mình. Tâm sự người đang xuống dốc cuộc đời chợt nhìn thấy bóng hoàng hôn dưới chân đồi rồi nghĩ lại dĩ vãng.  Tôi đang bước vào giai đoạn đời sống chuyển mình từ “Một thời tìm kiếm” sang “Một thời buông thả.” Bởi vì tất cả những gì ta tìm kiếm rồi cũng phải bỏ đi vì có muốn giữ lại cũng không được.  Người có mười căn nhà hay người không nhà rồi cũng giống nhau, cũng đến “Một thời để chết.” Nói vậy không có nghĩa là bi quan, nhưng ngược lại. 

     Sau hơn 40 năm lao đầu vào cuộc đời tỵ nạn rồi chuyển sang thân phận biệt xứ.  Bây giờ đời sống đang ngắn lại từng tích tắc.  Nhiều bằng hữu hay người quen vẫn nhất quyết chưa chấp nhận thân phận biệt xứ vì họ bảo nơi này không phải là quê hương dù đã giơ tay tuyên thệ xin làm công dân Hoa Kỳ từ lâu rồi.  Đấy là một nghịch lý, ai muốn nghĩ sao cũng được.  Riêng tôi, tôi đã chấp nhận phận biệt xứ và chấp nhận được chết ở xứ sở này.  Xứ sở đã nuôi dưỡng tôi hơn 40 mươi năm qua.

     Mình đã bỏ nhà đi xa 50 mươi năm.  Đúng nửa thế kỷ. Một người bạn thân, từ Việt Nam, gần đây gửi điện thư thăm hỏi mùa Giáng Sinh và rủ tôi về họp mặt kỷ niệm 50 năm chúng tôi vào trú học ở tu viện Châu Sơn, Đơn Dương Tuyên Đức.  Như vậy là những đứa bạn cùng lớp tôi bây giờ đã bước vào tuổi sáu mươi, thời làm ông nội ông ngoại. Tôi chỉ mới đến thời nhìn con bỏ nhà đi xa vì lấy vợ và có con trễ.  Nhưng bây giờ, có lẽ,  là thời tôi cần đi tìm lại gia đình và bạn bè trước khi đời sống đóng cửa bất ngờ.  Gia đình của tôi cũng như của nhiều người, có cả gia đình bên vợ bên chồng.  Mùa Giáng Sinh này tôi theo vợ mang con về Texas thăm gia đình vợ, rồi gia đình anh em của tôi, và sau cùng là những người bạn cũ.  Tôi bảo mình về lại Texas vì đấy là nơi tôi đã sống xấp xỉ 7 năm đầu đời tỵ nạn. Bảy năm có bạn bè và người quen.  Đã có thời tôi nghĩ thành phố Arlington và University of Texas at Arlington là quê hương thứ hai và không có nơi nào tốt đẹp hơn.  Thời sinh viên, cuối thập niên 70, tôi đã viết một ca khúc ca tụng các nàng sinh viên Việt Nam ở UTA, bài hát này đã được đàn anh của tôi HS Nguyễn Trọng Khôi thực hiện một du-tup.  Anh là người phối nhạc, ghép hình ảnh và hát “Bài Tình Ca Cho Cô Sinh Viên UTA”:

     Hành Trình Theo Nhà Tôi.  Trước ngày lên đường về Texas, tôi “vâng lời” đi theo vợ lùng mua 30 con tôm hùm để làm quà họp mặt gia đình vợ.  Boston là vựa tôm hùm nhưng nếu mua 30 con tôm hùm cùng cỡ khoảng hai pounds trở lên trong một chợ thực phẩm thì hơi khó.  Có tiệm hạ giá nhưng chỉ được mua tối đa năm con vì là ngày áp lễ Giáng Sinh nên nhiều khách mua tôm hùm về ăn mừng lễ hay đãi khách phương xa.  Chúng tôi phải đi hai chợ thực phẩm mới mua đủ 30 con tôm hùm.  Tôm hùm luộc chín để lạnh dưới 40 độ F có thể giữ mùi vị tươi trong vòng 4 ngày. Tôi có trách nhiệm luộc tôm hùm, rồi nghiêm túc bọc từng con trong giấy bạc, ướp lạnh ngay trước khi đóng thùng giữ lạnh để lên đường sáng mai.  Cùng lúc Usa ngồi gói hoành thánh sửa soạn tiệc Giáng Sinh cho các con ăn tối trước khi lên đường.  Từ nhiều năm qua, gia đình tôi chỉ ăn mì hoành thánh, một năm một lần tại nhà, vào tối áp lễ Giáng Sinh sau khi đi lễ đêm về; trừ khi Usa bận bịu.  Vợ chồng mỗi người một việc sửa soạn quà lên đường và bữa ăn sau lễ đêm để các con mở quà thay vì đợi sáng sớm ngày Giáng Sinh như mọi năm.  Sống ở Mỹ hơn 40 năm nhưng tôi vẫn chưa quen phong tục trao đổi quà ngày Giáng Sinh.  Tuy vậy, năm nào tôi cũng có quà từ vợ con.  Vợ tôi là người chuyên mua quà cho cả nhà.   Khi các con còn bé, nàng mua quà rồi đề tên các con tôi tặng tôi.  Bây giờ con đã lớn nên tự mua quà tặng bố.  Nhưng bố vẫn chưa quen mua quà gói lại tặng con tặng mẹ.

      Sáng ngày Giáng Sinh gia đình tôi dậy sớm để kịp chuyến bay lúc 8:00 từ Boston đi Houston.  Thay vì đi Taxi ra phi phường, chúng tôi quyết định lái xe rồi đậu tại bến đậu xe dài hạn của phi trường.  Tốn tiền hơn nhưng tiện vì ngoài hai thùng tôm hùm còn hành lý của năm người kể cả ông cụ 87 tuổi, bố vợ tôi, người đã chung sống với chúng tôi hơn 20 năm.  Đến phi trường lấy vé tàu bay và gửi hàng chúng tôi mới vỡ lẽ ra là hãng hàng không chỉ cho gửi mỗi thùng hành lý nặng tối đa 50 pounds.  Cũng vì lười không chịu lên mạng đọc hướng dẫn về hành lý mang theo tàu bay.  Một trong hai thùng tôm hùm cân nặng trên 60 pounds còn thùng nhỏ hơn cũng xấp xỉ 50 pounds. Cước phí bình thường cho mỗi thùng gửi đi là 25 đô la.  Không lấy bớt ra cho vừa 50 pounds mỗi thùng, chúng tôi phải đóng thêm một trăm đô la để gửi quà đi. Nếu đi một mình, đương nhiên tôi đã cắn răng đóng tiền phạt, nhưng Usa quyết định lấy bớt ra rồi xách tay lên tàu bay.  Tôi cực lực phản đối nhưng cuối cùng chịu thua vì sợ nàng lên cơn thịnh nộ làm hỏng cả chuyến đi.  Đành hỳ hục gỡ băng keo đã dán kỹ trên nắp thùng rồi vội vã lấy 5 con tôm hùm nhỏ nhất khỏi thùng.  Cân lại thùng vẫn nặng gần 51 pounds, nhưng cô tiếp viên thương hại cho phép gửi thùng đi. Lúc đầu tôi để mặc vợ khệ nệ xách 5 con tôm hùm gói kín trong nhiều lớp bao rác xin được từ người lau chùi phi trường, nhưng sau vì thương nàng nên đành ngậm miệng xách túi tôm hùm lên tàu bay, nhưng cứ nơm nớp sợ bao rách thì phiền vì mùi tôm luộc có thể làm hành khách dị ứng.  Càng già mình càng chiêm nghiệm rằng việc nể nang vợ là đức tính quí của người quân tử.  Kẻ hèn lúc nào cũng muốn hơn người hay muốn áp đảo người khác.  Nói vậy để cho mình tự tin, ai thấy hay thì cứ thế mà làm.

     Chuyến bay sớm, dài gần bốn giờ đồng hồ, đưa tôi trở lại Houston, thành phố tôi đã đến nhiều lần thời sinh viên với mấy thằng bạn để tán gái hay ra Galveston tắm biển.  Đã có lần ngủ sân đậu xe của khách sạn để buổi sáng vào hotel dùng phòng vệ sinh rửa mặt trước khi đến thăm nhà các em.  Mẹ các em hỏi, “Đêm qua ngủ ở đâu?” Chúng tôi nhanh nhẩu trả lời, “Thưa chúng cháu ngủ ở hotel.”  Nghe rất sang.  Sau này đi dạy học tôi cũng ghé lại Houston vài lần để tham dự những buổi hội nghị giáo dục liên quan đến việc làm.  Có những người bạn Châu Sơn và những bạn tôi quen thời đi học ở Arlington nay cũng về lập nghiệp tại đây.  Riêng gia đình vợ tôi, các chị em vợ đã lập nghiệp ở Houston và Austin trên dưới 10 năm qua.  Ông anh ruột của tôi và các cháu tôi cũng đang sinh sống tại đây và ở vài thành phố khác của Texas.

     Chuyến về Texas của tôi vỏn vẹn đúng 6 ngày, 2 ngày di chuyển còn 4 ngày gặp gia đình và bạn bè.  Đến Houston chiều Chủ Nhật ở lại để đoàn tụ với gia đình bên vợ rồi lên đường đi Arlington sáng Thứ Tư, trở lại Houston đêm thứ Năm, và lên đường về lại Boston chiều Thứ Sáu.  Gia đình bên vợ tôi có người đến từ Tokyo, Japan, người đến từ Austin, Texas.  Nếu anh em họ bên vợ đến thăm dịp đoàn tụ này sẽ có ít nhất trên 30 chục người. 

    

     Bữa Tiệc Giáng Sinh Đại Gia Đình.  Từ nhiều năm qua, tôi trở chứng, khi đi thăm gia đình họ hàng tôi chỉ muốn đến chơi ban ngày rồi chui về hotel ngủ cho yên giấc không làm phiền ai vì giấc ngủ của tôi khác người.  Đêm nào tôi cũng thức dậy rất sớm, khoảng 3 giờ sáng, pha cà phê, rồi ngồi làm việc, trừ những lần uống rượu khuya ngà ngà với bạn bè.  Tôi đề nghị Usa thuê xe ngay tại phi trường và khách sạn để nghỉ lại trên đoạn hành trình tìm lại gia đình và bạn bè trong chuyến về Texas mùa Giáng Sinh này. 

     Sau khi ghi danh nhận phòng ở khách sạn, chúng tôi vội vã đến nhà cô em vợ để dự tiệc chiều Giáng Sinh với đại gia đình.  Đây là một bữa tiệc rất nhiêu khê. Trong số chị em và các cháu của vợ tôi, có người chỉ ăn rau cỏ và ngũ cốc, người kiêng ăn thịt các loại thú trên mặt đất, nhưng tôm cá thì thả dàn. Trên bàn tiệc có một món tôi ưa thích đã được người em rể của vợ tôi bỏ ra hai ngày làm để đãi đại gia đình.  Đó là món Barbecue thổ địa Texas.  Món thịt bò hun khói-đút lò này tốn ít nhất từ 12 đến 15 giờ đồng hồ chưa kể thời gian tẩm ướp các gia vị rồi để tủ lạnh từ 8 đến 24 giờ đồng hồ.  Mỗi lần ăn món này tôi đều nhớ lại thời hàn vi ở UTA, đi tiệm ăn là một việc rất hiếm hoi.  Tôi được ăn Barbecue lần đầu tiên là nhờ một người bạn tên V, anh học part time và có việc làm tốt nên dư giả, bây gờ anh ở Cali, thỉnh thoảng ghé rủ tôi đi ăn Barbecue ở một tiệm ăn tại Arlington.  Mới ăn lần đầu tôi đã mê ngay các món từ dồi nướng, sườn nướng, nhất là món thịt ngực của bò, brisket, nướng mềm.  Phần thịt này có nhiều thớ rất dai, nên phải nướng thật lâu. Tôi cũng như nhiều người Việt lớn lên chỉ ăn cơm với rau luộc quanh năm.  Mới sang Mỹ, thèm thịt, ra chợ thấy những miếng thịt Corn Beef hồng tươi được gói đẹp mắt rất vệ sinh, và rẻ, liền mua ngay miếng to nhất về nấu. Thịt này được bầy bán nhiều vào dịp lễ hội của người Mỹ gốc  Ái Nhĩ Lan. Corn Beef cũng là thịt brisket được tẩm ướp theo công thức đặc biệt.  Lần đầu háu ăn nấu vội, đến bữa cắt thịt ra, trông hấp dẫn, nhưng ngồi nhai mỏi hàm đến rụng răng thịt vẫn còn dai.  Đó là bài học kinh nghiệm vừa vui vừa quý. Trên bàn tiệc Giáng Sinh nhà vợ tôi có đủ các món cho cả người kiêng cữ và người ăn tùm lum như tôi.  Bên cạnh những đĩa sườn hun khói và bò brisket, còn có món cháo tạp nham -Gumbo- kiểu New Orleans,  và các loại rau từ sống đến chín.  Những con tôm hùm luộc chín mặc áo giấy bạc chúng tôi mang theo làm quà được cẩn thận giữ cho lạnh đúng nhiệt độ cần thiết để dành cho ngày mai.  Bữa tiệc Giáng Sinh có trẻ em, người lớn, và người già rộn rã từ trong nhà ra sân.  Rất vui.  Nhưng với tôi, đến thăm gia đình vợ một ngày là quá đủ.  Tôi ngỏ ý với Usa sau bữa tiệc buổi trưa sau ngày Giáng Sinh lúc rảnh rỗi chờ bữa tối, tôi muốn đi tìm thăm ít nhất là một người bạn của tôi vì thời giờ eo hẹp.  Tôi có khoảng chục người bạn ở Houston, nhưng họ ở rải rác nên khó gặp nhau, vả lại là mùa lễ nên ai cũng có trách nhiệm gia đình họ hàng đi thăm hết mọi người rất khó.

img952016112095100309196      

Tìm Thăm Bạn Cũ.  Buổi chiều trước khi rời Houston đi Arlington, Fort Worth và Tyler, tôi đã rủ được Usa bỏ nhà theo tôi tìm thăm anh Đoàn Bốn, và hẹn gia đình vợ sẽ về ăn tối với cả nhà đúng giờ. Anh Bốn giữ liên hệ với tu viện Châu Sơn vì có thời anh đã dừng chân đến tu viện và thấy mình yêu mến nơi chốn này.  Hai mươi năm trước tôi ghé Houston tham dự một hội nghị giáo dục, và được một anh bạn học cũ ở UTA dẫn đến thăm trường Việt Ngữ của một nhà thờ Công Giáo Việt Nam rất lớn để giao lưu với thầy cô và học sinh, lúc đó anh Bốn đang giữ chức hiệu trưởng của trường.  Sau lần gặp gỡ ngắn ngủi ấy tôi chưa gặp lại anh lần nào.  Nhưng vẫn biết anh còn giữ mối thâm tình với tu Viện Châu Sơn bền bỉ.  Bạn tôi, bây giờ đang làm viện trưởng hay viện phụ của tu viện Châu Sơn, mỗi lần công tác sang Hoa Kỳ đều dừng chân tại nhà anh Bốn.  Và đương nhiên lúc nào anh cũng tiếp đón ân cần rộng lượng.  Từ nhà cô em vợ tôi đến nông trại anh Bốn mất khoảng 45 phút lái xe. Khi đến nông trại chúng tôi gặp được cả anh Bốn và chị Bốn.  Anh Đoàn Bốn là người trồng hoa và cây cảnh nổi tiếng không những trong cộng Việt mà còn cả những cộng đồng Hoa Kỳ. Anh đã thực hiện rất nhiều chương trình TV rất giá trị về nghệ thuật trồng cây cảnh và hoa cho đồng hương hải ngoại. Anh dẫn chúng tôi đi thăm những căn nhà tiền chế đang trồng hàng chục ngàn cây hoa cúc vừa chớm nụ.  Anh cắt nghĩa những nụ cúc vàng này sẽ được nở bung đúng ngày đầu năm Tết ta.   Anh Bốn là nông dân trí thức (anh xưng mình là nông dân với tôi) nên việc canh tác trồng hoa và cây cảnh được anh nghiên cứu rất khoa học.  Thời tiền Cộng Sản anh là một nhà giáo.  Vượt biển sang Mỹ tỵ nạn anh học xong cử nhân toán trong ba năm rồi vì hoàn cảnh gia đình anh chuyển sang nghiệp nông dân trồng cây cảnh và hoa để giúp gia đình người anh.  Chỉ trong vòng một năm anh đã giúp trại hoa cây cảnh của người anh với thu nhập hàng năm từ vài chục ngàn nay đã lên bạc triệu. Anh đã từng được mời lên toà Bạch Ốc để được vinh danh như một tiểu thương gia nông dân gương mẫu và thành công vượt bậc.  Đi xem trại cây của anh một lúc, anh bắt về nhà dùng cơm tối.  Dĩ nhiên tôi nhận lời.  Trong khi chị Bốn ở lại làm và coi nhân công đến giờ đóng cửa mới về.  Anh để xe lại cho chị lái về sau. Tôi và Usa chở anh Bốn từ trại hoa về nhà.  Trên đường về, anh huy động hai người con trai của anh lau chùi nhà và nấu cơm chiều đãi khách.  Anh hãnh diện khoe các con anh đã lớn, nhưng vẫn quanh quẩn gần nhà và ba người con trai dù ai cũng trên 20 tuổi hàng ngày thay phiên nhau chuyên lo việc nấu nướng cho gia đình.  Anh bảo, “Tối nay cháu trai sẽ  đãi chú thím bữa cơm Tây chính hiệu.”  Anh kể con trai anh vừa đi học vừa làm cho một nhà hàng Pháp nổi tiếng nhất Houston.  Nghe vậy cũng đủ thòm thèm.  Nhưng kẹt cứng cho tôi vì phải đưa vợ về nhà dùng cơm tối với gia đình. Ngồi tán gẫu với anh Bốn và nghe anh kể chuyện đời tỵ nạn và công việc ở nông trại hoa trong lúc hai con trai anh đứng trong bếp chăm chú làm bếp khiến mình quên bẵng thời giờ.  Usa cứ đứng lên ngồi xuống không yên, lúc xem email lúc bấm lời nhắn về nhà.  Có lẽ nàng biết sẽ bị trễ cơm chiều với gia đình. 

     Khoảng 8:00 tối chúng tôi chia tay gia đình anh Bốn.  Xe vừa chuyển bánh tôi được nàng trút cơn thịnh nộ lên đầu như bị tạt hàng ngàn gáo nước lạnh.  Nào là “Anh xem bạn bè hơn gia đình vợ…,” hay “Cả mấy năm mới gặp lại gia đình mà anh bỏ đi thăm bạn quên cả giờ hẹn….,” lại thêm “Gia đình mỗi người một nơi lâu lâu có dịp họp mặt, mà lại bỏ đi, mặt mũi nào nữa!!!!”  Đương nhiên lúc nghe vợ cằn nhằn, tôi đã trở nên mềm nhũn hơn sợi bún luộc và chỉ còn biết ca bài tạ lỗi còn hơn tạ lỗi với Chúa.

in-n-out

 

 

     Về Lại Nơi Chốn Cũ.  Tôi đánh thức cả nhà dậy rất sớm, ăn sáng ngay trong khách sạn để lên đường đi Arlington. Từ Houston lên Arlington-Fort Worth lái xe mất khoảng 5 tiếng.  Con gái tôi dò mạng biết ở Arlington có tiệm ăn bình dân IN-N-OUT Burger bán loại Hamburger mà các con tôi rất thích lúc gia đình sống ở Cali.  Tiệm ăn này chỉ mới được mở ở Arlington vài năm qua bên tuyến xa lộ liên bang 20 lên Fort Worth.  Chúng tôi đã tính sẽ ghé lại tiệm cho các con ăn trưa rồi đưa gia đình đi ngang khuôn viên đại học UTA để các con nhìn thấy nơi bố đi học hơn 30 năm trước.  Xe vừa ngừng lại sân đậu của tiệm ăn, hai con đã vội vã, hớn hở vào tiệm xếp hàng mua thức ăn.  Tiệm IN-N-OUT Burger ở gần nhà cũ của chúng tôi bên Cali là tiệm ăn đúng ý nghĩa tên của tiệm có nghĩa là mua rồi ra xe hay tìm ghế ngoài sân tiệm ngồi ăn.  Trong tiệm không có chỗ ngồi.  Nhưng tiệm IN-N-OUT Burger ở Arlington là tiệm ăn lớn, khang trang với đầy đủ bàn ghế trong tiệm.  Có lẽ khí hậu mùa hè của Texas không cho phép khách ngồi ngoại tiệm ăn vì quá nóng.  Thức ăn có sức mạnh khơi lại kỷ niệm thời thơ ấu.  Chúng tôi biết nếu quanh vùng Boston có tiệm ăn này thì các con tôi đã không háo hức xin bố mẹ đi ăn.  Chính vì vậy, cách nào thì chúng tôi cũng phải ghé tiệm ăn IN-N-OUT Burger cho các con ăn để tìm lại hương vị và kỷ niệm của những năm tháng gia đình chúng tôi sống ở Cali.  Có những món ăn mình phải ăn thời bé bây giờ nghĩ lại vẫn còn tởn.  Nhưng lại có những món ăn dù đơn sơ đến mẫy vẫn có sức mạnh khơi dậy trong ta kỷ niệm êm đềm và hương vị của tuổi thơ.  Tôi vẫn nhớ những cọng rau lang luộc, đĩa dưa chua, hay bát canh rau đay mình ăn thời bé dại.  Mỗi lần được ăn các món này là mình có cảm giác như đang sống lại tuổi thơ nghèo đói ở quê xưa.  Ngày bé ăn cho no bụng, nhưng bây giờ ăn các món này để tìm lại hương vị cũ, và để biết rằng đời đã rộng lượng cưu mang mình mấy chục năm qua.

hopban      

Các bạn tôi liên tục gửi điện nhắn rồi lại gọi điện thoại dò xem khi nào chúng tôi đến Arlington. Trước khi rời Boston, bạn tôi, T.D., từ Arlington đã hỏi hành trình Texas của chúng tôi ra sao và khi nào đến Arlington.  Tôi đã hứa với Q.N. sẽ ghé nhà vợ chồng hai người bạn tình nghĩa này ở Fort Worth nên không thể nào ghé nhà vợ chồng T.D.  được.  T đề nghị mời Q.N. ghé nhà mình vì muốn rủ vài người bạn không quen biết Q.N. đến họp mặt. Tôi điện thoại D. người bạn lâu năm ở UTA, chúng tôi vẫn liên lạc thường xuyên, báo sẽ ghé Arlington, nhưng D. Cho biết đã hẹn nhau họp mặt tại nhà T.  Cuối cùng chúng tôi hẹn nhau tại nhà Q.N. Tôi hứa sẽ có mặt ở Arlington-Fort Worth khoảng 1:00 trưa nên phải rời Houston trễ nhất là 7:00 giờ sáng.  Chúng tôi chỉ có thể ghé Arlington-Fort Worth trong vòng 4 tiếng đồng hồ rồi lên đường đi Tyler trước khi trời tối vì đã hẹn cơm chiều với gia đình chị tôi.  Anh tôi đã từ Houston lên Tyler chờ từ hôm qua.  Cuối cùng vì buổi họp mặt với các bạn cũ của tôi vào buổi trưa nên chỉ vài người ghé lại nhà Q.N. được vì bận rộn công ăn việc làm.  Buổi họp mặt nhà Q.N. với các bạn cũ vẫn còn vang tiếng cười.  Kỷ niệm cũ được đem ra đánh bóng, thêm bớt tuỳ theo trí nhớ mỗi người, nhưng nghe vẫn êm tai lạ thường.  Bây giờ gặp nhau, ai cũng áo quần tươm tất, ngồi bàn cụng ly thuỷ tinh rót đầy rượu ngon, khác hẳn thời đi học mỗi lần họp mặt, thằng mang xì-líp cũ, đứa cởi trần, ăn mặc lôi thôi, xúm lại ngồi quanh những tờ báo cũ trải nền nhà làm bàn ăn.  Tiệc họp mặt vẫn cố định món mề gà xào và những lon bia rẻ tiển. Bốn tiếng đồng hồ ngồi uống rượu với bạn cũ trôi nhanh như 40 mươi phút.  Ngồi uống rượu nhắc lại chuyện mấy chục năm trước mà tưởng như hôm qua.  Trong nhóm sinh viên tỵ nạn cùng thời, nay đã có người bỏ cuộc đời đi vào cõi thiên thu.  Có người trở thành tàn phế vì động não.  Có người đã ly dị vợ hay chồng một vài lần.  Và cũng có người sống chết nơi nào chẳng ai hay.  Sau cuộc tái ngộ ngắn ngủi, chúng tôi lại vội vã chia tay lên đường.  Vẫn hẹn nhau gặp lại, nhưng không ai biết khi nào.  Và đời sẽ ra sao!

     Bóng Kỷ Niệm Khó Quên.  Tôi được Trời chiêu đãi là mỗi lần đi uống rượu đều được Usa làm tài xế nên gặp bạn bè là cứ cụng ly quên mình đang uống rượu hay nước lạnh.  Tuyến đường từ Fort Worth đến Tyler làm tôi nhớ kỷ niệm xin việc làm năm tôi ra trường cử nhân Sociology ở UTA.  Những người bạn tôi quen, học các nghành kỹ thuật, đều có việc làm hay khoe nhau được mời đi phỏng vấn ở hãng này hãng kia ngay sau khi ra trường.  Tôi không có ý đi tìm việc làm vì đã xin theo học thạc sĩ ngành Urban Affairs cũng tại UTA.  Tuy nhiên hoàn cảnh gia đình thôi thúc, tôi phải tìm việc làm.  Với văn bằng Xã Hội của tôi nếu may mắn thì xin được việc làm cho sở xã hội hay cơ quan từ thiện.  Một hôm đang quét dọn thư viện, tôi lượm được mảnh giấy thông tin việc làm và đọc thấy thông báo ngắn của trung tâm giúp thanh thiếu niên bụi đời, Salesmanship Club Youth Camp, ở  Hawkins, TX, một làng nhỏ bên cạnh Tyler đang cần thuê cố vấn xã hội.  Đây là trung tâm cải huấn những thiếu niên ngỗ nghịch quá độ khiến cha mẹ phải buông tay. Việc này liên hệ đến ngành học của tôi. Đọc miêu tả về công việc cho trẻ bụi đời có vẻ phiêu lưu lãng mạn mà lại ý nghĩa nên tôi vội và nộp đơn xin việc và hồi hộp chờ thư trả lời.  Vài ngày sau khi nộp đơn, tôi được mời đi phỏng vấn. Đương nhiên là tôi vui và hãnh diện vì ít ra mình cũng có chỗ mời đi phỏng vấn để khoác lác như các bạn.  Tuy nhiên, Hawkins gần Arlington nên tôi phải tự động lái xe đi phỏng vấn chứ không được đi tàu bay như các bạn được phỏng vấn nơi xa.  Thời ấy chưa có hệ thống mạng lưới điện tử nên việc tìm chi tiết lịch sử hay địa điểm của những cơ sở thương mại hay xã hội không dễ dàng như bây giờ.  Tôi phải mượn xe của D. vì chiếc xe Datsun bé nhỏ của tôi móp mép từ đầu đến đuôi có thể gây ấn tượng xấu khi đi xin việc.  Bây giờ thì tôi vẫn chưa hiểu được phép lạ nào đưa tôi đến địa điểm xin việc bình an vì tôi là người thiếu khả năng nhận định phương hướng, lại dễ bị hoa mắt mỗi lần xem bản đồ tìm đường.  Vì đi phỏng vấn việc làm nên tôi ăn mặc chỉnh tề hơn thường, cũng giầy da, áo vest, cà vát ngon lành.  Khi bước chân vào văn phòng tôi mới thấy mình dị hợm khác người vì ba vị chờ tôi đến phỏng vấn đều mặc xuề xoà, quần din cũ bạc mầu, áo nhăn nheo, chân mang giầy boot, đầu đội mũ cao bồi, chỉ thiếu ba con ngựa cột trước sân.  Họ bắt tay chào tôi thân thiện nhưng trong ánh mắt có gì không ổn.  Sau vài lời chào thăm qua loa, một vị nhìn tôi bảo, “Mr. Trần, mình sẽ đi ăn trưa, sau đó anh sẽ được đi theo hai vị cố vấn của một nhóm 12 thiếu niên đi vào rừng sinh hoạt, chiều trở về dùng cơm tối, rồi anh lại theo nhóm vào rừng ngủ lại đêm.”  Tôi nghe lời hướng dẫn mà rét nổi da gà.  Ông ta tiếp lời, “Anh không mang theo túi ngủ, nhưng chúng tôi sẽ cho anh mượn túi ngủ, bọn trẻ sẽ dựng hộ anh một lều để ngủ qua đêm.”  Nghe xong tôi muốn chuồn về ngay, nhưng đã lỡ đến, vả lại mình cũng tò mò muốn biết sinh hoạt ở đây ra sao.  Buổi chiều đi theo đội thiếu niên qua những con đường mòn trong khu rừng ra bên hồ nước, ngồi xem các em thi nhau chèo thuyền, hay bơi lội tôi cũng thấy vui.  Sau bữa cơm chiều, tôi lại phải theo hai người cố vấn, một nam một nữ, và đội thiếu niên vào rừng.  Tất cả mọi người đều trang bị các thứ cần dùng cho những dân chuyên leo núi hay đi bộ trong rừng. Mỗi người một ba lô, một gậy cầm tay, và đèn soi đường.  Còn tôi vẫn bộ áo quần như người đi đự lễ Chủ Nhật hay lễ Chùa ngày đầu năm.  (Cũng may trời không mưa).  Tôi lẽo đẽo theo sát với vị cố vấn đi cuồi đoàn để khỏi bị lạc đường.  Ra đến nơi cắm lều, bọn thiếu niên dựng một lều lớn cho cả nhóm, còn hai vị cố vấn tự dựng mỗi người một lều ở sát lều nhóm thiếu niên.  Lều của tôi được hai em thiếu niên giúp dựng lên một cách nhanh chóng.  Một đống củi đã được xếp sẵn gần các lều và khi mặt trời vừa lặn, cả bọn ra ngồi quanh đống lửa để nghe nhau tường trình về những sự việc xảy ra trong ngày.  Tôi ngồi im quan sát và nghe từ lời khen, khiển trách, đến lời khuyến khích.  Tôi để ý trong lúc ngồi quanh lửa trại có những thằng bé mang dao đi rừng ra mài một cách thản nhiên rồi nghĩ bụng mấy thằng nhóc này có thể nổi cơn điên mang dao ra ẩu đả nhau giữa đêm thì toi mạng.  Sau buổi hội thảo kiểm tra cuối ngày, mọi người vào lều ngủ. Đương nhiên là tôi thức trắng thâu đêm, thỉnh thoảng mệt quá vừa chợp mắt lại hoảng hốt ngồi dậy vì tiếng cú kêu đêm hay tiếng cành cây mục gẫy xuống nền rừng.  Mỗi tiếng động trong đêm là mỗi lời đe doạ rùng rợn cho tôi.  Sau một đêm dài không ngủ, tôi theo đội về trung tâm trại, không cần dùng cơm sáng, lẳng lặng vào văn phòng trại cáo lỗi bỏ ra về vội vã không kịp ngoảnh mặt lại nhìn trại lần cuối.  Đúng là một đêm kinh hoàng khó quên.  Mấy chục năm rồi, chiều nay lái xe trên tuyến đường cũ, kỷ niệm ngày xưa như chợt sống lại.  Lòng bỗng vui.

traiga

       Ở lại Tyler, Texas một đêm, ăn bữa cơm tối trễ với chị tôi, các cháu, và anh tôi lên từ Houston.  Sáng sớm hôm sau chúng tôi ghé chào chị tính lên đường ngay, nhưng gia đình cô em họ báo tin đang trên đường từ Garland, Texas ghé thăm nhà chị tôi nên chúng tôi phải đổi chương trình.  Trong lúc ngồi chờ cô em đến, Ch. gọi tôi hỏi, “Sắp đến chưa? K. đang ngồi nhà em chờ anh từ sáng sớm.”  Tôi trả lời có đến được sớm lắm cũng phải quá trưa.  Hai người bạn này cùng chia chung căn cước Châu Sơn Đơn Dương với tôi, họ thua tôi một hai tuổi nhưng theo truyền thống Châu Sơn, họ vẫn gọi tôi bằng anh và xưng em.  Nếu tôi quen họ ở đại học, đương nhiên là tôi sẽ xưng hô mày tao như vẫn xưng hô với các bạn tôi quen thân thời đại học. 

     Tìm Bạn Ở Chốn Thảo Nguyên.  Chúng tôi lên đường đi Pickton cách Tyler gần 2 tiếng lái xe.  Nếu hai bạn Châu Sơn tôi không ngụ tại chốn ấy, có lẽ cả ngàn năm nữa tôi cũng không biết đến tên làng Pickton hay có dịp ghé thăm.  Địa chỉ của bạn tôi có số vùng hay zip code 75471, theo thống kê của mạng

http://www.bestplaces.net/

dân số năm 2016 ở đây có khoảng 1413 người già trẻ.  Làng này được khởi lập từ năm 1856, cho đến nay vẫn là một làng không có tổ chức hành chánh độc lập (unincorporated community). Nhìn lại thống kê dân số năm 2000, Pickton  chưa đầy 100 người, nay tăng lên số 1413 có lẽ nhờ những người Việt Nam gốc tỵ nạn rủ nhau về đây phát triển kỹ nghệ nuôi gà.  Ở làng này chỉ có những con đường mang số như CR 1988 hay CR 2001.  CR là county road hay đường của Liên Tỉnh.  Một county bao gồm nhiều thành phố hay làng mạc.  Thành phố thì có tên đường nhưng làng không tự trị (Unincorporated community) như Pickton ở Texas  chỉ có tên của Liên Tỉnh.  Cũng may cái máy chỉ đường đi (GPS) dẫn chúng tôi đến nơi.  Tuyến đường đến nhà Ch. Đi ban trưa, trời còn sáng, nên không trở ngại. Nhưng gần hai tiếng lái xe quanh co theo những con đường xuyên rừng, băng cánh đồng, hay qua những con phố lác đác vài căn nhà cũ vắng bóng người và xe cộ làm chúng tôi cũng chột dạ đôi chút.  Tôi đã sống ở Texas nhiều năm nhưng thời ấy kiến thức về đời sống dân cư hay luật pháp lù mù nên đi đâu cũng chẳng lo gì.  Bây giờ biết dân Texas nhiều  nhà có súng dài súng ngắn nên đâm run.  Lỡ chạy lạc vào đâu bị người ta ngờ vực, mang súng ra bắn thì toi đời.  Ở Texas, hơn 1 triệu người dân có giấy phép đeo súng lục trong ngưởi.  Dĩ nhiên là chưa kể những người có  súng mà không giấy phép.  Có gần 30 ngàn người dân Texas được giấy phép sử dụng súng như M16, loại súng đã sử dụng trong chiến tranh Việt Nam.  Gần đây Texas lại ban hành đạo luật cho phép sinh viên được mang súng trong người đi học. May quá không có đại học nào ở Texas thuê mình.  Chúng tôi lái xe qua vài trung tâm của các phố nhỏ có những cửa tiệm vừa bán nhạc cụ vừa bán súng.  Có nghĩa là bạn có thể mua cây guitar và khẩu M16 tại cùng một cửa hàng.  Hãi thật.  Dù sao số người đeo súng ở Texas vẫn còn thua những nơi khác như Florida chẳng hạn.  Cãi nhau là bắn.  Ra toà cứ khai vì sợ thiệt mạng nên nổ súng trước là trắng án.  Lái xe đi tìm bạn giữa ban ngày mà tưởng như đi giữa xa mạc ban đêm.  Vừa lần mò vừa sợ hãi.

traiga2      

Bữa Tiệc Ở Trại Gà. Đã hơn 15 năm vợ con tôi mới gặp lại gia đình Chính.  Còn tôi lần sau cùng gặp Chính ở San Jose cũng cả 10 năm rồi.  Nhân chuyến đi dự hội nghị ở San Francisco tôi rủ hai người bạn Châu Sơn lái xe từ Little Saigon lên khách sạn rồi sang San Jose thăm gia đình Chính, nhậu li bì với vài người bạn Châu Sơn ở San Jose cả đêm.  Không ngờ vợ chồng Chính bỏ việc làm dọn đi Texas lập trại gà. 

     Xe chạy đến cổng trại gà nhà bạn mình, nhưng không dám vào vì sợ vào lầm nhà.  Cuối cùng chúng tôi phải ra khỏi xe, đọc cho đúng từng con số ở thùng thư đầu ngõ trước khi cho xe chạy vào sân nhà bạn.  Xe đi chầm chậm để tránh ổ gà trên ngõ vào, đến trước sân thấy nhiều xe đậu cũng ngờ ngợ là nhà bạn nhưng vẫn không dám tắt máy mở cửa.  Xe dừng lại trước một ngôi biệt thự khang trang trên đồi, tôi vẫn hồ nghi không biết có đúng là nhà Chính không. Cũng may nhờ có sờ-mác-phôn nên tôi gọi bạn và bảo xe đang đậu trước sân nhà có nhiều xe đậu, nếu đúng nhà, làm ơn ra đón cho thấy mặt.  Vào lộn nhà bị bắn toi mạng cả gia đình.

     Chính mở tung cửa bước ra, vừa thấy bóng bạn, tôi tắt máy xe cho cả nhà ra chào vợ chồng Chính.  Chính vẫn vậy, tóc có rụng, nhưng ánh mắt và khuôn  mặt không gì thay đổi.  Tay bắt mặt mừng, chúng tôi theo vợ chồng Chính vào nhà và gặp ngay hàng xóm của Chính đang ngồi quây quần trên bàn ăn.  Sau vài câu giới thiệu ngắn gọn, gia đình tôi nhập cuộc.  Bàn tiệc tràn ngập thức ăn ngon chờ sẵn.  Tôi tưởng Chính sẽ cho ăn món “Mỹ Cấm,” nhưng lại cho ăn thịt nai nướng bơ trên lò nướng đặt giữa bàn.  Có thể gọi là “Né Nai.”  Đương nhiên là ngon, nhưng món “cờ tây” có lẽ đặc biệt hơn. Usa và con gái tôi không ăn cờ tây nhưng tôi đã chuẩn bị tinh thần sẵn cho con trai là có thể vợ chồng chú thím Chính sẽ đãi thịt “chồn ta.”  Ăn tiệc ở trại gà nhưng trên bàn nhậu không có món gà.  Có phải vì bạn tôi  nhìn thấy hàng ngà con gà mỗi ngày nên không ăn thịt gà nữa?

      Khi vào nhà Chính tôi không thấy vợ chồng Kha, một người bạn Châu Sơn.  Nhưng Chính bảo Kha đã đến nhà Chính chờ tôi từ sáng sớm, nhưng có việc phải đi bây giờ đang trên đường trở lại.  Kha cũng làm chủ một trại gà quanh vùng. Hơn 15 năm trước, khi tôi sang Cali tìm nơi để đưa nhà di cư đến vùng nắng ấm, vợ chồng Kha đã đến gặp tôi ở khách sạn, tôi vẫn nhớ vợ Kha mang cá kho, dưa chua, và canh rau cải đến khách sạn đãi tôi các món ăn nhà quê cho đậm tình khách tha hương. Kha đã bỏ Cali về Texas mở trại gà trước Chính.  Trại gà của vợ chồng Kha cũng nằm trên một thưa đất rộng mênh mông như trang trại của Chính.  Kha đã trở lại vài phút sau khi chúng tôi nhập bàn tiệc. Đang nhậu quên trời đất, Chính có điện thoại gọi và cả nhà nhìn Chính trong lúc Chính trả lời.

     “Xe gà con đến!”  Chính tuyên bố.

     Những lon bia đang uống được bỏ xuống bàn, và những đôi đũa cũng được đặt xuống vội.  Gia đình tôi đứng lên đi theo mọi người ra sân.  Xe nào có chỗ là chúng tôi lên ngồi để ra trại gà.  Từ nhà Chính ra trại gà đi bộ xuống con dốc khoảng năm mười phút, nhưng có lẽ vì khẩn trương nên mọi người đi xe hơi ra.  Tôi đi chung xe của người hàng xóm và anh ta giải thích việc gì sắp xẩy ra.  Cứ sau mỗi vụ gà, khoàng 42 ngày, sau khi sửa soạn lại trại nuôi, công ty phân phối gà con chở hàng chục ngàn con gà vừa nở khỏi trứng hay sắp sửa nở đến các trại gà.  Nhóm người Việt nuôi gà quanh vùng nhận gà con vào những ngày khác nhau nên họ thay phiên đến các trang trại để giúp nhau.  Hôm nay ở trại gà của Chính, nhưng mai mốt lại đến phiên nhà khác và vợ chồng Chính cũng sẽ đến phụ giúp.  Có hàng xóm giúp nhau vậy vừa vui vừa đỡ buồn.  Trại gà nhà Chính nằm trên cánh đồng 160 mẫu tây mênh mông cò bay.  Một mình một cõi hẳn phải có lúc buồn dù phong cảnh rất lãng mạn.  Hàng xóm ở xa, gà thì nuôi kín trong trại.  Chung quanh chỉ còn bầy bò xám, lũ chó coi nhà, hay bầy heo rừng thình thoảng chạy ngang sân nhà.  Nhưng nghĩ cho cùng, ở đâu quen đấy.  Nói theo kiểu châm biếm của tiền bối Nguyễn Bỉnh Khiêm rằng, “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, người khôn người đến chốn lao xao,” thì Chính khôn quá.  Bây giờ chàng không còn phải vội vã đi làm trên nhưng tuyến đường kẹt xe quanh năm của San Jose, California, không còn phải hít thở không khí ô nhiễm xăng dầu.  Chẳng cần mong chờ ngày cuối tuần hay nghỉ lễ để xả hơi thư dãn.  Muốn ăn cá tươi, xách cần câu ra hồ trong trang trại câu vài con đem về nướng lò.  Muốn ăn heo rừng buổi chiều ôm súng ngồi rình heo đi ngang sân nhà, thi thoảng ngả một con làm mồi nhậu với hàng xóm dễ thương.  Như vậy có thua gì tiên?

img_1756

      

Sau khi những thùng gà con được đổ vãi xuống nền trại nuôi và các cửa trại được đóng lại, mọi người lại về nhà Chính nhậu tiếp.  Tôi vẫn có tật xấu, bên bàn nhậu là hét hò cười la không để ai kịp nói.  Vợ răn hoài, không chừa.  Rượu vào lời ra mà!  Tôi vẫn giải thích cho Usa, “Mấy tay uống rượu im lìm nguy hiểm lắm, một là chán đời hai là nghiện nặng.  Còn ta uống rượu như tiên, không sợ bị ai chửi mà cũng chẳng ngại lên tiếng kê người khác bên bàn nhậu.  Muốn nhậu vui không được giận hờn hay giận dữ.”  Những hàng xóm dễ thương của Chính phải về trước khi chiều xuống, có lẽ,  để chăm lo trại gà nhà mình.  Còn lại Chính, Kha, và tôi, ba tay gốc Châu Sơn ngồi kể chuyện cổ tích thời thơ ấu.  Kể hoài không mỏi miệng và nghe hoài vẫn sướng tai.  Cuối cùng chúng tôi cũng phải chia tay.  Mấy chục năm nay, mỗi lần có dịp gặp lại anh em Châu Sơn, khi chia tay tôi vẫn nhắc mọi người đứng lên hát bài Thánh Ca mà chúng tôi đã hát hàng đêm, thời niên thiếu tại Châu Sơn, vào cuối giờ kinh tối trước khi lặng lẽ trở về phòng ngủ.  Những người không chia chung kỷ niệm khi nghe hay hát bài này có xúc động như chúng tôi không?  Nhưng các bạn Châu Sơn và tôi mỗi lần cất tiếng lên hát bài Thánh Ca này là mỗi lần rưng rưng hạnh phúc.  Tôi nhờ Kha đệm guitar bài Thánh Ca cũ và mọi người trong nhà cùng đứng lên hát theo lúc chia tay nhau.  Trên mạng có nhiều du-tup bài thánh ca này “Ave Maria Con Dâng Lời Chào Mẹ” như danh ca Ngọc Hạ hát:

nhưng, theo tôi, chưa ai hát bài này hay bằng những người bạn Châu Sơn của tôi vì chúng tôi hát bằng trái tim và hát bằng niềm tin ngây ngô thời niên thiếu; thời chỉ biết tin nhưng chưa biết hoài nghi.  Hát xong bài Thánh Ca xưa bên bàn tiệc tái ngộ tại nhà Chính, chúng tôi xiết chặt tay nhau rồi từ biệt.  Đời là thế!  Đúng là một thời tìm nhau và một thời từ biệt.

     Đến Rồi Đi Và Mong Trở Lại.  Từ trại gà của Chính ở Pickton xuống Houston trên dưới 5 tiếng lái xe ở tốc độ có khi lên trên 80 dặm một giờ, có nghĩa là tốc độ lên gần 130 cây số giờ.  Rượu ngà ngà mà lái xe đêm xuyên qua làng mạc hẻo lánh cực kỳ nguy hiểm.  Đương nhiên là phải nhờ cậy Usa lái xe đưa nhà trở lại Houston để ngày mai về Boston.  Quãng đường khuya băng ngang những khu rừng hay con phố lác đác vài bóng đèn lu mờ gây lên cảm giác hồi hộp khó tả.  Có lúc nhìn Usa lái xe chăm chú rồi tôi tưởng tượng nhỡ một con bò đi lạc bất ngờ chạy ra giữa đường thì coi như cả nhà lên thiên đàng!  Gần hai tiếng lái xe trong bóng tối của rừng chúng tôi mới ra được xa lộ liên bang, 45,  để được hoà nhập vào đoàn xe đông đảo đủ loại.  Con trai tôi ngồi sau xe lên tiếng, “Về lại vùng văn minh rồi!”  Tôi thở phào nhẹ nhõm.  Dư âm bài thánh ca hát ở trại gà vẫn còn văng vẳng trong tim.  Nhìn sâu vào bóng đêm tôi nghĩ đến những ngày sắp tới.  Hơn 40 năm rong ruổi đời tỵ nạn biệt xứ rồi cuối đời sẽ ra sao?  Đi về đâu?  Nghĩ vậy có vớ vẩn không?  Dù sao thì mình vẫn phải tiếp tục hành trình đời sống, có đi có về, có gặp gỡ có chia lìa.  Nhưng vẫn phải sống cho vui và sống hạnh phúc ngay cả những lúc phải đương đầu với chia lìa tan tác.  Ngày mai mình sẽ về lại Boston, về lại sân đại học, tiếp tục làm việc và tiếp tục sống vui cho đến lúc lại lên đường tìm dĩ vãng để rồi bước vào khung cửa thiên thu.


Trần Thu Miên

SÁCH MỚI

Giới thiệu sách mới:

tieukhuc

Văn Nghệ Boston vừa nhận được tập thơ Tiểu Khúc của nhà thơ Tôn Nữ Thu Dung.

Sách khổ 5.5 x 8.5 inch. Bao gồm 50 bài thơ
do Tương Tri xuất bản – Amazon phát hành
với lời tựa của nhà thơ Linh Phương ( tác giả Kỷ Vật Cho Em ) và lời bạt của Du Tử Lê, Trần Vấn Lệ.

“…với tôi, nếu truyện ngắn của Tôn Nữ Thu Dung ”… là mơ ước thầm kín của nhiều nhà văn “  thì, tôi cũng trộm nghĩ, sẽ có không ít những nhà thơ trẻ hôm nay tưởng tới ngày là chủ nhân của những câu thơ “ nao-nao-đẹp-khác “  như thơ Tôn Nữ Thu Dung vậy.


Du Tử Lê
( Garden Grove  Feb 2016 )

Văn Nghệ Boston xin trân trọng giới thiệu đến quý anh em văn nghệ và độc giả xa gần

but

KHAI BÚT (2017.)

 

vậy là giờ khắc năm cũ

trôi ngang giấc ngủ sớm

thực lặng lẽ- bất thường- chạm mặt thơ

tôi đứng yên

 

vì đinh ninh các ý nghĩ

(cũ) về thơ- còn nguyên nơi vô thức

giở ra vục mặt vào- không ngờ

trong đấy giờ chỉ có các dấu chấm

hai ngoặc kép

 

quá bất ngờ

bật ngang tiếng còi xe điện

từ đáy lòng- âm trầm trầm

(luôn luôn) hết sức buồn bã

 

chả chút trừu tượng

với tôi- cúi nhặt mảng mảng ý nghĩ mới

(tức thì) từ đầu- vừa rơi/ rớt

có mảng còn dòng chữ nóng hổi- cho đến khi ngồi lại

mới nhận thấy tôi bật khóc (!)

 

hòng đậy tiếng còi xe điện  

tôi kêu “thơ!” đoạn cực lúng túng

ngó đăm đăm phía trước/ tôi nói ”phần tôi- xem- như đang hiện hữu

nhưng kì thực

đấy

một phiên bản mới!”

 

thơ cùng toàn cảnh năm mới

sự hiện thực/ trong mắt

hiện những sắc

những màu- tươi- tôi nghe “trông ông- già

bằng trăm năm ấy!”

 

ôi- quả tình bao năm qua

tôi chẳng biết gì về thơ (đàn bà) về đời

tôi muốn hỏi “thơ là gì?

muốn gì? hử!”

 

lại xem đồng hồ

bất giác tôi lầm bầm “đang năm mới!’

cảm giác các cơ thịt nơi miệng thôi cử động

nói nữa/ không xong

 

bầu trời tối

đen như mực/ rồi thì

xáng lạng

chữ gì? bật lên- từ giờ- tôi thề giữ nguyên  

phải chăng giữa tôi& thơ

thời gian qua- tuyền ai oán

xung đột?

 

khoát tay để thơ xoay

thoát

khỏi mộng/ tôi mở mắt   

chào các âm hồn trên đời thường

sống khôn chết thiêng- năm cũ đã qua nhá

 

và  “vậy đó

thưa quí vị- suốt mấy chục năm qua

tôi có ở đời này đâu

– giờ mới thực hiện hữu 

một phiên bản khác- đấy!”  

..

vương ngọc minh.

happynewyear2017

lich2

t r ư ớ c  t ờ  l ị c h  c u ố i   n ă m

 

trước tờ lịch cuối năm
tôi bồi hồi, xúc động
thương mình nuôi hy vọng
để rồi … lại cuối năm !..

trong khi vẫn đang cầm
bản vẽ xanh màu lá
– màu trái tim hối hả
những suy nghĩ chân thành
của mình, và chung quanh …

*

trước tờ lịch cuối năm
tôi rót thêm chén rượu
ngoài trời trăng đang khuyết
và lành lạnh chút sương …

 

Nguyễn Như Mây

christmascard2

lee9

é t o i l e   d e s  n e i g e s

 

sao lùn xủn

hệ mặt trời vẫn rêu rao như một gã biếng lười

thức giấc tôi ném tôi hòn thạch vào cuối đường mơ

nhát chổi lạnh từ sao tuyết

bụi trắng mù trên mặt kiếng rạn

lờ mờ thấy mũi tên chỉ về phía hồi xuân

ngôi sao vẫn lùn tịt

không chấp chới được một thể thiên nào

đại loại một chiếc khăn đan len

vùi trong kẽ nhớ

 

 

vậy mà đêm qua rù rờ ấm cổ

có tiếng gì như sao chạm vào mơ

 

mắt sáng sao trên trời

tuyết trắng rơi trong hồn

khúc hát êm êm.  bao la vời vợi

 

tuồng như cuộc trở về tái tạo

chữ O tròn.  hát trên thảo nguyên

 

hãy đứng bên nhân loại

đến với nhau muôn loài

xóa hết đau thương

thắp sáng tin yêu bây giờ.  mai sau

 

 

rồi đứng.  rồi đi

xe rù rì thở dốc

những nhát cuốc khai quật ngân hà

thây trắng đông

étoile des neiges

cạ sát nền cương thổ

mũi súng hướng về phía da trời

bắn rụng một chùm hương

 

 

hãy chùi chân lên gỗ cedar

lần mò về cézar

và lôi ra từ bọc áo

thả gió tung những mảnh vụn ơ hờ

giữ lại chùm khóa mở tất cả

những hang hóc còn lại

 

bạn hỡi.  dù.  đường đi còn cách xa

xin đừng buông lơi nỗi thiết tha

mình sẽ.  cùng vầng dương rạng ánh vui

mai.  về quê xưa. dưới mái nhà

 

étoile étoile.  tôi là sao em là sao

băng đi cởi áo nguyện thề

lung linh                    tuyết

 

 

HoàngXuânSơn
tháng 9/10 hai ngàn mười hai

series-5_-the_net

Tranh Nguyên Long

NHỎ ĐI EM . TỪNG GIỌT DƯƠNG CẦM

 

1)

lan trên đồi chiều

hay là bóng mơ quạnh vắng ?

hay là dương cầm rụng đầy

tháng ngày nầy em về hay chưa ?

Tháng ngày nầy dương cầm

lạnh đầy

 

2)

đôi vai mỏi

đôi vai ngập mù sương đã mỏi

màu quanh đây

màu hạnh ngộ dương cầm

ta biết em

biết rừng đông đã chết

biết si mê

và biết lúc em về

 

3)

ôi cánh môi

ôi cánh môi ngoan mùi diệp lục

là mơ hồ

trăng gió chốn khơi xa

là cổ tích ta ôm vào giấc ngủ

là ngàn hoa biên biếc chốn thâm sơn

nhỏ đi em

từng giọt nầy dương cầm xứ lạnh

nhỏ đi em

từng giọt khát khao anh…

 

4)

lan trên đồi chiều

ai ngờ khói cay tầm mắt

hay là dương cầm thẩn thờ

tiếng trầm buồn mơ người nơi xa

tiếng nồng nàn dương cầm

hẹn thề

 

5)

mơ chim biển

phiêu du mộng hằng bay chim biển

trời bao la

trời hạnh ngộ dương cầm

ta nhớ em

nhớ đường bay khuất núi

nhớ khôn nguôi

và nhớ lúc em về…

 

 

Chu Thụy Nguyên

 

 

NẰM MỘNG. THẤY GHE CÀO

 

1)

những chiếc ghe cào vừa được phóng sinh từ đâu đó trên dải ngân hà. những cào tôm soi sói phong phú trong các vần thơ ngư phủ quê nhà. tài công ngước mặt lên trời. thành tâm khấn tạ ơn dải ngân hà vừa cho trúng tôm một ngày thật hả hê. giấc mơ ấy chợt đứng hình khi gã ngư phủ bỗng co giật bật đứng lên lúc nửa đêm. các tấm lưới đã được gom chở về nhà cất vào kho hằng tháng qua. còn đâu ?

2)

các ca khúc tưng bừng trên radio từng được viết từ những hơi thở xanh của biển. những ngày các ghe cào từng tất bật khẳm thuyền. người ta giờ nầy thỉnh thoảng vẫn hát như sống lại rần rật thuở huy hoàng như chưa hề xa lắm. biển giờ đây vắng lặng. mọi người đã rút về các ngôi nhà trống toan lồng lộng gió lâu rồi. trẻ nít nhóc nheo khát đói. người người chỉ còn biết thắp hương cho biển những tháng ngày khuất mặt

3)

trong câu chuyện không thể quên kể đến những bình rượu từng theo lăn lóc trên ghe cào nay đã cạn. những giọt lệ chợt cạn dần trong các hốc mắt hoắm sâu. lò cũ vơi đi tàn tro lạnh. những mùa cào tôm chỉ còn là chuyện kể lúc trăng lên. không khác chi các chuyện kể về dải ngân hà. chuyện những mùa cào tôm lý thú hoặc sẽ mang kể lại cho lũ con cháu chập chửng lớn lên trong khát đói . chưa hề biết đến chuyện ra khơi

4)

rồi một đêm trên bãi biển. những ngư phủ úp mặt vào cát khởi sự nghe rần rật những khúc ca hoài niệm. như thuyền rồi đây sẽ lại xếp hàng chòng chành ra khơi trong hằng hà ánh đuốc lung linh. đau thay, những ánh đuốc kia lại soi tỏ đường đi về khu huyệt mộ. mọi người ước cuồng phong rồi sẽ đến. ngày mới sẽ rắc hoa cùng trầm hương lên mộ các ngư phủ đã khuất oan. và đoàn thuyền lại lũ lượt ra khơi.

 

 

Chu Thụy Nguyên

 

Nghi vấn về cái chết của thi sĩ Quách Thoại?

quach-thoai1

tranh Đinh Cường

 

Trịnh Thanh Thủy

Đối với những người đã từng quen biết Quách Thoại và đọc thơ cũng như những bài viết về ông thì ai cũng hiểu ông chết trong nghèo đói, bệnh tật, cô đơn, thất tình, thất chí. Tôi là hậu bối, đọc thơ và các bài viết về cuộc đời, cái chết của ông, lòng chạnh nỗi mến yêu lẫn trong niềm thương cảm. Tuy nhiên, khi đọc nhiều, óc tôi bỗng nảy ra một nghi vấn về cái chết của Quách Thoại.  Sự thật 59 năm trước, ông đã chết như thế nào?

Nhắc đến Quách Thoại, một nhà thơ tài hoa chỉ góp mặt với cuộc đời chỉ vỏn vẹn 27 năm, đã là một thời gian ngắn ngủi. Thi sĩ Đỗ Quý Toàn từng có lần gọi Quách Thoại là “một thiên tài của nước tôi.”  khi ông viết trên nhật báo “Báo Đen” tại Sài Gòn năm 1970. Trong một bài viết của Mặc Lâm của đài RFA, với đề tựa “Quách Thoại, nhà thơ đấu tranh đầu tiên của Việt Nam”, Mặc Lâm viết “Với bài thơ Phạm Văn Thông, Quách Thoại làm người đọc sởn óc và ám ảnh rất lâu bởi sự tàn bạo vô nhân của cách giết người không cần vũ khí: “Chôn sống”. Bài thơ như một tiên tri cảnh báo về chủ nghĩa cộng sản. Chôn sống địa chủ và rồi chôn sống nhiều thứ khác trong đó có cả một nền văn hóa. Phạm Văn Thông không là ai cả, nó đại diện cho bất cứ người Việt Nam nào. Phạm Văn Thông không hẳn là một cái tên nó có thể biểu tượng cho nhiều thứ, trong đó có cả chủ nghĩa tư bản mà chế độ cộng sản một thời từng ao ước phải chôn sống nó.

 Anh có thấy không

Hai chân nó trồi lên mặt đất

Kìa, giữa khoảng đồng không

Lúc người ta bắt nó ngoài đồng

Thì nó vẫn còn sống

Đến khi nhận đầu nó xuống

Thì nó vẫn còn sống

Anh có nhớ không

Khi người ta lấp đất rồi

Thì nó vẫn còn sống

Anh có hiểu không

Khi người ta chôn nó rồi

Thì nó vẫn còn sống

Nó vùng nó vằng

Nó nghe nó ngửi

Nó nhai nó nuốt

Toàn đất là đất

Kìa nó cử động

Ngo ngoe hai chân không

Tôi tưởng còn nghe tiếng nó rống

Giữa khoảng ruộng đất im lìm đồng không

“Tôi tên Phạm Văn Thông…

Tôi không, tôi không, tôi không……”

“Mặc kệ nó. Cứ nhận đầu chôn sống”

“Không! Không! Không!”

“Kệ xác nó. Cứ nhận đầu chôn sống!

Đồ lũ bay Việt gian cả giống

Cứ nhận đầu chôn sống!

Thì nó vẫn còn sống!

Phạm Văn Thông!”

Từ ngày Quách Thoại mất đến giờ, đã có nhiều bài viết phân tích và ngợi khen thơ của ông cũng như cái chết của ông đã từng gây nhiều sóng gió trên văn đàn ngày xưa. Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Thế Phong, Viên Linh, Thích Nhất Hạnh, Trần Tuấn Kiệt, Nguyễn Mạnh Trinh..v.. v .. đều nhắc nhở đến ông một cách gián tiếp hay trực tiếp.

Tôi tra cứu từng bài viết, tôi thấy hình như thông tin về cái chết của ông trong mỗi bài viết được nhắc đến có nhiều chi tiết mơ hồ và thiếu nhất quán, mỗi người tường thuật một lối khác nhau.

-Trong bài viết “Nhà thơ Quách Thoại” của Lý Hoàng Phong, anh ruột của Quách Thoại, ông viết về cái chết của em mình như sau:       “Vài tuần sau, Thoại hấp hối trong bệnh viện nơi một căn phòng bố thí. A young friend and brother to its final days, and buried it far out to the cemetery where a metropolitan. Một người bạn trẻ và người anh đến với nó những ngày cuối cùng và chôn cất nó nơi một nghĩa địa xa ngoài đô thành. Conversation lay down the ground in a white shirt with cuff cultivate an image of Our Lady statue. Thoại nằm xuống lòng đất trong một bộ áo tu trắng với nơi cổ tay một tượng ảnh Đức Mẹ. The strenuous hours with death in a hospital bed begging Voice “O God bless”. Những giờ vất vả với cái chết trên giường bệnh, Thoại van xin “Lạy Thượng Đế ban ơn”. Until the last minute, Voice still screaming like to live.Cho đến phút chót, Thoại vẫn kêu gào muốn sống.”

 

          -Thanh Tâm Tuyền đã nhắc đến Quách Thoại trong bài “Thoại ơi! Thoại ơi! Không biết khócbằng một lời thú tội.

 

“Chúng tôi mang thứ tình bất lực ấy đối với Quách Thoại. Thoại nghèo, Thoại bệnh, Thoại thi sĩ. Chúng tôi chẳng thể thay đổi được những điều ấy ở Thoại. Và tàn ác chúng tôi đã ước mong cái chết của Thoại. Nhật ký của tôi còn ghi ngày 22 tháng 7 năm 1956 những dòng này: “Và chính bây giờ tôi có ý tưởng Thoại nên chết thì hơn. Sống khốn nạn và hắt hủi thì chết còn nhẹ.”….Chúng tôi bỏ rơi, chúng tôi quên Thoại trong những ngày cuối cùng của đời chàng. Thoại chết bao giờ, ở đâu? Cho đến khi viết những dòng này tôi cũng chẳng hay. Chỉ nghe kể lại sau ba ngày không ăn uống, Thoại đã từ biệt vĩnh viễn cuộc đời trong một bệnh viện Trung hoa ở Chợ lớn. Không một người bạn đưa Thoại tới nơi an nghỉ. Người anh của Thoại, anh Lý hoàng Phong, lo chôn cất em và dấu [sic] kín tin tức về cái chết ấy. Khi chúng tôi biết thì Thoại đã ngủ yên ở một nghĩa địa nào ngoài Phú Thọ. Có thể anh Lý hoàng Phong không muốn làm phiền mọi người vì cái chết được ước mong ấy. Có thể đó là ý muốn của Thoại.”

-Thiền sư Thích Nhất Hạnh khi nhắc đến Trụ Vũ và Quách Thoại, ông viết. “Quách Thoại ít lên chùa hơnTrụ Vũ. Và Quách Thoại thể chất ốm yếu hơn Trụ Vũ. Anh bị lao, được đem vào Bệnh viện Bình Dân chữa trị và mất ở đó, tuổi chưa tới ba mươi. Trong những bản thảo của anh, người ta tìm được bài Hoa Thược Dược mà tôi rất thích”

– Viên Linh thì “Cái chết của thi sĩ gây ồn ào trong sinh hoạt văn nghệ, và làm đau lòng thân nhân người thơ non yểu, chắc chắn là thế, tuy rằng khi chuyển linh cữu nhà thơ từ giường bệnh tới nhà xác, chỉ có 2 người lặng lẽ đi theo: trong có một người anh ruột. Báo chí văn nghệ viết nhiều về cái chết của anh, đích xác là ngày 7 tháng 11, 1957; nhưng không rõ có đích xác hay không là anh đã chết đúng như một câu thơ của mình: “Lỡ một ngày mai tôi chết trần truồng không cơm áo…”
Chết trần truồng thì không, anh em nói, song không cơm áo thì cũng gần gần, cũng có thể. Anh có trần truồng thật, nhưng lúc ấy là sau này, khi thi thể anh được dùng cho sinh viên giải phẫu cơ thể thực tập.”

-Nguyễn Đình Tuyến trong bài “Quách Thoại(1927-1957) kể rằng: “Quách Thoại mất trong bệnh viện Hồng Bàng vì bệnh lao, trong một căn phòng bố thí và trong tình thương của Thượng đế: nhà thơ đã thuận để một bà xơ rửa tội theo phép đạo Công giáo.”

Đoạn viết trong một bài đăng trên blog của nhà văn Thế Phong, Đường Bá Bổn khi giới thiệu đến độc giả bài viết “Quách Thoại với trăng thiếu phụ” của thi sĩ Trần Tuấn Kiệt, đã có một lời dẫn thế này:

“Lời dẫn… năm 1957, Quách Thoại qua đời, lâp tức “Hàn Mặc Tử & Quách Thoại, nhà thơ siêu thoát” của Thế Phong ra mắt, (Đại Nam văn hiến, Saigon xb 1960, tái bản in ty-pô 1965  )– bị phản ứng mãnh liệt. Từ người anh ruột Đoàn Tường, phản đối, em ông ta qua đời, tại nhà thương thí Lao Hồng Bàng (Saigon 5), không phải chỉ có một bà-xơ vuốt mắt. Rồi phu quân nữ  thi sĩ (Vi Khuê), đọc sách xong, cơn nóng bừng bừng bốc hỏa, đỏ mặt, ghen, tức hận …Bây giờ, chàng phu quân của nữ thi sĩ, cũng đã “ra đi” không mang va li theo, chân không đi ba ta ….  
          Tuy Thoại,  mang tiếng, là biên tập viên tạp chí Sáng tạo/Mai Thảo( nhận tiền tài trợ USIS Saigon), nghe tin Thoại qua đời  trong nhà thương thí, thì, không tên nào tới  thăm, chu cấp tiền bạc, thuốc thang, kể cả “tên đầu sỏ Mai Thảo mặt ngựa” vẫn chụm đầu hằng đêm tại nhà hàng Văn Cảnhhít hà cặp má vũ nữ- và anh ruột, là Đoàn Tường, sau này cũng qua đời trong  nghèo túng ở thời bao cấp tại Làng Báo Chí(quận 2 bây giờ )- chết cũng chỉ  mang theo được sự bội bạc đối với bạn bè( Mai Thảo), anh em ruột thịt. (Đoàn Tường- Lý Hoàng Phong).”

Đấy là tất cả những gì tôi gom góp được về cái chết của Quách Thoại qua các bài viết.

Năm 1999, khi mạng lưới Internet mới có, trên một website, tôi
tình cờ quen được một bạn thơ lớn tuổi tên Thanh Sơn ở San José. Thanh Sơn nói ông từng biết về Quách Thoại và cái chết của ông. TS đã viết và bỏ trên website ngày đó. Tôi lưu giữ và hôm nay đem đối chiếu lại thì thấy khác với những chi tiết tôi ghi nhận được từ những thân hữu và anh ruột của Quách Thoại ghi lại. Tiện đây xin các bạn đọc nghe Thanh Sơn kể lại một giai thoại về phút cuối đời của một nhà thơ nghèo cơm áo nhưng rất giàu cảm xúc và tình người. 

Thanh Sơn kể :

“Ngày nay(1999),  nhắc đến thi sĩ Quách Thoại chắc không mấy người còn nhớ. Có lẽ vì ông ra đi rất sớm. Bởi vì ông mất đã lâu lắm rồi. Có chăng chỉ còn Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên ở Minnesota may ra thỉnh thoảng còn nhắc lại những kỷ niệm về Quách Thoại. Một người, tôi được biết đóng vai chính trong việc liệm chôn ông Quách Thoại là nhà văn Mai Thảo, tác giả “Đêm giã từ Hà Nội” và là chủ nhiệm Sáng Tạo thời đó. Tôi còn nhớ dạo ấy tôi làm việc tại nhà in Hợp Lực tại đường Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn. Thỉnh Thoảng tôi vẫn thấy các ông Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng, Nguyễn Đức Quỳnh, Thanh Tâm Tuyền ghé lại. Khi thì đưa bài in tập san “Đất Đứng” do Mặc Đỗ phụ trách, khi thì chuyện vãn dăm ba câu về thời sự văn nghệ. Quách Thoại đôi lần cũng có đến Hợp Lực để đọc cho mọi người nghe những bài thơ ông vừa viết xong hoặc nói chuyện sinh hoạt văn nghệ mà ông vừa nghe, biết được. Thơ Quách Thoại không được phổ nhạc như của các ông Cung Trầm Tưởng, Nguyên Sa, Nguyễn Tất nhiên, Phạm Thiên Thư, Du Tử Lê sau này, song kể về mặt tài hoa thì thơ ông cũng linh hoạt và sắc bén vô cùng. Có một lần Quách Thoại đọc cho nghe một bài thơ tả người thiếu nữ từ mái tóc đến phần ngực. Tiếc rằng tác giả không cho in để chúng ta thử nhìn xem Nga của Nguyên Sa và của Quách Thoại khác nhau như thế nào. Dạo ấy QT sống tại gầm thang gác của một ngân hàng tư tại đường Hàm Nghi  trông sang Nhà Hoả Xa chợ Bùng Binh Sài Gòn. Ông chưa có gia đình, sống nhờ vào lòng thương yêu của bè bạn và bằng hữu làng văn. Ông lại mang bệnh lao thời kỳ thứ ba, nhưng rượu thì nhất định ông không chừa được. Có lẽ đó là nguồn cảm hứng của ông. Cho nên dù các ông Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sĩ, Trần Thanh Hiệp có khuyên can gì đi nữa, ông chỉ ậm ừ cho qua. Nhà văn Mai Thảo dạo ấy đang làm ăn phất, vừa phụ trách tờ Sáng tao, lại viết bài cho tờ Điện Ảnh của Quốc Phong, nên đối với các anh em nhà văn túng nghèo thường lui tới thăm hỏi. Như thường lệ, sáng hôm đó Mai Thảo đến rủ Quách Thoại đi điểm tâm. Đến nơi thì người gác dan của ngân hàng cho biết QT đã mất đêm qua vì thổ huyết nặng. Mai Thảo vào xem thì thấy, QT vẫn còn nằm sấp trên sàn xi măng, trần truồng. Thế là MT tức tốc về thông báo anh em Sáng Tạo. Một đám tang nho nhỏ thành hình và thi sĩ Quách Thoại vĩnh viễn trở về lòng đất mẹ. Dường như người làm thơ nào cũng trong hoàn cảnh nghèo và có lẽ vì vậy thơ của các ông đều xuất phát từ một sự rung động sâu xa. 

Tôi ghi lại đây chút nhớ nhung còn sót lại để cùng Tóc Dài(một bút hiệu của Trịnh Thanh Thủy) tụng ca những nhà thơ VN đã sớm từ giã cõi đời.

Thanh Sơn

May-06-1999″

Tôi xin tổng kết những chi tiết cái chết QT được thuật lại như sau.

Anh ruột QT, Lý Hoàng Phong kể ông chết trong bệnh viện chỉ có ông và một người bạn trẻ đưa ông đi chôn. Thanh Tâm Tuyền nói, không ai biết về cái chết của QT ngoại trừ LHP đã chôn QT và dấu kín không cho ai biết. Nguyễn Đình Tuyến kể, QT chết trong bệnh viện Hồng Bàng. Viên Linh thì bảo, thân thể ông được đem cho sinh viên giải phẫu thực tập. Đường Bá Bổn trên blog của Thế Phong viết, sau khi Thế Phong viết về Quách Thoại, không biết ông viết gì mà bị phản ứng mãnh liệt. Anh QT, Đoàn Tường(Lý Hoàng Phong) phản đối việc chỉ có một bà sơ vuốt mắt và phu quân nữ thi sĩ Vi Khuê tức giận. Ông Bổn nói, QT qua đời tại nhà thương thí mà không người bạn nào tới thăm, giúp đỡ kể cả Mai Thảo. Trong khi ông Thanh Sơn kể, người gác dan ngân hàng nơi QT sống ở gầm thang gác ngân hàng phát giác QT chết đêm hôm trước vì thổ huyết nặng. Mai Thảo vào xem thì thấy QT còn nằm sấp trần truồng trên sàn xi măng.

 Dù QT đã chết như thế nào, ở bệnh viện hay ở gầm cầu thang, với quần áo hay trần truồng như lời tiên tri trong thơ ông, ông cũng đã an nghỉ đời đời, không còn phải long đong, cơ khổ vì đói nghèo, nghiện ngập và bệnh tật nữa. Câu hỏi tôi thắc mắc và nêu ra cũng chỉ là một nghi vấn không lời giải đáp. Tuy nhiên những gì ông để lại cho hậu thế là một gia tài thơ ca giàu có và thật đẹp đẽ. Tôi xin thắp nén nhang nhân ngày giỗ năm nay của ông.

 

Trịnh Thanh Thủy

Tài Liệu tham khảo

Nhà thơ Quách Thoại Lý Hoàng Phong

http://www.hocxa.com/VanHoc/NhaThoChetTre/QuachThoai_LyHoangPhong.php

Thi sĩ quách thoại ( 1929- 1957) yêu ai, để có ‘ trăng thiếu phụ’ –

http://thang-phai.blogspot.com/2012/11/thi-si-quach-thoai-1929-1957-yeu-ai-e.html

Thanh Tâm Tuyền về Quách Thoại

 

http://nhilinhblog.blogspot.com/2012/11/hinh-nhu-ay-la-tap-tho-duy-nhat-tung-in.html

QUÁCH THOẠI ( 1927-1957) / bài : Nguyễn Đình Tuyến .

http://thang-phai.blogspot.com/2012/03/quach-thoai-1927-1957-bai-nguyen-inh.html

 

fathi2

SỰ LÈO LÁI THEO CHIỀU CỦA CHỮ

 

còn khá nhiều bài thơ

dang dở

trong laptop/ phải làm sao? khi

tôi gõ lên mặt chữ

màn hình hiện dòng chữ “hãy ăn tươi nuốt sống các bài thơ dang dở đấy!”

 

lạ- dòng chữ đọc một lần

liền nhập tâm/ không sao quên ngay

rời khỏi mặt chữ

mười đầu ngón tay vẫn dính chắc dòng chữ đấy

 

tôi nằm xuống

giữa đại dương mênh mông tối

còn/ chả nhìn tỏ mặt người

đã xoãi tay- bơi (ngứa ngái một động lực  

khác

khiến xoãi bơi!) tôi bơi bướm

vài lái ý nghĩ từ dòng chữ “hãy ăn tươi nuốt sống các bài thơ dang dở đấy!”

theo chiều mình duỗi

 

một cách tích cực (làm ơn

đừng để tôi giáp mặt thượng đế ngay đây!)

buộc lòng bật công tắc/ xoay người

thấy số phận tôi  

sao mong manh đến vậy

đồng thời phát giác- thượng đế- lão ta không hề có mặt

khi cần

 

hừm- life… death.. things.. 

các cái (let’see?) wow

this is intense shit (I so envy people like you artists

I mean..) đọc

chừng đấy/ vỡ lẽ

 

tôi ăn tươi nuốt sống

chưa tới

một phần tư các bài thơ dang dở/còn trong laptop

cùng lúc khám phá

ra- điều làm mình hoan lạc chính là chả nắm/ giữ

kỉ niệm (hay bất kì gì!)

 

tôi chuồn khỏi giường/ thấy bức tranh

con cua

andy warhol làm- động đậy

(đàn bà đức hạnh 

chẳng nên động đậy trong thơ!) đây

có lẽ chi tiết mang ý nghĩa rõ nhất- tôi

 

chỉ như tặng vật hết hạn

thứ mang vất đi

 

tôi liếm môi

giập giập chữ vướng mười đầu ngón tay

và ngạc nhiên quá đỗi

miệng tôi cứ tự động hé

hệt đóa sung đang nở!

..

vương ngọc minh.

 

thang12

cảm giác tháng mười hai

 

 

tháng mười hai khệnh khạng lôi tôi ra lóng cóng

cành khô những đoạn đường co quanh

lá úa lắm tháng năm ẩm mục

sương ướt muộn phiền

cỏ buốt tâm thất

những hơi thở khô khốc

có mùi cơm nguội từ một ly cà phê nhạt nhùng

nhìn xuyên qua đầu

khoảnh trời trong vắt bên kia vóc dáng

một quê hương lụi cụi trong trí nhớ mốc thếch lưu lạc

khu rừng thâm u sâu hút bóng tối

lũ linh cẩu chực chờ dăm con mồi khuỵu chân mỏi gối

chúng xé mồi bằng răng

và ngồm ngoàm nhai bằng chiếc loa quyền lực mỗi sáng

 

tháng mười hai hì hục lôi tôi vào góc ý nghĩ

đấy, cuộc sống chỉ còn lại nơi này

một cái móc treo áo mũ

và ý nghĩ

tôi mang chúng xuống hong khô bằng một bài thơ

trong đó có lắm câu đã hết hạn xuất bản

vò nhăn nhúm chúng

như một tờ lịch gần hết năm

nhìn chúng già nua rời rạc

bỗng tưởng tiếc một lịch sử trôi qua quá lẹ

đến độ không kịp

lật lại từng chương

dò tìm từng sụt lở

nằm ẩn dưới lớp mặt nhựa đường

hào nhoáng

của chế độ.

 

HHiếu

 

 

 

những bóng ma trên canvas trắng

 

ý thức nhân bản bắt đầu độc hành trên sa mạc

chung quanh nó không một que diêm sinh

nhưng vẫn có thể bị bốc cháy

bởi hành tinh đang khô hạn nguồn nước tinh khiết

nếu không có cách kềm hãm

phún thạch vô thức có thể tiêu diệt hằng bao chồi nụ đang nẩy sinh mầm sống

có lẽ

chúng ta bắt đầu đối diện với một thảm họa mang nụ cười satan

chưa có một biện pháp để đối phó

những cuộc hành hình nghịch lý và phi nhân

đang được lập lại

thượng đế chẳng thể phán xét được điều gì

khi cơn gió chướng đang mang một chiếc mặt nạ gian xảo

 

thần chết rình rập từng đêm tối để khủng bố phố phường yên ả

tường vách đang bị bôi nhọ bằng than chì frankenstein và sắc màu dracula

lắm bóng ma đang đội mồ ngoi dậy lăm le rẽ nhánh ba tư trên lộ sắc tộc

lắm bảng tên đường đang hoang mang biểu lộ phái tính

trùm lên nỗi sợ hãi của loài người là những tẩm vải đen mờ ám vô nghĩa

loài người bây giờ đang nhìn ngó lẫn nhau

nhìn đâu cũng thấy lắm cái nhếch mép nham hiễm

đang lượn lờ diễn hành trên hành lang của sự sống

 

những người dạo biển đêm mang theo tấm biển nổi loạn

trùm lên lắm chiếc áo khoác thủng lỗ

phát ra lắm tiếng hét bức xúc phẫn nộ cho một lựa chọn vô ý thức

một hình nộm trần truồng lắm lời tuyên bố lố bịch

một thằng bù nhìn thích hù họa những cánh chim sắc tộc và tôn giáo

đang vất vưởng từng bước ngược vào phố

áng mặt kẻ lữ hành

lấp mất ánh nhìn của niềm tin

vết chân ma quái ngáng bước truyền đạo

 

những canvas trắng nếu không thể thẩm thấu được ý nghĩa của màu sắc

sẽ bôi lên chính chân dung mình một vết nhọ lòe loẹt phi nhân

và tác phẩm sẽ hình thành

một bộ mặt quỷ ám

 

ngoại trừ có một lá chắn áng ngay đường bay xuẩn động của mũi tên thiếu định hướng.

 

HHiếu

 

 

 

lắm chủ nhật vô vị trước

 

mở tivi sáng

đài mỹ: trump vs clinton, phim cao bồi chăn bò, m*a*s*h

đài việt: bầu chọn ngôi sao truyền hình

tôi có ý nghĩ sẽ bầu cho face-tũn

 

bỏ, ra đường

vận chiếc quần bò và áo thun biết kháo

đầu đội mũ ngược

ngồi lết vỉa hè

tôi gặm ổ hot-dog

mua ở tiệm pizza-hut

nhâm nhi trưa chủ nhật

 

xà vào cái bàn starbucks

mở màn hình smartphone

xem bầy ngáo mần thơ

có dăm mùi buồn phiền thi sĩ

 

dạng chân ở một quảng trường

nhìn phố phường cuối tuần

chỉ có lũ bồ câu

vẽ lên cặp kính mát tư duy tôi mang

chân dung surreal-art

của một họa sĩ không chính thống

 

nép xe kề thành cầu vượt lộ

gióng mắt xuống một bóng cây mù mờ nhân ảnh

tôi bắt đầu rị mọ

bộ não thoái hóa

để viết dăm câu thơ

nói về cái vị chua ngọt

của một chùm khế

lắc lơ

 

#

 

chiều về

cầm cái ly tôi thường dùng uống rượu đỏ

săm soi tìm cách lau sạch

bụi ta bà.

 

HHiếu

 

 

 

 

variations_4

KỶ NIỆM HOA VÀNG

Lời cho Thái Tuyết

 
Trưa say thơ quán Hoa Vàng
Bướm tiền duyên hiện bướm nàng sánh đôi
Anh say uống ý lẫn lời
Hớp trăng sao hớp đất trời ngất ngư
Phải đâu gặp gỡ tình cờ
Từ vô lượng kiếp đã chờ đợi nhau!
Lặng hôn gió thoảng hương mầu
Hồn anh đuối mộng tóc sầu kiếp xưa!

Trần Thoại Nguyên
Tại quán Hoa Vàng của Phạm Thiên Thư,Mùa xuân 2006