Feeds:
Posts
Comments

Archive for the ‘Văn’ Category

truyện NAM DAO

 

Tua

CÂY ÐA NƠI ÐỈNH MIẾU

 

Trích một chương trong TIẾNG CỒNG

NAM DAO

                                                                                           

 

 

Chập tối, chuyến xe cuủa cà phê Sinh từ Hà Nội lăn bánh rào rạo trên lớp đá xanh raủi trước sân.  Mẹ gọi.  Khách sạn bật đèn lên. Sa từ dưới bếp vội chạy vào buồng vén tóc, xốc lại áo, rồi ra phòng tiếp khách.  Tiếng người hướng dẫn du lịch từ sân vẳng lại một thứ ngôn ngữ có thể hiểu là tiếng Anh, vì cứ chốc chốc, anh ta ngừng nói, đệm vào * exì, exì…+, nghe đoán ra là * yes, yes…+.  Mẹ mừng, đứng dậy cười hơ hơ, hỏi nhỏ *… Sa này, được bao nhiêu ? +.  Nhìn qua kẽ song cưủa sổ, Sa đáp *… bốn, năm.  Có thể là sáu khách +.  * Có thế thôi à ? +, mẹ có chiều thất vọng.  Sa tần ngần *… mùa này lạnh rồi, mẹ ạ ! +.

 

Khi khách vào, Sa lấy giọng vui veủ * Welcome to Sapa.  Do you have a good trip ? +[1][1][1].  Khách lịch sự, keủ nói * yes +, người gật đầu.  Sa đếm, thế là chỉ có bốn.  Nàng nhìn sổ rồi sắp phòng.  Một cặp, phòng lớn.  Còn hai anh độc thân này, mỗi người một phòng nhoủ.  Sa hoủi anh hướng dẫn du lịch *… Sao Hà Nội điện xuống baủo có sáu cơ mà ? +.  Anh ta nuốt ngụm nước, vừa uống vừa đáp *… khách lại boủ.  Mình phaủi nhập với khách bọn cà phê  Trốt Tơ mới đi được.  Còn một toán khác ơủ khách sạn Xuân Hồng…á+.  Nói xong, anh đổi giọng, trầm xuống một cung, bắt đầu bằng * exì, exì… +  và hẹn khách xuống phòng ăn vào lúc tám giờ tối.  Anh ngoác mồm cười nhưng không giấu được veủ moủi mệt * Please, take a rest, exì… see you later ! +[1][1][1].

Khách lục tục đi lên thang.  Sa cầm chìa khóa, đưa khách vào từng phòng, miệng hoủi * Tây ba lô à ? +.  Anh hướng dẫn cười *… một thôi+, tay chỉ, anh tiếp *… chú đây người mình !  Còn hai ông bà kia là người Pháp.  Thằng Tây ba lô là Mỹ chính hiệu đây ! +  Sa cười, nhìn cặp vợ chồng, ngượng ngập *… Ah, ah.  Bonsoir ! +[1][1][1].  * Bà này cũng là người mình, không nói được tiếng Việt bao nhiêu, nhưng hiểu một chút… +, anh hướng dẫn quay sang nhìn người đàn bà vừa nói vừa cười.  Người đàn bà trạc trên bốn mươi nghe rồi gật đầu, nhìn Sa nói trọ trẹ * … Ah, oui… tên Việt tôi là Lan.  Bích Lan… +.

 

Sapa tối nhanh tựa như chùm chăn, thoáng một cái là đất trời đen màu mực.  Ðêm không trăng, không sao.  Trước cưủa khách sạn, ngọn đèn đường màu vàng bệnh hoạn hắt một khoaủng sáng uủ ê xuống con lộ đang sưủa lại, bên lề để ngổn ngang gạch đá.  Trong phòng ăn, hai ngọn đèn nê-ông ơủ ngay giữa trần nhà, thỉnh thoaủng lại chớp chớp như động kinh, trắng lạnh lẽo khiến da mặt người tái bệch đi.

 

Ðúng tám giờ, đám khách du lịch đã đuủ mặt, quần áo tươm tất hơn.  Tây ba lô, tên là Billy, dềnh dàng đi lại bàn kéo ghế ngồi.  Nó nhìn Sa, nói đùa :

– Come on !  I= m so hungry that I can eat you…[1][1][1]

 

Người đàn ông tuổi trạc trên dưới sáu mươi tuổi lịch sự kéo ghế cho vợ.  Bà nói * Merci +.  Billy lại lên tiếng, nói với Hà, giọng mũi Texan :

– Này, bạn. Cái gì đây ?

 

Tay cầm lấy baủng thực đơn, Billy chìa ra.  Người tên Hà đọc rồi đáp :

– Thịt.  Thịt nai.  Thịt rắn…  Ðuủ thứ thịt rừng.

 

Billy nhăn nhó :

– Tao chỉ thèm một cái Big-Mac và french frites, với ketchup [1][1][1].

 

Nó quay sang cặp vợ chồng Pháp, cười nói tiếng Pháp giọng Mỹ ngọng ngịu:

– N=est-ce pas, phaủi không ?

 

Người đàn ông khó chịu nhìn vợ, hỏi nhoủ :

– Marthe, em ăn gì ?

 

Marthe ngần ngừ rồi bật cười, tay chỉ vào thực đơná:

– Này!  André… Du loup sauvage! Anh muốn thưủ không ?

 

Lắc đầu không tin,  André mỉm cười nhờ Hà dịch.  Hà gật đầu baủo :

– Thịt sói… Ðúng đấy !

1

 

André nhăn mặt.  Thằng Billy lại  hô hố :

– ƠẨ Hà Nội, ăn thịt chó nhà.  Lên đây ăn thịt chó sói… Fantastic [1][1][1] !

 

Lúc đó, anh hướng dẫn du lịch mới nói, giọng khẩn khoản :

– Chó, không phaủi chó sói đâu !  Nhưng tôi đề nghị quí vị đừng ăn.  ƠẨ đây, nhỡ đau bụng thì… chẳng phaủi như ơủ Hà Nội.  Xin hãy chọn những món thông thường như gà, bò…

 

Bữa ăn là một bữa ăn bình thường như mọi bữa ăn trong những khách sạn dành cho khách du lịch nước ngoài, vừa đắt, vừa không ngon. Sa chạy lăng quăng, lúc nào cũng cười, mang thức ăn, rót nước, và dọn bát đĩa.  So với con gái ơủ đây, Sa cao hơn nưủa cái đầu.  Tóc nàng đen màu gụ, thắt thành bím dài chấm vai.  Khi Sa baủo Sa đã hai mươi tuổi, không một ai tin.  Thằng Billy vừa nhồm nhoàm, vừa kêu :

– Mày chỉ độ mười bốn, mười lăm là cùng…

 

Sa lại cười :

– Thank you !

 

Chợt Marthe giơ tay lên làm dấu,  miệng khẽ xuỵt xuỵt.  Nàng lắng tai rồi nói nhoủ :

– Có nghe thấy gì không ?  Các bạn …  lắng nghe.

 

Mọi người ngơ ngác.  Marthe thì thào :

– Tiếng nhạc.  ChắÔc nhạc baủn xứ.  Tiếng như khèn… Lại còn tiếng một thứ âm vọng từ chất kim, các bạn nghe thấy chứ ?

 

*

 

 Sáng tinh mơ, tiếng đập đá trước khách sạn đã vang lên.  Marthe choàng chiếc áo len, ra ngoài hiên.  Lúc đó, Sa đang ngồi giặt những tấm khăn traủi bàn.  Ðến gần, Marthe vui veủ :

– Trời ơủ đây sáng lạnh nhỉ ?

 

Sa đáp :

– Thưa cô, chốc có nắng sẽ ấm lên !

 

Marthe hoủi :

– Cô, cô nghĩa là gì ?…

 

Nghe Sa giaủi thích, bất cứ ai nhoủ tuổi hơn mẹ, đều được gọi là cô, là dì… như người trong gia đình.  Cách gọi đó vừa thân mật, vừa kính trọng, và lại vừa lịch sự.  Marthe ầm ừ :

– Bên Pháp, gọi là Tata…

 

Sa lập lại *… Tata ? +.  Gật đầu Marthe tiếp :

– Không phân biệt em cuủa cha, hay cuủa mẹ.  Tất caủ là Tata.

 

Sa ngước nhìn, cười rũ rượi, rồi nói :

– Thế cháu gọi cô là Tata nhé …

 

Marthe cũng cười.

 

Bỗng có tiếng sáo ngang réo rắt từ tầng trên khách sạn vẳng lại.  Marthe lắng nghe, hoủi :

– Ai thổi sáo đấy ?

 

– Dạ, ông người Mỹ.  Tên là Freddy.  Ông ấy baủo đấy là cách gọi tắt Frederic.  Thôi, cháu phaủi vào dọn ăn sáng – Sa cười, giọng ngượng nghịu – Tata nhé…

 

Nhìn bóng Sa lẩn vào sau, Marthe lững thững đi vào khu vườn nằm phía hông khách sạn.  Chuyến xe từ Hà Nội hôm qua khơủi hành vào sáu giờ sáng.  Thế là sau mười hai giờ đường mới tới Sapa, lắm đoạn xe xóc nẩy lên, người Marthe doãi ra baủi hoaủi.  Nhìn lên cao,  mây chập chùng vây quanh che những đỉnh núi chót vót.  Mắt đaủo một vòng, Marthe tự hoủi đỉnh Phăng Xi Păng là đỉnh nào nhỉ ?  Giữa trời mây trắng kết thành những taủng bông lượn lờ dưới ánh nắng sớm vàng tươi. Ưỡn người hít đầy không khí, Marthe lim dim, tai vẫn nghe tiếng sáo ngang, miệng lẩm nhẩm theo nhạc điệu lúc trầm lúc bổng.

 

 Marthe mở cánh cổng bước lên hàng hiên. Khách sạn là một loại vila xây có lẽ từ thời Tây, ba tầng, trần cao, tường mới quét vôi vàng nhưng không che dấu được những vết rạn nứt của một thời đã qua.  Vuốt lên thớ gỗ bóng loáng của cái tay vịn cầợu thang đi lên tầng trên, Marthe bỗng tự nhiên bùi ngùi mà không rõ tại sao. Nàng lẳng lặng ngồi xuống chiếc ghế bành, vơ vẩn thả mình vào một cõi mông lung. Bất thình lình, anh hướng dẫn du lịch cất tiếng gọi khách.  Marthe bước xuống.

André ra đón vợ, vòng tay quàng lấy vai Marthe,  hôn lên má, dịu dàng  :

– Khoủe chứ ! Mình nguủ có ngon không ?

 

Marthe ngước lên, gật đầu :

– Oui… Nguủ ngon chứ, đi đường mệt thế nên nhắm mắt là không biết gì nữa…

 

Anh hướng dẫn khuyên mọi người ăn cho no trước khi đi treking[1][1][1].  * Ngày hôm nay, sẽ đi hai mươi cây số, anh giơ tay, exì, hai mươi cây đường núi chứ không phaủi đường bằng đâu !+, anh vừa cười vừa nói.   Ðám khách du lịch ngồi vào bàn.  Thằng Billy nhaủy quẫng lên :

– Ăn sáng, bây giờ thì quen ăn phơủ… No toast, no eggs [1][1][1]… chỉ phơủ.

 

Mang ra đặt trước mặt Marthe một ly cà phê, Sa chỉ về phía một người maủnh khaủnh ngồi trong góc, nói :

– Tata, Freddy đấy…  Ông ta ơủ đây caủ tháng rồi.

Ghé vào tai André, Marthe thì thầm rồi đứng dậy đi về bàn Freddy.  Marthe mời :

– Anh ra ngồi bàn chúng tôi cho vui.

 

Freddy lắc đầu, lạnh lẽo cám ơn.  Marthe chưng hưủng, ngượng nghịu :

– Anh là nhạc sĩ ?  Tôi nghe anh thổi tác phẩm cuủa Richter lúc nãy…

 

– Không!  Bây giờ tôi chỉ thổi sáo cho mình  tôi thôi !

 

Marthe nhẹ nhàng :

– Thế anh làm gì ?

 

Freddy ngưủng lên, mắt  nhìn Marthe, buông thoủngá:

–  I chase butterflies !Tôi là keủ đi săn bướm !

 

Tay chỉ vào một bộ vợt bướm to nhoủ đủ các cỡ, Freddy thủnh thỉnh tiếp :

– Ngày nào tôi cũng vào rừng… Ăn sáng xong là đi!

 

Marthe vui veủ reo :

– Cái nghề đến hay !  Thật tuyệt…

OSGSIMG_4772

Nàng quay về bàn.  André ngước mắt lên ra dấu chào Freddy, nhưng hắn đã đứng dậy, lưng quay về phía đám du khách.  Tay xách vợt bướm, Freddy đi ra, không nói năng gì.  Thằng Billy kêu lớn :

– Này  bạn, đi vui nhé!

 

Thấy Freddy không ngoái lại, nó thò ngón tay troủ vào thái dương, ý nói chắc là không bình thường.  Rồi nó quay ngón tay troủ, thọc lên trời, lẩm bẩm nhưng để ai nấy đều nghe thấy * Fuck you !  Fool ! [1][1][1]+.

 

*

 

Mẹ quờ quạng tìm các gắp than, tay quơ qua quơ lại  trên miệng chiếc lò bếp bằng gạch, rồi gọi nhỏ :

– Sa ơi !  Mẹ nghe trời lại trơủ mưa, phaủi không con ?  Gió nữa, gió to đấy !

 

Vừa múc nước đổ vào nồi, Sa vừa nói :

– Mưa rồi… Sáng trời còn trong vắt, đùng một cái là mưa.  Này, mẹ…

 

Mẹ đưa tay đỡ lấy nồi, đặt lên bếp.  Nhấc cặp kính đen ra, mẹ lấy khăn chấm mắt, rồi lại đeo vào.

– Cứ mỗi lần mắt chaủy nước là y rằng mưa.

 

Sa ngoaủnh lại.  Có lẽ caủ năm nay mẹ nhập nhòa chẳng nhìn thấy gì nữa.  Ðiều đó, có phaủi là giá phaủi trả cuủa ba năm mẹ khóc ngày khóc đêm ?  Sa không biết.  Hoặc Sa cố tình cho mình cái phép được coi như không biết ?  Mẹ lại lên tiếng :

– Ðêm qua tao lại nằm mơ thấy anh mày.  Mỗi lần như vậy, là y rằng sắp lại có chuyện gì…  Tao thấy nó gõ cưủa, tay cứ chỉ lên đỉnh Hàm Rồng, Sa ạ !

 

Sa tiếp tục thái rau.  Mẹ im lặng, quạt bếp phành phạch.  Lát sau, mẹ hoủi :

– Ông phát thư qua chưa ?

 

Sa đáp * Dạ, rồi ! +.  Nàng chắc chắn rằng dẫu không hoủi nhưng trong đầu mẹ là câu mẹ đã từng hoủi ba năm liền * có thư cha cho mẹ không con ? +. Ba năm liền Sa baủo * không ! +.  Nàng không mơủ, cất đi những bức thư đó trên kèo nhà, mặc dầu sau câu traủ lời đó là mẹ lại kêu mệt, nằm dấu mặt vào tường giaủ vờ nguủ, ấm ức khóc một mình.  Sa nhớ tới bức thư Sa bịa ra chuyện bước thêm bước nữa cuủa mẹ.  Nàng tươủng tượng veủ mặt cha  nhăn nhó lại khi đọc *… mẹ có người khác, chỉ xin cha cho mẹ yên, xây dựng một hạnh phúc mới…  và cha đừng bao giờ trơủ lại đất Sapa này nữa ! +.  Từ đó cha chỉ viết cho Sa, chẳng nhắc gì tới mẹ.  Khi traủ lời, không bao giờ Sa trách móc gì cha, úp mở để cha đoán là mẹ sống yên lành vui vẻ.  Chuyến cha vào Ðàng Trong thành một chuyến đi không ngày trở lại. Ðám bạn cũ ruủ cha về sống ơủ Ðà Lạt, rồi cha vẽ và trình bầy cho tờ báo có cái tên là lạ là Lang Biang.  Sa chưa từng thấy tờ báo.  Có dịp về Hà Nội, Sa đi tìm mua.  Người ta ngớ ra, baủo * … chưa nghe thấy !  Báo gì đấy? Chắc lại là loại Kiến Thức Phổ Thông hẳn ? +.  Sa không biết, lắc đầu.

Ðến nay, cha chưa biết là mẹ gần như mù.  Bức thư cuối, cha viết *… Sa con, cha mừng là con học xong cấp ba, và biết phấn đấu học thêm ngoại ngữ.  Cha còn một ước vọng : cha mong con học lên đại học+.  Thư traủ lời, Sa đáp *… con sẽ đi học ngành Ðiện aủnh như cha khi xưa.  Con sẽ thực hiện những bộ phim cha ao ước nhưng chưa làm được. Viết cho đất nước mình một bộ * Chiến tranh và Hòa bình + như Lép Tôn Toi, con sẽ quay phim, mời cha đóng một vai +.  Cha vội vã viết ngay *… Thôi, đừng đi theo vết xe đổ, cái ngày con vẽ ra còn xa.  Trên Ðại học Ðà Lạt, có môn Luật pháp. Cha đề nghị con học môn Luật, vì đất nước chúng ta sẽ cần, rất cần luật…  Mọi việc, cha lo.  Bây giờ con phaủi thuyết phục mẹ.  Vaủ lại, như con đã báo, nay mẹ con đi thêm một bước rồi, để con xa nhà vì tương lai chắc mẹ cũng vui lòng… +.

 

Quay sang nhìn mẹ, lòng bỗng chùng xuống, Sa ngậm ngùi nói :

 – Mẹ ạ !  Có thư đấy !

 

Mẹ vội vãá:

– Cuủa cha à.  Cha có nói gì không ?

 

Sa đáp :

– Cha baủo con đi học Luật trên Ðà Lạt, nơi cha ơủ !

 

Mẹ im lặng.  Một lát sau, mẹ tức tươủi :

– Cha có hoủi gì đến mẹ không ?

 

Như mọi lần, câu mẹ hỏi lại đẩy Sa hững người vào một trũng sâu. Nàng quờ quạng tìm lối ra, miệng cứng lại, đắng chát.  Hình phạt bắt caủ cha lẫn mẹ chịu đựng nay biến thành thứ hình phạt cho chính nàng, vừa tàn ác, vừa vô lý.  Nhưng  làm sao ngưng hình phạt đó lại được ?  Nước vạc dầu còn sôi, và trận tắm lưủa đã nung nấu thịt da ba năm rồi.  Nàng bất lực, bỗng  chạnh thương thân, nước mắt ứa ra. Mẹ lại nhấc kính lau mắt. Tránh òa lên khóc ,  Sa vội vàng đứng dậy. Nàng vấp chân  vào cái ghế đẩu để lối ra, chúi người, tay đập vào cánh cửa. Mẹ gọi hốt hoaủng :

– Sa, Sa.  Sao thế con ?

 

Sa nghẹn ngào nói trong cổ họng :

– Không. Con vấp.  Không sao đâu mà ! 

 

*

 

Ðám khách du lịch boủ chuyến treking về đến khách sạn vào cuối trưa.  Trời mù mịt mưa. Mây sà thấp xuống trùm lên núi rừng một màn sương u ám. Khí lạnh theo độ ẩm chui qua kẽ áo, thấm vào da thịt, khiến mọi người co ro run rẩy.  Thằng Billy nhìn Hà, lầu bầu :

– Fuckin= rain [1][1][1] !  Tao sợ còn mưa nữa…

 

Quay sang Sa, nó nham nhơủ :

– Hey, baby… I=m getting wet [1][1][1].

 

Marthe và André bước lại.  Xoa tay vào nhau, André lập cập hoủi Sa :

 – Cô có rượu gì, uống cho ấm bụng ?

 

Sa cười :

– Dạ có.

 

Nhìn  tấm baủng có ghi tên dăm ba loại rượu, André lắc đầu, đưa cho Hà.  Hà dịch.  Rượu mận.  Rượu đào.  Rượu táo.  Rượu rắn… André hoủi bằng tiếng Pháp có phaủi là rượu rắn chỉ là tên tươủng tượng ra không ?  Sa có lẽ chẳng hiểu gì, nói *yes, yes +, tay chỉ vào hiệu Rémy Martin, và tiếp * good, good… +.  Nàng quay sang Marthe, mắt sáng lên :

– Tata baủo ông ấy uống rượu Tây.  Ngon hơn rượu ta.  Cháu baủo đaủm không phaủi rượu giaủ !

 

Marthe cười, gật đầu.  Hà và André ruủ nhau thưủ rượu rắn.  Marthe thè lưỡi nhìn con rắn bằng cái que đũa lơ lững trong chai rượu màu vàng nhạt.  André nhấp rượu, kêu :

– Cũng được.  Hơi đắng một chút.

 

Cưủa bỗng bật mơủ, Freddy bước vào, tấm áo mưa nước nhoủ giọt.  Ðể đống vợt vào một góc, hắn cơủi áo mưa treo lên cái mắc cạnh cưủa, rồi khẽ cúi đầu chào mọi người. André kéo ghế mời. Khi Freddy bước tới, hắn mỉm cười, nhìn Marthe. André giơ tay ra bắt, nói tiếng Anh với giọng  Pháp :

– Thật là một ngày xấu trời !

 

Marthe làm thân, ân cần hoủi :

– Anh có bắt được con bướm nào không ?

 

Freddy lắc đầu.

 

– Nhưng sao anh lại có thể bắt những con bướm xinh đẹp kia nhỉ ? Marthe tiếp.

 

Freddy trầm ngâm :

– Kiếp bướm, chỉ từ năm ba ngày đến độ một tháng.  Không bắt, chúng cũng tự huủy tự diệt.  Bắt chúng, tôi biến chúng thành bất tưủ.

 

– Bất tưủ ?

 

– Vâng.  Muốn chúng bất tưủ, không phaủi dễ.  Chất hóa cơ như là chất dính lên cánh bướm thay đổi tùy theo màu, theo loại.  Hơn nữa, chỉ để lên một lớp vừa moủng.  Ðể dầy quá, màu sẽ đổi, moủng quá thì màu sẽ phai dần.  Lại còn chất phóc-môn trích vào thân bướm, và một loại véc-ni bôi lên chân, lên râu.  Làm cho một cánh bướm bất tưủ, tôi mất từ 45 phút tới một giờ… Sau đó, tôi lại ghi rõ phaủi baủo quaủn chúng ơủ điều kiện nhiệt độ nào, với loại ánh sáng nào…

53

Trố mắt nhìn Freddy, Marthe thốt :

– Nhưng chúng chết caủ rồi…

 

Freddy bật cười :

– Sự bất tưủ dĩ nhiên chỉ đến sau cái chết…  Tôi có bao giờ nói rằng tôi làm chúng sống mãi đâu.  Nhưng cái đẹp cuủa những cánh bướm kia thì tôi giữ được.  Cái đẹp đó bất tưủ.  Ðời sống cưu mang cái đẹp đó lại hữu hạn.  Công việc tôi làm là lấy cái đẹp ra khoủi sự hữu hạn sống chết.  Khaủ năng  đạt đến bất tưủ sau cõi chết  là tạo ra cõi sống cuủa cái gì  đó khác đi với sự sống trước đó, một sự sống đã có, nhưng lucÔ nào cũng tiến đến huủy diệt một cách không khiên cưỡng được…

 

André đưa tay bóp trán, lắc đầu chậm rãi :

– Tôi là bác sĩ tâm thần.  Tôi hiểu.  Với con người, câu hoủi lớn nhất vẫn là cái chết.  Trốn nó, người ta đặt ra vấn đề bất tưủ…  Ông xem đấy, khái niệm đó, như linh hồn bất tử chẳng hạn, tồn tại trong mọi tôn giáo…

 

Freddy nhìn vào mắt André :

– Sau sự chết, ông có tin linh hồn có không ?

 

Tươi cười, Marthe ngắt lời Freddy như để lái câu chuyệnsang hướng khác :

– Câu hoủi lớn nhất, là tình yêu.  Not life, but love in death[1][1][1] mà ! – mơ màng, Marthe tiếp – mà này, tôi lại nghe thấy tiếng… một thứ nhạc khí… mà không thể định loại được…

 

Freddy nghiêng tai :

– Không…  Tôi không nghe thấy gì !

 

Marthe ngước mắt :

– Có đấy !

– Xưa tôi chơi cho dàn hợp tấu Philharmony of NewYork. Không lẽ tai tôi bây giờ tồi thế.

– Anh lắng nghe đi…, Marthe nhẹ nhàng. 

 

André cũng chăm chú nghe, nhìn Freddy.  Hắn lại lắc đầu, hoủi Marthe :

– Bà là nhạc sĩ ?

 

– Không !  Tôi là chuyên viên âm nhạc.  Tôi nghiên cứu về nhạc những dân tộc thiểu số miền Bắc Borneo.

 

Freddy mỉm cười rồi đứng dậy :

– Thật ra, khi tôi muốn nghe gì tôi chỉ nhắm mắt lại một lúc là tôi nghe được.  Ðó, không phaủi nghe bằng tai, mà nghe bằng tâm caủm và trí tuệ… Có lẽ bà đang nghe như vậy, và chỉ có bà, bà mới nghe thấy tiếng nhạc khí đó.  Thanh âm, như cánh bướm đẹp kia, đã thuộc về bất tưủ rồi…

 

Nốc hết ly rượu rắn, Hà bắằt chước Freddy lịch sự  cáo lỗi rồi cũng đứng lên. Chàng đi về phía cuối phòng, mắt ngước nhìn. Trên tường, một bức tranh khổ khá lớn treo ngay chính giữa, khung làm bằng gỗ gụ đen bóng. Mỉm cười, Hà thầm nhuủ, chắc lại thêm một sự bất tưủ nữa ơủ đậu bằng sơn dầu trên cái cõi đời moủng maủnh phù du này. Ðến gần, Hà chăm chú nhìn. Bức tranh vẽ một cây đa, rễ xù xì vươn ra như vòi bạch tuộc uốn lượn quanh  cái hốc đen ngòm. Cạnh gốc cây, là cái miếu mái xiêu vẹo, chênh vênh như sắp đổ. Cưủa ngoủ toang hoác, trong miếu có một cái bàn thờ. Trên bàn thờ, lư hương vỡ làm đôi, những cây nhang cháy dơủ đã tắt nằm ngơ ngác bên một ngọn nến tàn, chân nến chaủy nhiễu xuống trông như nước mắt rơi. Phaủi để ý lắm, Hà mới thấy trên nền miếu, còn một tờ sách nát nhầu, rách rưới,  nằm chơ vơ lạc lõng.

 

*

 

 Cho đến đêm mưa vẫn raủ rích. Trừ một mình Hà, đám khách du lịch đã đi nguủ hết. Khoác áo mưa, chàng lẳng lặng ra khoủi khách sạn. Nhồi thuốc vào tẩu, Hà bật quẹt. Mùi khói thuốc thơm lừng lên rồi taủn mạn vào trong cái không gian cao nguyên ẩm ướt.

 

Sapa chỉ có một con phố chính. Phố co mình nằm cong như như một con sâu đen ngòm, với dăm khoaủng sáng hắt ra từ những khách sạn loại mini và những quán Karaoké đèn chớp chớp như cái nháy mắt mời mọc khách vào chơi. Ði dọc phố, sau Bưu Ðiện là nhà thờ Sapa. Ngôi nhà xây từ thời Tây, mái chuông nghễu nghện cắm cây thập tự chơ vơ vươn lên cao, tường gạch đoủ long lơủ, trông ngoài như boủ hoang. Một vị thừa sai còn đó, nhưng nhà thờ thật hiếm con chiên. Họ chỉ độc vỏn vẹn bốn người.  Tuy không có lễ, họ  vẫn đều dặn gập nhau ngày Chuủ Nhật. Vị thừa sai, dĩ nhiên. Một bác làm vườn nay đã già lắm. Một mụ đàn bà người Hmông, xưa nay lên chợ ngày thứ bẩy, nguủ lại dưới mái hiên nhà thờ cho đến trưa Chuủ Nhật mới về giồng [1][1][1]. Và cuối cùng, một ông cụ làm nghề ăn mày  từ đầu Cách Mạng Tháng Tám.

Hà bước qua sân, coủ dại mọc tua ra từ kẽ những hòn gạch lát đường, lững thững đi vào. Ðứng dựa cột chống mái hiên nhà thờ, chàng lại bật quẹt châm lại mồi thuốc vừa tắt. Chung quanh, sự sống chỉ còn tiếng dế rỉ raủ, tất caủ im ắng chìm vào màn đêm đen nghịt. * Pu man xi khan a…+, một tiếng nói khe khẽ vẳng lên  cạnh tai. Giật mình quay lại, Hà nhận ra một thanh niên tay đang giơ lên điếu thuốc lá xin lửa. Hà lại bật quẹt. Dưới ánh lưủa trong gió chập chờn, một thiếu nữ ngồi thu lu, mình quấn chăn, đầu đội khăn mầu đoủ au. Có lẽ, Hà thầm nghĩ, cặp vợ chồng này gập mưa đành trú lại. Anh thanh niên rít thuốc, nói tiếng Kinh giọng lờ lợ * Giồợng xa, xa la ! + như để giaủi thích. Hà chỉ tay vào ngực mình, đáp nhoủ * …Giồng tôi cũng xa,  xa đến chẳng biết ơủ chốn nào…+. Hà ngạc nhiên nghe tiếng mình nói tiếp *…và bao giờ mới về được ! +. Anh thanh niên không hiểu, nhếch miệng cười, răng vàng ánh lên trong tối. Vỗ vai anh, Hà lẳng lặng bước ra, luồn đi trong bóng đêm dầy đặc.

 

Về khách sạn, người đợi cưủa là Sa. Lách người vào, cái lạnh khiến Hà run rẩy. Sa cười :

– Mưa thế, chú đi làm gì cho lạnh. Tối mưa như tối nay, Sapa chẳng có gì. Quán Karaoké cũng đóng hết…

 

Hà hoủi chai rượu rắn uống dơủ bữa chiều, nói khẽ :

– Sa buồn nguủ cứ đi nguủ trước.

 

Cầm ly rượu đến trước bức tranh vẽ cây đa và cái miếu cổ, Hà nheo mắt ngắm. Tranh vẽ kiểu siêu hiện thực. Nhìn kỹ, nó đang tìm bắt một cái gì đó, ma quái, huyền aủo và lẫn lộn  caủ  đau thương. Thấy Hà chăm chú, Sa baủo :

– Cha cháu vẽ đấy. Chú cũng là họa sĩ ?

 

Hà lắc đầu, uống cạn ly rượu, rồi lại rót.

– Thế chú làm gì bên ấy ?

– Broker.

– Thế là gì hơủ chú ?

– Là mua qua bán lại. Mua reủ bán dắt…

– ƠẨ đây người ta gọi thế là gian thương đấy!

 

Hà bật cười. Sa lại hoủi :

– Thế chú mua bán gì ?

– Những con số. Khi mình đoán một con số sắp xuống, bán nó. Rồi mua một con số khác mình nghĩ là nó sắp lên. Ðấy, nghề cuủa tôi thế đấy…

 

Sa trề môi, giọng ngờ vực :

– Cháu chỉ thấy người ta mua sổ số. Còn mua bán như chú, cháu chưa bao giờ nghe qua…ngay như ơủ Hà Nội. Thế chú có kiếm được tiền không ?

 

Hà không đáp. Lát sau, Hà nói như nói một mình :

– Kiếm thì kiếm được, nhiều nữa là khác. Nhưng chán lắm. Hóa ra cái đồng tiền khiến người ta khổ vì nó chỉ là những con số vô hồn lên lên xuống xuống…

 

Không nhìn Sa, Hà quay sang bức tranh, hoủi

– Cha cháu đâu không thấy ?

 

Sa đáp, giọng buồn buồn :

– Cha cháu nay ơủ Ðà Lạt.

– Chắc đi vẽ. Ðà Lạt có nhiều caủnh đẹp…

 

Sa lắc đầu :

– Cháu chẳng biết. Cha cháu vào với bác P, viết lách cái gì đó, tên nghe đâu như có tấm baủng chỉ đường và trí tuệ. Cha cháu nói thế…

 

Tò mò, Hà đến gần, mắt dán vào bức tranh. Sa giọng bùi ngùi :

– Cha cháu có dậy cháu xem bức tranh này. Cây đa, chú nhìn thật kỹ, thấy gốc nó đang bị sâu bị mối ăn. Cái hốc đen đấy, nhìn chếch về phía trái, chú sẽ nhận ra những con sâu xanh xám. ƠẨ dưới, có những con mối li ti trắng…Còn lá, lá xanh đang úa, chuyển sang vàng nhưng trời không phaủi là mùa thu vì cây coủ xung quanh vẫn tươi tốt. Cha cháu baủo cây đa đang bị bệnh…

– à

– Trước đây cha cháu không cho ai xem bức tranh này ngoài bác P. Nhưng bây giờ khác rồi. Mới lại cháu mang tranh treo đây cha cháu đâu có biết – Sa bật cười, tinh quái – cây đa thế, thật là hợp với cái cái bàn thờ tổ xiêu vẹo, nến thì  đổ, hương thì tàn…

 

Mơ hồ tươủng ra một người họa sĩ cô đơn với những dằn vặt khó có ai chia seủ, Hà lặng lẽ nâng ly rượu lên môi. Giọng Sa đều đều :

– Cha cháu dặt tên bức tranh là Cây đa nơi đỉnh miếu. Nói với bác P, cha cháu baủo miếu là Miếu Xã Tắc đấy. Rồi cha cháu cười, mong có dịp đi vẽ lại Ðền Hùng cuủa thời đại mới này. Bác P buồn lắm, lại quay về cái chuyện vẫy gọi nhau và trí tuệ gì gì đó…Bác hôm ấy mời cha cháu vào Ðà Lạt. Thế là mấy hôm sau cha cháu đi…

 

Hà lại uống. Lần này chàng để caủ chai vào miệng tu ừng ực một hơi. Thấy chai rượu đã cạn, chàng baủo :

– Cho chú thêm một chai nữa !

 

Sa kêu:

– Eo ôi, chú uống ghê quá! Hơn caủ mấy ông Tây.

Mang rượu ra, Sa nhăn mặt, nói * …thôi, cháu đi nguủ đây ! +. Không đáp, Hà chỉ gật đầu. Cứ thế, Hà vừa uống vừa chăm chăm ngắm bức tranh. Ðầu dần dần nặng, Hà cúi xuống chai rượu. Cặp mắt con rắn cổ bành ra bỗng sống động nhấp nháy. Hà lại đưa chai lên tu, con rắn uốn éo múa lượn trong cái dung dịch vàng nhạt, cổ cong lên như sẵn sàng mổ vào mặt. Hà bất giác cười, ngưủa cổ tu một hơi, miệng bốc lưủa, lưỡi tê đi, môi cứng lại. Cây đa rỗng ruột bỗng ơủ đâu chìa ra những cánh tay chờn vờn  đe dọa. Con rắn nhẩy khoủi chai rượu, uốn éo bò lên bàn thờ. Nó bạnh cổ, thơủ phì phì, cong thẳng mình lên như một khúc tre già, lươủi thoăn thắt thè ra thụt vào, lấp loáng như  lưỡi dao sắc và lạnh. Hà bỗng hoảng sợ lùi lại, loạng choạng ngã chúi xuống đất.

 

Không biết bao lâu sau Hà mới có caủm tươủng ai đó đang lay mình dậy rồi kéo cho ngồi lên. Hà chỉ ngưủi thấy một mùi hương nồng ngát, hăng hắc đến từ da thịt. Cố gắng ngóc lên, nhưng nặng như đeo chì ,  đầu chàng lại gục xuống, mặt úp vào một khoaủng mềm mại. Chàng rúc vào, mơ hồ lội ngược dòng, miệng hé ra như thươủ còn bú mớm. Dẫu thoáng qua, chàng bất chợt thấy an bình, hệt như  lúc ngã vào tay mẹ chàng khi chập chững tập đi trong cõi nhân gian này. Hình như chàng gọi * Mẹ, mẹ ơi ! +. Hình như chàng khóc. Hình như chàng mân mê bầu vú đã nuôi chàng bằng những dòng sữa ngọt thời thơ ấu.

 

Khi tỉnh dậy sáng hôm sau, Hà ngạc nhiên thấy mình nằm trên giường trong phòng, với một tấm chăn đơn phuủ ngang bụng.

 

 

NAM DAO

 

Advertisements

Read Full Post »

co-gai2

Dải ruy băng màu tím

 

Elena Pucillo Truong

(Nguyên tác : il nastrino viola )

Bản dịch của Trương Văn Dân

 

Nút thắt vừa được mở.  Chiếc ruy băng màu tím dùng để cột những bức thư mà tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần, lần nào cũng đầy cảm xúc. Tất cả bắt đầu từ mười năm trước, khi tôi rời quê hương để tìm việc làm ở phía bên kia trái đất. Thật chẳng dễ chút nào… nhưng thời đó đâu có nhiều chọn lựa :  Chết hoặc sống bấp bênh với những cơn đói thường trực… Thế  là phải nắm bắt cơ hội để có thể đổi đời…  mà nào chỉ là cuộc đời của riêng tôi.

Đi, mà không biết điều gì sẽ xảy ra và thực tế là tôi đã phải trả một giá đắt đỏ. Ngay cả khi tìm được một công việc như rửa chén trong nhà hàng, tôi cũng chẳng bao giờ có thời giờ để suy tính. Chấm dứt công việc đó tôi tìm được một công việc khác, giữ chân bảo vệ ban đêm hay thay thế lão gát dan trong một khách sạn rẻ tiền. Ngày và đêm đều  giống nhau, chỉ có trái tim tôi là luôn hướng về một nơi chốn xa vời hơn mười nghìn cây số.

 Công việc bận bịu đến nỗi có nhiều lúc tôi chẳng có thời gian ăn uống. Buổi sáng nuốt vội một cái gì, một mẩu bánh mì và một tách cà phê, được nhà chủ bao cho sau một đêm làm việc, còn tiền lương thì tôi cố gắng tiết kiệm. Góp được đồng nào là tôi có thể gửi thêm về cho ba mẹ ở bên kia trái đất, hai người già có đôi mắt sáng, và chỉ vì tôi mà họ sống. Suốt đời, họ đã làm việc cật lực và cho tôi rất nhiều yêu thương, cho tôi biết mùi vị của sách vở, nhưng không đủ khả năng để lấp đầy cái khoảng trống nằm trong bao tử lúc nào cũng háu đói. Có lẽ chẳng mấy ai thật sự biết cái đói nó khủng khiếp như thế nào :  Cái lưỡi liên tục đưa qua đưa lại trong cái miệng chẳng có gì để nhai và kéo dài hằng giờ như thế mà chẳng có chút hy vọng nào là sẽ có được một chén cơm. Chỉ có trí óc mới có thể giúp ta quên nghĩ đến nó : Ba kể cho tôi nghe về những thế giới xa lạ, những cuộc phiêu lưu, nói về những cánh rừng có cọp và voi đi qua, về những cuộc nhào lộn trong lễ lạc ở các làng mạc xa xôi hay nói về âm nhạc với tiếng trống, chiêng và kèn rộn rã. Đó là những thế giới kỳ ảo,  như các hình ảnh màu sắc rực rỡ trong kính vạn hoa, trong đó ánh sáng được nhân lên để làm cho cái góc tăm tối và nghèo nàn mà chúng tôi đang sống trở nên dễ chịu.  Đó là lý do mà dù đã ra đi nhưng tôi không thể nào quên được những ánh mắt và bốn bức tường thân thương của gia đình. Tôi làm việc, làm việc. Rồi ban đêm, khi công việc đã thưa đi, cũng có thể viết thư về nhà. Và những điều tôi viết cho họ bây giờ cũng giống như thế giới kỳ ảo mà ba tôi thường kể :  Có rất nhiều người giúp đỡ tôi, một công việc nhàn hạ, thoải mái và tôi đang sống một cuộc đời đơn giản và chẳng có buồn đau…

Đó là một món quà cho ba mẹ và cũng là sự đền đáp về tất cả những hy sinh mà suốt đời họ đã dành cho tôi.

Sau đó thì những bức thư hồi âm từ xa xôi cũng đến với tôi. Thuở đó đâu được như bây giờ, chỉ cần viết rồi nhấn phím là lát sau có được tin trả lời. Thời đó, những bức thư phải cần vài tháng và trong khi chờ đợi hồi âm tôi thường tưởng tượng ra những điều mà họ sẽ viết.

“ Cảm ơn số tiền mà con vừa gửi cho ba má. Nhờ nó mà mẹ con vừa may được một bộ đồ và ba cũng mua được một cái quần mới. Ba mẹ khỏe, con yên tâm. Hãy cố gắng sống bình an và hạnh phúc. Bên này ba má chỉ cần một ít tiền để sống, điều quan trọng là con viết thư liên lạc thường xuyên để ba má khỏi trông. Con biết không, cứ mỗi lần đọc lại những bức thư, ba má cứ tưởng là con vẫn còn hiện diện ở đây với gia đình chứ không xa ngút ngàn như sự thật…”

          Với tôi cũng thế. Tôi cũng thường đọc lại những bức thư nhà rồi cẩn thận xếp lại, cột tất cả bằng một dải ruy băng màu tím. Trong những lúc đó tôi cũng tưởng như mình vẫn còn sống trong gia đình, tôi lật qua lật lại những trang giấy mỏng và nhẹ như giấy quyến nhưng đầy ắp chữ  cùng những lời khuyên để trưởng thành một người tử tế. Rồi tôi lớn lên với một nỗi nhớ thương liên tục trong tim.

Làm việc nhiều nên tôi gầy như một que củi, thế nhưng khi nghe ai hỏi, tôi liền trả lời là tại thích chạy bộ để giữ gìn sức khỏe rồi vừa cười vừa lịch sự chào họ.

          Thời gian cứ thế trôi qua và tôi bắt đầu nói thạo thứ ngôn ngữ thật xa lạ của những ngày mới đến nên tôi đọc, đọc tất  cả những gì mà tôi tìm được trong khách sạn. Có khi một tờ báo, có lúc một tạp chí khoa học hay một vài quyển sách mà một người khách đãng trí nào đó đã bỏ quên. Rồi một ngày tôi như  bị hút bởi một trang sách đầy những con số và đồ thị… rồi chợt hiểu là những phép tính trong toán học chính là một thế giới mà mình thích khám phá. Quyển sách ấy thế là chưa đủ, và tôi quyết tìm cách học thêm. Rồi hằng đêm tôi chăm chỉ học, đến nỗi quên cả thời gian đã trôi qua. Có nhiều lần mệt mỏi, thế nhưng  chỉ cần đọc lại những bức thư nhà là tôi cảm thấy tinh thần thư thái và có cảm giác là mình mạnh mẽ thêm lên. 

“ Con yêu dấu, lúc này tuy ba má đã già hơn nhưng vẫn còn mạnh khỏe. Lúc này còn có những người hàng xóm thật tốt bụng và tử tế, thỉnh thoảng họ còn đi chợ giúp ba má hay nấu cho những món ăn ngon. Ít ra thì ba má cũng chẳng đơn độc. Nhớ viết thư thường xuyên nhé, như thể con đang tặng ba má một phần đời của con và ba má rất vui vì con hạnh phúc ”

Họ đâu biết hạnh phúc của tôi chính là được ở bên cạnh họ. Nhưng như vậy cũng được thôi. Dù sao thì sự xa cách này cũng có một ý nghĩa. Hoặc chính tôi phải gắn cho nó một ý nghĩa vì mình chẳng thể làm gì khác.

Mười năm trôi qua và giờ này thì tôi có thể sống và làm việc ở nơi chốn xa lạ này nhưng vẫn cảm thấy an tâm. Tôi không còn là một chàng thanh niên nữa… mà đã là một người đàn ông trưởng thành và rất tự hào về những điều mình thực hiện. Tôi không còn làm việc ở quán ăn, cũng  không còn thức đêm ở một khách sạn  nằm ở ngoại ô thành phố. Bây giờ tôi dạy tin học và với vị trí này tôi có thể giúp đỡ nhiều sinh viên ngoại quốc đã đến đất nước xa lạ này để tìm kiếm một tương lai. Họ chẳng biết nỗi niềm của tôi nhưng tôi thì hiểu sâu sắc cuộc đời  và những hy sinh mà họ đang gánh chịu. Nhiều em kể với tôi về những cơn đói lúc còn ở trên quê hương xa vời của họ và làm tôi như thấy lại bóng mình trong gương, với đôi mắt lạc thần cũng với nỗi sợ hãi về tương lai… luôn xuất hiện trong mắt tôi thuở đó.

          Những buổi tối rảnh rổi tôi thường đọc lại những bức thư  cuối cùng của ba mẹ vì rằng đã rất lâu rồi tôi không nhận được tin gì của họ.  Hằng tháng tôi đều gửi một ít tiền đã dành dụm được, về sau càng ngày càng nhiều thêm, nhưng thư hồi âm của họ càng ngày càng thưa dần. Tôi nghĩ chắc vì tuổi già, mắt kém, nên với họ, viết  một bức thư cũng là điều khó nhọc. Và với ý nghĩ đó, tôi càng cố gắng viết cho họ nhiều hơn, hay khi bận rộn chỉ viết được vài hàng nhưng lần nào cũng bỏ kèm thêm một ít tiền. Nhưng tin tức về họ vẫn mịt mờ. Thế là cuối cùng tôi cũng phải chọn một quyết định, bây giờ thì tôi có thể  trở về quê thăm ba  mẹ và nhân tiện chào hỏi và cảm ơn những người hàng xóm tốt bụng.     

Trong những bức thư cuối cùng hình như cả ba và mẹ đều viết cùng một giọng, nhưng có lẽ lúc này thì họ đã quá già rồi, và mặc dù đã nhiều lần tôi  yêu cầu gửi cho tôi một bức hình mới chụp nhưng họ vẫn không làm. Hình ảnh họ trong lòng tôi  chắc vẫn giống như trong bức hình đen trắng cũ đã mờ, trong đó mẹ trùm khăn trên đầu còn ba thì mặc chiếc quần rộng thùng thình có nhiều mảnh vá. Giữa họ, có tôi, lúc đó còn mặc quần ngắn nên phô ra đôi chân khẳng khiu, còn hai con mắt thì bị một lọn tóc vô duyên phủ lên một cách mất trật tự.

   Cầm lấy dải ruy băng màu tím để cột lại những bức thư cũ. Lòng tôi rạo rực vì sắp đến ngày khởi hành. Ba mẹ sẽ ngạc nhiên như thế nào trong chuyến về thăm bất ngờ, không báo trước ?

***

dinh-cuong-tranh-2

  Tôi gõ mạnh lên bàn phím của máy tính, như thể trong tay đang cầm cây búa. Tôi muốn đập vỡ, tan tành, mà không sao làm được.  Nhưng thật ra tôi cũng chẳng biết mình đang làm gì. Đối với mọi người, tôi vừa trở về từ một cuộc đi chơi, một kỳ nghỉ, thế nhưng những quầng thâm dưới đôi mắt mệt mỏi, hiển nhiên đến không thể nào che giấu. Bao nhiêu nước mắt, trời ơi, bao nhiêu tiếng nấc nghẹn mà tôi vật vã nuốt trọn vào lòng, dù  vẻ ngoài vẫn cứ nở một nụ cười gượng gạo.

 

Trở về thăm nhà sau mười năm xa cách và tôi hiểu ngay lý do của những bức thư thưa thớt đến từ gia đình. Nhưng làm gì còn một gia đình nữa mà  trông mong, chờ đợi!  

Chẳng còn ai cả. Ba, mẹ… họ đã chết cách nhau chỉ vài tháng và thi thể được chôn cất trong hai nấm mộ nghèo nàn. Trên đó chỉ có một tấm bia ghi tên, lấm láp bùn đất.

Họ đã chết cách đây năm năm, còn tôi, giờ đứng trước  hai nấm mồ lạnh lẽo để nhìn hàng chữ, những con số… “ mất ngày…” “ từ trần ngày…”. Họ đã quá già và hai trái tim cằn cỗi đã không còn chịu nổi. Còn tôi, nếu bỏ lại trái tim cạnh đó cũng vẫn còn chưa đủ.

Tôi khóc nức nở cho đến hết những giọt nước mắt cuối cùng.

 

Những giọt nước mắt đầu tiên chảy xuống khi tôi đứng trước căn nhà thời thơ ấu. Vài tấm ngói còn nằm chông chênh trên bốn bức tường rệu rã và xiêu vẹo giữa đống cây cỏ um tùm. Tôi gào lên, vô ích : “ Ba, Má… các người đang ở đâu?”. Cuối cùng tôi đọc tấm giấy  đã úa vàng bọc trong chiếc bao ny-lon rách nát : “ Thư từ xin liên hệ ở nhà số 52….”

 Một ông lão đang ngồi hút thuốc bên ngoài căn nhà bên cạnh đã chỉ tôi tìm ba mẹ ở nơi nào.

-“ Họ nằm ở đó, trong nghĩa trang ở cuối làng!”

   Tôi chưa hiểu. Bước đi vài bước rôi tôi quay người để hỏi thăm căn nhà  những người hàng xóm tốt bụng.

  • “Đó, căn nhà cao ba tầng đó là căn nhà số 52”

Mỗi bước chân tôi nặng như treo đá. Thất thểu lê người đến trước cổng nhà to lớn và bắt đầu nhấn chuông.

  • Ai đó? Chuyện gì vậy?

 Đáp lời tôi là một giọng cáu kỉnh và một người đàn bà ra mở cổng, ló đầu ra :

  • Anh là ai? Cần gì ?

Chỉ vừa nói tên tôi thì mặt bà ta tái mét. Bà lẩm bẩm vài lời… đáng lý phải báo tin… phải cho ông hay…  Một sự ngượng ngập cũng xuất hiện trên nét mặt người chồng, nhưng ông ta im lặng. À, phải rồi,  trong những tình huống như thế này thì người đàn bà luôn được đưa ra để phân trần, nhỏ vài giọt nước mắt, và phía bị hại thế nào cũng mủi lòng, hay ít ra không thể phản ứng mạnh.

          Giờ thì mọi việc đâu có thể thay đổi! Năm năm đã trôi qua mà họ vẫn không cho tôi hay biết. Thời gian đầu… họ “cũng” định trả lời những bức thư của tôi, nói cho tôi biết sự thật…nhưng sau…

          Tôi khinh khỉnh nhìn những ánh mắt lấm lét trên khuôn mặt trơ trẽn của họ, nhưng không thể nói được gì. Còn bà vợ thì nói, nói rất nhiều, như thể để lấp đầy sự yên lặng tráo trở sau mỗi câu nói. Cuối cùng tôi mới nói được vài lời.

– Còn tất cả những số tiền mà tôi gửi về cho ba mẹ? Đâu rồi ?

Hai người kín đáo nhìn nhau  rồi im lặng nhìn ra xung quanh. Tôi đã hiểu tất cả và bây giờ tôi không muốn làm gì khác hơn là chạy thật xa hai con ma không có trái tim và trốn khỏi căn nhà khốn nạn đó.

Thời gian vừa đủ để tôi có thể gọi một chiếc  xe để đưa tôi về một khách sạn trong thành phố và sau đó vội  sắp xếp cho chuyến trở về trước thời hạn. Đâu còn lý do gì để ở lại, và cho ai bây giờ?

 

Thế nhưng bây giờ đây, mỗi ngày cơn giận của tôi cứ dần dà trào ra. Một cánh cửa bị dập mạnh, một câu trả lời cáu gắt bất ngờ buông ra một cách thiếu lịch sự. Năm năm chồng chất những nỗi đau, hao tốn, nhưng vì nó đời tôi còn có một mục đích. Còn bây giờ… Hình như tôi chẳng còn lý lẽ gì để tin về những điều mình làm. Mỗi buổi sáng thấy bóng mình trong gương mà như thể đang nhìn một con người khác: Hàm râu mọc dài, má hóp, hai hốc mắt trũng sâu và không còn ánh sáng. Tôi không còn là tôi nữa. Tôi không còn lịch sử, một cuộc đời ở phía sau lưng. Tệ hơn nữa là tôi cũng chẳng nhìn thấy vì điều gì để sống trong tương lai. Như thể tôi cũng bị chôn vùi trong hai huyệt mộ ở quê nhà.

Đã nhiều ngày … nhưng tôi chẳng thiết đi làm.  Tôi như bị chôn sống trong nhà và chẳng quan tâm đến bất cứ việc gì.  Những ngày đầu, tôi có nghe vài tiếng chuông điện thoại nhưng sau đó thì không. Tôi đi đi lại lại trong nhà không mục đích, di dời vài vật dụng từ bàn đến tủ sách, cầm trên tay quyển sách, mở một hộc bàn nhưng đóng liền sau đó. Rồi tôi bước qua một căn phòng khác hay lập lại những động tác vừa rồi, di dời, rờ rẫm, mở rồi lại đóng…    

          Sau một thời gian, a, đây rồi, tôi nhìn thấy  đầu của một dải ruy băng màu tím đã bạc màu. Tôi cầm lấy xấp phong bì, nhưng vì mở vội nút thắt nên làm các bức thư rời ra, lả tả. Tôi cầm lấy một bức hình đã úa màu và cảm giác như mình đang chạm vào một cái gì đó rất thiêng liêng. Rồi bằng một cảm xúc mãnh liệt tôi bắt đầu lật những trang giấy đã úa vàng và  tìm thấy trong mỗi hàng chữ một sức mạnh mới.

“ Con yêu dấu,  cảm ơn con về tất cả những niềm vui dành cho ba má. Nhưng con đừng bận tâm. Mỗi lần đọc những hàng chữ này thì cũng như ba má đang ở bên con. Hãy sống hạnh phúc. Cuộc đời đầy những khó khăn. Ba má lúc nào cũng cầu nguyện cho con, ngõ hầu con có thể sống một cuộc đời tốt đẹp. Hãy bảo trọng nhé, con yêu ”

 

Elena Pucillo Truong

Sài Gòn 7/2014
Nguồn : tập san VHNT Quán Văn số 25, 8-2014

Read Full Post »

MH

Anais Nin

 

Võ Công Liêm chuyển ngữ

 

MỞ: Đây là một trong mười lăm truyện ngắn ở tập: “Tam Giác Vệ nữ” hay còn gọi là ‘Thổ ngơi của nữ thần Ái tình / Delta of Venus’ của văn sĩ Anais Nin. Nổi tiếng về truyện khiêu dâm. Bà là tình nhân của nhà văn dung tục Henry Miller của Mỹ. The Boarding School / Nội Trú là truyện ngắn hay nhất của tác giả; truyện được liệt vào văn chương đương đại của nước Mỹ. Những gì có tính chất gợi dục là thực với đời và khai mở một sự trụy lac buông thả. Hân hạnh giới thiệu đến bạn đọc một khám phá mới cho văn chương ngày nay.(Người dịch: vcl)

                                                                                                              *

    Chuyện kể về cuộc đời đã xẩy ra nhiều năm qua ở nước Ba Tây; thuộc vùng sâu, xa phố thị nơi đây còn giữ tập tục nghiêm khắc của đạo Công giáo mà vẫn còn lưu truyền. Những thằng con trai có phúc sanh ra đây đều được gởi vào học nội trú thuộc dòng Tên và tiếp tục mục vụ theo lề thói thời Trung Cổ. Những thằng học trò ngủ trên những chiếc giường gỗ, mỗi lần bình minh dậy đều đi lễ trước khi ăn điểm tâm, xưng tội hằng ngày và kiên tâm trông chừng từng lúc, từng khi. Một không khí khắc khe và nghiêm cấm. Những linh mục ăn những phần ăn riêng và tỏ vẻ ngoan đạo xung quanh bọn học trò. Các cha làm dáng, kiểu cách mỗi khi phát biểu. Giữa lớp học cha dòng với lớp da thâm nâu, pha chút máu Da Đỏ, bảng mặt như mặt dê xồm, tai bự dán cứng vào đầu ông, đôi mắt trũng sâu, miệng với đôi môi trề tợ như thèm uống nước, tóc rậm đen và bốc hơi mùi thú vật. Dưới cái áo dòng thụng dài màu sậm nâu những thằng học trò thường chú ý một cái gì nhô ra dưới bụng mà những đứa học trò nhỏ tuổi không thể nào hiểu và giải thích cái gì nhô ra thẳng đứng nơi ông, mấy đứa lớn che miệng cười sau lưng thầy dòng.

Đây là cái nhô đội quần hiện ra ngoài ý kiến ở giờ dạy học –trong lúc lớp học đang nghe đọc bài Đồng Qúi Xốc (Don Quixote) hoặc là Ra-Bờ-La (Rabelais) hoặc một đôi khi ngó chừng vào đám học trò, và; một thằng học trò trông có vẻ đặc biệt với mái tóc mượt mà khác vớì những đứa trong lớp, mắt và da mặt như con gái mới lớn.

Cha già tợ như muốn tránh xa ở chính ông và chỉ cho thằng con trai những cuốn sách mà ông đã cất giữ riêng tư. Những cuốn sách bao gồm những lời giới thiệu về đồ gốm vùng Inca* mà trên mỗi thứ họ vẽ những người đàn ông đứng dựa vào ở mỗi thế khác nhau. Thằng học trò sẽ hỏi những vấn đề đó mà vị linh mục già đành phải trả lời nhát gừng. Những khi khác thì nói ra không chút ngại ngùng; cùng lúc đó một số khác hiện quanh giữa người cha dòng và thấu hiểu những gì khác nhau sau ý nghĩa đó.

Ở lúc xưng tội thì đây là dịp ông cha trả lời những vấn đề cho thằng con trai. Nhiều điều vô tội mà họ tỏ rõ ở đây. Ông ta đưa vấn đề gần gũi trong thâm ý đen tối ở ‘cái hộp’ xưng tội nhỏ bé này. Những khi xưng tội mấy thằng học trò qùy gối và có thể không nhận ra linh mục, người đã ngồi khuất xa. Giọng trầm xuống xuyên qua khe cửa sổ nhỏ; đoạn hỏi: “Con đã từng khi nào mơ màng dâm dục không? Con có nghĩ về đàn bà? Con đã có lần muốn cưới người đàn bà ở truồng không? Thế thì có hành động thủ dâm trong đêm trên giường ngủ không? Con có từng đụng chạm, sờ mó ở chính con chưa? Con đã từng vọc, mơn trớn, vuốt ve ở chính con chưa? Rứa thì con làm chi cho mỗi sáng thức dậy? Dương vật có thường cương cứng không? Con có khi nào nhìn những thằng bạn học trong những khi thay quần áo không? Hoặc khi tắm chung?”.

Thằng học trò không biết chi mô răng rứa, sớm muộn hắn học được những bài học vở lòng về luyến ái, những gì mà hắn mong đợi từ lâu và là những gì cha tinh thần đã đặc những câu hỏi về hắn. Thằng con trai biết thêm nhiều điều thích thú, thỏa mãn trong khi xưng tội, thêm nhiều chi tiết xúc động và nhiều mộng mơ. Từ đó đêm nào cũng mơ với mộng. Hắn chẳng biết đàn bà là cái giống gì mà sao họ làm cho người ta mê mệt. Nhưng; đã có lần hắn thấy người Da Đỏ làm tình bằng nắm lông mềm con hươu la-ma (vicũna)* tợ như cái gì dòn và mỏng nơi con dê cái. Và rồi hắn mơ làm tình cái dòn, mỏng nơi con dê cái và làm cho hắn thao thức mỗi sáng ngủ dậy. Vị linh mục già khuyến khích và căn dặn những lần xưng tội. Hắn lắng nghe và kiên tâm vô cùng. Hắn bị ấn tượng lạ như hình phạt. Thằng con trai tiếp tục thủ dâm như thúc đẩy, hắn đi vào trong nhà Nguyện mỗi khi không có ai xung quanh, nhúng dương vật trong chậu nước thánh và coi như đã thanh tẩy. Đây là nghi thức thoát khỏi những ấm ức trong đêm tối.

Ở đó có những thằng con trai rất hoang nghịch trông giống như hoàng tử Moorish* mặt bôi đen với nét phong trần đặc biệt, một cổ xe hoàng gia và một thân hình tuyệt đẹp, quá mềm mại không xương cốt đã nhận ra, mảnh khảnh và bóng láng như tượng đồng đen.

Đấy là thằng con trai bất trị, hỗn loạn chống lại cái tục lệ xưa cũ đã phủ lên trên cái áo choàng bên ngoài. Hắn thường ngủ truồng, và; khoát áo ngủ làm hắn ngột ngạt, cong cứng khó chịu. Vì vậy mà đêm nào cũng quấn vào như những thằng bạn học khác và rồi hắn kín đáo hất tung ra khỏi người, thò tay xuống dưới cho tới khi ngủ thiếp không quần không áo.

Hằng đêm ở dòng Tên xưa cũ này như vây quanh lấy hắn, rình rập, canh chừng không để một thằng nào lén lút qua giường của hắn, hoặc thủ dâm hoặc nói thì thầm trong bóng đêm bên giường kế cạnh. Mỗi khi đến với giường ngủ là trở nên kẻ bất tuân, hắn chậm rãi và  hết sức thận trọng lật tung áo phủ ngoài và nhìn trân vào thân hình trần truồng của hắn. Nếu như có một thằng nào báo thức hắn, quở trách hắn: ‘tao đến để thấy; nếu mầy ngủ không có áo khoát lần nữa!’ Nhưng; nếu thằng đó không đánh thức hắn thì đồng ý cho hắn liếc mắt vào thân hình thằng trai trẻ đang ngủ. Thời không có chi phải quở.

Có một lần trong lúc học về cơ thể con người khi đó hắn đứng trên bục giảng cùng với cha dòng và một thằng trai giả gái đội tóc vàng ngồi ở cuối làm cho hắn giật mình; có một cái gì nhô ra dưới áo dòng của vị linh mục làm cho cả lớp thấy rõ ràng.

Thầy dòng hỏi thằng con trai đội tóc vàng: ‘Có bao nhiêu xương nơi cơ thể người đàn ông?

Thằng con trai giả gái trả lời hết sức nhu mì: ‘Hai trăm linh tám’.

Tiếng của thằng học trò khác từ phiá cuối lớp: ‘Nhưng cha Dobo có tới hai trăm lẻ chín’.

Chốc lác sau khi xẩy ra chuyện bất ngờ đó cả lớp học đưa đi dạo quanh vườn cây sinh thái thực vật. Mười đứa trong bọn chúng lạc đường về. Trong số đó có cả thằng con trai mảnh khảnh tóc vàng. Người ta tìm thấy bọn chúng trong rừng, xa một khoảng từ nơi những thầy dòng và xa cả trường nội trú. Họ ngồi xuống nghỉ chân và đặc vấn đề về sự cố xẩy ra. Họ bắt đầu ăn dâu, táo. Sao lại có chuyện đó, không một ai biết; nhưng sau đó thằng con trai giả gái tóc vàng ném ra giữa bãi cỏ, không quần không áo, đưa cái bụng ra và chín thằng khác bước qua khỏi hắn, chuyển hắn đi mà coi hắn như con đĩ, một cách dã man. Qua khám nghiệm hậu môn của hắn có dấu vết của sự đòi hỏi dục xác; trong khi khám xét thấy xướt da giữa hai đôi chân của thằng con trai đó, tất cả thịt da nhủn xuống như thân thể đàn bà. Bọn chúng nhổ nước bọt vào tay và chà xát lên dương vật của mỗi đứa. Thằng giả gái đội tóc vàng hét lên, vừa đá, vừa khóc, nhưng cả đám dằn hắn lại và xử sự cho tới khi bọn chúng thỏa mãn  ./.

 

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. cuối 5/2017).

 

Anais Nin: (1903-1977) Người Mỹ gốc Cuba. Một thời sống ở Pháp , Tây Ban Nha và sau cùng ở Mỹ cho tới ngày qua đời.

Henry Miller: (1891-1980) Người Mỹ Sống ở Pháp một thời gian dài. Trở về Mỹ và chết ở Big Sur.USA.

Ghi thêm: Điạ danh và chứng tích trong truyện cho rõ ý tác giả muốn miêu tả nơi vùng đất hoang sơ ở Ba Tây (Trung Nam Mỹ).

* Inca: Vùng đất liên hệ với những bộ lạc Da Đỏ nơi đã bị thống trị bởi Peru mãi tới khi Tây Ban Nha chinh phục và làm thuộc điạ.

* Vicũna: Giống hươu Ở Nam Mỹ, mình thon dài lông mịn như len, tìm thấy ở rặng Andes. Có tên gọi là Lama vicugna.

* Moorish: Nhóm người Tây Ban Nha xâm lược và chiếm đóng được phong như hoàng tử ở tk.thứ 8.

ĐỌC THÊM: Những truyện dịch sau đây:

– Cụm Hoa Cúc Sao của Octavio Paz (Văn thi sĩ Mễ Tây Cơ (Bản Anh ngữ)

– Người Khách Lạ của Albert Camus (Nhà văn Pháp (Bản Anh ngữ).

– Đứa con hoang Trở về của André Gide (Nhà văn Pháp (Bản Anh/Pháp ngữ).

– Mallorca/Ma-Yô-Ca của Anais Nin. (Nhà Văn Mỹ (Bản Anh ngữ)

– Lời Sám Hối của người đàn bà ở đền Kiyomizu (Nhà văn Nhật Bản Akutagawa Ryùnosuke. (Bản Anh ngữ)

– Trẻ Đồng Hoang của Charles Baudelair (Nhà Thơ/văn Pháp (Bản Anh/Pháp ngữ).

– Con Đĩ Khả Kính của Jean-Paul Sartre (Nhà văn Pháp (Bản Anh / Pháp ngữ)).

– Ngàn Cánh Hạc của Yasunari Kawabata (Nhà văn Nhật Bản (Bản Anh ngữ) )

– Thiền truyện/Tuyết Trắng của Yuko Akita (Nhà văn Thiền Nhật Bản (Bản Anh ngữ)

Những truyện ghi trên của võcôngliêm chuyển dịch hiện có ở một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo đ/chỉ đã ghi.

TRANH VẼ:  Portrait of Anais Nin’ Khổ: 12” X 16”.Trên giấy cứng. Acrylics+Mixed+House-paint..
Vcl.

AnaisNin


 

 

 

 

Read Full Post »

BW

Người đưa tin…độc địa

 

Tặng “xếp” cũ của tôi,
trung tá Huỳnh Kiêm Mậu.”
(Chuyện thật kể lại)

hlh

 

            Đưa ống nghe điện thoại ra xa khỏi tai, hướng mặt về phía trung tá Mậu, Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị, tôi nói, không lớn tiếng, đủ cho mọi người trong phòng nghe:

            -“Có khách rồi, không biết có kịp tết không?”

            Trung tá Mậu hỏi ngay:

            -“Ma chay hả? Từ đâu về?”

            -“Thiết Đoàn 16, tử trận ở Kompong Trạch, mẹ ở Gia Định.”

            Trung tá Mậu ngữa lưng, dựa vào ghế. Tôi nghe tiếng ông thở ra. Chỉ còn bốn ngày nữa là tết. Ông “mệt” cho ông hay ông “cám cảnh” cho tôi, “năm hết tết đến” còn lo việc an táng cho đồng ngũ.

            Tôi lại đặt ống nghe vào tai, tiếp tục với người ở bên kia:

            -“Huế còn đó không?

            -“Có”. Tiếng thiếu úy Huế trả lời. Tôi hỏi tiếp:

            -“Lên đường về đây rồi phải không?”

            -“Vâng!” Huế trả lời. “Tui cho một trung sĩ đi theo với tài xế. Làm sao anh?”

            Tôi vẫn giữ cái thói hay nói đùa:“Làm sao cũng chẳng làm sao!” Ở đây có người lo tiếp cho tử sĩ. Ông trung sĩ đi theo có điện thoại của tui không? Gần tới nơi thì gọi cho tui. Tui chờ ở Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp.” (Hồi ấy “Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa đang chuẩn bị hình thành – tg)

            -“Tui dặn rồi. Có phải điện thoại của anh là 30.240?”

            -“Đúng! Yên tâm đi nghe. Có chi trở ngại, tui sẽ gọi ông.”

            Huế -Trần Huế – bạn cùng khóa Bộ Binh, Thiết Giáp với tôi. Anh ta cũng như Phạm Văn Nga lại là học trò cũ của tôi, khoảng chừng hơn năm năm trước ở Huế. Cả hai thua tôi khoảng 10 tuổi.

            Sau tết Mậu Thân ở Huế, buồn tình, tôi tự  động bỏ dạy –“bỏ cục phấn bấm cò súng” – câu tôi thường nói đùa với bạn bè – Hai “ông bạn đồng khóa” thì tới tuổi động viên, thành ra, “cùng nhau đi lính Cộng Hòa”, hết Quang Trung, lên Thủ Đức, vô trường Thiết Giáp. Ra trường, tôi và Nga chọn Thiết Đoàn 17/ Kỵ Binh, đóng ở Phước Tường. Huế về Thiết Đoàn 16 ở Long Xuyên; sau tháng 3/ 1970, Thiết Đoàn thường hành quân vượt biên qua Kamphuchia. Tôi được giữ lại Bộ Chỉ Huy, tiếp nối tờ báo “Kỵ Binh”, “giữ cái nghiệp làm báo tự chọn” do một ông bạn cũ từ thời học tiểu học, đại úy Lương Thúc Trình giao cho vì Trình được biệt phái về “nhiệm sở cũ”, giáo sư ở trường trung học Trần Quí Cáp, Quảng Tín.

            Tôi kiêm luôn công việc mà tôi thường gọi đùa là “Người đưa tin… độc địa”, nghĩa là đưa tin “báo tử các chiến hữu” của binh chủng cho thân nhân của họ ở Saigon và Gia Định.

            “Tin… độc địa” vì gia đình người ta đang yên ổn, bỗng tôi tới gõ cửa báo tin thân nhân họ… tử trận. Thế là cả nhà, có khi còn cả cha mẹ già, vợ con, chị em… òa nhau lên khóc.

            Nghe tiếng họ khóc, tôi đứng như “chết trân” tại chỗ. Nhiều khi muốn trốn khỏi nhà họ nhưng không trốn được; nhiều khi muốn làm “ông Tề độn thổ” cho xong, nhưng lại không có 72 phép thần thông.

&

            Về nhận việc ở đơn vị mới được mấy hôm, Trung Tá Mậu gọi tôi tới bàn ông, biểu ngồi xuống ghế. Đứng bên cạnh ông là trung úy Nguyễn Đăng Đức, tay cầm xấp hồ sơ không dày không mỏng. Trung tá Mậu nhìn tôi một lúc, mặt hơi có vẻ nghiêm, nói:

            -“Giao việc nầy cho anh tôi yên tâm hơn. Mấy lâu nay, trung úy Đức đảm nhận nó, chưa có gì sai trái nghiêm trọng, nhưng ông Đức có bệnh hay quên; nhiều khi ông ta quên làm tôi đứng tim luôn. Việc ma chay phải hết sức cẩn thận. Gia đình người ta có người “hy sinh vì Tổ Quốc”, mình lo giúp người ta việc an táng là phải chu toàn. Lôi thôi, thân nhân thưa lên tới Tổng Thống chớ không phải tới ông Đại Tướng đâu. Vậy là họ gõ đầu thuộc cấp, từ trên gõ xuống, gõ tới mình là coi như… khăn gói ra Vùng 1, Vùng 2. Ngại lắm! Mình không sợ tác chiến nhưng khăn gói quả mướp kiểu ấy thì mất mặt anh hùng.”

            Theo lệnh trung tá Mậu, trung úy Đức trao tập hồ sơ cho tôi. Nhìn hàng chữ ngoài bìa, tôi đâm lo, “hơi lạnh giò” vì tưởng có “âm khí nặng nề” như khi Kiều gặp mộ Đạm Tiên. Đây là một cái tên có lẽ tôi chưa từng nghe bao giờ: “Hồ Sơ Ma Chay”.

            Tôi cũng “thấm” lời trung tá Mậu căn dặn: “Gia đình người ta có người hy sinh vì Tổ Quốc”… Chuyện nầy… dễ “thông cảm”, vì chính gia đình tôi, cũng không “ngoại lệ”, cũng đã có người tử trận, còn như thấy, thì thấy không ít lần.

            Tôi từng ngạc nhiên vì mấy chữ “Nhà Vĩnh Biệt” treo trước cái nhà nhỏ nằm riêng một góc phía trong Cửa Hậu, ở thành Mang Cá / Huế, cuối quân y viện Nguyễn Tri Phương mà tôi từng thấy khi mới học lớp Nhì. Tôi có bà chị, nhà ở đường Lê Văn Duyệt, con đường song song với sông đào An Hòa / Bao Vinh; bên cạnh con đường nầy, phía ngoài cửa Hậu là “Nghĩa Trang Quân Đội”. Biết bao nhiêu mồ mả ở đó. Cũng có lần tôi đi thăm chị, ngang nghĩa trang, nhằm lúc người ta sắp hạ huyệt, tiếng kèn Tây nổi lên: “Tọ ti tè, tọ ti tè…” bọn trẻ từng nhại theo “Tôi chưa tề. Tôi chưa tề!” Cái nhại nầy có phần nghiêm trang vì người ta không dám đùa với người… chết.

&

            Về chỗ, tôi mở tập hồ sơ… nghiên cứu. Ấy là nói cho ra vẻ… chớ “nghiên cứu” gì đâu! Trước hết là coi thử… phải làm gì: Báo tin là một. Thứ hai là hỏi tang gia có yêu cầu gì: phương tiện, xe cộ di chuyển (bao nhiêu xe, bao nhiêu người), nơi an táng (tại nghĩa trang quân đội hay đưa về nhà cũ, những nhà có vườn như ở Lái Thiêu, Bình Chánh, tang gia yêu cầu đưa về nhà của họ, chôn trong vườn nhà hay nghĩa trang gia đình. Cũng ngại đấy vì có vài gia đình ở vùng “mất an ninh”, lỡ khi đang làm lễ thì Việt Cộng tấn công. Đừng nói nhân đạo với “tụi nó”, có lúc nào Việt Cộng không thẳng tay giết người?!

            Có những điều phải về làm tờ trình “xin thượng cấp”, có những cái phải làm “Bưu điệp cầm tay” đem ngay sang cho “Trung Đội Chung Sự” ở Gò Vấp để xin họ giúp đỡ…

            Không có gì khó, cái gì cũng dễ.

            Quân Đội VNCH có bài bản cả rồi: đơn vị nào, người nào, ai lo việc nấy, ngoại trừ khi yêu cầu của tang gia vượt ra những điều thông thường. Cũng may, phía Quân Đội thì dự trù hoàn hảo, về phía tang gia, không đòi hỏi gì quá đáng, chỉ cần mình: “Thi hành công vụ” với một tấm lòng như thế nào đó để tang gia được chút an ủi.

            Khó nhất, chính là việc “báo tin”. Khó mở miệng nói câu “Thưa ông (hay thưa bà, thưa chị), anh (gì đó)… đã tử trận.”

            Và kinh hoàng, và sợ hãi, và cũng lắm khi đau xót, tội nghiệp vì những tiếng khóc òa lên, nghe… não lòng.

&

            Nửa giờ sau, tôi báo cáo với trung tá Mậu tôi đi “báo tin tử sĩ”, bắt đầu lo ma chay. Tài xế Chính dừng xe chờ tôi ngay cửa trước. Tôi khoái đi với “ông” tài xế nầy. Tuy không phải là dân Saigon, nhưng anh ta rành rẽ đường sá, thông minh, nhạy bén, “tìm nhà” rất nhanh.

            Hồi bấy giờ xã Phú Nhuận, xã Bình Hòa, tuy thuộc quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định, nhưng “Saigon hóa” mất rồi. Từ Saigon, qua khỏi Cầu Bông, Cầu Kiệu, nếu không tò mò, mấy ai để ý bên nầy cầu là Saigon, bên kia cầu là Gia Định: Nhà cửa san sát, cái cao cái thấp, phần nhiều mới xây, nhà cũ mất dấu cũng không ít, hết hẽm nầy, tới hẽm kia, tìm ra địa chỉ gia đình tử sĩ phải chăm chú tìm đường, hỏi thăm, có khi phải tới ngay trụ sở phường…

            Bởi vì làm công việc “báo tin dữ”, nên tôi biết nhiều con đường, và cả nhiều con hẽm nữa của “Saigon ngày nay”, và tôi có cái tên mới do các bạn cùng đơn vị đặt cho tôi: “Thổ công phía sau Saigon”. “Phía sau Saigon” là những xóm nhà lộn xộn, đằng sau những con đường lớn.

            Saigon khác với Huế.

            Huế gọi là “kiệt”. Saigon gọi là “hẽm”.

            Huế có từ Kiệt 1 tới Kiệt 5, Kiệt 10 đã là nhiều. Saigon thì hàng trăm “con hẽm”.

            Huế gọi là “trên”: Nhà số 5, “trên” 9 chẳng hạn, là đã tới chỗ tận cùng của kiệt.

            Saigon khác, bởi vì Saigon là “thành phố quốc tế”: Tiếng Tầu, tiếng Tây, tiếng Anh trộn bậy với nhau khá buồn cười.

            Đi xe Lam thì dùng tiếng Anh: “Tốp! tốp”. Là “Xì tốp” đấy. Khách đi xe lam, muốn xuống thì nói tiếng Anh với tài xế: “Tốp” (stop). Muốn ăn thì gọi “hủ tiếu”; muốn uống cà phê thì “Xí nại”, “xây chừng” là tiếng Tầu chớ gì. Tìm nhà trong hẽm thì gọi là “xiệc”: 5 “xiệc” 20, lại “xiệc” 19, v.v… “Xiệc” gốc là tiếng Tây: “sur”: 5 sur 20, sur 19. Mới tới Saigon thấy lạ, lâu ngày thành quen.

            Nhà mấy “ông lớn” nằm ngay ngoài đường lớn, khỏi “xiệc”, tìm dễ lắm. Nhà lính tráng là nhà nghèo, dân lao động, thợ  thuyền, “buôn thúng bán mẹt”, phải trố mắt nhìn gần chục cái “xiệc” mới tới nơi. Có khi khóm phường ghi không rõ, người đi tìm phải đi quanh, không phải “năm phút đã về chốn cũ”, mất vài chục phút “lại về chốn cũ” là chuyện thường.

            “Trăm hay không bằng tay quen”. Nhờ cái “quen” ấy tìm nhà cũng nhanh, tuy nhiên tôi cũng có lần kiếm hụt hơi.

            Một lần tôi với tài xế Đãnh tìm một ông già, địa chỉ ghi rất gọn: “Phi trường Tân Sơn Nhất”.

            Tử sĩ con ông già chắc không quan tâm lắm về nơi cư trú của thân phụ mình, nên anh ta, trong hồ sơ nhập ngũ, ghi đại khái như vậy. Đến phiên tôi đi tìm nhà, đâu có thể “đại khái” mà phải tìm cho được, để báo tin rằng “Con trai bác đã tử trận”. Rồi chờ…

            Ông già góa vợ khi còn trẻ, “một cha một con” sống với nhau, cho đến khi người con trai, thấy mình cần đăng lính, sau khi bị thôi thúc vì câu hát của Lam Phương: “Người thư sinh ấy đã xếp bút nghiên”… Và “anh hãy nói khoác chiến y rồi.”

            Tôi đi bộ gần như “đứt hơi” từ đầu tới cuối phi trường Tân Sơn Nhất, để hỏi thăm ông thân sinh tử sĩ; tôi mới biết thêm ông là nhân viên “Sở Quản Lý Phi Trường”. Đến ngay “Sở Quản Lý Phi Trường” cũng chẳng ai biết ông là ai vì “ở đây đông người lắm”. Phải tìm đến “ban phát lương”, bởi vì nếu ông ta có đi làm thì phải có lương.

            Bấy giờ “bà Thủ Quỹ” mới cho hay rằng, người cha của anh lính tử trận của binh chủng tôi là một ông Tô Vũ của phi trường, thời kỳ đã có nhiều Boeng 727 lên xuống phi đạo.

            Chắc chắc ông không phải là nhạc sĩ Tô Vũ của “Em đến thăm anh một chiều mưa”, “phục vụ đảng và bác ở ngoài Bắc”, đang ở ngay Hà Nội hay “sơ tán” máy bay Mỹ lên miền Trung du Bắc bộ; ông ta lại càng không phải là ông Tô Vũ bị rợ Hung Nô bắt làm con tin đời Hán Vũ Đế bên Tầu, mà chính là một ông già chăn dê cho phi trường. Chắc là mấy ông lớn “quản lý phi trường” khoái ăn thịt dê, đất phi trường thì rộng, tại sao họ không nuôi một bầy dê để có thịt dê mỗi khi tiệc tùng.

            Hỏi “bà Thủ Quỹ” chăn dê ở đâu? Bà lắc đầu: “Thiếu úy tìm quanh phi trường thì gặp ổng. Ổng không cho dê ra khỏi phi trường đâu!” Vậy là tôi lại phải “một chiều lang thang” trong phi trường” không phải để xem “người đi, người tiễn”, hay “người chia tay nơi cuối đường” (băng) mà để đi tìm ông già chăn dê.

            Hơn một giờ sau, “lội bộ rã giò”, mới gặp “ông Tô Vũ thời đại” gần Cổng Số 6 (?), chỗ gần Tổng Y Viện Cộng Hòa. Ông đang “thả dê” ăn ở đó; “thả dê” là tôi nói theo đúng nghĩa đen của hai tiếng nầy.

            Báo tin cho ông già xong, tôi phải ngồi chờ ông khóc tỉ tê.

            Ông không khóc òa như các mẹ, các chị. Ông khóc không thành tiếng, ông khóc thầm; không “thê thảm” như người đàn bà khóc con bị cọp vồ trong “Cổ Học Tinh Hoa”. Ngày trước, khi khóc vợ qua đời, ông cũng khóc thầm như thế chăng? Rồi bao nhiêu năm “gà trống nuôi con”, nếu có khi nào ông thấy thương cho người vợ chết sớm, “đầu gối tay ấp”, bên cạnh đứa con trai độc nhất, ông cũng khóc thầm như thế chăng?

            Ngày trước ông khóc vợ, nay ông lại khóc con, cũng âm thầm như hồi ông khóc vợ. Có ai biết cho ông? Có ai thông cảm cho ông, một người cha vừa mới nghe tin con “mất ngoài chiến trường”. Ông ngồi dựa lưng vào cây bã đậu mà khóc! Ông không thấy đau khi những cái gai nhọn ở thân cây đâm vào lưng ông. Nỗi đau quá lớn trong lòng ông làm ông quên đi cái đau nơi thân thể ông rồi chăng?

            Đứng chờ lâu mỏi chân, vả đi bộ nãy giờ, chân tôi cũng đã chồn, tôi cũng ngồi xuống dựa lưng vào một cây bã đậu bên cạnh.

            Một lúc thật lâu, ông đứng dậy lùa bầy dê về chuồng, cách đó cũng khá xa.

            Tôn trọng nỗi đau của người cha mất con, tôi lặng lẽ đi theo. Cho dê vô chuồng, khóa cửa lại, “việc công” xong rồi ông mới mời tôi về một cái chòi lợp tôn gần đó, để lo “việc tư”, để hỏi thăm về việc người con trai ông đã hy sinh, và hỏi thăm về việc chôn cất.

            Dĩ nhiên, đó là một “kỷ niệm đời lính” khó quên cho tôi!

 

&

 

            Công việc của tôi như thế. Bây giờ là lúc tìm nhà người mẹ tử sĩ.

            Con hẽm bên cạnh trường Nữ Trung Học Lê Văn Duyệt trên đường Đinh Tiên Hoàng, Gia Định, gần như đối diện với Lăng Ông Bà Chiểu là một con hẽm xa hun hút. Tôi có cảm tưởng như nó rẽ phải, rẽ trái rất nhiều lần, cuối cùng sẽ “đụng” với “đường Hàng Keo”, là một con đường nhỏ, chưa tráng nhựa, đối diện với Ty Canh Sát Gia Định trên đường Võ Tánh. Có phải xưa là “bót Hàng Keo” như người ta thường gọi?

            “Kinh nghiệm” không sai. Theo địa chỉ, tôi phải đi qua bao nhiêu cái “xiệc”. “Tin tức đầu tiên” khi hỏi người trong hẽm, mới hay rằng đó là một “bà già Tầu” trên năm mươi tuổi, “một mẹ một con”, con đăng lính, mẹ ở một mình. Đây không hẳn là một bà “mẹ Việt Nam” như kiểu cục Tâm Lý Chiến tuyên truyền, mà chính là một “bà mẹ Tầu” có con đi lính Việt Nam, chống “tay sai Tầu Cộng”. Nói vậy cho đúng bài bản.

            “Tin tức thứ hai”, bà vốn dĩ gốc Tàu Chợ Lớn, “yêu” một người Việt Nam, bị gia đình cấm cản. Đó cũng là “chuyện thường tình”, như dân chúng từng nghe. Đến khi có bầu, bà theo người chồng Việt Nam về ở xóm nầy; chưa được bao lâu, người chồng tử nạn xe lửa; “sinh nghề tử nghiệp”, người chồng là công nhân hỏa xa.

            Bà cũng đành ở vậy, nuôi con, không tìm về Chợ Lớn, nhà cũ, cha mẹ ruột, vì cha mẹ đã từ con. Người con trai lớn lên, giống như thanh niên cùng xóm, mười tám tuổi, anh đăng lính mũ đen. Lính mũ đen là lính Thiết Giáp. Hơn nửa năm sau, anh “hy sinh trên chiến trường Kamphuchia”. Anh ta đúng là một con người “quốc tế”: Cha Việt, mẹ Tầu, chết ở Kam-pu-chia. May mà chưa có vợ Tây hay vợ Mỹ.

            Tôi giả bộ đi chầm chậm qua căn nhà tôn nhỏ, nơi bà sinh sống một mình, tự hỏi lòng: “Làm sao mà báo tin cho bà đây?” vì chắc chắn bà thương con lắm. Nghe tin con tử trận, chết giả hay bất tĩnh là việc dễ xảy ra.

            Và bà già Tầu ngất xỉu thật, sau khi bà hỏi lại tôi một lần nữa về tin người con trai bà: “Nó “chiếc” dzồi a?”

            Nhưng rồi bà tỉnh lại ngay, chụp ngay con dao để bên cạnh, giáng lên cao và… chém tôi, kèm theo một câu chưởi: “Cha cái “xằng Xiệu” giết con… ngộ.” 

            Tôi không kịp hay cố nghe cho rõ tiếng cuối “ngô” hay “ngộ” hay gì đó. Tôi bước lui vài bước thật nhanh, có tạo một khoảng cách, tin chắc con dao bà cầm chém không tới… tôi.

            Rồi bà già Tầu khóc, khóc to, bà la to lên, chưởi mắng ai đó tôi không nghe rõ; rồi bà té xuống đất, lại ngồi lên, lại tiếp tục chưởi “xằng Xiệu”. Bà chưởi tổng thống đấy…

            Nhìn cảnh ấy, tôi nói với tài xế Chính, đứng bên tôi, mặt cũng tái xanh đi, không phải vì sợ, mà có lẽ vì ngạc nhiên, vì thấy lạ, một cảnh anh ta chưa từng gặp. Tôi nói: “Bà điên rồi mầy ơi! Bà điên rồi.”

            Nghe tiếng tôi, Chính hơi bình tĩnh trở lại, hỏi tôi:

            -“Làm sao thiếu úy, bây giờ làm sao?”

 

            Trí tôi cũng chưa ổn định hẳn, tôi trả lời:

            -“Cũng không biết làm sao?”

            Binh thư của trường Bộ Binh chỉ dạy tôi nhiệm vụ của một trung đội trưởng. Binh thư trường Thiết Giáp dạy tôi về “Thiết Quân Vận” M-113, xe tăng M-41, và đội hình hành quân, tấn công; binh thư cục Tâm Lý Chiến không có mục nầy. Tôi phải tự mình xoay xở lấy, không phải để “đối đầu với địch” mà ứng xử tốt đẹp với… đồng bào tôi như lời trung tá Mậu dặn dò.

 

&

 

            Mấy người hàng xóm chạy lại. Có người vỗ vỗ nhẹ vào má “bà già Tầu”, có lẽ muốn cho bà tỉnh lạị, có người la to: “Lấy chai dầu…” Có lẽ họ muốn xức dầu cho bà. Rồi họ làm gì đó, tôi không thấy rõ. Đúng là “tình Chòm Xóm”. Tình nầy không có ở… Mỹ.

            Có vẽ như việc bà bị ngất đi, bà bị điên, không có gì nghiêm trọng. Chưa ai biết bà vừa nhận tin con trai bà tử trận. Hồi nãy, trên con đường đi hỏi nhà để vào đây, tôi “giữ kín miệng”. Kinh nghiệm dạy tôi như thế, “không nói với ai về tin người tử trận, trước khi báo cho gia đình.”

            Yên tâm như thế, tôi quay lui, đi ra đầu ngõ. Chính đi kế bên tôi, hỏi liên tiếp:

            -“Làm sao thiếu úy? Làm sao bây giờ?”

            Tôi không trả lời, lầm lũi đi. Đến kề bên cổng trường, tôi ngồi xuống cái ghế nhỏ của một quán “càphê cóc”. Chính cũng ngồi xuống. Tôi và anh ta không ai gọi gì. Cô gái bán quán đứng chờ bên cạnh. Tôi đưa tay ra dấu biểu chờ, cô ta bỏ đi vào trong.

            Một lúc sau, tôi nói với Chính:

            -“Chờ một chút, tìm cách nào gặp bà!”

            Chính nói:

            -“Hồi nãy có mấy bà hàng xóm, thiếu úy không nói luôn đi.”

            -“Đâu được! Thấy mặt mình, bà xỉu nữa là mệt chết đó.”

            Nói với Chính câu đó là tôi nhớ một chuyện cũ. Hồi tôi còn đi học, anh Trương, hàng xóm, thường qua chơi với tôi. Anh kể, nhà quen có nuôi một con khỉ. Anh ấy hay chọc ghẹo và cho khỉ ăn vặt. Một hôm, anh đập chết một con rắn. Tinh nghịch, anh gói con rắn trong tờ giấy báo, đem cho khỉ. Con khỉ tưởng là đồ ăn, kêu cheng chéc, cầm chắc trong tay, rồi mở tờ giấy báo ra. Thấy con rắn, con khỉ nắm tay lại, chết giấc. Đến khi con khỉ tỉnh lại, mở mắt ra, lại thấy con rắn trong tay, lại chết giấc lần nữa. Tôi không biết chuyện anh ấy kể thật hay đùa, nhưng tôi thấy vui và nhớ mãi.

            Bây giờ cũng vậy. Nghe tin tôi nói, “bà mẹ Tầu” chết giấc. Nếu tỉnh lại, lại thấy tôi, chắc gì bà ấy không chết giấc lần nữa. Chuyện thiệt hay giả, tôi tránh mặt “bà mẹ Tầu” là hay nhất, suy nghĩ một chút rồi tính sau.

            Một lúc sau, tôi hỏi Chính:

            -“Khu vực nầy chắc thuộc xã Bình Hòa?”

            -“Đúng rồi, hôm trước, em tới trụ sở xã một lần.”

            -“Xe để đâu?” Tôi lại hỏi.

            -“Em gởi tại Cảnh Sát.” Chính trả lời.

            -“Cứ để đó đi. Mình tới trụ sở xã, phải nhờ địa phương.”

            Tôi đứng dậy, Chính đi theo, đến trụ sở xã phía chợ Bà Chiểu.

            Ông phó xã trưởng nói, sau khi nghe tôi bày tỏ ý kiến nhờ báo tin cho “bà già Tầu”: “Phải xuống khóm. Xã nầy dân đông lắm, chỉ thua Phú Nhuận. Khóm họ gần dân hơn.”

            Rồi ông ta hăng hái đi trước, đến trụ sở khóm. Phải chờ hơn nửa tiếng đồng hồ, anh trung sĩ khóm trưởng mới về tới nơi. Tôi đoán chừng trường hợp của anh ta. Anh trung sĩ, có một cái dù ông lớn nào đó, được biệt phái về làm khóm trưởng ở đây, mỗi ngày tà tà lui tới với khóm, xa súng đạn, giữ được chữ “thọ” cho bản thân. Không rõ vì bản tính hay vì muốn lập công, anh ta hết lòng giúp tôi.  

            Anh đến gặp “bà mẹ Tầu”, lúc chòm xóm còn ngồi đứng quanh bà, báo tin và an ủi; xong anh cho người gọi tôi vào, để tôi “chia buồn”, hỏi bà có yêu cầu gì cho đám ma người con trai.

            Tôi nghiệp “bà mẹ Tầu”, bà chẳng xin xỏ, đòi hỏi gì hết, bà chẳng biết gì về việc lo chôn cất con trai bà, chỉ sớm mai, đón bà lên nghĩa trang, cho bà “bịt khăn cho con”, và chứng kiến cảnh hạ huyệt. “Năm hết tết đến”, bà mẹ Tầu cũng như các ông bà hàng xóm, theo phong tục của người Việt, “không để đám ra ngoài năm.”           

            Tôi hẹn với “bà mẹ Tầu”, sáng mai, tôi đến để đón bà lên nghĩa trang. Các bà hàng xóm cũng muốn đi đám, tôi hứa sẽ có một xe Dodge đưa các bà đi và về.

            Trước khi ra về, tôi gặp riêng ông trung sĩ khóm trưởng, hỏi:

            -“Tình hình an ninh ở đây có yên không?”

            -“Tình hình an ninh” là cái gì?” Ông trung sĩ hỏi lại.

            -“Bây giờ người ta hay biểu tình “đả đảo”, “hoan hô”, nhất là đám “phản chiến”, “thành phần thứ ba”, bọn chúng có lợi dụng hoàn cảnh “bà mẹ Tầu” để làm gì không?”

            -“Không! Ở đây không ai theo họ!” Ông trung sĩ nói chắc.

            -“Hồi nãy tôi quên hỏi, “bà Tầu” có mời sư sãi nào không? Cần thì ở nghĩa trang có mấy ông tuyên úy. Đạo nào cũng có.”

            -“Không đâu!” Nói xong, ông trung sĩ đổi ý. “Hay thiếu úy mời một ông “tuyên úy Phật giáo”. Khóm nầy cũng có nhiều bà hay đi chùa!”

            -“Được! Có thôi. Cũng nên có một thầy cho lễ an táng, kinh kệ thêm nghiêm trang, “đủ lệ bộ”. Tôi trả lời.

            Một lúc, tôi lại hỏi:

            -“Vậy Nguyễn Thị Trừ thì sao?”

            -“Nguyễn thị Trừ nào?” Ông trung sĩ hỏi, vẻ ngạc nhiên.

            -“Ni sư Huỳnh Liên đó! Bả “nằm vạ” hoài, mấy lần tôi bị kẹt xe. Chùa bả gần đây nè! Bả tới mấy hồi.”

            -“Ở đây không ai hoan hô bả đâu. Láng cháng dân người ta đuổi bà đi, không cần cảnh sát của đại tá Đệ.”

            -“Bà nhà quê đó, bị tụi nó lợi dụng. Tôi nghĩ bả không có trình độ hiểu biết gì đâu, ngoài mấy cuốn kinh Phật. Tôn giáo mà cũng xông ra làm chính trị. Khỉ thật.”

            Chính hỏi tôi:

            -“Thiếu úy gọi Nguyễn thị Trừ nên khóm trưởng không hiểu.”

            -“Tôi gọi xách mé chơi, “không ưa được”. Người ta đang đánh giặc ngoài mặt trận, chết sống từng giây, đám phản chiến ở nhà quậy cho đã, thiệt không có lương tâm gì cả.”

 

&

 

            Nói xong, tôi đi qua hướng Cuộc Cảnh Sát Bình Hòa để lấy xe. Vừa ngồi lên ghế xong, tôi nói với tài xế Chính:

            -“Trễ rồi, xe của Thiết Đoàn 16 chắc về tới nghĩa trang, mình lên đó ngay.

            -“Kiếm ổ bánh mì thiếu úy. Em đói rồi.” Tài xế Chính nói.

            -“Coi chỗ nào có xe bánh mì thì tấp vô.” Tôi trả lời.

 

&

 

Sáng hôm sau, sau khi đến “Trung Đội Chung Sự” làm việc với toán an táng, xem huyệt và kim tỉnh xong, tôi về lại đơn vị tôi, rồi cùng mấy người nữa đi đến nhà “bà mẹ Tầu”.

Sáng sớm, tôi nói với đại úy Trang, trưởng phòng xã hội: “Cô gọi Phòng Tư cấp xe cho cô. Xe của phòng tôi phải xử dụng một mình.” Thường chúng tôi dùng chung một xe mỗi khi đi công tác chung.

Nói như vậy là tôi có chủ ý. Tôi không muốn “bà mẹ Tầu” đi chung xe Dodge với những người khác. Ít ra, cũng phải trân trọng bà một chút. Một đời nuôi con gian khổ, nay con tử trận, đem xe Jeep đến đón bà an táng cho con là một “đãi ngộ” quá ít ỏi đối với công ơn của người mẹ. Còn như “trợ cấp tổ phụ” có Phòng Xã Hội lo, không phải việc của tôi.

Khi tôi tới nhà “bà mẹ Tầu” mọi người tụ họp đã đông. Tôi vào nhà, chào bà và mọi người xong thì mời họ lên xe. Các bà cùng xóm đã lo xong một mâm lễ gồm hoa trái, nhang đèn… Tài xế Chính vội bưng lên để trên xe Dodge, và mời mọi người lên xe Dodge cùng với khóm trưởng.

Thấy “bà mẹ Tầu” loay hoay tính lên xe Dodge, tôi nói với bà ấy: “Tôi đưa bà đi”, rồi chỉ tay về phía chiếc xe Jeep. Bà hơi ngạc nhiên, rồi vội vã đi tới phía xe. Tôi lại nghĩ thầm: “Một lần rồi thôi”. Sau nầy, chẳng còn ai đưa đón bà như thế nầy đâu. Cuộc đời nầy bạc bẽo thật, trong cả tình người, không chỉ trong việc trai gái yêu nhau bỏ nhau mà thôi.

Hôm ấy, tôi để ý thấy có một cô gái còn trẻ, người hôm qua tôi không thấy. Cô đứng sát bên “bà mẹ Tầu”, mặt còn dấu đẫm nước mắt. Hình như cô ta vừa hết khóc khi thấy chúng tôi tới nơi. Không ai giới thiệu với tôi cô ấy là ai. Chắc không phải là vợ vì “hồ sơ quân bạ” của tử sĩ tôi xin ở “Phòng Một” ghi anh ấy còn độc thân. Vậy thì ai? Một người bà con, một người bạn học, một “cô láng giềng” hay một “em gái hậu phương”. Rồi loay hoay công việc, tôi bỏ qua cái thắc mắc ấy. Khi lên xe, tôi thấy cô theo sát “bà mẹ Tầu”, tôi bèn mời cô lên ngồi ghế sau cùng tài xế Chính. Bữa đó, tôi đích thân lái xe đưa “bà mẹ Tầu” lên nghĩa trang.

Trong nhà quàn, một dãy dài hơn mười cái quan tài phủ cờ nằm song song với nhau, trong cái không khí ảm đảm của nơi làm đám ma. Có mấy người đang ngồi khóc quanh một cái quan tài ở phía xa.

Nhờ buổi sáng tôi đã lên đây trước, tôi biết “chỗ” của người con trai “bà mẹ Tầu”. Tôi dừng lại trước quan tài anh ta. “Bà mẹ Tầu” hiểu là con bà trong nằm trong đó, bà khóc nức nở: “Con ôi! Con bỏ má mà đi…”  Cô gái cũng ngồi sụp xuống bên cạnh “bà mẹ Tầu” khóc theo.

Tôi đưa hàm răng trên cắn nhẹ vào môi dưới để nước mắt tôi khỏi chảy xuống theo tiếng khóc của hai người đàn bà. Thấy ông trung sĩ khóm trưởng cùng vài ông già lo đặt lễ và bịt khăn cho “bà mẹ Tầu”, tôi lặng lẽ đi ra sân. Vốn dĩ biết mình dễ xúc động, tôi tránh cái khung cảnh đau đớn nầy.

Sau khi mọi lễ lược xong, đạo tì đưa quan tài ra huyệt. “Bà mẹ Tầu” vẫn khóc nức nở, nhưng may mắn, bà không bị ngất xỉu như ngày hôm qua. Cô gái ấy đi theo, tay nắm vào cánh tay “bà mẹ Tầu”, đỡ bà đi theo quan tài.

Cô ấy khóc và mọi người cùng khóc.

Tôi đi sau cùng, bâng khuâng nghĩ tới mấy câu thơ của Huy Cận: “Kẻo thân đau chưa quen nệm giường đời. Ai đi đưa xin đưa đến tận nơi. Chớ quay lại nửa đường mà làm tủi. Người đã chết một vài ba đầu cúi.”

Không phải “một vài ba đầu cúi”. Ai cũng cúi đầu và ngậm ngùi, kẻ khóc nho nhỏ, người khóc to.

 

&

 

Ba ngày sau, là ngày “ba mươi tết”, cũng là ngày cúng “mở cửa mả” cho người chết, theo phong tục người Việt Nam.

Hôm qua, tôi báo cáo với trung tá Mậu: “Tôi đem xe đưa bà lên nghĩa trang một lần nữa, kẻo tội nghiệp “bà mẹ Tầu”; con chết rồi, một thân một mình, không ai giúp đỡ.”

Khoảng mười giờ sáng, tôi đưa “bà mẹ Tầu” tới nghĩa trang. Cô gái hôm trước, hôm nay cũng đi theo. Cô gọi “bà mẹ Tầu” bằng “má”, khiến tôi hơi ngạc nhiên.

Sau khi cúng xong, cô gái mời mấy người lính ở nghĩa trang “dùng cơm”, tức là dùng các “đồ cúng” họ mang lên hôm đó. Trong khi mấy anh lính “ăn nhậu” vui vẻ, “bà mẹ Tầu” ngồi nhìn họ có vẻ trìu mến. Vì thương con nên bà thương những người lính trẻ nầy bằng tuổi con bà, tôi nghĩ vậy. Tôi không ngồi chung với mấy người ấy; vẫn với thói quen, tôi ngồi ngoài sân. Trung úy trung đội trưởng “Trung Đội Chung Sự” ngồi bên cạnh tôi nói chuyện bâng quơ. Thấy cô gái đi ngang, tôi gọi lại, dặn vài điều. Tôi nói:

-“Bữa nay tết rồi, các nơi đều nghỉ hết. Cỡ sau tết ít hôm, đơn vị của anh Nghĩa – tên của tử sĩ – họ sẽ gởi giấy tờ về để lập hồ sơ “trợ cấp tổ phụ” cho bà cụ. Cô có rảnh, giúp bà cụ điền các thứ giấy tờ được không?”

-“Được chớ.” Cô ấy trả lời.

Tôi nói tiếp:

-“Giấy tờ đôi khi có chỗ khó hiểu. Cô có thể vô đơn vị tôi, hỏi cô đại úy Trang, hay cô Thanh Nhàn, các cô giúp đỡ cho.”

-“Được. Tôi biết chỗ thiếu úy làm việc.”

-“Cám ơn”. Rồi tôi nói tiếp. “Đúng ra thì cô có “trợ cấp quả phụ”, nhưng bởi anh ấy khai còn độc thân nên chỉ có “trợ cấp tổ phụ” thôi.

Câu trả lời làm tôi chưng hửng:

-“Tôi có phải là vợ anh ấy đâu!”

Tôi vội nói:

-“Xin lỗi. Thấy cô gọi bà ấy bằng “má” nên tôi hiểu lầm.

-“Không có gì đâu. Từ nhỏ, tôi coi bà như má tôi.”

-“Vậy cô là hàng xóm anh ấy hay, xin lỗi, hơi tò mò một chút, “hai người có yêu nhau?” Tôi nói.

-“Chòm xóm thì có, nhưng người yêu thì không, bởi vì anh ấy đâu có yêu tôi hay yêu ai!” Cô gái trả lời.

-“Yêu ai cũng không, yêu cô cũng không. Vậy chắc cô là “em gái hậu phương” của anh ấy.” Tôi lại tò mò.

-“Cái đó cũng không luôn.” Cô gái trả lời, hơi mĩm cười.

-“Anh ấy không yêu cô nên cô không làm vợ anh ấy?” Tôi lại hỏi.

-“Cũng không thiếu úy à. Lấy chồng nghèo cực lắm. Nhà anh ấy chỉ một mẹ một con, anh ấy lại là lính, làm sao mà giàu?” Cô gái trả lời, vẻ ngậm ngùi.

-“Lại tò mò một chút nghe! Chắc cô lấy chồng giàu?” Tôi hỏi.

-“Thiếu úy biết tôi sợ nghèo! Chồng tôi là một “chú ba Tầu giàu” trong Chợ Lớn.” Một lúc sau, cô ta lại nói: “Nói cho đúng, anh Nghĩa mới là người tôi yêu!” Cô ta nói, mắt nhìn ra xa ngoài đường lộ, hơi có vẻ đăm chiêu.

-“Cô có vẻ rắc rối đó. Tôi xin lỗi.” Trung úy trung đội trưởng ngồi bên tôi, góp ý vô.

-“Có gì đâu! Chồng tôi là “lính kiểng”. Anh có cái giấy phép 15 ngày đổi một lần. Một hôm, đang đi với tôi, gặp Quân Cảnh hỏi giấy, mặt anh tái mét, sợ líu lưỡi, nói không ra hơi. Anh Nghĩa thì khác, mặc đồ lính vô, tướng anh ấy ngon lành ghê! Các anh nghĩ, con gái như bọn chúng tôi, “thần tượng” ai chớ. Đời không như mình nghĩ.”

Khi ấy có tiếng gọi của “bà mẹ Tầu”, cô ta “dạ” rồi quay quả đi vô phía trong.

Một lúc sau, cô gái đi ra, nói với tôi:

-“Mẹ anh Nghĩa xin gặp “ông tổng thống.”

Chết cha! Tôi nhớ câu trung tá Mậu dặn dò hôm bắt đầu giao việc cho tôi. “Thân nhân người ta thưa lên tới tổng thống.” Tôi có làm gì sai để “bà mẹ Tầu” đòi thưa lên tới tổng thống đây. Tôi vội hỏi lại:

-“Có chi quan trọng không?”

Cô gái cười:

-“Hình như bữa hổm bà chưởi tổng thống. Bà hối hận. Chắc bà muốn xin lỗi.”

Tôi hoàn hồn. May! Tôi không có lỗi chi. Tôi nói:

-“Cô nói giúp với bà. Ông tổng thống không chấp nhất gì đâu. Ông cũng thương lính, thương các bà mẹ lính vậy mà.”

Bỗng “bà mẹ Tầu” từ phía trong đi ra, tới chỗ tôi, bà ngồi thụp xuống, chấp tay lạy tôi, khóc, nói: “Tui có tội, tui có tội.”

Tôi vội vàng đứng dậy, cùng cô gái nâng bà đứng lên. Tôi nói với cô gái:

-“Cô nói giúp với bà ấy đi. Không có gì đâu. Tổng thống là người cao thượng mà, ông có trách chi.”

Cô gái nói lại với bà ta. Có vẻ như bà yên tâm hơn.

Tôi nói với trung úy trung đội trưởng và cô gái: “Bữa đó tui nghe, chớ tổng thống đâu có ở đó mà nghe. Ông không biết đâu!”

Bà di vô phía trong, chắc để chuẩn bị về.

Đang ngồi chờ, ông trung úy trung đội trưởng nhìn tôi, nói, giọng không vui: “Thiếu úy nhớ câu cô ta nói không. “Đời không như mình nghĩ.” Cô ta yêu một người hùng, nhưng lại sợ cho người đi giữa súng đạn, đành phải lấy một “thùng nước lèo”. Tội nghiệp cô ta nhỉ!

 

 

Hoàng Long Hải

 

Read Full Post »

motnguoikhac

Trần thị Kim Lan


          “Hôm nay tôi là một người khác, tôi không phải là tôi.”  Bà ngồi cạnh tôi nói.  Chúng tôi đang trên xe buýt trong chuyến du ngoạn do một hội cao niên Boston tổ chức. Nghe lạ tôi quay qua nhìn chị ta thầm nghĩ:  Bà này nói gì lạ vậy?  Bà muốn trở thành người khác?  Được chú ý, bà nói thêm: “Thiệt tình tôi không muốn là tôi hôm nay.  Tôi đi chơi cho nhẹ nhàng tâm trí.  Chị không thể tưởng tượng được mức độ tàn nhẫn của bọn chủ tiệm. Tôi làm trong khâu bán quần áo.  Họ vắt chanh bỏ vỏ, không thấy  mình cực nhọc, không thông cảm chút nào.”  Bà ngưng nói, thở dài rồi tiếp: “Toàn thân tôi ê ẩm vì nhiều năm cúi xuống nhặt đồ đạc vung vảy, vói lên cao lấy hàng hóa cho khách xem.  Khách hàng! Năm người biết điều, mười người thấy ghê! Họ thử đồ xong ném tứ tung, đổi giá hoặc giấu trong góc đợi ngày hạ giá.  Đủ mánh khóe, lắm trò gạt gẫm.  Tôi mệt lả người.  Được vài  phút nghỉ ngơi thấy như lên thiên đàng! Nhưng có được đâu.  Nào máy hình, nào những con mắt theo dõi của mấy mụ quản lý nên tôi không dám ngưng tay.  Hôm nay thì khác, tôi khỏe re, khỏi lo gì hết. Cũng may là bà hàng xóm ghi tên dùm kịp chuyến đi này.”

          Tôi nói: “Mừng cho chị được dịp thảnh thơi.”  Bà ta đáp: “Tôi cũng mừng, được gặp người nói tiếng Việt.  Lâu rồi tôi không có dịp nói tiếng Việt.  Mấy đứa con của tôi lấy vợ, lấy chồng người Mỹ.  Cháu nội, cháu ngoại chỉ nói tiếng Anh thôi.  Tôi không có bạn Việt.  Tôi sống một mình.  Tôi nuôi con một mình.  Nhưng con cái, chị biết đó, chúng chẳng màng nghĩ tới tâm tư hay ước muốn của tôi.  Vợ chồng chúng nó đi chơi, chớ hề cho tôi đi cùng.  Bởi vậy được dịp là tôi đi theo đoàn dù toàn là người Mỹ. Tôi già rồi, ngại đi một mình.” Trông chị chẳng mấy

già, tiếng nói thanh và rõ, dáng điệu nhanh nhẹn, chỉ có lưng hơi khom, tóc muối tiêu cắt gọn, nét mặt đâm chiêu.  Tôi hỏi:

          “Sao muốn làm người khác? Chị còn tươi lắm.”  

Bà khách đáp:

          “Tôi quyết ít nhất mỗi tháng một lần xóa hết hận thù.  Chồng tôi không còn nghĩa lý gì với tôi cả. Tôi xem thường người đàn ông coi cha mẹ hơn vợ con. Ổng cũng thương vợ thương con nhưng khi có cơ hội cả nhà cùng vượt biên mà anh ta chọn ở lại dù ba đứa con chưa quá mười tuổi. Người cũng học thức, sĩ quan mà, sao làm vậy đựơc? Tôi một mình tần tảo nuôi chúng lớn xứ người.  Nhờ trời đứa nào cũng nên vợ nên chồng, công việc tạm ổn.” 

          Phần số chị cũng may, có con cái thành công.  Nhưng chắc chị cô đơn vì nổi quạnh hiu.  Tôi đoán chồng chị ở lại chắc có lý do nào khác hơn là vì chữ hiếu.  Chị có nói ông ấy thương vợ con và là cựu sĩ quan Cộng Hòa, sao không di tản?  Nghĩ vậy tôi hỏi: “Chị có chắc anh ấy ở lại vì thương cha mẹ hay lý do nào khác?”  Chị vội đáp: “ Ổng yêu nước thương dân, muốn góp công xây dựng xứ sở.”  Tôi buộc mồm thốt lên: “Chị thấy không.  Chắc vì vậy nên anh không đi.” 

          Bà khách lại thở dài, nhìn ra cửa sổ, gió phất lung linh mấy sợi tóc bạc.  Không nhìn tôi chị nói:  “Chẳng biết sao mà nói.  Sau này ổng hối hận khi bị đày đi học tập cải tạo.  Nhưng muộn rồi.  Đáng đời!  Nói thiệt với chị tôi thoát nợ, tự do muốn làm gì thì làm.  Đêm ngủ thẳng cẳng chẳng ai làm phiền cả.  Tôi chỉ lo vì tiền dành dụm ít oi mà vật giá gấp đôi, gấp ba lận.  Bởi vậy đã bảy mươi mà tôi ráng làm.  Tôi trông tới ngày nghỉ hưu.  Chị không biết đâu bọn chủ ác lắm.”

          Để chị bớt lo tôi lảng sang chuyện khác:

          “Xem kìa! cảnh quá đẹp! Tôi tên Loan. Còn chị?” 

          “Tôi là Hoa. Chị mấy tuổi?”

           “Tôi cũng bảy mươi.” 

          “Sao da không nhăn?” 

Tôi cười nói:

          “Chỉ được có vậy, còn xương kêu răn rắc.”

          Hai chúng tôi cùng cười.  Chị bảo tôi  nhìn bác tài và nói: “Còm cõi  như thế mà còn lái xe đường dài đưa khách già yếu, bệnh tật, chăm lo từng nguời.  Xứ của ổng mà ổng còn vất vả huống chi bọn ăn nhờ ở đậu như mình. Đời là bể khổ!”

          “Chị đạo Phật?” Tôi hỏi.

          “Tôi tin có luân hồi.  Đời trưóc mình mắc nợ chồng, con nên đời này phải trả.”

          “Nếu mình không trả nổi thì sao?  Mình quỵt nợ vậy.”

          Chị cười to nói: “Bà nói chuyện lạ.  Nợ này không quỵt được, phải trả kiếp này qua kiếp khác.  À mà tôi thích chữ ‘quỵt’ của chị. Lâu ngày không nói tiếng Việt tôi quên nhiều.”

          “Chị không quen ai trong cộng đồng người Việt sao?”

          “Cộng đồng nào?  Có cộng đồng người Việt hả?”  Chị ngạc nhiên hỏi.

          “Có.  Dân mình đông lắm ở  Dorchester và các thành phố khác trong tiểu bang Massachussetts.”

          “Thôi đi, tôi chẳng muốn phiền, ghét ngồi lê đôi mách, ganh tị, chia phe, giựt le. … Thêm mấy ông nội tưởng còn oai, lo ăn nhậu, mèo chuột.  Tôi  nghe nói có ông cựu quân nhân nào đó còn bắt vợ hầu! Tôi thoát được cảnh đó.”  Chị ngưng nói, rỉ vào tai tôi: “ Nè đừng nói với ai tôi bép xép về họ nhe.  Họ sẽ chụp cho tôi cái mũ ‘cộng sản.’  Tôi bỏ xứ đi vì sợ cộng sản mà phải giữ mồm giữ miệng ở nước tự do. Thiệt chán!” 

Tôi góp ý: 

          “Chắc cộng đồng nào cũng vậy chị à, không ít thì nhiều. Con người mà.  Tôi có tham gia vài nhóm khác sắc dân, nghe họ vẫn hay than về sự chia rẽ và ganh đua nhau.  Mình phải bỏ qua mấy chuyện phiền toái đó mới có dịp tiếp xúc dân mình.”  Chị Hoa đáp gọn lỏn: “Thôi đi, hơi đâu!”

          Xe đã đến trạm Meridith thuộc tiểu bang New Hampshire. Chúng tôi được cặp vợ chồng hướng dẩn viên tình nguyện trong đoàn đưa lên tàu điện. Theo chương trình tàu sẽ chạy dọc theo hồ Winnipesaukee cho khách xem lá đổi màu và thưởng thức món ăn đặc biệt vào dịp lễ Tạ Ơn do một nhà hàng nổi tiếng trong vùng đảm trách.  Chị Hoa rủ tôi và hai hướng dẫn viên cùng ngồi chung bàn.

          Trên tàu nhân viên nam nữ trẻ trung mặc áo thun đỏ chói tươi cười chào đón khách.  Môt cô tóc vàng, da trắng, móng tay dài thượt sơn đen vừa đi vừa nhún nhảy, rao lên như hát: “Gà tây nguyên chất, khoai tán nguyên chất, bí đỏ, nước sốt đều nguyên chất.  Chủ trương của nhà hàng Hart là làm vừa lòng thực khách.”

Mọi người  vỗ tay vang dội.

          Chị Hoa hỏi:                                                      –

          “Có thịt gà tây giả sao?”

          “Có chứ, nếu bà trả ít tiền.”  Người vợ đáp.

          Tàu bắt đầu di chuyển.  Chúng tôi háo hức không ngừng gọi nhau ngắm cảnh.  Nhìn bên trái có trời xanh vời vợi, nước hồ sóng sánh lắc lư tàu bè, xa xa lá vàng, xanh, đỏ, tím lẩn bên nhau tô một bức tranh rạng rỡ.  Quay sang phải những toà nhà khang trang ẩn hiện sau rừng cây cao vút sum sê muôn sắc lá. Thời tiết vừa vào thu, trong lành, mát mẻ. Chúng tôi hân hoan thoải mái, bắt đầu hỏi han nhau.  Đôi vợ chồng cho biết họ từ Phi Luật Tân sang Mỹ làm việc nhiều năm, về hưu, du lịch.  Nhờ học Anh ngữ từ nhỏ và sẵn có chuyên môn từ quê nhà nên ít gặp khó khăn ở Mỹ.  Chị Hoa nói họ vô cùng may mắn và gọi họ là những “di dân ưu đãi” và là “đôi uyên ương mùa thu”  Chị xin phép cho mượn người chồng phục vụ trong chuyến đi.  Hai ông bà đồng tình hưởng ứng.  Người chồng đưa khăn, rót nước, trét bơ vào bánh ân cần để lên tay chị Hoa. Chúng tôi trêu chọc chị, cười thỏa thích.  Ông khách nét mặt cau có ngồi bàn đối diện không khỏi mĩm cười.

          Bửa ăn đã dọn ra.  Hương vị món gà tây nướng lẫn mùi nước sốt, mùi bánh mì nóng thơm lừng.  Chúng tôi vét sạch các món “nguyên chất.”

           Chị Hoa ngã người thở phào nói: “Chúng ta rất may được sống ở xứ này.  Hôm nay tôi thật là một người khác.  Tôi chẳng lo âu đau nhức gì hết.  Tôi muốn sống vui. Từ nay chúng mình làm bạn nhé!”.

 

Trần thị Kim Lan

Read Full Post »

hatrong2

truyện ngắn Hoàng Long Hải

Bất tích ca giả khổ,
Đản thương tri âm hy!

Tôi và V. ngồi ở ban-công lầu hai khách sạn Sông Thương trên đường Đào Duy Anh, nhìn xuống đường. Giờ nầy, con đường hơi vắng, không xe cộ ồn ào như trong giờ cao điểm.

Chỉ xuống một bóng người ngồi bên kia đường, V. nói với tôi:

-“Đó! Danh ca của anh đó!

Tôi nhớ đã mấy lần tôi nghe tiếng hát đó, từ phía dưới đường vẳng lại, trong khi tôi còn ngủ mơ màng. Nghe nhạc, mà nghe trong giấc ngủ mơ màng, là điều tôi từng thích, khi còn trẻ.

Hồi ấy, không có phương tiện âm thanh dồi dào như bây giờ. Nhà nào có radio điện đã là khó. Khu vực ngoại ô tôi ở hồi ấy chưa có điện, radio transistor chưa ra đời, thành ra, mỗi buổi sáng, khi tôi còn ngủ mơ màng, nghe tiếng hát, chính là tiếng hát cô em gái tôi. Em tôi thường dậy sớm, đang làm công việc gì đó, quét nhà hay dọn dẹp mùng mền, vừa làm vừa hát – con nhỏ thích hát – dù hay hay dở, giọng hát trẻ bao giờ cũng dễ nghe. Đầu thập niên 1950, bài hát chưa có nhiều, quanh đi quẩn lại, cũng chỉ những bài quen thuộc. “Đời lạnh lùng trôi theo dòng nước mắt”, hoặc là “Người ơi! Nhớ chăng, mắt cô lái nhìn theo là lòng dân chờ mong” hay “Người hẹn cùng ta đến bên bờ suối”

Nhà tôi ở là nhà từ đường. Bát nhang trên bàn thờ nhiều hơn người trong nhà, nên trong cái vắng lặng của buổi sớm mai, trong cái lành lạnh của hơi nước sông Thạch Hãn kế bên nhà bay lên, trong cái âm u của hồn ma bóng quế đang lấp ló đâu đó sau những bức rèm trước bàn thờ, tôi cảm nhận cái hay của âm nhạc một cách dễ dàng, trong cơn ngủ muộn, vừa thấm đậm vừa buồn, như ăn sâu vào tuổi niên thiếu của tôi.

Tôi có mê nhạc cũng không có gì lạ. Ấy là chưa kể, tính mê ca hát, từ nơi mẹ tôi ảnh hưởng đến tôi – mẹ tôi thường ca Huế, nghêu ngao mỗi khi mẹ tôi rảnh rổi – ấy là chưa kể ông cậu họ tôi, là một người nổi tiếng vui thú cầm ca trên sông Hương ở đất Thần kinh.

Một lúc sau, tôi nói với V.:

-“Con nhỏ hát hay lắm đó!”

Quả thật, cái bóng nhỏ nhoi ngồi bên kia đường là một con nhỏ, một con nhỏ mù bẩm sinh. Nó ngồi bên kia đường, sau một cái thùng gỗ, có thể là cái võ bằng gỗ đựng bia chai. Trên cái thùng gỗ là những tấm vé số được chưng bày theo hàng lối ngang dọc đẹp mắt. Phía sau nó là một cây đàn “ghita” thùng, dựng vào bờ tường rào ngôi nhà phía trong.

Đầu nó đội cái nón lá hơi cũ, chưa đến nỗi rách bươm như người ta thường thấy ở mấy người ăn mày. Trên mình là chiếc áo sơ mi tay lững, màu xanh biển, quần đen, có lẽ quần ta.

Một lúc, tôi nói với V.:

-“Em chê anh nói sai à? Nó hát như một danh ca.”

-“Không! Em không nói vậy. Cả khu nầy, ai cũng khen nó hát hay, hay lắm.” V. trả lời.

-“Làm ca sĩ, người ta cần có một là giọng, hai là hơi và ba là gì, em biết không?”

-“Ba là cái hồn trong câu hát. Hát mà vô hồn thì ai nghe!”

-“Hồn là sự xúc cảm của người hát, có hồn mới có truyền cảm. Có người hát tự nhiên mà có hồn, có xúc cảm, như Sĩ Phú chẳng hạn, phải không?” Tôi hỏi V.

-“Còn anh nghĩ Khánh Ly, Lệ Thu thì sao?”

-“Hồi trước, báo chí Saigon nhận xét, Khánh Ly “hát từ nơi miệng”, Lệ Thu thì hát từ trong bụng”. Vậy mà người nào hát cũng hay.”

-“Khánh Ly chỉ hay khi hát Trịnh Công Sơn.” V. nói.

-“Có lần tổng thống Thiệu cũng nói vậy. Nhạc Trịnh Công Sơn mà lên là nhờ Khánh Ly.”

-“Tổng thống mà cũng mê nhạc dữ!” V. nói.

-“Cả miền Nam, riêng gì ổng. Trước 1975, cả miền Nam ai cũng mê nhạc, nhạc lính, nhạc tình, nhạc Bolero.”

-“Con nhỏ nầy nó hát Bolero hay lắm. Anh có để ý không?” V. hỏi.

-“Hôm qua nó hát mấy bài của “vua Bolero”: “Trên bốn vùng chiến thuật”, “Kẻ ở miền xa”, “Đò Chiều” làm anh nhớ hồi còn ở lính. “Áo nhà binh thương lính, lính thương quê”. Không biết Trúc Phương có ở lính không mà ông viết hay vậy, đúng tâm trạng người lính.”

-“Hôm ông qua đời, báo chí ở đây mai mỉa ông “đi chuyến “Đò Chiều”. Hận thù chi mà lâu dữ.” V. nhắc lại chuyện cũ.

-“Người ta dạy như vậy mà. Còn chế độ thì còn hận thù. Hận thù không còn thì chế độ cũng “đi đoong”. Họ không mai mỉa người nhạc sĩ chống lại chế độ sao được, dù chống bằng âm nhạc.” Tôi nói.

-“Bằng tình thương mới là nguy hiểm.” Tôi nói thêm.

-“Trước thì vậy! Bây giờ hát tùm lum. Đài nào, văn nghệ nào, không có nhạc vàng, ai mà nghe.” V. nhận xét.

-“Có hai điều cần nói: “Nhạc vàng là nhạc của dân miền Nam, nói chung. Phần đông, ai cũng thích nhạc vàng, ai cũng hát nhạc vàng, ngoại trừ số người già, người ở quê thích cải lương. Nhạc vàng, cải lương, tính giai cấp tiểu tư sản cũng như nhau, ngoại trừ một số nhỏ, bần nông, cố nông mới không ưa thứ văn nghệ nầy. Người Bắc vô Nam, sau 1975, ban đầu thì tuyên truyền, vì bản chất nông dân vô sản, chê nhạc vàng, chê quần ống loe, họ tự coi như “ngon lành” lắm, nhưng rồi càng ngày càng khá lên, giàu lên, càng mở rộng nhãn quan xã hội, hoặc có khi “thừa cơm rửng mỡ”, “phú quí sinh lễ nghĩa”, đâm ra thích nhạc vàng. Không nghe nhạc vàng là còn “quê Bắc Kỳ” đó, phải không? Bây giờ mà không nghe nhạc vàng thì nghe gì? Không lý nghe “Như có bác Hồ…”

Nghe câu chót, tôi và V. cùng cười.

-“Ca sĩ hải ngoại bây giờ về nước hát nhiều lắm!” V. nói

-“Về là phải!” Tôi tán thành.

-“Anh nói nghe lạ! Không phải bên Mỹ người ta chống dữ lắm?”

-“Chống chớ! Anh thì không?” Tôi nói.

-“Anh nói kỳ! Không lý đầu hàng?” V. nói.

-Vấn đề nầy có hai mặt: Một là về kiếm ăn, là “đầu hàng”. Hát trong nước, “cachet” cao hơn. Hai là về với tinh thần…” Tôi nói.

-“Tinh thần gì?” V. hỏi.

-“Em nhớ vụ “Nhân Văn” ngoài Bắc hồi trước không? Mấy chả kéo nhau đi ở tù hết, nhưng cái dư âm của nó đến bây giờ chưa dứt. Họ đúng là những người “Nay ở trong thơ nên có thép” như Hồ Chí Minh nói vậy. Nhưng thép đó lại đâm vào chế độ Hà Nội.

-“Còn bây giờ?” V. hỏi

-“Với những người về nước kiếm ăn hay những người trong nước ra với “nghị quyết 36” thì không nói. Còn những ai cho rằng tiếng hát của mình có thép thì anh hoan hô.”

-“Tiếng hát có thép là sao?” V. hỏi.

“Việt Nam tôi đâu?” không phải là thép sao? “Hãy đứng lên” không phải là thép sao? Thép trong nước và thép hải ngoại đứng chung một giới tuyến thì thành cái gì? Chế độ không sợ sao?” Tôi giải thích.

-“Anh nói vậy thì em hiểu! Nhưng khó lắm.” V. nói

-“Không những khó mà phải trường kỳ, cam đảm, không biết sợ. Thời “Nhân văn” khó hơn bây giờ, dễ sợ hơn bây giờ, như ông Nguyễn Hữu Đang là cái gương đấy. Có người sẽ như họ, can đảm hơn họ, không “biết hèn” như Nguyễn Tuân. Theo đó thì ca sĩ, nghệ sĩ là “người đi tiên phong” vậy!” Tôi nói.

-“Võ khí của họ là tiếng hát. Họ hát gì?” V. hỏi.

-“Họ hát như Việt Khang vậy. Nếu chưa hát được như Việt Khang thì họ hát “Bạch Đằng Giang”, “Bóng cờ lau” thậm chí cả “Dòng Sông Hát”, những bài ca lịch sử, hoặc có bài mới soạn, khi phổ biến tràn lan, nhà cầm quyền với hiểu, mới cấm, cũng đã trễ. Hy vọng đến một lúc nào đó, không chỉ ca sĩ hát mà thanh niên cũng hát, sinh viên, học sinh cũng hát, ca đoàn cũng hát, công nhân cũng hát, nông dân cũng hát thì chính quyền có cấm cũng không cấm được nữa, không kiểm soát nổi. “Đồng thanh tương ứng” mà.

-“Anh hơi lạc quan phải không?” V. hỏi.

-“Cũng có thể, nhưng một lúc nào đó, hy vọng không xa, nó sẽ tới. Sự sụp đổ của một chế độ, phong kiến, đế chế, quân chủ, độc tài… là từ trong lòng chế độ ấy, không phải từ bên ngoài…”

Bỗng tôi hỏi V.

-“Con nhỏ nầy hát toàn nhạc vàng, phải không?

-“Không thì ai mà nghe! Người ta nghe đông lắm, nhất là khi nó hát Bolero.”

-“Công An không bắt?” Tôi hỏi.

-“Công An cũng nghe, bắt gì!” V. trả lời.

-“Cũng là một “vai trò” đấy. Chế độ đành bất lực, càng ngày càng bất lực.” Tôi lên tiếng.

-“Cứ những cái đà Bolero nầy, nó sẽ “khuấy động” cả miền Nam cho mà coi, không chừng cả miền Bắc nữa, chế độ sẽ không yên với cái thép Bolero nầy đâu!” Tôi giải thích.

-“Sao vây? V. hỏi.

-“Em biết không? Bolero là âm nhạc của miền Nam, nó phát triển sâu rộng – vừa sâu vừa rộng – khắp cả miền Nam, bất phân già trẻ, đàn ông, đàn bà, thành thị thôn quê. Điệu nhạc du dương, êm đềm, nhẹ nhàng ấy sẽ là một vũ khí mạnh mẽ, chế độ không làm gì được đấy. “Nhu thắng cương” là vậy mà.” Tôi nói.

-“Anh nghĩ “Nước chảy đá mòn.” Mà sao điệu Bolero phổ biến như vậy anh?” V. hỏi.

-“Công của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đó.” Tôi giải thích.

-“Anh nói em không hiểu. Em không nghĩ cụ Diệm là người ưa âm nhạc mới. Âm nhạc cải cách.” V. nói.

-“Đúng đấy! Thời ông làm tổng thống, ổng cấm “Tư đổ tường.” Tôi nói.

-“Tứ đổ tường là gì?” V. lại hỏi.

-“Em không hiểu là phải, lúc ấy, “Năm anh hai mươi, em mới sinh ra đời” mà.” Tôi cười nhìn V. và nói.

-“Thôi đừng giởn nữa. Anh giải thích đi. Em muốn biết đây.” Vừa cười, V. vừa cằn nhằn.

-“Như thế nầy. Tổng thống là cụ đồ Nho, đạo đức, “Nho phong” dữ lắm nên ra lệnh cấm “hút xách, cờ bạc, đĩ điếm, rượu chè”. Bốn thứ là “tứ”. Nhảy đầm cũng bị cấm, trai gái ôm nhau mà nhảy là gai mắt cụ, phạm “thuần phong mỹ tục” nên cụ cấm.” Tôi giải thích.

-“Nhạc Bolero cũng là nhạc nhảy đầm?’ V. hỏi.

-“Em từng nhảy đầm mà hỏi trật lất. Valse, tango, blue mới nhảy đầm. Khi vũ trường bị cấm, âm nhạc bèn “xuống đường”. Nhạc “xuống đường” đâu có thể là nhạc vũ trường. Với lại thời bấy giờ hòa bình, giáo dục, âm nhạc, nghệ thuật, văn học đều phát triển thì nhạc ở nơi công cộng phải là Bolero chớ! Bolero là âm nhạc của đường phố”.

Một lúc sau, tôi nói tiếp:

-“Nhạc cổ điển thì mạnh ở châu Âu, nhạc nhảy đầm nơi công chúng đông đảo, giữa trời nắng chang chang, là âm nhạc của Nam Mỹ. Người Mỹ họ gọi những bữa ăn ngoài trời, thường nướng thịt bò, khoai Tây là “cook out”. “Cúc ao” là vừa ăn, vừa nhảy đầm giữa trời. Cảnh nầy anh chỉ đọc trong sách với nghe nói. Thấy thì thấy trong phim “Giant”, có diễn cảnh đó.

-“Rồi mình bắt chước?” V. hỏi.

-“Nhạc Tây phương thì nhạc sĩ mình bắt chước. Nhưng nhạc sĩ miền Nam hồi xưa khéo lắm. Họ dùng điệu Bolero của Nam Mỹ, nhưng người “Mếc-xì-cô” họ hát nhanh, mình chơi chậm lại, chậm là vì tâm hồn người Việt mình. Người Tây phương thì sôi nổi, cuồng nhiệt; người Việt mình thì trầm lắng, êm đềm, nhẹ nhàng, dễ diễn tả tâm hồn người Việt. Thiệt tài tình.”

Tôi nói:

-“Anh hỏi hơi tò mò một chút. Con nhỏ “danh ca” có cha mẹ không. Chồng nó đâu?”

-“Cha mẹ mất ở Kinh Tế Mới. Người ta đưa nó về Trường Mù khi nó mới năm, bảy tuổi gì đó.” V. giải thích.

-“Rồi có chồng?” Tôi hỏi.

-“Thằng chồng nó cũng con mồ côi, quê đâu ở miền Tây. Cả hai đều mê âm nhạc. Khi thằng chồng cùng bạn bè tới biểu diễn ở trường mù, anh chị phải lòng nhau. Con nhỏ bỏ trường đi theo. Hồi đó hai đứa có cái xe “loa”. Con vợ đẩy xe, chồng bán vé số dọc đường phố. Được một năm, thằng chồng bỏ vợ theo một ban nhạc, đi biểu diễn ở các tụ điểm. Mê âm nhạc hơn mê vợ.”

-“Không đem vợ đi theo?” Tôi hỏi.

-“Chưa kịp đem theo thì chồng vô tù.” V. nói.

-“Vô tù? Vụ gì?” Tôi nôn nóng hỏi.

-“Vụ gì nữa, cũng dùng âm nhạc để phản kháng, như Việt Khang vậy” V. giải thích.

Một lúc, V. kể tiếp:

-“Mất chồng. Con nhỏ về đây, bán vé số sống qua ngày.”

-“Tôi nghiệp chưa!” Tôi than.

-“Ban đầu mới tội. Lợi dụng con nhỏ mù, người ta ăn gian nó. Mất tiền, ngày nào cũng khóc. Bây giờ thì hết rồi.” V. nói.

-“Người ta không còn ăn gian nó nữa?” Tôi hỏi.

-“Sức mấy! Saigon bây giờ là “thành phố bác” mà anh! Nhờ nó biết “sờ” tiền. Nó “sờ” tiền hay lắm! Cầm tờ giấy bạc, nó “sờ sờ” là biết tờ giấy giá bao nhiêu. Người ta không còn ăn gian nó được nữa. Tài không? “Sờ” tờ giấy mà nó biết. Sao vậy anh?” V. hỏi.

-“Tạo hóa em à! Tạo hóa nhiệm mầu. Mất giác quan nầy, trời cho phát triển cái giác quan khác. Bên Mỹ, thằng mù ca sĩ Bocelli hát hay kinh khủng. Mất thị giác, âm thanh, xúc giác trở thành nhạy bén, “sờ” là biết đồng tiền. Trời cho cả đó!” Tôi giải thích.

Một lúc, tôi hỏi:

-“Em hay cho tiền nó không?”

-“Cho hoài. Thương lắm anh à! Số phận con người sao mà nghiệt ngã vậy! V. nói.

            -“Anh nghĩ, hai đứa nầy có bỏ nhau không?”

            -“Em nghĩ sao?” Tôi hỏi ngược lại.

            -“Em thì không! Linh tính cho em thấy hai đứa nầy không bỏ nhau!” V. giải thích.

            -“Anh cũng nghĩ vậy. Anh căn cứ cái bản chất của nó. Hai đứa cùng đam mê âm nhạc mà đến với nhau. Theo Tây phương thì “Yêu không phải là nhìn nhau mà cùng nhìn về môt hướng.” Hai đứa nhìn nhau thì bỏ nhau dễ lắm, còn nhìn về một hướng thì họ sẽ nắm tay nhau mà đi, đi tiếp”.

            -“Câu nói đó là của một nhà văn Pháp anh à!” V. góp ý.

            -“Đúng đó” – Tôi nói – “của Exupery, ông nầy viết hay lắm. Nhưng Việt Nam mình viết hay hơn, tình cảm hơn.”

            -“Ai?” V. đột ngột hỏi.

 

            Tôi không trả lời ngay câu hỏi, đọc bốn câu thơ:

 

                        “Âm thanh trống rỗng, còn chi nữa

                        Gắng gượng chi cho hồn Nhạc đau!

                        Ba kiếp lang thang, ngồi chụm lại,

                        Chúng ta mất hết, chỉ còn nhau!

 

-“Anh làm?” V. hỏi tôi.

-“Sức mấy. Thi bá đó em!” Tôi cười trả lời.

-“Vũ Hoàng Chương?” V. hỏi.

-“Có lẽ ông ấy làm bài thơ nầy sau tháng Tư, Bảy lăm. Không những bi quan mà còn tuyệt vọng. Em nghĩ “ba kiếp lang thang” là cái gì không?” Tôi hỏi.

-“Quá khứ, hiện tại, tương lai. Ba kiếp chụm làm một, có phải sau ngày đó, người miền Nam không còn quá khứ, không có tương lai, còn hiện tại thì trơ cứng lại. Phải không?”

-“Mai mốt em thế anh làm giáo sư Việt Văn được rồi đó.”

-“Ai cho anh dạy học mà mơ! Bỏ đi Tám.” V. chọc quê tôi.

Tôi nói:

-“Bây giờ tình hình khác hồi đó. Người ta bản lĩnh hơn, ít sợ hơn, dũng mãnh hơn. Bi quan cũng không, nói chi tuyệt vọng như Vũ Hoàng Chương. Con nhỏ mù sẽ mở mắt ra, đón thằng chồng trong tù về…”

-“Nhưng số phận vẫn còn nghiệt ngã. Mù bẩm sinh. Cho nó ra đời mà bắt nó mù. Tôi nghiệp cho nó.”

-“Em nói tội nghiệp là nói theo nhà Phật. Cái nghiệp của kiếp trước là cái mù của kiếp nầy. Ai tin thì tin, anh không tin. Nhân quả thì có, nhưng cho đó là cái nghiệp của kiếp trước thì tin sao đươc? Đó là sự tình cờ của Tạo hóa. Đời không có số phận, chỉ có hazard. Tự mình tìm tới đó chớ. “Cứ tìm những chốn đoạn trường mà đi” Cái đoạn trường của Kiều là do cô tìm tới mà thôi.” Tôi nói.

-“Vậy cái mù của con nhỏ do đâu mà ra?” V. lại hỏi tôi.

-“Do đâu à? Do ông Trời, do Hóa Nhi, do Trẻ Tạo, do Lão Tặc Thiên, do “Chết đuối người trên cạn mà chơi.”

-“Ông trời độc ác?” V. cười hỏi tôi.

Tôi không góp chuyện nữa, lại đọc mấy câu thơ của Huy Cận:

 

            Nếu Chúa biết bao nhiêu hồn ly tán,

            Khi đã nâng bình sữa ấp lên môi

            Thì hẵn Chúa cũng thẹn thùng hối hận

            Đã sinh ra thân thể của con người.

 

 

ThanksGiving 2016

hoàng long hải

Read Full Post »

thamvieng

Truyện ngắn Âu Thị Phục An

 

 

Lần đầu tiên cùng với Viên lên thăm đơn vị ở quân trường ngày chúa nhật chàng không được phép về, lúc ấy tôi đã là vợ chưa cưới của chàng rồi.

Ðám hỏi được tổ chức quá vội vã theo ý muốn của nhiều người, ba tôi, Vị và cả gia đình chàng nữa. Trong nhiều thư liên tiếp gửi cho tôi kể từ ngày chàng vào quân trường, Vị lập lại nhiều lần một điều muốn tôi rời khỏi Ð. để trở về làm đám cưới. Tôi chẳng hiểu sao đang còn mệt nhoài trong vòng rào quân trường mà Vị lại có thể nghĩ tới việc vợ chồng được. Ít ra, phải có một đời sống tạm gọi là thong dong người ta mới nghĩ tới và có thể tìm được yên ổn bởi đời sống chung. Thử nghĩ, Vị đang ở trong quân trường, tôi đang trong những ngày tháng cuối của chương trình cử nhân, thế cưới nhau xong chúng tôi sẽ thay đổi được cái gì xa cách, hay dù có được một tên gọi mới nhưng chúng tôi chẳng có gì thay đổi.

Trong thư viết cho Vị, tôi không hề đả động về nỗi cách xa sau khi lấy nhau, lý do tôi đưa ra để mong Vị hoãn lại một thời gian nữa là việc học. Vị và ba tôi đều không đồng ý và cuối cùng, tôi đã phải trở về. Nhưng đám cưới cũng không thể thực hiện được như dự tính vì Vị đang là khóa sinh nên không được hưởng cái phép bốn ngày như người ta đã ra đơn vị. Do đó, chúng tôi chỉ làm đám hỏi trong một buổi sáng chúa nhật Vị được về phép và đám cưới sẽ làm sau khi Vị đã ra trường. Có lẽ đây chỉ là một cái cớ mà ba tôi và gia đình Vị đưa ra để xác nhận một sự việc. Ðám cưới hay đám hỏi cũng chỉ là một sự thay đổi tên gọi. Bởi vì, dù cố gắng tôi cũng không hề nhận thấy một chút đổi thay nào sau lúc tôi đã đeo vào tay một vòng nhẫn nhỏ. Nhưng dù thế nào thì dưới mắt mọi người tôi đã trở thành vợ của Vị. Có nghĩa là, hơi màu mè một chút, tôi đã có chủ. Bữa tiệc nho nhỏ, vội vã, lại thêm một vòng nhẫn nhỏ nữa ở ngón tay áp út. Ðấy là tất cả thành trì dường như muốn ngăn chận đời sống tôi đang trải dài. Tôi bỗng như ngột ngạt. Vị bỗng như thơ thới. Những người trai quen biết cũ bỗng e dè.

Nhưng thành trì đó liệu có đủ chắc chắn ngăn tôi thoát ra ngoài, hay ngược lại chận những kẻ ở ngoài muốn vào? Ngày chánh thức trở thành vợ của Vị còn lâu, cũng khiến tôi thoải mái chút ít. Tôi nghĩ phải đợi một thời gian đủ cho da thịt và cảm giác trở về với vị trí ban đầu của nó tôi mới có thể tìm cho mình một con đường đúng nhất để trả lời Vị (dù tôi biết trước đó cũng chỉ là câu trả lời ưng thuận). Nếu bây giờ đám cưới xảy ra, tôi nghĩ một cách chua xót rằng chúng tôi đã đến với nhau bằng cảm giác, bằng môi hôn và sự kết hợp chỉ là để thỏa mãn cho nhau, một phần nào. (Làm sao chúng ta có thể chịu đựng nhau được cho đến hết đời nếu lúc nào ta cũng chỉ nghĩ rằng đời sống vợ chồng có những việc được gọi là hạnh phúc mà thật ra không phải như vậy?).

Chúa Nhật đầu tiên sau đám hỏi, Vị không được về phép. Chàng viết thư nhờ một người học chung khóa đem cho tôi chiều thứ bảy, bảo nếu tôi có rảnh thì chúa nhật nên rủ Viên cùng vào thăm chàng. Nhận được thư, tôi mới nhớ rằng chưa có lúc nào tôi nghĩ đến việc thăm chàng dù như thế có hơi đáng trách. Trước đó ít nhiều lần, Viên đã nói một cách bóng gió về việc tại sao tôi không hề có ý định đi thăm Vị ở quân trường. Cô không hề tỏ vẻ trách móc nhưng những lời nhẹ nhàng của cô cũng khiến tôi không thể nào chờ đợi thêm nữa mà không đi thăm Vị.

Dù trời đã khá chiều, tôi cũng đi chợ mua một ít đồ về nấu nướng vài món ăn sửa soạn cho sáng hôm sau sẽ vào thăm Vị. Trong bữa cơm chiều, ba tôi ngạc nhiên vì bữa ăn có vẻ thịnh soạn hơn thường ngày. Khi được biết những thức ăn đó tôi làm cho Vị, ba tôi gật gù vẻ hài lòng:

– Ba cũng đang định nhắc con nên vào thăm nó, ở quân trường không gì an ủi hơn là được người nhà tới thăm.

– Con mới được thư của anh ấy lúc chiều.

– Nó có nói gì không?

– Thưa ba, không. Sáng mai con đi sớm, ba có gửi gì cho anh ấy con đem vào cho.

– À có cái này.

– Cái gì vậy ba?

Ba tôi lẳng lặng rời bàn ăn, lên lầu. Lát sau ông trở lại và tôi suýt bật cười vì món đồ ba tôi gửi cho Vị. Tôi ngạc nhiên:

– Ở trong quân trường một cái kính cận thì giúp anh ấy được gì, ba?

– Ba đâu có ý tặng nó để sử dụng.

Thấy tôi chưa có vẻ hiểu, ba tôi giải thích rằng sỡ dĩ ông tặng Vị một món quà không thực dụng trong tình trạng của Vị thật ra là để thay cho một lời chúc cho chàng sớm được biệt phái trở về nhiệm sở cũ. Ba tôi nói, ông có nghe một vài người nói về việc này rồi, việc trả giáo chức trở về. Ba tôi nói:

– Ðến chừng đó, đem cái kính ra đeo. Có phải hay không?

– Ðể con nói lại với anh ấy những điều ba nói.

Bữa cơm kéo dài trong những câu chuyện xoay quanh việc tôi với Vị khiến lúc xong bữa trời đã tối. Tôi trở lên phòng và tự nhủ để mai sớm qua nhà rủ Viên đi cùng. Như thế thì ít nhất tôi cũng tránh được những câu chuyện không lấy gì làm vui lắm, của Viên.

Từ bến xe lam, tôi và Viên ôm đồm những thứ mang theo, chật vật chen lấn trong dòng người để vào cổng quân trường. Chúng tôi đi sớm mà vẫn có người tới sớm hơn có mặt từ trước bu kín cả khu tiếp tân. Ðứng chờ Viên vào phòng phụ trách việc thăm viếng, tôi nhìn chung quanh nơi đứng, ồn ào như một cái chợ. Người ta chen lấn, gọi tên nhau với một vẻ vội vã. Ai nấy đều muốn gặp ngay thân nhân mình trong khi tồi nhìn ngắm một cách thản nhiên.

Viên từ đám đông đi ra, mới buổi sáng mà cổ đẫm mồ hôi. Viên lắc đầu:

– Ðông quá. Chen muốn hụt hơi mới được mảnh giấy gọi anh Vị.

– Thế anh ấy đâu?

– Họ nói chừng vài phút nữa mới ra được.

Nhìn tôi chăm chú, Viên tiếp:

– Gặp chị chắc anh ấy mừng lắm.

Ðợi hơn nửa giờ đồng hồ, khóa sinh có thân nhân tới thăm mới được gọi trong số đó có Vị.

Ngay trong phút đầu gặp mặt Vị nhìn tôi lặng lẽ. Qua ánh nhìn đó tôi hiểu nếu không gặp nhau giữa đám đông chắc chắn Vị đã ôm tôi vào trong tay. Vị đỡ chiếc giỏ nặng trong tay tôi rồi đưa chúng tôi trở vào. Tôi bảo:

– Mình ra ngoài đi, anh. Ở đây ồn quá.

– Ðâu được – Vị lắc đầu – Mình chỉ có thể ngồi với nhau trong một khu vực dành cho khóa sinh có thân nhân tới thăm thôi.

Trên đường vào khu tiếp tân, tôi thấy khóa sinh cùng những người thân ngồi tụm năm tụm ba dưới những bóng mát của vài cây bã đậu. Cũng có những bóng mát tạm bợ là một vài chiếc lều được dựng vội vã nên trống trải và xiêu vẹo che dấu một cách hời hợt những cặp tình nhân nằm với nhau bên trong. Những cặp tình nhân hôn nhau, vuốt ve nhau một cách tự nhiên như chung quanh họ là một nơi riêng biệt vậy. Viên cúi đầu đi những bước dài như chạy, còn tôi thì chỉ thấy tội nghiệp cho mọi người. Có lẽ Vị cũng thèm khát nhiều thứ, từ lúc gặp nhau ngoài cổng đến giờ, Vị vẫn nhìn tôi với ánh mắt rất lạ. Ánh mắt mà một người đàn bà như tôi có thể hiểu được.

Theo Vị vào quán nước, chúng tôi chật vật lắm mới tìm được chỗ ngồi. Viên bày thức ăn lên bàn rồi im lặng một cách thừa thãi vì chẳng ai thèm để ý đến việc ăn uống. Chúng tôi im lặng nhìn nhau. Sau mấy tháng quân trường Vị chỉ thay đổi chút ít là mái tóc cắt ngắn. Nước da chàng vẫn trắng như dạo nào dù tôi biết chàng cả ngày dầm mình ngoài nắng, ở những bãi tập.

Tôi mở gói giấy lấy một cái paté chaud đưa cho Vị:

– Em nghe nói anh rất thích thứ này nên mua vào đây khá nhiều.

– Em với Viên cùng ăn chứ?

– Thôi anh ăn đi. Em no lắm.

Mà tôi no thật. Khung cảnh chung quanh khiến tôi no ứ đến tận cổ. Tuy nói thế tôi cũng cầm một cái nhấm nháp sơ sài cho Vị vui lòng trong lúc chàng ăn ngấu nghiến. Chàng khen luôn miệng tất cả những thức ăn tôi đem vào. Ðiều này khiến tôi biết đã lâu lắm Vị chưa hề có bữa ăn nào thịnh soạn.

Vừa ăn Vị vừa kể cho chúng tôi nghe về đời sống của chàng nơi này. Sáng thức dậy rất sớm, trở về phòng sau chín giờ tối. Những bãi tập, những hình phạt. Vị nói:

– Nếu em thấy cảnh anh bị phạt, có lẽ em không thể tin được sức chịu đựng của anh đến như thế. Nhưng rồi cũng chịu được.

– Bộ ở đây anh bị phạt hoài sao, anh?

– Hoài hoài. Bây giờ chỉ cần một người học trước anh một khóa thôi muốn phạt anh thì họ tìm ra lỗi để phạt ngay.

Viên tròn mắt:

– Nhưng anh đang ngồi sao họ lại có cớ để phạt được?

– Thiếu gì cớ. Phạt chỉ là một cách làm cho sức chịu đựng của mình tăng thêm để có thể theo đuổi khóa học.

Chỉ cho chúng tôi thấy phía ngoài sân nắng gắt một khóa sinh đang làm những động tác lạ mắt, bên cạnh là một cô gái ăn mặc lịch sự và sang trọng:

– Có thể anh chàng kia không có lỗi gì cả vẫn bị phạt như thường.

Vị thêm những cực nhọc mà chàng phải chịu, lâu dần khiến chàng quên mất là mình có nhớ đến ai không và một đôi lúc có ước muốn thì chỉ là những ước muốn nếu đem so sánh với ước muốn của kẻ khác thì đó quả thật là những điều hết sức khôi hài. Một giấc ngủ no đầy, không có tiếng còi tập họp ré lên lúc đang còn trong cơn say thiếp và có lẽ thèm nhất là địa vị của một người đi trước một khóa, vác ba lô ra đơn vị.

Vị nói:

– Có những điều ước chợt hiện trong trí đến không kịp tin rằng đã có lúc mình tàn tệ đến thế.

Giọng Vị bình thản, không có vẻ gì là kêu than hoặc phân bày gì cả.

Chúng tôi nói chuyện loanh quanh về đời sống phía ngoài vòng rào quân trường cho Vị nghe. Chàng nghe bằng đôi tai không chăm chú lắm như khi chú ý đến những thức ăn tôi và Viên thay phiên nhau tiếp cho chàng.

Tôi lấy thêm thức ăn cho Vị nhưng chàng gạt đi bảo để đó rồi rủ tôi về phía sau của quán nước sau khi chàng đã nhìn tôi thật lạ. Ánh nhìn nhanh và sắc. Tôi nghĩ có lẽ Vị muốn tìm một nơi nào đó kín đáo để hôn tôi chăng? Thế nên tôi quay qua bảo Viên ngồi chờ một lát, chỉ một lát thôi chúng tôi sẽ trở lại. Viên gật đầu rồi nhìn vu vơ ra chung quanh trong lúc tôi đứng dậy theo tay dắt hâm hấp nóng của Vị đi về phía nhà sau. Không biết Viên có hiểu.

Ðến trước một căn phòng tôi đoán có lẽ là phòng tắm (Cũng không phải là một căn phòng nữa, chỉ là những vách ván gỗ tạp được quây kín lại với nhau một cách tạm bợ cho ngăn cách với phía ngoài), Vị run tay mở cánh cửa và bảo, giọng như mất cái âm thanh thông thường:

– Vào đây, em.

Tôi mím môi bước vào bên trong và đủ thông minh hiểu để không hỏi han gì. Tôi nghĩ lúc này một câu hỏi có thể làm tôi hoặc Vị tủi hổ. Tôi nhìn quanh chỗ đứng. Một căn phòng tắm lộ thiên, có thùng đựng nước, có quần áo lót của đàn bà vắt bừa bãi trên dây. Tay Vị run rẩy khi đưa tay khép cánh cửa bằng gỗ tạp lại. Chúng tôi đang lẩn trốn phía bên ngoài.

Vị quay lại. Chàng hôn tôi. Bỗng tôi cảm thấy đau nhói lên ở phía sau lưng vì chiếc móc soutien bị cấn vào vách ván. Tôi dướn người về phía trước làm như đáp trả lại nụ hôn vội vàng của Vị nhưng thật ra là để tránh cho phiến lưng bị chàng ép mãi vào vách. Trong lúc trao đổi hôn như thế, tôi nhớ đến những nụ hôn chúng tôi đã trao nhau ở những nơi thanh thản nào khác và muốn nói một vài câu gì đó. Nhưng có lẽ lúc này tôi không nên nói một câu như thế nào cả dù muốn nói hết sức. Chúng tôi vẫn im lặng hôn nhau. Tôi nhắm khít mắt khi Vị yêu tôi.

Nắng rực rỡ đổ xuống, vách ván nóng cùng với hơi thở hâm hấp nóng của Vị không ngớt phả vào cổ vào mặt. Tôi cắn chặt răng để ngăn một tiếng khóc tội nghiệp. Quả thật chưa bao giờ tôi có thể tưởng tượng chúng tôi lại có lúc trở nên khốn đốn như lúc này.

Tôi sửa lại quần áo, tóc tai, dùng vạt áo dài lau những giọt mồ hôi lấm tấm ở hai bên thái dương rồi cùng Vị bước ra ngoài để trở về chỗ Viên đợi.

Hơi nóng của chỗ dựa lưng và sự mỏi rã làm tôi bước những bước lao đao như một người say rượu. May quá, khi chúng tôi trở lại thì Viên đang chăm chú đọc một tờ tạp chí đem theo lúc sáng. Ngồi xuống ghế tôi hé miệng thở dốc và uống một ngụm nước đầy trong ly nước Viên đã gọi sẵn. Vị cũng làm như thế. Tôi để ý thấy Viên dời mắt đọc báo ngẩng lên nhưng nhìn vội đi hướng khác và hai má đỏ hồng. Chắc vì những hình ảnh cô nhìn thấy trên đường đi và những điều cô đang nghĩ về chúng tôi sau hơn mười lăm phút vắng mặt. Nhưng chắc hẳn điều cô nghĩ không quá quắt như điều đã xảy ra.

 

Những câu chuyện sau đó cũng chỉ luẩn quẩn chung quanh những điều chúng tôi đã nói từ lúc gặp mặt tới giờ. Giọng Vị vẫn bình thản. Nhưng tôi, dù đang không nghe rõ giọng mình, tôi cũng có thể biết được nó không được tự nhiên lắm khi vừa đối đáp với Vị mà cứ thấp thoáng hình ảnh tội nghiệp của chúng tôi mới vừa xẩy ra.

Một người lính thuộc quân trường bước vào quán nước thông báo cho mọi người rõ chỉ còn nửa giờ nữa là hết thời gian thăm nuôi. Không khí đang chìm chìm lắng lắng bỗng chộn rộn hẳn lên. Tiếng ồn ào, tiếng khóc hòa lẫn thành một thứ tiếng động không tên gọi nhưng hẳn là buồn nản. Viên thu xếp những thứ còn lại vào cả trong một cái túi xách rồi bảo để lại cho Vị. Cô nói:

– Anh có cần gì thì nói, tuần sau em với chị Minh mang vào.

Vị quay sang nhìn tôi rồi chàng rút cây viết cùng mảnh giấy ghi một vài thức còn thiếu. Trong lúc Vị hí hoáy viết, tôi không biết mình có nên nói thật cho chàng biết đây là lần thăm đầu tiên nhưng cũng có thể là lần cuối cùng dành cho chàng? Xong việc, Vị nhìn lên:

– Tuần sau nếu không được về phép, em cùng Viên lại vào thăm anh chứ?

– Nhưng tuần này không phép thì tuần sau chắc phải có mà.

Tôi nói một câu không ăn nhập gì với những điều đang nghĩ trong đầu khiến Vị có vẻ ngạc nhiên:

– Nhưng trường hợp anh không được phép?

– Thì em với chị Minh lại vào thăm anh.

Viên xen vào. Tôi không biết phải giải bày ra sao nên im lặng cùng mọi người ra khỏi quán khi tiếng còi tập họp vang lên khắp chốn.

Vị trở về chỗ tập họp, chàng đứng lẫn trong giòng người và bộ đồ xanh làm chàng chìm trong những bộ đồ xanh khác khiến tôi quay lại nhìn cũng không nhận ra. Lấy kính đeo lên mắt tôi khóc tự nhiên trên đường dẫn ra phía cổng quân trường khiến Viên an ủi liền miệng và vẽ vời ngay cho một lần thăm viếng vào tuần tới.

Thăm viếng lần nữa à? Ồ, không ai đủ can đảm đưa tay đập vào vết thương của mình lần thứ hai. Không bao giờ. Căn phòng tắm lộ thiên. Cái móc soutien bị cấn và trăm ngàn nỗi cùng quấn trong đầu& không bao giờ. Tôi im lặng nghe Viên an ủi. Im lặng vì không biết phải phân bày như thế nào. Mà dù có phân bày chắc Viên cũng không thể nào tin được việc ấy đã xẩy ra.

Bước lên một chiếc xe lam để trở vào thành phố với Viên vẫn gần gũi bên cạnh nhưng tôi cảm thấy một cách rõ rệt rằng dù có thế nào chăng nữa, Vị, Viên những người quen biết không ai hiểu được tôi đang bước những bước như chạy trốn.

 

ÂU THỊ PHỤC AN

Read Full Post »

Xebanhmi2

 

 

“Có phải Em là người không bao giờ tôi gặp,

Mới là người tôi ấp ủ trong tim”

(Tôi tìm em, – Tạ Hữu Thiện)

 

Gởi Phạm Quang Chiểu, bạn tù

hlh

 

 

Tôi “rửa lon”, – chuẩn úy lên thiếu úy –  nhằm Tết Trung Thu, đành bấm bụng mà đãi mấy xếp bánh Trung Thu và uống Champagne.

 

Dĩ nhiên, ngoài mấy ông lớn, không có đám “đệ tử” của tôi, là mấy hạ sĩ quan, binh nhất, binh nhì làm chung phòng. “Đệ tử” cũng không ai dám lai vãng ở câu lạc bộ, khi thấy mấy ông lon lá đầy mình tập trung ở đó.

 

Tối đó, nhằm phiên “sĩ quan trực”, xuất hiên ở phòng trực xong, tôi xuống câu lạc bộ, uống càphê với “lính lác”, cùng trực với tôi.

 

Trời chạng vạng, Hạ Sĩ Đảnh tới. Anh chàng tài xế nầy là người thường lái xe đưa tôi đi công tác Saigon hay các đơn vị phụ cận Saigon. Tôi khoái đi với tài xế Đảnh, nhắm chừng, anh ta cũng khoái lái xe cho tôi đi. Có lẽ vì vui!

 

Chuyện vui thứ nhất là anh ta thường vượt đèn đỏ.

Saigon hồi ấy, cuối thập niên 1970, đèn đỏ không nhiều, nhưng ưa vượt đèn đỏ là cái tính nghịch ngợm của anh ta. Có lần tôi nói: “Coi chừng đụng xe có ngày!” Anh ta bảo, “Chuẩn úy yên tâm. Tài xế ngon lành mà!”

 

Cũng có lần bị “đệ tử của Cò Dung” (Cảnh Sát Công Lộ) thổi còi, Hạ Sĩ Đảnh dừng xe, xin lỗi: “Tôi phải đi “hỏa tốc”. Ông Trung Sĩ Cảnh sát Công lộ không chịu, đòi lập biên bản, không thì gọi Quân Cảnh tới.

 

Đảnh nói: “Ông Cò muốn chi cũng được, nhưng tui đi “hỏa tốc”, chậm một chút là “chết cả đám.”

 

Nói xong, Hạ Sĩ Đảnh lôi trong xe ra một cái phong bì nhà binh, màu rơm, ngoài đóng dấu “HỎA TỐC”, nói:

 

-“Tui không nói ông cò làm khó, ông coi nè, quả tình tui đi “hỏa tốc”, bắt tui chờ đây cũng được, nhưng làm ơn ký tên vô mặt sau bì thư nầy, để có trễ hạn, tụi có cớ trình với thượng cấp.”

 

Tưởng thiệt, Thầy Trung Sĩ Cảnh Sát nói: “Thôi anh đi đi, việc quân như… cứu hỏa mà.”

 

Xe chạy rồi, Hạ Sĩ Đảnh và tôi nhìn nhau cười.

 

Tôi hỏi:

 

-“Ông” xài cái mửng nầy bao lâu rồi!”

 

-“Ông Thiếu Úy Chương bày cho em đó. Ông ấy là “luật sư”  bị động viên. Gặp đèn đỏ, ông bực mình, ông bày mưu vượt đèn đỏ cho lẹ.”

 

Tôi cười:

-“Bác sĩ dạy người ta vệ sinh, nhưng bác sĩ ở dơ thấy mẹ! Luật sư thì bảo vệ luật, nhưng ưa làm chuyện phạm pháp. Buồn cười thật!”

 

Không ít lần tôi đi công tác ở Chợ Lớn, “ma chay” mà, nghĩa là vô tận nhà tử sĩ, vô hẽm quẹo hai ba lần mới tới, để rồi “Báo tin người tử trận cho thân nhân”. Thanh niên Ba Tàu có cái lạ, một là vô cùng nhát gan, chạy chọt khỏi đi lính hay làm “lính ma lính kiểng”. Còn tình nguyện thì đi thứ dữ: “Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Cọp Ba Đầu Rằn, v.v…  Tôi phải đến “gia đình tử sĩ” không ít lần, sau khi lo cho thân nhân đâu đó xong xuôi, mới an tâm, có dư chút thì giờ mà “nghịch ngợm”. Thầy trò tôi, “ham vui”!

 

Chợ Lớn không thiếu con gái Tầu, đẹp hay không, không cần biết, nhưng “lạ”. Nhìn là biết ngay “gái Tầu”.

 

Có hôm tôi hỏi Đảnh – Đảnh sinh đẻ ở Chợ Lớn, nhưng cha mẹ thì Tầu “rặc”. Ba Đảnh còn nói được chút ít tiếng Việt, còn mẹ anh ta thì “mù câm”, nói chuyện với người Việt, thường phải có “thông dịch viên”:

 

-“Muốn chọc mấy con nhỏ nầy thì nói sao mậy?”

-“Thì “ông” cứ nói “ngộ ái nị”. Đảnh trả lời!

-“Ngộ ái nị” là tôi yêu cô?” Tôi lại hỏi.

-“Đúng rồi!” Đảnh nói.

Tôi cười, nói:

-“Nó chưởi cho mà nghe!”

-“Không đâu – Tụi nó hiền lắm! Có đứa nó nhăn răng cười lại nữa. Ông cứ chọc đi cho vui.”

 

Nghe lời Đảnh, tôi diễn cái trò “Ngộ ái nị” nhiều lần; cũng vui. Mấy cô Tầu Chợ Lớn đang đi bên lề đường hẽm, bỗng thấy một sĩ quan ngồi trên xe Jeep, ngoái cổ ra nói vậy, họ ngạc nhiên. Thường cúi mặt tiếp tục đi, e thẹn; có cô trố mắt nhìn, ngạc nhiên; có cô cười tủm tỉm.

 

“Cầm dao lâu ngày đứt tay”. Mẹ tôi dạy như vậy, nên có hôm tôi bị “tổ trác”.

 

Đúng ra, tôi không nên nói câu ấy với cô nàng nầy. Trông qua, thấy hơi khác, không phải cách ăn mặc như gái Tầu Chợ Lớn, nhưng vì quen thói, tôi nói bừa: “Ngộ ái nị!”

 

-“Phải không đó! Tôi không phải Tầu đâu nhá.”

 

Tôi tái mặt, nói với Đảnh: “Dọt lẹ! mầy! Không phải Tầu.”

Hai chúng tôi lại cười ngất nga ngất ngưởng. Không lo. Cô ta đi bộ, chúng tôi đi xe, làm sao cô ta theo kịp mà chưởi chúng tôi.

 

 

&

 

 

Tối đó Đảnh cùng trực với tôi, anh tìm tôi ở câu lạc bộ. Đưa cho tôi ổ bánh mì nguội gói giấy báo, Đảnh nói:

 

-“Tui mua ổ bánh mì mừng ông thầy lên lon.

Tôi hỏi:

-“Uống càphê hay bia, tui đãi ông?

-“Một càphê đá”, Đảnh gọi vào bếp. Thấy tôi đang bẻ đôi ổ bánh mì, Đảnh nói:

-“Ông thầy ăn hết đi. Đừng bẻ cho em.”

-“Ngon không mầy?” Tôi hỏi.

-“Ngon lắm!”

 

Dù mới ăn cơm chiều ở nhà xong, tôi vẫn ăn hết ổ bánh mì thịt nguội. Tôi khen ngon.

 

Đảnh nói:

-“Thiếu úy biết xe bánh mì nầy không? Khi nào đói, ghé lại mua mà ăn!”

-“Ở đâu?” Tôi hỏi.

-“Ngã năm Chuồng chó” này nè! Xe nầy mới xuất hiện hơn tháng nay. Người ta mua đông lắm. Cô bán hàng cũng… đẹp. Ra trễ là hết hàng.” Đảnh ca tụng xe bánh mì.

-“Để tui ghé lại coi!” Tôi nói.

Đảnh chọc quê tôi:

-“Mua bánh mì chớ không phải nghía cô chủ đâu nhé! Tranh không lại đâu!”

-“Tui chưa vợ mà “ông”, hơn thua cũng phải lo kiếm vợ chớ!” Tôi vừa nói đùa vừa cười.

 

 

&

 

 

“Ngã Năm Chuống Chó” nằm ngay trên đường tôi đi/ về mỗi ngày. Bên kia ngã năm là “Trại Cẩu Cẩu”. Chúng tôi nói đùa như thế thay cho cái tên “Trại Quân Khuyển”; bên nầy là “Xe Bánh Mì Thịt Nguội”.

 

Cái xe thì cũ, chủ nhân thì mới. Để tiết kiệm, chắc người chủ mua lại cái xe của ai đó.

 

Khoảng 6 giờ chiều, trời mùa hè, còn sớm, cái xe bánh mì đã xuất hiện với hai hoặc ba người bán hàng: Một người đàn bà lớn tuổi, có lẽ là mẹ, – Tôi đoán đúng, sau nầy tôi nghe hai cô con gái cùng bán gọi bằng má. Dáng dấp của bà, trông có vẻ là một cô giáo hay công chức, thư ký, không phải là người lao động chân tay. Hai cô gái thì một cô là chị, 17 hay 18 tuổi, không đẹp, nhưng nhìn vào biết ngay là người phúc hậu, – giống mẹ – và cô em, 14 hay 15 tuổi gì đó. Tuổi nầy thì dành cho mấy anh sắp tốt nghiệp trung học hay mới vô đại học. Tuổi tôi thì phải “chọc” cô chị mới xứng đôi. “Nồi nào úp vung nấy”.

 

Ban đầu, chiều nào tôi cũng ghé mua bánh mì. Trên đường vô trại thì đem vô trại ăn. Trên dường về nhà thì mua về nhà, ai ăn thì ăn. Mua bánh mì là cái cớ để “ngó” cô chị. Trước khi cầm ổ bánh mì lên xe, bao giờ tôi cũng tần ngần, hay giả bộ tần ngần. Khi nào đông khách, cô chị mới không thấy cái vẻ “đi không đứt” của tôi. Khi vắng khách, dĩ nhiên cô ta thấy mà thấy rõ nữa. Tôi đóng kịch hay lắm, hồi còn đi học, văn nghệ hay lửa trại, thế nào cũng có màn kịch hài của tôi và bạn học.

 

Có lần tôi còn lục ví kiếm tiền, giả bộ “sĩ quan nghèo”. Bọn con gái mới lớn, hay thương người nghèo, như “Gia Huấn Ca”: “Thấy người đói rách thì thương.”

 

Sau lần tôi diễn trò “sĩ quan nghèo” đó, cô chị nói: “Từ nay, mỗi lần, Hạnh bớt cho thiếu úy một đồng một ổ.” Tôi mừng! Thế là cô ta “trung kế” của tôi. Sau đó, tôi tìm cách hỏi chuyện khi vắng khách. Mua hơi trễ thường vắng khách:

 

-“Hạnh có nghĩ tên Hạnh thì được hạnh phúc không?”

-“Sao lại không? Hạnh là tiếng trước của Hạnh Phúc mà!” Cô ta trả lời, với một sự tin tưởng mạnh mẽ, lộ trên mặt.

-“Xin lỗi!” Tôi nói. “Tên cô làm tôi nhớ cái chuyện ngắn “Hạnh” của Khái Hưng trong “Hai Buổi Chiều Vàng.”

 

Mặt cô ta xịu xuống. Có lẽ cô ta đã đọc truyện ngắn đó. Chương trình Việt Văn lớp Đệ Nhị phải học “Tự Lực Văn Đoàn””.

 

Thấy vậy, tôi nói, giọng hơi hốt hoảng:

-“Chết! Tui vô ý quá, xin cô đừng buồn. Nhưng cái truyện ngắn nó ám ảnh tôi dữ lắm, tôi thấy thương những người tên Hạnh. (Phần nầy tôi nói hơi chậm lại một chút, ít ra, cô ta phải nghe rõ mấy tiếng “Tôi thấy thương những người tên Hạnh). Xong, tôi lại rối rít xin lỗi một lần nữa, rồi vội vàng cầm ổ bánh mì lên xe dọt mất.

 

Làm như vậy là “đúng bài bản đấy”. Mình gây cho người ta một ấn tượng gì đó, rồi vội vàng xin lỗi mà dọt lẹ. Chắc chắn, người đó không thể không nghĩ về mình: Ghét, thương, giận, vui…

Cái gì cũng được, nhưng phải để lại một ấn tượng. Đó là “nghệ thuật cua gái”, nhiều nhà văn, nhà thơ hay dùng đòn phép nầy! “Nghệ thuật” nầy, tôi “học lóm” bên Pháp, khi tôi học luật bên ấy, do một số bạn bè qua Tây “truyền nghề” lại cho. Con gái Paris đẹp, dễ “cua”, nhưng phải có “nghệ thuật”. “Nghệ thuật” nầy có từ lâu đời của dân Paris chính hiệu.

 

Tối hôm sau, tôi lại ghé mua bánh mì!

Hạnh làm bánh mì cho tôi, sau khi chào tôi qua loa. Tôi đoán chừng trong lòng Hạnh cũng “đánh lô-tô” đấy. Vẻ bình tình bên ngoài, tố cáo những ngọn sóng trong lòng. “Đưa người ta không đưa sang sông, Sao có tiếng sóng ở trong lòng”. Thâm Tâm bảo có sông mới có sóng. Ở “Ngã Năm Chuồng Chó” nầy, làm gì có sông, nhưng chắc cũng có “sóng trong lòng” đó.

 

Tôi lại đóng kịch như các hôm trước, tay cầm ổ bánh mì, chân “rời rả” đi ra chỗ dựng xe. Bỗng tôi nghe Hạnh gọi tôi: “Thiếu úy!”  – Tôi dừng lại chờ đợi. Hạnh nói: “Thiếu úy muốn nói chuyện với Hạnh, mai mốt đến giờ nầy hay trễ hơn một chút.”

 

Bấy giờ tôi mới để ý thấy trước xe bánh mì không còn khách.

 

Tôi quay lại, nói, trầm tỉnh: “Thế nào rồi tôi cũng đi xa. Nếu Hạnh và tôi có nói gì đôi điều với nhau, cũng là một kỷ niệm.”

Hạnh nhìn tôi, hơi ngạc nhiên, vì câu tôi nói: “Tôi cũng đi xa”. Tôi cúi đầu chào Hạnh, miệng lí nhí: “Tối mai tôi lại ra mua bánh mì.”

 

 

&

 

 

Trong chiến tranh, gia đình nào cũng có nhiều điều lo lắng. “Em nghĩ tới một điều em không dám nghĩ, nghĩ tới một người đi giữa chiến tranh”. Tô Thùy Yên hay Trần Thiện Thanh nói vậy, hát vậy. Đối với những gia đình có người thân ngoài tiền tuyến, có bao giờ hết lo lắng.

 

Gia đình Hạnh là gia đình cố cựu, một “tiểu công chức” của đất Gia Định nầy. Thân phụ cô làm ở Ty Bưu Điện. Mẹ là cô giáo tiểu học. Nguồn gốc chắc cũng không phải là nghèo. Ngôi nhà họ đang ở, tuy là nhà cũ, ba gian, hái chái, lợp ngói âm dương, trong một khu vườn có trồng nhiều cau, bên cạnh đường Lê Quang Định cũ, là cái nét chung của những gia đình cố cựu khá giả nơi nầy.

 

Nếu không có chiến tranh, gia đình nầy có thể sống no ấm, êm đềm. Tuy nhiên, một phần vì xã hội phát triển, con cái cần phải tốt nghiệp đại học, nên chi tiêu gia đình tăng lên. Đó là điều vất vả thứ nhất cho cha mẹ.

 

Thứ hai, gia đình Hạnh lại chỉ có một con trai cả, tiếp sau là ba em gái, Hạnh là chị gái lớn nhứt. Anh của Hạnh, Luận, đang học Luật, bỗng nhiên tình nguyện nhập ngũ. Từ khi Luận vô quân trường, cho đến khi anh ra đơn vị đóng ở Bình Định, sợ con không đủ sống vì tiền lương nhỏ, ba má Hạnh phải lo “tiếp tế” cho con trai. Gánh nặng tài chánh, đã nặng, lại nặng thêm. Ba má Hạnh, nhất là bà mẹ, phải vất vả. “Xe Bánh Mì Thịt Nguội” nầy xuất hiện, là cái mục đích kiếm thêm tiền cho gia đình và cho cậu con trai đang ở ngoài chiến trường.

 

Ba Má Hạnh thương con trai, dĩ nhiên, vừa là con trai độc nhứt, lại vừa “đang ở lính”. Hạnh và các em Hạnh cũng rất thương Luận; anh trai mà! Đứa con gái nào lại chẳng muốn có một người anh trai, mà Luận thì vui tính, hay chọc ghẹo cho các em gái cười. Hạnh nói: “Anh ấy đi lính rồi, nhà trống trải lạ lùng. Nhiều khi đi học về, không thấy ảnh, muốn khóc luôn.”

 

Tôi hỏi: “Ở nhà ổng quậy dữ không?”

-“Cũng có, nhưng mà vui thôi. Đám bạn Hạnh, không cô nào không bị anh ta ghẹo. Ghẹo nhưng lịch sự lắm. Con nhỏ nào cũng nói “Ghét anh mầy ghê!” Nhưng ảnh đi rồi, con nào cũng hỏi thăm, hỏi hoài. Anh là người vui tính, đem nụ cười lại cho tụi nó mà!”

 

-“Bồ nhiều không?” Tôi lại hỏi.

-“Anh ấy mà yêu ai! mà ai chịu ảnh được, ngoài bọn em gái ảnh.”

-“Không yêu ai?” Tôi hỏi.

-“Hình như ảnh nghĩ ảnh sẽ đi lính, nên không muốn “dây dưa”.

-“Tại sao lại cứ nghĩ chuyện đi lính. Con trai độc nhứt. Cha mẹ già 60 tuổi, có điều kiện mà! Bộ ưa làm ông tướng chắc!” Tôi nói, như có vẻ cằn nhằn.

 

-“Đừng nói vậy” Hạnh nói – “Nghe được, ảnh buồn đó! Ba má Hạnh chưa tới 60 tuổi, mà ảnh thì hình như có cái máu “Nam Bộ Kháng Chiến”, ngày trước thì người ta hăng hái chống Tây, ngày nay thì hăng hái chống “ngoài kia xâm lăng” mình. Thiếu úy nhớ Lục Văn Tiên không?”

 

Tôi đọc: “Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha!” Rồi tôi nói tiếp: “Đúng rồi! “Lòng trần còn tơ vương khanh tướng” mà làm chi!”

 

 

&

 

 

Mấy hôm sau, lại trúng phiên trực. Ký tên vào sổ trực ở “Phòng Trực”xong, tôi lại xuống câu lạc bộ, tay cầm hai ổ bánh mì, một cho tôi và một cho Đảnh. Hạ Sĩ Đảnh thường trùng phiên trực với tôi.

 

Chúng tôi hai người cầm hai ổ bánh mì mà “ngoặm”, Đảnh hỏi:

-“Dính chưa?”

-“Dính gì mầy?” Tôi hỏi.

-“Cô bán bánh mì đó!” Đảnh trả lời.

Tôi cười:

“Thưa rằng đừng lấy làm chơi!” Con nhà đàng hoàng đó mậy! Không giởn mặt được đâu!”

-“Em có nói “ông thầy” giởn đâu. Cô ta con nhà đàng hoàng. Còn ông thầy bộ không là gì chắc? “Môn đang hộ đối” chớ gì nữa.” Đảnh nói.

-“Thôi! “Lỡ khi mình không về, thì thương người…” Tôi cũng bị ám ảnh bởi câu chuyện của Luận, do Hạnh kể lại nên trả lời bằng cách đọc câu thơ của Hữu Loan.

 

-“Ông nói cười không! Học luật bên Tây về, làm việc ở “Bộ Chỉ Huy”, làm sao ra tác chiến. Chữ “thọ” to tổ bố mà còn…”

 

Tôi không trả lời Đảnh!

Tốt nghiệp ở bên Tây, “Me” tôi bảo đừng về, về là bị gọi động viên. Ba tôi không nói gì cả. Về chưa bao lâu thì tôi nhận lệnh gọi, vào quân trường.

 

Máy IBM cũng lạ. Cũng như mọi người, tôi cứ nghĩ là tôi sẽ trình diện Nha Quân Pháp, hay ít ra cũng “Quân Cảnh”. Vậy mà tôi lại “đi Thiết Giáp”, học lái xe “tăng” M-41, Thiết vận xa M-113, V.100, học bắn đại bác, đại liên, đội hình tác chiến, di hành, hộ tống, lội nước…

 

Có lần Đảnh hỏi tôi: “Học đại học bên Tây, trường ốc to lớn đẹp đẽ, bộ không hơn chui vô xe học lái M-113 hay sao?”

 

Tôi cười:

-“Do mình thích hay không thích. Sinh viên mà học đại học bên Tây thì còn gì bằng. Còn như học lái xe “tăng”, cũng có cái vui lắm chớ. Ngồi trên M-113, lõ mắt ra mà tìm một nơi cho xe xuống nước mà không bị mắc lầy. Ra giữa sông lại hồi hộp, qua bên kia cầu Rạch Chiếc, tìm chỗ để lên cho gọn, cũng thú lắm chớ. Nó cho mình những cái cảm giác lo lắng, hồi hộp, căng thẳng…”

 

Đảnh cười:

-“Ông thầy đúng là người ưa cảm giác. Em thì nhắm làm liều cho xong, chớ có thú vị gì đâu!”

 

Tôi nói:

-“Ông” nói vậy là không đúng đâu. hồi học trung học, tui cãi với ông thầy khi ông nói: “Cầm dao giết người, người ta cũng thấy cái thi vị của nó”. Sau, học lên nữa, tui thấy ông thầy có lý. Ông “Tự vệ Việt Minh” thấy khoái khi cầm mã tấu chặt đầu một người mà anh ta cho là “Việt Gian”. Trong Thập Tự Chinh, người Tây cũng thích thú giết một người Hồi Giáo. Tụi “ba K” cũng thấy sướng khi đốt nhà người da đen.”

 

Tôi phải giải thích thêm cho Đảnh các ví dụ trên vì trình độ học vấn Đảnh không cao.

 

Nghe những chuyện lịch sử như tôi kể, Đảnh thích tôi lắm.

 

Tôi học tà tà, miễn xong thì thôi. Ra trường đậu trên trung bình, chọn đơn vị xong, lại có sứ vụ lệnh về trình diện Bộ Chỉ Huy, do một động cơ có “mùi nhang trầm thứ thiệt”. Ông Tướng Vùng quen thân với ba tôi, sợ tôi “Tổ Quốc Ghi Ơn” bèn gọi về “Đơn vị không tác chiến”.

 

Về đây, tôi “đụng” ngay một chuyện làm tôi hơi chột dạ. Hôm lên trình diện Đại Tá Tham Mưu Trưởng, ổng nói, rất từ tốn, như bản tính của ông vậy: “Mình ở đây, không tác chiến, không cần phải đeo “lon” ngụy trang chuẩn úy à!”

 

“Lon” ngụy trang là “lon” màu đen. “Lon” thông thường là màu đồng.

 

Trong hai năm phục vụ ở đơn vị không tác chiến, tôi cứ “lấn cấn” hoài. Ở đây, từ các ông sĩ quan già lon nhỏ cho đến các sĩ quan “lon” to, “lon” nhỏ, ông nào cũng phải ít ra hai năm ở “đơn vị tác chiến” mới về đây. Có ông “đánh đấm triền miên”, “thừa sống thiếu chết”, “sẹo đầy mình”. Vả lại, tôi còn trẻ, còn thanh niên, suốt ngày dạ, dạ, thưa, thưa mấy ông lớn… mệt lắm, vì ở đơn vị chỉ huy, ông lớn thì nhiều mà ông nhỏ thì ít. Quanh đi quẩn lại, lon lá như tôi, đếm chưa đủ năm đầu ngón tay.

 

Thế rồi một đơn vị mới, – cấp trung đoàn -, được thành lập, vùng hoạt động là quanh Saigon hoặc rộng hơn chút ít, không phải đi xa. Ông Thiếu Tá Trưởng Phòng Nhân Viên, biết tính tôi, hỏi: “Sao? Ưa ở đây hay ra Thủ Đức. Đơn vị đóng ở Thủ Đức đó!”

 

Tôi giấu Ba Me tôi, và tôi xin đi! Đơn vị đóng ở Thủ Đức, cũng đi đi về về Saigon, tuy ít về hơn. Ba Me tôi không hay biết gì cả.

 

 

&

 

 

Tôi ghé vào Xe Bánh Mì gặp Hạnh, nói: “Còn gặp Hạnh nhiều lần nữa, nhưng không phải mỗi ngày. Tôi lên Thủ Đức.”

 

Hạnh nói:

-“Anh Hai mấy lâu nay không về phép. Có anh, Hạnh nói chuyện cho vui. Nay anh lại đi rồi…”

-“Đành vậy! Biết sao! Tôi cũng như anh của Hạnh vậy, đàn ông con trai mà! Đâu chịu ở yên!”

-“Đàn ông con trai”! Tiếng ấy nghe sao mà buồn vậy, cứ bỏ đi xa hoài, hết người nầy đến người khác.

 

 

&

 

 

 

 

Tôi cứ tưởng đơn vị còn đóng ở Thủ Đức lâu. Công việc tà tà, hành quân tà tà, khỏe chán!

 

Ai ngờ!

Bỗng “Mùa Hè Đỏ Lửa”. Nhân “Ngày Quân Lực 19 tháng 6”, Tổng Thống ra lệnh, ba tháng phải chiếm lại “Cổ Thành Quảng Trị”. Toàn bộ đơn vị tôi chuyển ra Trung, tăng cường cho “Chiến Trường Trị/ Thiên”, xe lớn, xe nhỏ xuống Vũng Tầu, lên tầu thủy ra Đà Nẵng, từ Đà Nẵng ra Huế rồi chia nhỏ, yểm trợ cho các đơn vị Dù và Thủy Quân Lục Chiến đang tiến chiếm Cổ Thành. Vậy là không những hành quân “mút mùa Lệ Thủy” như các đơn vị bạn mà chiến trường thì mù mịt khói bụi, cát bay, núi lỡ…

 

Tôi triền miên theo đơn vị. Con đường thì không dài, chỉ 60 cây số từ Huế ra Quảng Trị mà xe tăng đi chậm dữ: từ 19 tháng 6 đến 16 tháng 9 mới tới nơi, cũng may, chưa tới ba tháng như Tổng Thống ra lệnh.

 

Dĩ nhiên, sau chiến công, tôi được ông Trung Tá đơn vị trưởng gọi lên. Ông bảo:

-“Cậu về phép, một tuần.”

Tôi cãi:

-“Em có xin phép đâu!”

-“Tôi biểu cậu đi phép thì cậu đi đi!” Ông Trung Tá hơi to tiếng.

 

Tôi làm thinh. Hiểu rồi. Ba Me hay bạn bè Ba Me “vận động” đây. Hôm sau, tôi thay bộ đồ nhà binh còn ngon lành, lên ban chỉ huy nhận giấy phép. Ba tháng hành quân liên tục, tìm được một bộ đồ ngon lành, không dễ đâu; khác với hồi còn ở Saigon.

 

Ông Đại Úy Chi Đoàn Trưởng Chỉ Huy Công Vụ nói với tôi: “Tôi xin máy bay rồi đấy! Tôi cho xe đưa thiếu úy đi Phú Bài, tới ban Chuyển Vận, đưa giấy phép ra là có máy bay.”

 

Về tới Saigon lúc gần nửa đêm, tôi nhờ xe quân sự, ra Saigon rồi đi taxi về nhà, “gặp Ba Me và các anh chị em”.

 

Nghỉ xã hơi hai ngày, tôi lấy xe hơi của ba tôi, về thăm bạn bè, lính lác ở đơn vị cũ.

 

Đang lái xe trên đường Lê Quang Định, qua khỏi Xóm Gà, tôi thấy một “cô nường” đang chạy xe PC bên đường. Cô gái có thân hình khá đẹp, eo ót rõ ràng. Qua khỏi cô ta, tôi nhìn lại. Té ra Hạnh. Đầu cô bịt khăn tang. Tôi tấp xe vô bên đường, mở cửa xe bước ra, chờ cô ta tới, kêu to: “Hạnh!”

 

Cô ta dừng lại, hai tay cầm ghi-đông, cúi đầu xuống rồi… khóc nức nở. Hạnh khóc giữa đường làm tôi hết sức bối rối. Chưa kịp hỏi cô ta để tang cho ai thì cô ta nói, cùng tiếng khóc: “Anh Hai em tử trận rồi.”

 

Tôi tưởng như trời sập! Thương Hạnh quá!

 

Hết sức xúc động, tôi để tay tôi trên bàn tay cô còn ở ghi-đông xe: “Chia buồn! Anh thành thật chia buồn. Cái điều mà mình lo, mình sợ, cuối cùng rồi cũng tới!”

 

Bỗng dưng tôi nhận ra một điều. Không như trước kia, cô ta xưng tên, bây giờ, cô ta xưng “em”. Còn tôi thì buột miệng xưng “anh”. Không biết cô ta có nhận ra điều đó không!

 

Tôi mời Hạnh vào cái quán sinh tố bên đường. Hai người uống hai ly. Muốn hỏi thăm mà không biết hỏi chuyện gì. Hỏi về anh Hai, sợ làm cô ta khóc, đành hỏi bâng quơ cha mẹ, thăm sức khỏe…  rồi cũng chẳng biết nói gì hơn, bối rối quá!

 

Tôi vốn là người, như me tôi nói: “Lanh mồm lanh miệng”, vậy mà tôi không biết hỏi hay nói cái gì. Chữ nghĩa, ý tưởng bỗng dưng trốn đâu mất biệt khỏi trí óc tôi. Hạnh cũng vậy, cô ta cũng không nói gì, ngoại trừ câu: “Anh Hai chết rồi, má em bỏ bán bánh mì, không cần việc ấy nữa.” Tôi biết, bán bánh mì là để kiếm thêm tiền cho con trai. Nay con trai qua đời rồi thì Má Hạnh dẹp xe bánh mì là đương nhiên. Nghĩ thì nghĩ vậy, mà nói thì không nói được.

 

Rồi tôi và Hạnh chia tay. Hạnh cho địa chỉ nhà, tôi đến thăm một lần. Không khí trong nhà buồn bã vì người con trai tử trận chưa lâu. Bàn thờ có hình Luận, có nhang đèn thắp sáng, nhưng sao mà âm u quá vậy?! Ba má Hạnh chào hỏi xong, để tôi và Hạnh ngồi nói chuyện với nhau.

 

Bây giờ thì buổi chuyện trò bớt buồn hơn, nhưng tôi cũng không dám đi xa hơn về tình cảm giữa tôi và Hạnh. Người ta đang buồn, sợ nói ra… lạc đề, đợi có dịp về phép nữa, bày tỏ mấy hồi, tôi nghĩ vậy. Rồi tôi kể vài chuyện đánh giặc, suýt chết ở ngoài Trung. Hạnh thì kể chuyện được bổ làm giáo sư ngay tại Gò Vấp, sau khi đậu tú tài.

 

Một tuần lễ ngắn ngủi trôi qua, chưa kịp thăm Hạnh lần thứ hai thì… hết phép. Tôi xin máy bay trở về đơn vị ngoài kia, hy vọng có kỳ nghỉ phép kế tiếp sẽ về Saigon, lại đến thăm Hạnh.

 

Mọi việc không như tôi hy vọng. Sau Hiệp Định Paris 73,  phía Cộng Sản vi phạm hiệp định liên tục, “lấn đất giành dân”. Tôi bị ông Trung Tá đơn vị trưởng gọi liên tục, đi theo ông, góp ý với ông, khi hai phe tranh cãi việc vi phạm hiệp định. Đến khi Cộng Sản Bắc Việt “tổn tấn công” vào đầu năm 1975, thì đơn vị tôi được lệnh rút, từ Diên Sanh, Quảng Trị về Thuận An, Thừa Thiên và “tan hàng” ở đó. Tôi theo đám tàn quân đi dần về Nam, rồi vô trại cải tạo. Cấp bậc trung úy, chức vụ: Chi Đoàn phó,  tương đương với 5 cuốn lịch tù.

 

&

Khi tôi đi tù về thì mọi sự … đều tan hoang. Ba tôi qua đời khi tôi mới vô tù được hai năm. Tôi không về chịu tang cha được. Me tôi và các anh chị em đều… vượt biên, định cư ở Mỹ.

 

Không đến nỗi đói khổ như các bạn tù khác, tôi sống tà tà và không có tương lai. Và dĩ nhiên, tôi tìm về nhà Hạnh ở Gò Vấp. Nhà đã đổi chủ, người mới là hai ông bà cán bộ Bắc Kỳ. Gia đình Hạnh nhờ một cơ may nào đó, di tản vào những ngày cuối cùng, khi miền Nam còn thoi thóp.

 

Tôi cũng như nhiều người, ra Sở Ngoại Vụ, lo việc “đi HO”. Điều buồn cười là bản thân tôi có “nhiều vé trống”. Điền tên ai vô bây giờ cho người ta đi cùng.

 

Bấy giờ thì tôi cũng đã già. Bên Tây về, tôi cũng đã quá tuổi 25. Bao nhiêu năm lính, bao nhiêu năm tù qua đi. “Sáu mươi năm cuộc đời”, tôi đã “xài” mất 40 năm. Hai mươi năm còn lại, đâu còn bao nhiêu, để “yêu ai”! Tình yêu chỉ là khi còn trẻ thôi, như khi tôi gặp Hạnh, mà vì chiến tranh, “Kỷ kiến hữu nhân hồi”, tôi cũng như Luận, anh của Hạnh, còn không nghĩ tới chuyện yêu nữa, huống chi bây giờ. Đôi khi chải tóc, tôi thấy có lắm sợi bạc rồi. Có thể vì đời tù gian khổ mà tóc mau bạc, mà cũng vì bốn mươi rồi còn gì!

 

Thế rồi một người bạn học, mà cũng là đồng ngũ, “đồng tù” nói với tôi: “Mầy lấy con Nhung đi. Chồng nó tử trận hồi 1974, để lại hai đứa con. Nhà nó nghèo, buôn bán tất tả nuôi con. Cứu ba mẹ con nó, còn hơn mầy xây cả chục cái chùa mầy à!”

 

Tôi ừ! Không chần chờ, không suy nghĩ, không vì Nhung đẹp hay xấu, không vì Nhung già hay trẻ. Tôi cho việc làm nầy còn hơn Me tôi đi chùa cả đời Me nữa.

 

Và rồi tôi dắt ba mẹ con lên máy bay đi Mỹ, tôi vui như mọi người, với một “gia đình nhỏ”. Gặp Me ở Mỹ, chắc Me tôi cũng… ngạc nhiên vì tôi có vợ và có… hai con. Riêng về tôi, ở một góc nhỏ nào đó trong trái tim tôi, vẫn là hình ảnh của Hạnh, một người tôi yêu nhưng chưa bao giờ nói với nhau tiếng “Yêu”!

 

Hoàng Long Hải

Read Full Post »

Khoảng Trời Xám

NguyenHue.jpg

 

KHOẢNG TRỜI XÁM

 

 Trương Đình Phượng

 

Trời u ám, mây như tấm màn xám bọc lấy khoảng không gian, gió vần vũ, xác lá vàng rơi ngập đường. Nguyễn Du ngồi bên ấm trà nóng, mắt mơ màng nhìn vào cõi thinh không. Hình ảnh những phận người trong cõi trần gió bụi lần lượt lướt qua tâm trí Du.

Cuộc đời Du trải qua bao thăng trầm biến thiên, nay đã ngán ngẩm bả phù danh. Du chỉ muốn an nhiên tự tại thả hồn vào mây trời trăng nước, nhưng lòng Du cứ luôn đau đáu về số phận những kẻ thấp cổ bé họng trong cõi nhân thế này.

Du nâng chén trà uống một ngụm, vị trà sen thơm ngát lan tỏa, xông lên mũi làm tâm trí Du khoan khoái. Du như bồng bềnh trong cõi hư huyễn.

Du đang miên man trôi trong giấc mơ thì tiếng người nô bộc bất ngờ vang lên bên cạnh:

-Dạ bẩm ông.

Du giật mình choàng tỉnh quay lại hỏi khẽ:

-Có chuyện gì vậy?

Nô bộc đáp:

-Dạ thưa nhà cái Xoan cho người sang nhờ ông viết giúp bài văn tế ạ.

-Nhà Xoan ai vừa chết vậy?

-Dạ bẩm chồng thị đi tìm trầm trong rừng bị ngã xuống vực mà chết.

Toàn thân Du rúng động. Nhà cái Xoan hoàn cảnh bần hàn, Trần Chung  chồng thị trước đây cũng là một tay học trò có tiếng nhưng vì đường công danh trắc trở đành gác việc bút nghiên, lao vào dòng đời kiếm miếng cơm manh áo.

Cha Trần Chung đã chết vì bị triều đình xử chém trong một vụ án văn. Nhà hắn còn mẹ già hơn tám mươi tuổi, một vợ và ba đứa con nhỏ.

Hai mắt Du rơm rớm lệ, khẽ nói:

-Ngươi vào mài mực rồi đưa giấy bút ra đây cho ta.

Người nô bộc đưa giấy bút ra. Du chấm mực viết một mạch xong bài văn tế , trao cho người nô bộc nói:

-Ngươi đưa sang cho nhà Xoan, à nhớ mưa ít đồ hương vàng  thay ta sang thắp cho Trần Chung vài nén nhang nhé.

Người nô bộc dạ khẽ rồi cúi mình chào Du. Còn lại một mình Du lại chìm vào suy tưởng. Trên ngọn cau đầu hồi tiếng con cú rúc lên từng nhịp  buồn thảm. Dưới mảnh sân rêu con chó co ro thu mình trong ổ rơm, ư ử rên vì lạnh. Du bất giác thở dài….

Mấy tháng nay Nguyễn Huệ đem quân ra thăng Long với danh nghĩa phò Lê diệt Trịnh. Kẻ sỹ khắp nơi tìm đến đầu quân cho Huệ. Khản bảo Du:

-Chú có tài sao không theo Huệ cống hiến vì dân vì nước.

Du lơ đãng nhìn đám mây cháy cuối trời khẽ nói:

-Ai cũng bảo Huệ là tay dũng tướng tài năng xuất chúng, có tấm lòng quảng đại, tài trí hơn người riêng em lại nghĩ khác.

Khản hỏi:

-Ý chú thế nào?

Du đáp:

-Anh chờ rồi sẽ thấy.

Dứt lời quay đi, im lặng. Khản lắc đầu, rời gót.

Đêm thu không khí êm như nhung. Du ngồi dưới ngọn đèn dầu lạc, tâm trí để cả vào ngòi bút, mỗi chữ như tút từ gan ruột, nước mắt Du lặng lẽ rơi.

Người nô bộc mỗi lần mở hé cửa ra nhìn thấy Du đang say sưa đưa bút, lắc đầu, đóng cửa lại.  Du buông bút. Cho tay vào miệng, nghiến chặt. Năm đầu ngón tay bật máu. Du lẩm bẩm:

-Thế sự đa đoan, ta biết làm gì. Dòng sông đục ngầu ta chỉ là con cá nhỏ biết phương nào mà bơi về đây.

Sáng sớm mưa như trút. Du ngồi bên mái hiên ngắm mưa rơi. Lòng ngổn ngang trăm mối.

Thời gian này Du vẫn để tâm nghe tin tức ngoài Thăng Long. Huệ đã tiêu diệt bọn phản loạn và trao lại quyền bính cho vua Lê. Tuy nhiên đó chỉ là vẻ bề ngoài. Thực sự Huệ vẫn nắm toàn bộ quyền chính  trong tay. Hôm qua Khản lại sang. Khản nói:

-Chú nói đúng, Huệ là tên khốn nạn. Hắn thừa nước đục thả câu, lần này hắn đem quân ra Hà Bắc thực chất là muốn chiếm đoạt giang san của nhà Lê chứ đâu phải có bụng tốt giúp dẹp phản loạn. Anh tính tập hợp kẻ sỹ kéo quân ra Bắc sống mái với Huệ một phen. Chú có ý kiến gì chăng?

Du nói:

-Anh đừng nên vọng động. Thời thế bây giờ đang hỗn loạn như canh hẹ. Nhà Lê cũng chả tốt đẹp gì. Cứ để cho Huệ và vua  Lê đấu đá với nhau.

Khản nói:

-Thiên hạ nói chú là kẻ bạc nhược thật chả sai. Anh đã nhìn lầm chú.

Du nhìn theo dáng Khản lắc đầu. Khản cũng như mọi người vĩnh viễn không hiểu được tâm can của Du.

Mưa mỗi lúc một dữ dằn. Du tựa đầu lên tay, chập chờn đi vào giấc ngủ.

Thăng Long thành. Đêm mùa xuân.  Du ngồi bên bàn, ngọn đèn dầu lạc khi mờ khi tỏ. Tiếng đàn nguyệt cầm như từng sợi tơ xuyên vào tâm hồn Du.

Mọi âm thanh cuộc sống lúc này dường như không còn tồn tại, chỉ có người con gái mảnh mai ngồi trước Du từng ngón tay thon mềm đang lướt trên những cung đàn ma mị.

Khuôn mặt người đẹp sầu như cánh hoa chiều muộn. Du lặng lẽ quan sát, lòng như không uống rượu mà say.

Trời khuya dần. Ngoài phố lác đác bước chân của những kẻ lang bạt. Du bước lại mở hé khung cửa sổ. Ánh trăng nhờn nhợt chiếu vào gian lầu nhỏ, không khí khăm khẳm.

Người đẹp đã dừng đàn, đang lặng lẽ nhìn Du. Du nói, âm thanh như vẳng về từ cõi xa xăm nào đó:

-Mai ta đi rồi, chả  nhẽ  nàng không có gì muốn nói cùng ta sao?

Bàn tay người đẹp khẽ vòng qua tấm thân gió bụi của Du, một cảm giác dịu dàng ấm áp. Tâm hồn Du chao đảo. Gió xuân như chiếc lưỡi tình nhân lả lướt trên khuôn mặt rám mùi dâu bể. Du cầm lấy bàn tay bé nhỏ của người đẹp.

-Lần này chia tay không biết có còn ngày gặp lại, nàng hãy vì ta mà sống cho thật tốt nhé.

Người đẹp tựa đầu vào vai Du, giọng oanh đượm nỗi thê lệ:

-Chàng không thể nán lại cùng thiếp thêm dù chỉ một ngày thôi sao?

-Đời kẻ nam nhi lấy gian nan làm thuyền, lấy đường xa gió bụi làm nhà, lấy khát vọng thay trời đổi đất làm chí hướng, nàng hiểu không?

-Thiếp hiểu. Những ngày qua ở bên nhau những tâm sự của chàng khiến thiếp thêm hổ thẹn bởi mình chỉ là gái giang hồ, phận liễu bồ mềm yếu không thể cùng chàng xông pha gió bụi cùng tạo nên nghiệp lớn.

Du thở dài:

-Trai thời loạn da ngựa bọc thây, gái thời loạn lênh đênh bể khổ. Thật đúng lắm thay!

Du quay lại, hai bàn tay đặt lên bờ vai thon của người đẹp. Hai đôi mắt nhìn nhau vừa đắm đuối thiết tha vừa trăm mối tơ vò.Người đẹp khẽ tựa vào ngực Du từng lời nói như bàn tay mượt mà xoa dịu trái tim Du:

-Chàng hãy ôm thiếp cho thật chặt có được không? Sao đêm nay thiếp thấy thân thể thiếp lạnh lẽo quá. Hãy sưởi ấm tâm hồn kẻ hèn mọn này trong những giây phút sau cùng để mai này hai ngả biệt ly mỗi khi mưa khóc sương hờn thiếp nhớ về đấng trượng phu để cõi lòng cô độc tìm thấy sự ấm áp.

Du ôm chặt người đẹp. Gió đêm lẻn qua khung cửa sổ đùa giỡn ngọn đèn dầu lạc chập chờn chực tắt.

Bên ngoài tất cả đã chìm vào sự im lặng muôn đời của đêm khuya. Du khép cửa sổ lại, dìu người đẹp đến bên giường….

Trái tim hai người tăng nhịp theo từng cung bậc cảm xúc. Du nói:

-Ta và nàng chỉ là hai kẻ lưu lãng giang hồ gặp gỡ nhau là duyên phận ly biệt cũng là duyên phận, xin nàng hãy nhận của Du này một lạy gọi là sự cảm tạ nàng bấy nay đã cho ta nương náu chốn này.

Người đẹp giơ tay ngăn cản:

-Đừng chàng đừng làm thế.

Tiếng dế buồn thảm thả vào màn đêm thăm thẳm. Bàn tay Du lần theo từng cúc áo của người đẹp…Hơi thở của người đẹp dồn dập.

-Không, ta không thể…

Du vùng đứng dậy. Chạy lại mở tung cửa sổ. Ngoài trời đang mưa. Từng giọt nước thi nhau bắn vào thân thể Du. Khuôn mặt Du ướt đẫm. Du thấy lòng mình ngập tràn sự thống khổ. Du yêu nàng nhưng Du không thể…

Người đẹp gài lại áo, lặng lẽ ngồi xuống bàn, những giọt lệ âm thầm rơi. Họ cứ như thế kẻ ngồi người đứng, mà trong tâm hồn đang từng cơn bão giông vần vũ…

Du tỉnh dậy chiều đã buông đầy mảnh sân gạch. Người nô bộc đặt ấm trà trước mặt Du nói khẽ:

-Dạ mời ông dùng trà.

Du quay lại nhìn người nô bộc cười, nụ cười của người bạn dành cho người bạn.

Du nói:

-Ngươi vào thu xếp hành trang, mai chúng ta lên kinh.

Đã gần bảy năm trôi qua, kể từ độ Du rời Thăng Long, bao nhiêu mong nhớ Du cất giữ dưới đáy lòng. Lần này quân Tây Sơn kéo ra Bắc , lòng Du bỗng trào dâng niềm lo lắng cho người con gái năm xưa. Du từng nghe người ta nói về Huệ. Huệ là tay kiêu hùng, sức vóc như mãnh hổ, trí tuệ hơn người nhưng Huệ lại là tay thô lậu trong lối hành xử với đàn bà. Những kẻ đi theo Huệ bảo rằng Huệ là kẻ háo sắc, thấy gái đẹp như chim ưng thấy gà con. Đã có biết bao nhiêu dân nữ bị chứng dâm cuồng của Huệ làm cho “nát liễu tan đào”. Huệ có thói quen mỗi lần hành lạc thường bắt người đàn bà cởi trần truồng nằm dưới nền đất rồi Huệ lấy rượu đổ khắp thân mình, Huệ lại vạch miệng đổ rượu cho đến khi  đối phương say ngất ngư, lúc bấy giờ Huệ cởi hết áo quần đứng nhìn con mồi cười sảng khoái…

Mỗi lần Huệ hành lạc kéo dài cả tiếng đồng hồ, thõa mãn Huệ nằm lăn ra ngủ.Huệ ngủ thường hay ngáy.Tiếng nói của Huệ như chuông vỡ , cái uy khiến kẻ khác run sợ. Nhưng tiếng ngáy của Huệ lại ri rí như tiếng cú rúc trong đêm trường tăm tối.

Những thôn nữ sau khi đã bị Huệ chiếm đoạt sự trong trắng sẽ bị tiệt luôn đường sống, những kẻ dưới trướng Huệ lôi con mồi ra một nơi kín đáo bóp cổ cho đến chết rồi cắt nhỏ ra từng phần đào đất chôn chặt, sau đó san phẳng, người ngoài nhìn vào không thể phát hiện ra chỗ đó vừa bị đào xới.

Thủ đoạn đó của Huệ được bọn hạ nhân giấu nhẻm như mèo giấu cứt lại thêm những hành vi “ tự vẽ mặt anh hùng” của Huệ càng khiến nhân dân bốn cõi nhìn Huệ như một vị thánh sống. Trong quân của Huệ có tay Trương Thoại làm người chăm voi cho Huệ vốn là bạn tri giao của Du, thi thoảng hai người vẫn biên thư thăm hỏi nhau. Qua lời kể của Thoại, Du nắm bắt khá rõ về con người của Huệ.

Thoại còn tiết lộ với Du, không chỉ là kẻ dâm ô mà Huệ còn là tay khát máu. Năm 1777 Huệ đem quân đánh thành Gia Định nhân dân trong thành nguyện trung thành với chúa Nguyễn nhất quyết thà chết không đầu hàng. Huệ điên tiết ra lệnh cho quân lính chôn sống hai mươi hộ dân tổng cộng hơn một trăm nhân mạng hòng đe dọa dân chúng trong thành. Sự việc này lịch sử không hề nhắc đến!

Những điều ấy Du giữ kín trong lòng. Du biết Huệ là kẻ có tài kinh bang tế thế nhưng bản thân Huệ xuất thân hèn kém, giống như con cú phút chốc biến thành phượng hoàng từ kẻ tay trắng bỗng đâu quyền hành đầy tay, dĩ nhiên những thói xấu tiềm ẩn lâu ngày sẽ theo đà mà bộc lộ.

Ngày mai Du sẽ trở lại Thăng Long, ngoài mục đích gặp lại người con gái năm xưa Du còn muốn xem sự tình ngoài đó hiện nay thế nào.

Ăn cơm chiều xong Du cho người sang mời Khản. Nghe bảo Du có chuyện quan trọng về Thăng Long cần bàn, Khản không kịp thay đồ tất tả đi theo người nhà Du.

-Chuyến này em định cùng anh ra Thăng Long xem xem sự tình ngoài đó thế nào. Theo ý em chỉ cần hai anh em mình đi là đủ, chớ nên mang theo  người hầu  lỡ có sự việc gì xảy ra thêm rối.

Khản nhấp ngụm trà, nói:

-Chú nói cũng phải. Hiện nay Huệ như thế nào chúng ta chưa nắm rõ tốt nhất chớ nên đánh rắn động cỏ.

Du đáp:

-Tính anh cương trực hay hành động nóng vội, lần này anh phải thật bình tĩnh có chuyện gì cũng từ từ tính toán.

Khản cười ha hả:

-Chú cứ làm như anh là trẻ mục đồng không bằng. Rứa nhé để anh về thu xếp, chú ngủ sớm đi, mai anh em mình lên đường.

Khản ra về. Du cầm mãi chén trà trên tay, nhìn vào bóng tối. Từ phía dòng Lam vẳng lên điệu “giặm kể” buồn da diết. Du buột miệng thốt:

-Mai ta lại phải rời mảnh đất thân thương này rồi!

Làn gió lạnh phớt qua sân. Tiếng dế ngoài thềm xoi xói…
!

Thăng Long thành qua cơn binh biến phờ phạc như người phụ nữ bị hiếp dâm. Những ngôi nhà kiến trúc cầu kỳ nay cửa lủng ngói nát. Nét mặt dân chúng người nào người nấy lấm la lấm lét như tù mới được tha.

Du và Khản ghé vào quán nước bên đường. Du hỏi bà cụ chủ quán:

-Nghe nói từ khi Nguyễn Huệ đem quân ra dẹp loạn đời sống dân chúng ổn định lên nhiều phải không cụ?

Bà cụ nhìn quanh dò xét hạ giọng nói:

-Hình như hai bác là người Nghệ?

Khản đáp:

-Đúng vậy.

Bà cụ nói:

-Chả giấu gì các bác từ khi Huệ ra đây làm bao nhiêu việc thất đức khiến nhân dân oán hận nhưng quân Huệ như beo như cọp nên dân chúng ai cũng sợ chả dám lên tiếng. Vua Lê thì ngu hèn Huệ nói gì cũng nghe. Trăm quan có mắt như mù.

Du liếc mắt ra hiệu với Khản, lấy tiền trả tiền nước chào bà cụ rồi hai anh em vội vã đi tìm nhà trọ. Chiều buông nhanh, thành Thăng Long run rẩy như người mới ốm dậy.

Đêm. Kinh thành Thăng Long tĩnh lặng. Có vẻ như qua cơn binh biến sự nhiệt náo của vùng đất này đã bị bóp nghẹt thay vào đó là sự đìu hiu, hoang phế.

Chỉ có nơi nhà thổ không khí mua hoa bán nguyệt vẫn diễn ra rôm rả như thường. Thời đại nào cũng vậy, chuyện nhục dục luôn là món ăn khoái khẩu của loài người. Cái nghèo khổ, túng quẩn hay cuộc sống luôn bị cái chết rình rập không khiến người ta quan tâm bằng nhục cảm thể xác.

Du và Khản chậm rãi tiến về phía khu phố “Bình Khang”. Mấy năm nay Thăng Long thành kỹ viện thi nhọc mọc. Mỗi kỹ viện ra sau càng được xây dựng kỳ công hơn, từ lối trạm trổ tinh vi đến lối trang trí lòe loẹt với mục đích chèo kéo khách làng chơi.

Hai bên đường những cô gái trạc tuổi đôi mươi ăn mặc hở hang, uốn éo chào mời. Khản nắm chặt tay, nghiến giọng:

-Hủ bại quá đi mất, nhà Lê đến thời mạt vận rồi. Ngay giữa chốn kinh thành mà ô uế thế này thử hỏi sao mà dân không loạn nước không nhơ.

Du nói khẽ:

-Anh bình tĩnh, hãy nhớ chúng ta đi chuyến này tránh được rắc rối từng nào hay chừng đó.

Khản vẫn còn hậm hực:

-Thật sự ta đã thờ nhầm chúa.

Hai người thận trọng đi đến Tĩnh Nguyệt Lầu. Du muốn rẽ qua thăm người năm cũ. Lần này ra Bắc theo chủ ý của Du nên Khản hoàn toàn chấp nhận nghe theo chỉ đạo của Du.

Hai người lấy phong thái đạo mạo bước vào, ngay lập tức năm sáu cô nàng môi hồng má thắm chạy lại xun xoe:

-Ôi hai vị đại quan nhân, lâu quá mới thấy hai vị ghé chơi, khiến tụi em nhớ quá giời.

-Ấy ấy, mày tham vừa thôi chứ, để vị này cho tao.

Thôi thì trăm câu ngàn câu ong ve . Khản cau mày khó chịu. Du day day áo Khản. Khẽ cười nói:

-Xin các nàng cho hỏi hiện nay nàng Nguyệt Cầm có còn ở đây nữa chăng?

Mấy cô nàng liếc mắt nhìn Du lại nhìn Khản. Một cô nói:

-Không ngờ hai vị cũng là tay trăng gió không phải dạng vừa. Nguyệt Cầm cô nương hiện tại vẫn là “món đồ quý” ở chốn này, tuy nhiên hôm nay hai vị đến muộn mất rồi. Đêm nay Nguyệt Cầm cô nương đang bận tiếp một vị khách vô cùng quan trọng, một vị anh hùng uy vũ bốn phương.

Một ý nghĩ chạy nhanh qua đầu Du, lẽ nào kẻ đó là Huệ chăng.

Ngay lập tức Du nắm tay Khản chạy nhanh lên lầu, mấy cô ả không ngăn kịp la oai oái. Đã gần mười năm nhưng Du vẫn còn nhớ rõ căn phòng năm xưa. Cẩn trọng hai người tiến sát lại. Phía trong tiếng một người đàn ông, giọng như sấm rền:

-Nàng hãy chiều ta đêm nay, đảm bảo rồi đây ta sẽ trao cho nàng cuộc sống phú quý đầy đủ.

Tiếng người đàn bà run rẩy, van vỉ:

-Xin ngài hãy tha cho thiếp, nếu Ngọc Hân công nương mà biết thì cái mạng hèn của tiện thiếp có khác gì con sâu con kiến, chết không đất dung.

Cộp tiếng chén dằn xuống mặt bàn:

-Khốn nạn, ả là cái quái gì, ngay cả chuyện làm cho đàn ông sướng khoái ả cũng chả biết, thì mang danh công chúa thật uổng quá.

Du ghé mắt nhìn qua khe cửa. Một gã đàn ông uy phong lẫm liệt đang ngồi rót rượu uống như voi, đích xác là Huệ.

Người đàn bà vẻ đẹp chim sa cá lặn tay ôm chiếc đàn Nguyệt ngồi co rúm dáng điệu sợ sệt. Người đó chính là ý trung nhân trong mộng của Du.

Huệ đứng dậy tiến về phía người đẹp. Bàn tay thô bạo chộp lấy bờ vai nàng. Nàng run lên:

-Ngài say quá rồi, ngài về nghỉ ngơi đi mai tiện thiếp xin hầu đàn tiếp.

-Ta chưa bao giờ sayrượu, nàng nên biết Huệ này chỉ say một thứ mà thôi, đó là giang san Đại Việt này. Từ khi ta sinh ra trên cõi đời này đến nay thiên hạ luôn nhìn Huệ này bằng ánh mắt khinh thường, ngay cả anh em của ta cũng xem nhẹ ta, ta thề phải làm nên nghiệp lớn cho chúng nhân mở mắt mà nhìn Huệ này đầy ngưỡng mộ.          Nhưng đêm nay, ha ha, ta mới phát hiện ra ta còn say một thứ nữa, đó chính là sắc đẹp có một không hai của nàng.

Người đẹp hoảng hốt đứng dậy, thoát khỏi bàn tay của Huệ. Huệ lao đến như con hổ khát mồi.

-Nàng đừng cố cưỡng, hãy ngoan ngoãn chiều ta, thuận ta thì sống nhược bằng nghịch ta thì chỉ có nước chết mà thôi.

Sự dồn ép của Huệ đẩy người đẹp lui dần đến sát chân tường. Nàng nhìn Huệ đầy căm hận. Huệ cười sảng khoái:

-Ta nói rồi,cái gì mà Huệ này muốn nhất quyết dành cho bằng được.

Bên ngoài hai bàn tay Du nắm chặt tưởng chừng gãy từng khớp xương, toàn thân Du run lên vì phẫn uất, Khản đứng bên bầu máu cũng sôi lên sùng sục. Khản cảm thấy tởm lởm thay cho một kẻ được thiên hạ tôn xưng là đấng anh hùng đội trời đạp đất.

Hai bàn tay thô của Huệ ôm chầm lấy người đẹp, sự quẫy đạp của nàng thành vô dụng dưới sức mạnh beo cọp của Huệ. Huệ nắm tóc nàng kéo lê lại giường, vật nàng xuống, Huệ chộp lấy bình rượu trên bàn, đổ vào miệng nàng:

-Uống đi, uống với ta nào, say rồi hành lạc mới thống khoái.

Du nghiến răng nghiến lợi nói thầm “Qủa đúng như lời đồn của thiên hạ, hắn là một tay bệnh hoạn”.

Khản đưa tay sờ thanh gươm bên hông, bụng bảo dạ:

-Đêm nay ta thề băm vằm tên khốn nạn này, bây giờ ta mới hiểu vì sao hắn lại dựng Lê Chiêu Thống lên làm vua. Hắn muốn cho một kẻ nhu nhược hèn yếu hờ hững ngồi ngôi cao để dễ bề thay triều đổi ngôi khi cần, không ngờ mưu kế của ngươi thâm độc đến vậy.

Bên trong người đẹp đã bị Huệ nhồi rượu say khướt, tấm áo trên mình nàng đã bị Huệ xé rách lộ ra bầu ngực căng đầy. Hai hàm răng Du cắn vào nhau bật cả máu.

Khản đưa chân đá văng hai cánh cửa, nhảy vào phòng, chỉa mũi gươm vào Huệ thét lên:

-Hồ Thơm, ngươi là tên chó chết.Một kẻ dâm loàn, tàn bạo như ngươi không xứng đáng được muôn dân ca ngợi.

Huệ quay lại, hai mắt đỏ ngầu, hai con tròng vằn lên từng tia máu:

-Mi là ai?

Khản dõng dạc:

-Ta là Nguyễn Khản.

Huệ cười ngạo mạn:

-Thì ra là con cò hen Ngàn Hống.

Khản lao về phía Huệ quyết tâm một đường kiếm lấy mạng Huệ, Huệ lách người rút nhanh thanh gươm bên mình, vung lên gạt kiếm Khản.

Xoay tay đâm thốc vào ngực Khản, máu phún ra, Khản gục xuống, máu trào ra như suối.

Đúng lúc đó rượu cũng vừa ngấm sâu vào nội tạng Huệ, Huệ gục luôn xuống bàn, ngáy ri rí. Du liều thân lao vào phòng, nhìn nhanh ý trung nhân rồi mau chóng xốc lấy Khản tẩu thoát.

Lịch sử ghi chép rằng “Bấy giờ có cựu tham tụng Nguyễn Khản ở Nghệ An ra khuyên Đoan Vương “nên sai tướng đóng giữ kinh thành. Còn chúa thì rước  xa giá vua Lê đi Sơn Tây, không chế miền thượng du để toan tính việc cử sự sau này. Vả lại ở bãi Tự Nhiên (Thường Tín, HàĐông) kíp thả cầu phao để chặn thủy sư của giặc. Hai bên bờ sông đóng đồn quân theo lối “vẩy sộp” để đề phòng có sự xô xát xung đột. Lại xin chiêu dụ bọn giặc thủy như Trương Dao và Ba Bá, ban thêm quan tước cho chúng, khiến chúng chặn đánh phía sau quân Thủy Tây Sơn. Huệ và Chỉnh đã nêu danh nghĩa phò Lê, nhưng khi vào kinh thành không gặp được Lê hoàng thì tiến hay lùi cũng đều bất lợi. Một khi giặc mỏi mệt, hết lương ăn, tình thế tất không ở lâu được. Bấy giờ ta kíp viết thư phi báo cho các hào mục Thanh Hóa và Nghệ An khiến họ chận đánh đường về của Tây Sơn thì dù không bắt được Huệ, Chỉnh, chúng cũng bị thiệt hại nặng. Chứ nếu giao chiến với chúng thì kiêu binh (của ta) quyết không thể dùng được. Nếu thua một trận hết sạch như chùi, việc nước tất hỏng mất “. Chúa toan nghe theo mưu chước của Khản, nhưng các quân họp lại, làm ầm lên, cho rằng Khản đưa giặc đến, rồi chực giết Khản.

Nguyễn Khản  phải xin đi Sơn Tây, Hưng Hóa chiêu dụ nghĩa sĩ, được một tuần quân ứng mộ khá đông ông giao cho em là tri phủ Nguyễn Trứ điều khiển tại Mỹ Lương. Ông được lệnh chúa triệu hồi, vừa về thì bị cảm bệnh, ông qua đời ngày 17/9Â.L.  (1786)”

Cái chết của Khản là do chính tay Huệ giết lịch sử đã không ghi chép lại.

Du trở lại quê nhà. Sau khi an táng anh xong, hai năm sau Du về  ở tại quê vợ Quỳnh Côi, Thái Bình , và sống một cuộc sống khép kín.

Ngày qua ngày Du giam mình trong nhà, không đi đâu, đêm đêm Du chong đèn tận khuya mài mực viết nên những bài thơ gan ruột, nỗi nhớ thương người con gái năm xưa luôn hiện về dày xéo tâm hồn Du.

Có hôm người nô bộc bưng bữa sáng vào phòng cho Du, Du hỏi:

-Bên ngoài trời trong hay xám?

Người nô bộc nói:

-Dạ trời quang đẹp lắm ạ.

Du xua tay bảo người nô bộc đi ra, thở dài tự nhủ:

-Trời quang đẹp sao? Nhưng sao xã hội vẫn còn tăm tối ?

Bao giờ thì đời sáng đây?

Năm 1802 Nguyễn Ánh tiêu diệt nhà Tây Sơn lập nên triều Nguyễn  sau nhiều lần thoái thác Du chấp nhận ra làm quan,  trải qua nhiều vị trí khác nhau, được cử đi xứ nhà Thanh, tuy nhiên trong thâm tâm Du không hề muốn vướng bận cân đai áo mũ. Lòng Du lúc nào cũng đau đáu nhớ về người con gái năm xưa. Kể từ sau đêm đó Du hoàn toàn bặt tin tức của nàng. Du tự nhủ, có lẽ nào đêm đó sau khi  chê hoa chán nguyệt Huệ đã thủ tiêu nàng?

Du bị bệnh dịch chết ngày mồng 10 tháng 8 âm lịch (16 tháng 9 năm Canh Thìn (1820) lúc 54 tuổi.

Nghe nói trước lúc trút hơi thở cuối cùng Du hỏi người nhà:

-Chân tay ta lạnh chưa?

Người nhà đáp:

-Dạ sắp lạnh rồi.

Du lại hỏi:

-Hôm nay trời ra sao?

Người nhà đáp:

-Dạ trời quang đẹp ạ.

Du bảo mở cửa ra, bên ngoài lá bắt đầu rơi, mưa lác đác. Du thở dài:

-Cuối cùng trời vẫn xám!

Du nhắm mắt, nét mặt dường như vẫn còn đượm nỗi đau đời !

 

Trương Đình Phượng

 

Read Full Post »

MongManh

 

Truyện ngắn của Nguyễn Hồng

 

Mặt hồ phẳng và trong. Ly ngỡ mình có thể chạm đáy khi giơ tay khuơ khuơ vào mặt nước. Anh từ phía mũi thuyền hét thất thanh rồi lao về phía nàng. Ly. Đừng. cẩn thận ngã. Tiếng hét đột ngột của anh làm Ly giật mình rồi rụt tay vào như một phản xạ. Nhưng nhanh như cắt, Ly thấy từ đáy hồ đám rong rêu dềnh dàng, đong đưa dịu dàng như đang chào đón nàng. Nàng cười thích thú. Và luyến tiếc tạm biệt. Anh kéo nàng vào lòng. Vỗ về. Ngốc ạ. Hồ này có cá dữ đấy. Ngửi thấy mùi hơi người nó kéo xuống luôn. Nàng rúc nách anh. Yên ổn. Bậy nào. Đâu có đáng sợ đến vậy chứ. Đám rong rêu từ đáy hồ đang nhảy múa trong đầu nàng. Nàng nhắm mắt. Nụ cười vẫn chưa tan. Nàng thì thầm. Anh. Em thấy cả một lễ hội ở dưới đấy. Một bữa tiệc lộng lẫy. Có cả nhạc. Hoa. Và nến trắng. Có cả anh. Và em. Anh hôn vào trán nàng. Dịu dàng.Ngủ chút xíu đi em. Khoảng 30 phút nữa mới tới nơi. Mùi rượu phả ra từ anh thơm và ấm nồng. Gió hồ nhẹ đưa đẩy. Cả một quãng dài đi ô tô trước khi chuyển xuống thuyền làm nàng thấm mệt. Nàng níu anh chặt hơn. Và ngủ.

Theo kế hoạch anh sẽ đưa nàng xuống biển. Ông bác sĩ già trễ kính xuống cánh mũi chăm chăm nhìn anh. Nửa thấu hiểu, chia sẻ, nửa như là mệnh lệnh. Tĩnh dưỡng là quan trọng nhất nhưng phải có không gian. Sự khoáng đạt và trong lành của biển rất tốt cho người bệnh trong quá trình phục hồi cả thể chất lẫn tinh thần. Lời khuyên của bác sĩ bây giờ với anh là phao cứu sinh. Anh bấu víu và làm theo tất cả. Vì nàng.  Nàng cũng đã rất hồ hởi cho chuyến đi. “Không biết em có sức để trụ lại với sóng không nữa, anh. Hôm qua quậy ở hồ bơi một chốc em đã thấy mệt. Nhưng em thích. Lâu lắm rồi chúng mình lại hò hẹn”. Tiếng nàng nhẹ như hơi thở. Anh nghe. Rồi thút thít đau. Sự ân hận dày vò và hiện hữu. Nếu không giữ được bình tĩnh anh sẽ lại buột miệng. “anh xin lỗi”. Nhưng anh đã kịp giữ lại. Lời xin lỗi của anh bây giờ với nàng đã không cần thiết nữa nhưng anh sợ sẽ là nguồn cơn cho nàng trở bệnh.  Nàng  sẽ lại hồi tưởng và lần dò cái nguyên cớ anh phải nói lời xin lỗi nàng. Anh cố gắng xua đuổi nhưng sự dày vò cứ lởn vởn trong đầu như một áp lực. Ngày anh tạm biệt nàng bên chân cầu thang cạnh bờ rào phủ kín giống hồng leo của Pháp. Anh nhìn sâu vào mắt nàng. Mùi thơm da thịt nàng. Mùi hương hoa hồng quyện sương sớm làm anh chộn rộn và thành khẩn. Chờ anh nhé, anh đi rồi anh sẽ về. Nàng im lặng gật đầu. Mắt nàng ngân ngấn nước. Tin tưởng và chờ đợi. Tờ giấy đăng ký kết hôn còn chưa kịp khô mực.

Nàng chưa hình dung được về mình của chuỗi ngày không có anh nhưng nàng biết chắc chắn mình phải sống.  Ngôi nhà ngập tràn hình ảnh anh. Căn phòng ngập ngụa hơi thở anh.  Mùi đàn ông anh để lại đêm đêm dỗ dành nàng. Nàng sống nhiều hơn bằng trí tưởng tượng. Sự lặng lẽ của nàng làm mọi người ái ngại. Lẫn với sự thương xót. Và tiếc nuối. Sơn bảo. Sao không chờ người ta về rồi lại đăng ký kết hôn. Ba năm đâu có ngắn. Đâu có gì là chắc chắn. Nàng xoay xoay tách cà phê, chả thèm nhìn vào Sơn. Bậy nào. Sơn chỉ được cái lo bò trắng răng. Kệ tớ. Tớ ổn. Nàng không nói thì Sơn cũng biết nàng đang ổn. Mắt nàng lấp lánh hạnh phúc khi kể về anh với Sơn. Sơn nghe. Và hầu hết là im lặng. Đôi lúc Sơn có cảm giác nàng đang độc thoại. Hai đứa thân nhau từ nhỏ, 12 năm chung lớp. Lên đại học cứ tưởng sẽ không phải chung nữa như lời Sơn dấm dẳng trong nhật ký để lại nhưng rồi vẫn chung. Kỳ quặc. Có lúc Sơn cáu bẳn. Ly. Bà là yêu quái kiếp trước xuống đây hành hạ tui. Ly làm chi nên tội đâu Sơn nói vậy. ừ nhỉ. Ly có làm chi nên tội. Nhưng cứ là Ly gần gũi, thân thiết như hơi thở thế mà hồn vía Ly để cả nơi khác làm Sơn tủi thân. Nhớ đêm lửa trại trước khi chia tay, Sơn trộm rượu ba uống lấy uống để chỉ mong có dũng khí nói với Ly rằng Sơn thương Ly lắm lắm nhưng rồi Sơn say. Ly cuống quýt gọi mọi người đưa Sơn vào phòng y tế. Rồi cuống cuồng gọi cho ba mẹ Sơn. Sơn lại bị ba mẹ mắng. Bị Ly rủa là khùng.  Tập tành chi mấy thứ đó hả Sơn. Sơn cũng chỉ kịp níu tay Ly lại và nói. Ly à…. ly à….tại Sơn bị đau bụng, cứ tưởng uống rượu vô cho nó sát trùng. Thế thôi. Sơn đâu dám mở lời. Cho đến tận bây giờ Sơn vẫn bên Ly thế. Đôi lúc say xỉn Sơn tự trách mình sao không thể nói lời yêu với Ly, biết đâu sẽ khác. Nhưng Sơn lại tự trả lời rằng biết đâu nói ra Ly lại ngại ngùng, lại lúng túng, lại không thể là bạn nữa. Ánh mắt Ly đâu có dành cho Sơn. Nên thôi. Sơn bằng lòng để được là bạn đồng hành của Ly mỗi ngày.

Đôi lúc anh thấy khó chịu với cách Sơn nhìn Ly, chăm sóc Ly và lo lắng cho Ly. Anh giận dỗi. Ly ngăn. Bậy nào, anh. Sơn là bùa hộ mệnh của em đấy. Có cho kẹo Sơn cũng chả thèm yêu em. Bạn gái Sơn có mà đầy, chỉ là hắn ta chưa chịu duyệt thôi.  Dần dần qua tiếp xúc anh thấy Sơn cũng dễ gần. Quan trọng là Ly giữ khoảng cách và nguyên tắc của một người bạn. Đôi ba lần đi chơi, đi ăn Sơn có dẫn bạn gái theo. Anh thấy tin tưởng và cũng coi Sơn là bạn. Ly chỉ mong có thế. Nàng tự hào. Anh thấy chưa. Sơn ổn mà. Đã là bạn em thì ai cũng phải ổn. Anh yêu nàng hơn từ những phút hồn nhiên trẻ con như thế. Yêu như thể không có người đàn bà nào có thể kéo anh ra khỏi nàng. Nhưng mùi oải hương xứ lạnh ma mị và quyến rũ. Người đàn bà xứ tuyết nồng nàn gấp gáp làm anh thỏa mãn. Sau mỗi cuộc yêu, anh nhớ nàng. Khuôn mặt trẻ thơ và giọt nước mắt sắp rơi trước lúc chia tay ám ảnh anh. Anh chậc lưỡi. Rồi anh sẽ về. Rồi anh sẽ là anh của nàng như cũ. Xa thế  nàng làm sao biết được. Những phút giây anh ngập trong rượu mạnh và đàn bà là những phút giây anh nhớ nàng, thèm khát nàng. Bản thân anh không kiềm chế được, không tin được.Tình yêu anh dành cho nàng vẫn thế. Nguyên vẹn.

Khoảng cách nửa vòng trái đất mỏng tang qua một cái clic chuột. Nàng hồ hởi mở mail uống từng dòng yêu thương anh trao gửi mỗi ngày. Nhưng lần này không là hương hoa hồng leo giống pháp. Không là những nụ hôn như muốn cháy màn hình, không là nồng nàn yêu thương muốn xóa nhòa thời gian và khoảng cách. Là mùi oải hương tang tóc và cay độc. Những bức hình thơm mùi da thịt đàn ông đàn bà. Nàng lặng phắc bất động. Tim nàng muôn vàn kim châm. Toàn thân nàng lạnh cóng và tê liệt. Nàng ghẹt thở. Đông cứng. Nàng không biết vì sao nàng tỉnh dậy được trên tấm ga giường trắng nồng nặc mùi thuốc sát trùng. Bốn bức tường trắng tinh hoang lạnh. Một bình hoa hồng cắm cẩu thả. Và Sơn. Nàng không nói gì. Chỉ mở to mắt nhìn Sơn. Giọt nước mắt cứ ngấn ngấn trên mi không rơi được.

Sơn đau đớn nhìn Ly câm lặng mỗi ngày. Đau đớn hơn mỗi ngày Sơn nảy sinh ý định thay nàng nhắn tin yêu thương với anh. Đơn giản là Sơn muốn mọi việc không rối tinh lên trước khi Ly khỏi bệnh. Trong lúc bế Ly trên tay mềm oặt và thiếu sức sống Sơn chỉ muốn đấm vào mặt người đàn ông Ly lựa chọn. Sự căm phẫn trào lên trong mắt Sơn thành những tia lửa. Sơn nghĩ mình có thể băm vằm người đàn ông này. Tiếng còi xe cấp cứu hú rát phố. Sơn kìm lòng tất tả lo cho Ly.

Tin nhắn của người đàn ông từ bên kia bán cầu dày dần lên. Lẫn với sự trách móc, giận hờn, yêu thương là sự hoảng loạn thực sự. Anh làm sao biết được người đàn bà đó kiếm địa chỉ của Ly vào lúc nào. Làm sao biết được Ly có những bức hình mà đến chết anh cũng phải giấu. Sơn biết làm gì khi Ly đang ngơ ngác sống, ngơ ngác khóc cười với ngày 3 mũi tiêm và vô vàn thuốc uống. Bác sỹ chuẩn đoán Ly bị chấn động tâm lý mạnh dẫn đến tổn thương một phần não bộ. Sơn giằng xé dữ dội. Chừng ấy thời gian bên Ly, chăm sóc Ly Sơn nhận ra tình yêu Ly dành cho anh là thật. Thứ tình yêu giản đơn và tinh khiết. Sơn biết làm gì hơn ngoài lời nhắn anh hãy chăm sóc cho Ly thật tốt.Và Sơn đi.

Anh giấu tâm trạng cầu cứu một sự tha thứ từ Ly trên suốt hành trình bay. Vì anh biết chừng ấy thời gian của biến cố đủ để Ly lắng lại và bình tĩnh đón nhận. Một phần, qua những nhắn nhủ từ Sơn, anh biết Sơn đã cố gắng thật nhiều để bao biện cho anh. Lẫn với sự nể trọng anh thầm cảm ơn Sơn. Ly đón nhận từ anh ánh mắt khẩn khoản của một con thú bị thương đang dồn đến đường cùng. Ly bằng lòng như là an phận. Miễn là anh trở về. Miễn là Ly vẫn còn có anh. Vòng tay anh vẫn ấm mềm và dịu dàng thế. Hơn ai hết Ly biết Ly đã rất nhớ anh. Ly đợi chờ anh. Nụ cười Ly yếu ớt và mỏng manh như ánh ngày sắp tắt khi anh quỳ gối nói lời xin lỗi. Không sao rồi anh, anh về là ổn rồi. Ly không khóc. Ly thấy lòng mình đang tãi ra, giằng xé, va đập và có lúc là trống rỗng đến vô cùng.

Và mỗi ngày anh lại cầu hôn nàng

Và mỗi ngày anh lại chăm sóc nàng.

Ly bình thản đón nhận. Với anh đấy là một may mắn. Anh thấy hạnh phúc hơn khi mỗi ngày trôi qua lại được thấy Ly như đang an nhiên, bình lặng. Nàng hay cười một mình hơn. Và ánh mắt thì xa xăm, diệu vợi. Anh tin vào khả năng chuộc lỗi của mình hay tin vào sự yếu đuối bản năng của Ly? Anh không rõ. Nhưng anh thấy nhẹ nhõm. Anh làm sao biết được trong đầu Ly thi thoảng hình ảnh bình hoa hồng cắm cẩu thả lại xuất hiện. Nó cứ đi trở lại và lẫn cả vào giấc mơ  của nàng. Nhẹ nhàng và bình yên.

Kế hoạch đi biển đã định. Nàng đã rất háo hức và chờ đợi nhưng rồi nàng bảo thôi không muốn đến biển nữa. Nàng biết Sơn đang có chuyến công tác ở vùng ấy vào thời điểm ấy. Anh chiều nàng. Anh hứa sẽ làm tất cả vì nàng.

Khách sạn quay mặt về phía hồ. Đứng từ ban công nhìn xuống mặt hồ phẳng và trong tận đáy. Thi thoảng có những cơn gió nhẹ chạm mặt hồ rồi tan. Lòng nàng lao xao sóng.  Ánh trăng từ phía đồi phả xuống lấp lánh muôn ánh vàng. Anh bận bịu một vài cuộc điện thoại nhưng mắt anh luôn dõi theo nàng. Nàng bận bịu suy nghĩ về những con sóng cứ gợn lên mỗi lúc một dày trong tâm trí nàng. Những con sóng xô đuổi nhau dồn dập. Nàng tựa vào lan can thở dốc. Tách trà hoa cúc tỏa thứ hương dịu ngọt. Bất giác nàng muốn được anh ôm thật chặt. Nàng muốn nói với anh rằng nàng đã rất yêu anh. Nàng muốn anh kết thúc cuộc điện thoại sớm hơn và ôm nàng, hôn nàng. Nàng nhắm mắt xua đuổi mọi suy nghĩ. Hình ảnh những bông hồng gai nhảy múa kiêu hãnh trong đầu nàng. Nàng lẩm bẩm. Đúng là đồ khùng. Khùng thật. Mắc mớ chi phải thế, nhỉ. Mải mê suy nghĩ, nàng quên mất nói lời yêu anh.

Quay đầu là bờ. Mẹ bảo với nàng vậy. Bạn bè bảo với nàng vậy. Kể cả Sơn. Sơn hết dỗ dành rồi nghiêm khắc. Anh ấy yêu Ly đấy. Đừng giận nữa. Đàn ông mà. Và Sơn, biết đâu cũng sẽ thế. Cả nàng nữa. Nàng cũng đã ra sức bao biện. Miễn là anh trở về. Miễn lại được ôm anh. Hôn anh. Miễn lại được đắm chì trong hơi thở anh. Mùi rượu lẫn mùi đàn ông của anh đã làm Ly mê đắm đến nghẹt thở. Rồi Ly và anh sẽ có những đứa con. Những đứa con sẽ rất đẹp xinh vì giống cả anh và Ly.

Nhưng.

Ánh trăng non mỏng mảnh rải tấm thảm vàng liêu trai và ma mị. Mùi hương hoa hồng dẫn dụ. Nàng rón rén theo. Nàng rụt rè chạm tay vào mặt hồ. Đám rong rêu từ phía đáy hồ nhảy múa và rủ rê nàng. Có cả nhạc. Nến trắng. và hoa hồng. ơ kìa.    Có cả Sơn. Đúng là Sơn. Sơn làm gì ở đây. Nàng đã từ chối đến biển chỉ vì nghĩ rằng Sơn cũng ở đó. Nàng sẽ không toàn tâm với anh khi nghĩ Sơn đang ngay cạnh mình, đang cô đơn bên lề hạnh phúc của nàng.  Chỉ nghĩ đến đó thôi nàng đã không chịu nổi và nằng nặc đòi anh thay đổi kế hoạch. Nàng trốn tránh Sơn ở vùng đất xa lạ này. Cớ sao Sơn lại kiếm tìm nàng. Cớ sao vậy Sơn. Sơn. Sơn là yêu quái kiếp trước xuống đây hành hạ Ly. Sơn có làm chi nên tội đâu mà Ly nói vậy. ừ nhỉ. Sơn có làm chi nên tội. Nhưng cứ là Sơn gần gũi, thân thiết như hơi thở thế mà Ly không tài nào chạm tới được. Ly thấy có lỗi. Ly xin lỗi Sơn.

Không. Ly không có lỗi. Ly. Tỉnh dậy đi. Ly.

Người ta vớt được xác Ly phía bên kia bờ hồ. Một đám tang lặng lẽ và không nước mắt. Đáng đời con đàn bà phản trắc. Đàn bà phản bội chồng thì chỉ có kết cục đó thôi. Nghe đâu là chết vì đi theo tiếng gọi của tình yêu đấy. Gớm nhỉ, lãng đãng chả khác gì phim ăn liền.

Những vòng hoa xếp ngay ngắn cứ đầy lên che lấp mộ nàng, lặng lẽ tỏa thứ hương thơm kỳ quặc. Có người bảo đó là mùi hoa oải hương đấy. Có người bảo, không,  đó đích thị là hương hoa hồng. Loại hoa hồng dây leo giống Pháp.

Nguyễn Hồng

Read Full Post »

tumblr_static_tumblr_static__640

“Mr. JOE”

 

Trần Thị Kim Lan

Năm giời rưởi sáng hôm nay tôi đến hồ bơi.  Các gương mặt quen thuộc tỏ vẻ  ngạc nhiên vì tôi tới sớm hơn thường lệ.  Bà Mary 82 tuổi bơi hai tiếng hằng ngày, hay nhắc nhở mọi người quan tâm sức khỏe.  Bà hỏi có phải tôi mất ngủ nên đến sớm.  Tôi đáp không, trái lại đêm qua tôi ngủ một giấc ngon lành vì được một ngày vui, lên tinh thần.  Bà Mary nhướn mắt chờ tôi nói tiếp.

  • Tôi đi đám táng một người không quen biết, chỉ nghe được việc làm phi thường vô cùng cao quí của người có biệt danh “Mr. Joe.” Ông từ giả cõi ngày 2, tháng 5, hưởng thọ 88 tuổi. Hôm qua có buổi lể tưởng niệm tại một nhà thờ ở New Hampshire.

“Em lái xe đi xa vậy ?” Bà hỏi.   “Không,” tôi đáp.  “Tôi đi với những các bạn mới quen khác lứa tuổi, khác nghành nghề.  Có người lui tới thăm viếng ông Joe, có người gặp ông vài lần trong những cuộc quyên tiền giúp trẻ em tàn tật ở Việt Nam, riêng tôi chỉ nghe đến tên ông khi có tin ông mất.  Tuy nhiên chúng tôi cùng chung ý muốn:  Tiễn đưa một tâm hồn cao qúy.  Đường dài  cả hai tiếng lái xe nhưng chúng tôi không ngừng chuyện trò, nói về nghĩa cử của ông cùng cảm xúc ông truyền qua từng người.  Tôi chỉ lắng nghe và tiếp nhận những ý tình cao đẹp.  Bà Mary nói: “Ờ, o, một sự giao cảm thánh thiện sẽ tạo thêm sức mạnh.  Kể tiếp đi.  Ông ấy làm những gì để giúp trẻ em người Việt?”  Tôi đáp:

  • Tôi nghe nói ông động lòng trắc ẩn thấy trẻ em bại liệt bị bỏ bê ở Việt Nam nên ông bán nhà dùng tiền mang hằng trăm trẻ khuyết tật sang Mỹ chữa bệnh, rồi tiếp tục quyên tiền giúp thêm năm trăm em khác bên nhà có điều kiện ăn học. Sau cùng ông hiến xác cho trường đại học Harvard nghiên cứu.
  • Ông ấy tất hiện thân của Đấng CứuThế.  Phải có niềm tin Chúa mãnh liệt mới làm được như vậy.  Bà Mary nói.

 

Là một tín đồ trung hành của Thiên chuá giáo bà được dịp say sưa giảng về đức tin của  bà. Tôi gật gật rồi xin phép bơi nhẹ ra xa, không dám nói chi về sự tín

-2-

ngưởng,  bởi tôi không thấu triệt một tôn giáo nào, phần thì mang nổi thất vọng về sự phản đạo của một số mệnh danh. “tu sỉ.” Tuy nhiên tôi không khỏi mừng cho những ai có niềm tin nơi các đấng thiêng liêng.

Cả ngày hôm nay tôi miên man nghĩ ngợi về đức tin và ôn lại cảnh tượng buổi lể hôm qua.  Tổng cộng có hơn hai trăm người Mỹ và trên dưới sáu mươi người Việt.  Chúng tôi hát Thánh ca, lắng nghe  những lời tạ ơn của các vị lão thành và thanh thiếu niên Mỹ, Việt, những người đã cùng ông chia sẻ lý tưởng từ thiện hoặc tiếp nhận sự giúp đở nơi ông.

Lần lượt mổi người gợi lại những kỷ niệm và nhắc nhở công đức của ông bằng những lời lẽ chân thành đầy cảm xúc.  Qua đó tôi được biết thêm ông Joe có óc tổ chức tinh vi, đầy lòng bác ái, và tận lực nuôi dạy những đứa trẻ bệnh tật lạc loài.  Dù trong tuổi hưu ông làm việc không ngừng, lo từng miếng ăn giấc ngủ của mổi em, đối phó  với chánh quyền hai nước Việt, Mỹ về thủ tục nhập cư, liên lạc với các bệnh viện việc điều trị  và giải phẩu cho các nạn nhân khuyết tật.  Riêng ông bị bại từ nhỏ nên ông hiểu được sự bất lực kẻ tật nguyền.  Vì thế việc mở mang trí tuệ là mục tiêu của ông.  “No excuse for ignorance.”  (Đừng dung thứ cho sự dốt nát). Một vị lập lại lời ông Joe.  Mục sư bạn ông  Joe tin rằng kẻ nào yêu qúi Chúa kẻ đó chan chứa tình nhân loại.  Đức tin là món quà của Chúa và Ngài đã ban cho Joe. Tình thương của Joe là chất keo gắn bó, là gạch nối giữa người với người.   Joe từng nói: “The word needs to hear the word “God.” (Thế giời cần nghe chữ “God.”)

Sau tiếng vỗ tay một ông lên tiếng cho biết nhờ ông Joe bảo bọc một cô bé bị phỏng mà anh ta có được đứa con gái nuôi người Việt.  Cô bé ngày nay đã có gia đình.  Nhờ ông Joe anh được nghe con gái gọi tiếng “Ba.”

Kế đó một người Việt bày tỏ sự cảm kích việc làm của ông Joe, một người ngoại quốc thương người Việt Nam, trong khi nhiều người Việt giàu có mà chẳng màng để  tâm đến kẻ hoạn nạn.  Tôi đoán ông muốn nhắn nhủ  ‘người trong một nước phải thương nhau cùng.’  Nhờ quen biết những người nhiệt tình bỏ công góp của cho việc thiện, tôi tin người Việt chúng ta trên đất lạ quả có thương nhau.  Nhưng làm sao biết được anh hùng vô danh?

-3-

Đã từ lâu tôi không khóc nhưng nước mắt cứ trào ra khi một thanh niên Việt mặt mủi khôi ngô nụ cười thiện cảm lê chân yếu đứng trước quan khách nói lời cảm tạ.  Cậu tên Tuấn, tiếng Anh lưu loát, phát âm chuẩn.  Được ông Joe nuôi nấng và giao phó trách nhiệm tiếp tục công trình từ thiện của ông, Tuấn nguyện sẽ noi gương ông. “Tôi có được ngày nay là do lòng tử tế của ông Joe.” Tuấn nói. Và bằng cử chỉ nhẹ nhàng lịch sự cậu mời khách bắt đầu nhập  tiệc.

Chúng tôi được dịp thưởng thức một bửa ăn ngon do công sức của bạn hữu và con nuôi của ông Joe.

Trên đường về chúng tôi trò chuyện cởi mở hơn, trao đổi sở thích, ước mơ cùng hoài niệm.  Ba người mẹ trẻ chuyên nghiệp, kiêm giáo viên tình nguyện dạy tiếng Việt, giao con cho chồng đi đám tang, chốc chốc điện thoại hỏi thăm bầy trẻ, nhắc nhở vài điều.  Chú thợ điện, thêm nghề đánh cá, ăn ít làm nhiều, trôi dạt khắp nơi, vợ con không thiếu, hiện sống trong tình bè bạn.  Chú hay cười lộ khoản trống mất vài răng cửa, không nghe nói sẽ chỉnh hình.  Bác tài, một thầy giáo góp công sức phục vụ cộng đồng nhiều năm, tình nguyện lái xe, vừa tìm đường qua các ngõ ngách, vừa lắng nghe những câu câu chuyện sôi nổi khác đề tài kể cả hương vị quê hương, không quên phụ họa vài câu ý nghĩa.  Phu nhân của bác tài  đẹp, đãm đang, vui tính, còn thơm mùi bánh cưới, mới sang Mỹ vài năm nên lòng trĩu nặng nổi buồn xa xứ.  Chị thèm gần gủi đồng hương, luôn tiếc nuối những lần gặp gở sớm chia tay.

“Tình thương đẻ tình thương, hận thù sinh hận thù.”  Câu nói này tôi có nghe qua bổng thấy thấm thía.  Tình người của ông Joe chan hòa.  Ông ra đi tạo cơ duyên cho cuộc hội ngộ này.  Tôi, một hành khách quá giang cũng được kết nối thân tình.

Về nhà tôi gọi vài người thân của ông Joe được biết có tin ông trên mạn. Nhấn mủi tên dưới nhan đề “Children Medical Connection” hình ông Joseph B. Bodanza  hiện lên Youtube.  Trông ông đẹp lão với nụ cười hiền hậu bên mấy em  Việt bở ngở.  Nhân viên tường trình cho biết ông từng là giáo chức và một vài

 

-4-

chuyên ngành khác. Theo lời thuyết phục của một người Việt thuê nhà, ông miễn cưởng làm một chuyến đi Việt Nam.  Cảnh đẹp xứ này làm ông ngây ngất, cảnh sống lây lất của trẻ em tàn tật gợi nơi ông  xúc động tận cùng, ông quyết tâm phải làm việc gì  thay đổi cuộc sống của những tâm hồn non nớt thiệt thòi mọi mặt.  Ông tình nguyện về Việt Nam những chuyến đi sau, và từ đó đời sống của bao trẻ em bất hạnh thân thể vặn vẹo vì bệnh tật đã thật sự đổi mới từ hình dạng  đến cách suy tư.

Nhà báo tờ Boston Globe Sam Allis ghi lại vài chi tiết như sau:

Năm 1996, ông Joe, 68 tuổi đi Việt Nam lần đầu.  Hai năm sau ông thành lập “Children Medical Connection.”  Ông nhận tiền trợ giúp và bạn bè tận lực tiếp tay nhưng tự mình đãm trách mọi việc.  Hơn 15 năm qua ông làm việc trong tình trạng suy tim và chứng ung thư kịp thời chữa trị.

Nhà văn Michael H. Cunningham, một người từng kề cận hổ trợ ông, nói với tôi qua điện thoại: “Cho tức là nhận.  Tuy không có ý nhận nhưng Joe đã được nhiều người biết ơn và qúi mến. “Mr. Joe” về thế giới bên kia để lại món quà tinh thần và tâm linh bất diệt.  Vậy chúng ta hảy tiếp tục chia sẻ với mọi người.”

Tôi gác máy, viết về ông, gửi đến bạn một tâm hồn cao qúi: “Mr. Joe.”

 

 Trần Thị Kim Lan
16/05/16

Read Full Post »

Chua

Trên đỉnh núi thiêng


(Nguyên tác : la rivincita)

 

ELENA PUCILLO TRUONG

Bản dịch của Trương Văn Dân

Thân tặng anh Phú và chị Sinh.
Elena

 

Đã bao lần tôi ước muốn được thay đổi  một phần số phận của mình với một người nào khác.

Tôi đã trải qua đời sống như một sự sinh tồn mà vẫn không hiểu như thế là khước từ cuộc sống. Rồi với cách sống đó tôi gần như tự hủy, về sau xói mòn vì ân hận.

Tôi không phải là một đứa con ngoan, và vì thế khó có thể tưởng tượng rằng mình sẽ là một người vợ đảm đang hay một người mẹ tốt. Tôi ý thức rằng đời mình chỉ là một sự thất bại.

Tất cả những ray rức liên tục này đã làm tôi tự cô lập mình : Ít bước ra khỏi nhà, không cảm thấy vui khi đi gặp bạn bè, nếu có thể gọi những người thường gặp là bạn.

Mà làm sao có thể xem những đứa con gái ngốc nghếch kia là bạn được chứ, suốt ngày họ chỉ biết quan tâm đến thời trang,  bàn tán đến các kiểu điện thoại đời mới hay mơ ước có quan hệ với những người đàn ông lắm tiền. Còn một số đàn ông mà tôi quen trước đây, họ chỉ có  một cái tài duy nhất là ăn nhậu, vung tiền dụ dỗ các em và sau đó là phục rượu để tìm cớ sờ mó hay chiếm đoạt.

Một thời gian trước đây tôi cũng là một người con gái như những cô nàng đỏm dáng kia: Thường xuyên thay quần đổi áo, nhiều khi bước vào cửa hàng để mua giày rồi khi về nhà  lại khám phá ra rằng mình đã có đôi giày đó, cùng kiểu, cùng màu. Đúng là một căn bệnh. Mọi thứ xung quanh tôi đều như đồng thanh thúc giục “Mua đi! Mua đi!”. Tất cả sự hối thúc đó đã thuyết phục tôi rằng càng có nhiều đồ vật thì tôi càng thêm hạnh phúc. Nhưng thật ra tôi đâu có cần gì ba cái thứ đó và cái khoảng trống trong tôi, thay vì được lấp đầy, thì cứ mở ra toang hoát và sâu thẳm như một con vực.

Tôi chỉ hiểu ra điều ấy khi ba mẹ tôi mất và người chủ nhà chỉ cho tôi thời gian hai tuần để dọn hết đồ đạc trong căn nhà mà gia đình tôi đã sống hơn 50 năm. Bao nhiêu vật dụng được chất chồng trong suốt thời gian ấy!  Tôi không chỉ nói về những tủ, bàn, chén đĩa, xoong nồi…mà là những vật dụng đã gắn liền với cuộc đời của tất cả: những quyển sách thời đi học, từ trung học đến đại học, những quà tặng, những khung hình và những bức ảnh ghi lại những phút giây đáng nhớ. Rồi ý thức rằng tất cả những thứ này sẽ phải bị ném đi hay đem cho một ai đó đã làm tôi nhói lòng. Tôi bắt đầu gói ghém cái xoong mà mẹ thường dùng để nấu những món ăn ngon mỗi khi có khách hay quyển truyện cổ tích mà ba tôi mua tặng và những buổi tối ông thường đọc để dỗ cho tôi ngủ. Ngày đó tôi đã  bước vào tuổi ba mươi và tôi đã quên bẵng đi quyển truyện và cũng không nhớ gì về cái xoong mà mẹ thường dùng để chế biến những thức ăn ngon tuyệt.   -Tôi còn phải loại bỏ những quần áo của ba mẹ. Phải mất mấy ngày tôi mới bỏ mọi thứ vào nhiều thùng giấy, phân loại ra thùng nào có thể mang đến nơi tiếp nhận những vật dụng để giúp người nghèo, thùng nào cần phải bỏ đi. Và cứ thế, ngày qua ngày, tôi dọn bớt những đồ vật trong căn nhà mà mình đã từng sống từ tuổi thơ đến thời mới lớn. Trước khi cha mẹ tôi mất, tôi không dám trở về nhà, còn bây giờ, trong nỗi đau đớn vô ngần, tôi tìm thấy những vật dụng của một thời quá khứ ngỡ đã lãng quên. Trong phòng khách còn có một máy ghi âm và bên cạnh là những cuốn băng  đã được thu âm và phân loại. Ba tôi rất mê nhạc nên thỉnh thoảng ông ghi âm những bài hát yêu thích. Chỉ cần nhấn một ngón tay thì đây, tôi có thể nghe lại những âm thanh hay giọng nói của những lúc buồn rầu hay vui thích trong cuộc đời. Và ngay lập tức những kỷ niệm hiện về, sống động. Tôi còn nghe  cả phần tạp âm, tiếng nói chuyện của ba mẹ, một lời tán thán, tiếng động từ nhà bếp hay chính là giọng nói của tôi lúc còn là bé gái : Những khoảnh khắc của một thời quá khứ tưởng chừng như đã bay mất cùng với  những lớp bụi của thời gian.

Tôi không thể nào diễn tả nổi  niềm xúc động của mình khi dạo khắp các phòng trống để kiểm tra lần cuối sau khi đã cho chất tất cả tủ, bàn lên xe chở hàng. Trên những bức tường còn in lại dấu vết của các tủ áo, vạch đó là kệ sách, dấu kia là giường ngủ của ba mẹ, của những bức tranh, tủ bếp…tất cả giống như tôi đang xóa bỏ cuộc đời của ba mẹ sau khi họ mất. Tất cả đã mất đi, mãi mãi.

Nhưng, có lẽ không. Trong tôi còn lại những kỷ niệm, ngay cả những trận cãi vã liên tục của ba mẹ và tất cả những lần tôi bị ba đánh đòn. Lúc đó tôi chờ đến lúc mình đủ 18 tuổi để bỏ trốn  ra khỏi nhà. Ý nghĩ ấy đến trong đầu tôi ngay sau lần cuối cùng bị đánh mà chẳng có một lý do. Chỉ vừa kịp chụp lấy cái túi xách, tôi lao vội ra khỏi nhà và sau lưng còn nghe tiếng gào thét của cả ba lẫn mẹ.

Từ ngày đó tôi không bao giờ trở về. Và chỉ lúc này đây, giữa những bức tường, trong cái trống vắng của căn nhà, tôi khóc như một con bé gái buồn khổ ngay từ lúc sinh ra, khóc cho cái tuổi thơ mà đời buộc phải trốn chạy và  trưởng thành trong vội vã.  Mãi mãi đóng lại cánh cửa phía sau lưng mình, nhưng tôi nghĩ nếu muốn làm biến mất tất cả những nỗi đau kia chỉ là một nỗ lực vô ích.

 

Đã vài ngày tôi không đi làm. Tôi cảm thấy mệt mỏi và người như mất hết sinh lực. Khi trở lại văn phòng, ánh mắt thương hại của những đồng nghiệp như trĩu nặng trên vai tôi. Bỗng dưng tôi có cảm giác là suốt đời mình chẳng làm việc gì ra hồn. Tất cả đời tôi chỉ là một chuỗi dài thất bại.

Mấy tháng sau, bỗng dưng có một cú điện thoại từ một cô bạn thời sinh viên đại học:

  • “Gặp nhau chắc sẽ vui lắm. Thứ bảy này mình đi ra ngọai thành đi. Lâu quá bặt tin…chắc có nhiều chuyện để kể cho nhau!”

Có lẽ bạn sẽ kể cho tôi nghe về chuyện chồng con. Nói về gia đình hạnh phúc của mình. Còn tôi? Tôi sẽ kể gì với bạn? Nói về sự trầm cảm? Hay về sự vô tích sự của mình?

Thế nhưng tôi nghe giọng mình đáp lời bạn :

  • Ừ, chắc sẽ vui lắm
  • Vậy thì tao sẽ đến đón mầy lúc 8 giờ sáng. À, nhớ mang theo giày đi bộ nhé.

Thế là vừa về đến nhà, tôi bắt đầu lục lọi để tìm đôi giày thể thao. Cuối cùng tôi tìm thấy nó nằm trong góc tủ. Tôi mang thử hình như mình vừa gầy đi vài ký và đôi giày cũng hơi rộng một tí. Mặc chiếc quần Jean, một chiếc áo thun và một khăn quấn cổ, trông tôi cũng có dáng dấp thể thao. Và để chắc ăn, tôi còn mang theo chiếc mũ rộng vành để che nắng.

Như thế tôi đã chuẩn bị trước hai ngày, như thể việc gặp lại bạn cũ sau một thời gian dài đã cho tôi cơ hội có một điều gì mới mẻ để bận tâm. Sáng thứ bảy ấy tôi thức dậy thật sớm, trước 8h tôi đã đứng chờ bạn ở vệ đường, và chỉ mấy phút sau thì xe của bạn cũng vừa tới.

– “ Chào bạn, mình ngồi ở băng sau để tám chuyện nhé”  rồi ngay sau đó, tôi như bị  thu hút bởi nụ cười thoải mái và rạng rỡ của bạn. Nhất là cảm giác ấm áp từ vòng ôm thật thắm thiết.

Trong khi anh chồng lái xe và trò chuyện với đứa con trai tôi và bạn bắt đầu nhắc lại những kỷ niệm của một thời tuổi trẻ, nói về các bạn học, các thầy hay kể cho nhau nghe những trận cãi vã tưởng là căng thẳng nhưng cuối cùng chấm dứt bằng một trận cười. Gần như không nhận biết, tôi như nghe thấy tiếng cười của mình và  sau đó tôi cũng bắt đầu cảm nhận mùi vị của sự thanh bình. Tôi không muốn kể cho bạn nghe về những thất bại của mình, về những nỗi đau mà tôi đang gánh chịu. Mà có lẽ  cô bạn của tôi cũng chẳng quan tâm đến những điều này. Hay cũng có thể là cô ta tinh ý nên cố tình không gặng hỏi tôi về những chuyện không vui và chính sự tế nhị này của bạn mà tôi cảm thấy bình tĩnh và thoải mái thố lộ tâm tình, cảm nhận lại những cảm xúc từ lâu bị bóp nghẹn.

Chúng tôi rời thành phố và sau hai giờ thì đến biên giới của một cụm rừng. Xuống xe, cả bọn bước sâu vào những hàng cây, và sau một lát thì đường bắt đầu xuất hiện những con dốc. Hôm đó là một ngày đẹp trời, khi ngẩng đầu lên, trên những tán cây tôi nhìn thấy những cụm mây trắng trên nền trời xanh. Nhưng tia nắng ấm áp chiếu xuyên qua cành lá và soi sáng con đường mòn. Chúng tôi dần leo lên, dốc mỗi lúc một cao và cuối cùng đến ngôi chùa đầu tiên. Chúng tôi đang ở Yên Tử, một ngọn núi thuộc tính Quảng Ninh, và đang đứng trước chùa Giải Oan. Tiếp theo chúng tôi lấy cáp treo để lên đỉnh. Sau đó tiếp tục đi trên những con đường mòn đầy đá. Đường rất dốc và mỗi lúc tôi càng thấy khó khăn và mệt nhọc. Từng bước, từng bước, đầu óc tôi như trống rỗng và lúc này chỉ có một nỗi bận tâm duy nhất là cố gắng và tập trung để khỏi trượt té trên những tảng đá.  Leo lên được một lát thì một cơn mưa nhỏ bắt đầu rơi và trời bắt đầu sầm. Con đường càng lên dốc càng khó đi. Tôi cố gắng giữ đều nhịp thở, từng bước từng bước trong khi cơn mưa càng lúc càng nặng hạt rồi cuối cùng biến thành một trận mưa rào. Nước mưa bắt đầu chảy trên đá làm chúng vừa ẩm ướt vừa trơn trợt. Những đường rãnh biến thành máng xối và lượng nước càng lúc càng nhiều, tràn kín con đường mòn. Chúng tôi cẩn thận bước từng bước, mỗi lúc mỗi chậm.

Thấy một trạm bán nước, lụp xụp, được che chắn bằng một tấm bạt nhựa nằm trên con dốc, chúng tôi tạm dừng chân để nghỉ ngơi. Chỉ vài phút để hâm nóng bàn tay qua tách trà nóng trong khi sương mù của núi đồi đang phủ xuống, càng lúc càng tăng ở bốn phía chung quanh. Không gian mù mờ và bềnh bồng như thể được đệm bông, nghe không rõ  giọng nói từ nhóm người khác đang cầm gậy để leo dốc và che mưa bằng những mảnh  nhựa dã chiến.

Từ vành mũ của tôi nước mưa bắt đầu nhỏ giọt, chúng tôi bị ướt như chuột nhưng vẫn cứ nhìn nhau mỉm cười, tận hưởng giây phút ngắn ngủi của phút dừng chân. Lát sau lúc mưa vừa giảm chúng tôi lại tái khởi hành. Nhưng lần này có vẻ khó nhọc hơn, những khối đá lởm chởm hơn và dường như rất khó tìm một điểm chắc chắn để đặt chân.Từng bước, từng bước. Nhưng đến một lúc thì tôi không thể nào tiếp tục leo dốc được nữa: Chiếc giày ở chân phải đột ngột bị hở ra. Tôi vô cùng hoảng sợ. Thế này thì tôi không thể xuống núi, mà cũng chẳng thể leo lên trong khi mưa lại bắt đầu nặng hạt trở lại và nước mưa cứ tuôn xối xả. Các bạn tôi cũng có gặp khó khăn nhưng lúc này họ đã cách khá xa, không còn nhìn thấy. Có lẽ họ đã may mắn chọn một lối đi khác, ít hiểm trở hơn. Trời lại bắt đầu tối và tôi có cảm giác là mình đã leo núi trong một thời gian bất tận. Tôi không thể dừng lại ở đây. Giữa núi rừng, dưới cơn mưa và màn đêm đang xuống. Nghĩ kế, tôi tháo giây và  cột lại hai mảnh của chiếc giày há mõm. Từng bước, từng bước tôi bắt đầu leo lên, cố đặt chân vào giữa những tảng đá, có khi đẫm nước. Bỗng tôi nghe từ phía sau lưng mình một người đang đến và một giọng đàn ông:

  • “ Cố lên. Chỉ còn một chút nữa là đến đỉnh. Cô sẽ làm được !”

Tôi không biết người lạ mặt này là ai. Anh bất ngờ xuất hiện từ sau lưng và tiếp tục hành trình leo núi của mình. Nhưng tôi cũng tự nhủ là mình không thể dừng lại.Trời sắp tối. Tôi phải lên đỉnh cho bằng được!

Như được tăng thêm sức mạnh vì biết chỉ còn vài chục mét nữa, tôi lại bắt đầu leo dốc với chiếc giày há mõm dưới cơn mưa tầm tã. Mặc kệ nước mưa như đang quất vào mặt.

Tôi phải làm được! Những kẻ khác trước tôi đã làm được và đã đến. Tại sao mình lại không chứ?

Thở hổn hển, từng bước, từng bước nhỏ và đây rồi, tôi đã nhìn thấy mái chùa Đồng thiêng liêng trên đỉnh Yên Tử. Ngay lúc đó chồng và con trai của bạn cũng nhìn thấy tôi và ngoắc tay, khích lệ.

Tôi cũng nhìn thấy cô bạn đứng cạnh đó và cũng đang vẫy vẫy tay, vui mừng.

Nước mưa vẫn tiếp tục chảy từ chiếc mũ sũng nước và cái nhìn của tôi cũng mờ mờ hơi nước trong lúc bước những bước cuối cùng để đặt chân lên đỉnh núi.

Vui quá! Tất cả chúng tôi đều có mặt. Chúng tôi đã chinh phục độ cao. Và tôi cũng đã đến đây, bằng tất cả mọi nỗ lực, với đôi giày há mõm và áo quần ướt đẫm!

Đó là một cảm giác tuyệt vời mà có lẽ tôi chưa bao giờ được trải nghiệm! Cái cảm giác thấy mình vô địch thật vô cùng sinh động. Vô địch mà không cần chiến tích, không cần tham gia vào những trận tranh đua ngu xuẩn, không cần phải mang trên người chiếc mặt nạ, xa vời cái thế giới mà  mọi người chỉ biết phán xét hay đánh giá vì vẻ  ngoài, vì những thứ phô trương, sở hữu chứ không phải nhờ giá trị như mình thật sự là.

Mỗi niềm đau rồi sẽ đi qua, dù khó thể nào quên. Cũng như sự khó nhọc vẫn còn nằm trong xương cốt, nhưng giờ đây, được đặt chân lên đỉnh núi tôi không còn thấy nữa, bởi vì trong lòng tôi chỉ có một niềm vui vì vừa thực hiện một điều mà trước đó đối với tôi là một điều bất khả.

Sau khi thắp nhang kính lễ trước Phật Hoàng, vị vua anh minh nhất trong lịch sử, vừa là một minh quân vừa là một tổ sư đắc đạo đầy tài đức, tôi và các bạn đi  xuống núi bằng một con đường mòn khác. Con đường này ít hiểm trở hơn, vừa đi vừa cười đùa vì chiếc giày há mõm dù quần áo ướt như chuột lột. Chúng tôi vừa thực hiện được một điều đặc biệt và bỗng dưng tôi không còn cảm thấy mình cô đơn nữa.

Trong đầu tôi như  còn đang vọng lại lời khích lệ :

-“ Cố gắng lên. Chỉ còn một chút nữa là đến đỉnh. Cô sẽ làm được !”

Tiếng nói của một người lạ mặt đã cho tôi cái sức mạnh mà trước đây tôi cứ tưởng là mình không còn nữa. Âm thanh đó còn cho tôi biết là trên đời này tôi không còn cô độc. Nghĩa là tôi cũng có thể có một phần hạnh phúc, tôi phải tin như thế.

Và sau chuyến đi Yên Tử, tôi chắc rằng mình sẽ thừa sức để phấn đấu vì một tương lai tốt đẹp cho đời mình.

 

 

 

ELENA PUCILLO TRUONG

Read Full Post »

NHÀ VĂN SÁNG CHÓI

1132160-7

TRẦN THỊ KIM LAN  

 

 

 

Hình như không ai nói khi về hưu sẽ làm phi hành gia, bác sĩ giảỉ phẩu, hay luật sư, kỹ sư.  Nhưng rất thường nghe người ta hứa với chính mình hay với mọi người là sẽ viết văn.  Có lẽ thế nên chúng tôi một nhóm cao niên đến dự lớp viết văn dành riêng cho ngừơi có tuổi trong một trưòng đại học ở Boston.  Trường thoáng gió biển, rộng thênh thang, rực rở bích chương và hình ảnh chớp chớp lập loè theo điệu nhạc vui nhộn phát ra từ máy truyền hình gắn trên tường.  Bên ngoài bầu trời quang đảng, cây cỏ xanh tươi.  Từng đoàn sinh viên nhiều sắc dân lũ lựơt ra vào, rộn rã nói cười, chân đi thoăn thoắt. Trà trộn trong giới trẻ những người già lặng lẽ, thận trọng từng bước, thong  dong trở lại học đường sau mấy mươi năm vắng bóng.   

Lóp chúng tôi có tất cả hơn hai mươi học viên.  Không đủ ghế ngồi nên những ngưòi đến trễ phải đứng dựa vào tường hoặc ngồi xuống sàn, tay cầm bút, tập mở ra, sẵn sàng ghi xuống lời phê phán hay đề nghị sửa đổi cách viết do một nhà văn kiêm giáo sư nhiều thành tích, cộng thêm tuổi đời cao ngất.  Mổi lần đứng lên ông phải tựa vào bàn và kềm đôi chân thật vững  mới bắt đầu xê dịch.  Lời giảng dạy của ông xen lẫn nhiều câu xin lỗi.  Ông quên chỗ này, lập lại đôi ba lần chỗ kia.  Học viên cừơi thông càm, buông lời châm biếm nhẹ.  Thầy trò đồng hội đồng thuyền, quên câu trước và ngập ngừng rán nhớ câu sau.  Đôi lúc có người mất kiên nhẩn lên tiếng gọi đích danh ông thầy: “Này Clyde, tôi tuy kém cõi nhưng ít nhất cũng bíết điều sơ đẳng đó.”  Lại vang lên tiếng cưòi hòa giải đôi bên.

Không khí bổng trở nên căn thẳng khi nhà văn tập sự cựu luật sư tra vấn ông thầy, đòi hỏi nói gì phải có sách mách có chứng, có quy luật hẳn hòi.  Ông thầy phản đối cho rằng ngôn ngữ không nhất thiết phải luôn luôn theo luật.  Bà nhà văn chân ưóc chân ráo cựu thẩm phán dáng oai phong, tóc xoắn sát da đầu, đão tròn hai con mắt thật to, ném cái nhìn nghiêm khắc về phía ông thầy tội nhân.  Hình như bà muốn ra lịnh gì đó nhưng cố nén.  Bà là học viên mới, thiếu tự tin trong lãnh vực văn chương, còn đang quan sát tình hình để quyết định một vị trí vững vàng như chỗ ngồi của bà ở phòng xữ án trước đay không lâu.  Bà mới về hưu vài tháng chưa quen chỗ đứng khiêm nhường.


                                       -2-

Để cứu vãng tình thế nhà văn ưu ái cựu bác sỉ tâm thần đưa ra nhận xét khách quan.  Ô nâng cao phần ưu, bỏ qua phần khuyết, đề nghị cuộc bàn cãi dời lại sau giờ học.

Giữa lúc đó một bà lưng khòm, áo hoa sặc sỡ, tóc nhuộm màu nắng chiều pha sắc đỏ, môi son tím, kéo cái túi du lịch lạch cạch hai bánh xe lỏng lẻo, lũng lẵng vật kỹ niệm qua những chuyến du hành, thập thò bước vào ngưỡng cửa.  Tôi xê ra chừa chỗ cho bà dựng cái túi và chỉ cái ghế trống kế bên của một người mới bỏ về.  Bà  kề  tai tôi nói nhỏ lời cám ơn và khen tôi tử tế.  Tôi lộ vẻ ngạc nhiên nói không có gì.  Bà giải thích: “Tôi tới đây lần đầu, chưa ghi danh.  Mình lạ mặt sợ người ta khó chịu.”  Bà cho biết đã nhiều lần học lớp viết văn nhưng lần nào cũng bỏ dở vì nhièu lý do:  Té gảy chân, con gái nhờ trông nom cháu ngoại, bạn rủ đi du thuyền miền nắng ấm, vân vân.

Bà nhà văn tương lai cựu giáo viên xuỵt xuỵt báo hiệu mọi người im lặng lắng nghe ông nhà văn thử thời vận cựu nha sĩ má lúm đồng tiền nụ cười muôn thuở đọc truyện.  Ông kể lại những mất mát lớn trong những lần ly dị, vạch rõ lòng nham hiểm của đàn bà, những thiệt thòi về phía nam và sự đòi hỏi quá đáng về phía nữ.

Có lần ông nói riêng với vẻ tự hào ông có ba vợ, chính con, ba đứa là con riêng của bà hai.  Ông chủ động chu toàn mọi việc, lo hết cho mọi người, vậy mà bà vợ thứ ba cứ đeo sát bên ông, xem ông như con nít.  Ông bực mình vì bà ấy cứ đòi theo ông vào bịnh viện.  Ông sắp đi giải phẩu.  Bác sĩ nói ông có “một lỗ hỏng trong đầu.”  Tôi đề nghị ông nên cho bà ấy đi để bà yên lòng.  Tôi còn nói thêm: “Nhiều ngừời muốn được như ông, có thân nhân chăm lo trong lúc ốm đau.”  Ông ra chìu suy nghỉ rồi gật gật đầu nói: “Đúng vậy! Đúng vậy!”  “Cái lổ hỏng” chắc có nhiều điều giải thích nhưng tôi không hỏi tới.  Thôi để dành cho ông viết văn.  Mong ông bình an trở lại lớp.

Ông cựu nha sỉ đọc xong nhuẽn miệng cười, nhìn quanh chờ ý kiến.  Theo lời chỉ dẩn của ông thầy là nên khen trước khi phê bình xây dựng.  Tôi chuẩn bị nghe đi nghe lại những lời khuyến khích như: “Tuyệt vời!”   “Chuyện buồn nhưng hay.”  “Cách diễn đạt dễ hiểu.”  “Bài có đủ chi tiết, có  mô tả, có đối thoại.” Những mỹ từ tô điểm cho bài văn đuọc tận dụng.  Người đọc truyện nói: “Cám ơn.  Cám ơn.”

 

                                         -3-

 

Tiếp theo là những câu hỏi tò mò.  Chẳng hạn như những gì xảy ra sau cuộc ly dị hoặc đời sống của mổi nhân vật thay đổi ra sao.  Có người không dằn được sự tức giận lên án kẻ phản bội, trù ẻo cho trời đày họ.  Ông thầy

can thiệp bảo trong phạm vi truyện ngắn không thể trả lời hết những thắc mắc của người đọc.   Ông khuyên phải sáng suốt nhận định lời khen, chê,

không khéo việc viết lách của mình bị may một.  Ông bảo tuyệt đối không nên đánh bóng cái tôi giả tạo làm nãn lòng đọc giả.  Những xúc cảm chân thành là chất liệu sinh động cho bài viết.

Kế đó là phần cấu trúc và sưả sai văn phạm, chính tả.  Các cựu nhà giáo đổi thế ngồi bắt đầu tấn công.  Chấm, phẩy, xuống hàng, qua đoạn mới, cần rút gọn, cần giải thích thêm, đều được lưu ý.  Người đọc truyện khiêm nhường, nhũn nhặn nhận lổi, hưá sẽ điều chĩnh và “Cám ơn. Cám ơn.”

“Tới phiên ai đọc?”  Bà nhà văn cựu khoa học gia quơ tay gằn giọng nhanh nhẩu hỏi lớn.  Sau tai nạn xe kinh hoàng bà khó chế ngự được cữ động và ý nghĩ.  Bà từng cho biết thần kinh bà không vững.

Vài cánh tay rụt rè đưa lên kèm theo lời nói: “Nếu không có ai thì tôi xin đọc.”  Lại có người lên tiếng:  “Kate, đọc đi, lâu rồi bà chưa đọc.”

Bà nhà văn tương lai cựu y tá da xanh mét, mắt lờ đờ, đầu ngóc lên không nỗi cất tiếng đọc qua hơi thở đứt đoạn.  Phòng học im phăng phắc, mọi người gần như nín thờ lắng tai nghe.  Bà kể chuyện bị điên loạn sau khi ly dị người chồng theo tình nhân trẻ, tả cảnh bà đập phá, la hét, bỏ ăn, mất ngủ, không còn thiết một điều gì.  Thuốc an thần làm cho bà thờ thẩn ngây dại.  Bà thất thỉu như bóng ma trong căn nhà trống vắng.  Sau một thời gian dài thuốc men và tâm 1ý trị lịệu, dần dần bà tìm lại được chút quân bình.  Bà rất cần sự viếng thăm và lời an ủi của chồng bà vì bà đã là người tàn phá, nhưng bà chưa trút bỏ được cảm giác hận thù dấy lên mổi lần ông xuất hiện.  Bà đang sống triền miên trong nổi cô đơn với tâm trạng phân hai như thế.

Nhìn cái cổ ngoặc ngoẹo của bà gục xuống sâu hơn trong thoáng giây thiêm thiếp ngủ tôi thầm kêu trời, qúa xúc động vì nỗi đau của bà, vì khó tưởng tượng được cái tình gắn bó giửa con người có thể biến thành chất đọc làm hư hoại thân xác và tinh thần bà, một nữ điều dưởng tận tình săn sóc bịnh nhân nhưng không giúp được mình.

 

                                        -4-

Im lặng bao trùm lớp học một lúc lâu.  Không có lời khen ngợi hay phê phán, chỉ có tiếng thở dài và tiếng sột soạt rút khen giấy trao nhau lau nước mắt.

Chúng tôi, những người tập viết văn cuối đời, viết để chia xẽ nỗi nìềm cùng nhau.  Cám ơn, cám ơn, tuần tự, từng người cám ơn và tỏ lòng cảm thông ngưòi đọc truyện.  Văn chương không chĩnh, lổi chính tả bỏ qua, đôi lúc chỉ có tâm tình là đáng kể.

Lớp học cần tiếp tục.  Hơn hai mươi học viên chỉ có hai tiếng đồng hồ, một tuần một lần, không thể dừng lại nổi đau của một người.

Bà nhà văn đầy hứa hẹn nội trợ chuyên nghiệp tóc bạc trắng, mang cặp mắt kiếng thật dày loại đặc biệt vì có máu mù lòa di truyền.  Bà thường nói bà chấp nhận mọi sự việc đã và sẽ đến với bà.  Hiện bà chỉ cần sống một vài năm để viết thôi.  Bà viết từ nhỏ vì quá cô đơn.  Không ai hiểu được nổi gian truân của đời bà.  Viết để sống còn, viết cho nguôi ngoai, không có cao vọng gì cả.  Trước khi đọc bà nói: “Chuyện này đã qua.  Tôi bây giờ có cuộc sống an bình.  Đêm ngủ yên vì bụng không đói cồn cào như trứơc.  Các bạn đừng lo.”

Bà kể chuyện bị người anh ruột hãm hiếp lúc bốn tuổi.  Mẹ tát tai bảo bà nói láo.  Ngưòi anh tiếp tục hiếp nhiều năm và sau đó đến người tình của mẹ khi bà còn trong tuổi vị thành niên.  Nhà qúa nghèo, cha ghiền ma túy bỏ bê, mẹ bịnh tâm thần, bà buột lòng phải cho đứa con không cha nhìn nhận từ lúc sơ sinh.  Bà làm đủ nghề lặt vặt, sống lây lất và tìm vui những khi đọc và viết.  Cuối cùng bà may mắn gặp người chồng tử tế.  Ông rất hà tiện nhưng không sao, bà đã quen cảnh túng thiếu.  Được cái ông để bà tùy ý làm theo sở thích miễn sao nhà cửa và bữa ăn chu toàn.  Điều may mắn hơn nửa là bà đã tìm lại được đứa con gái và con bà tha thứ cho bà.  Niềm vui lớn của bà bây giờ là thỉnh thoảng mẹ con hẹn gặp nhau.

Chúng tôi thở phào.  Một đoạn kết có hậu.

Ông thầy xem đồng hồ, bảo còn thìi giờ cho một bài nữa.  Bà đứng sau lưng tôi vỗ vai tôi nói: “Đọc đi! đọc cho chúng tôi học hỏi văn hóa Á Dông.  Em là ngưòi Hoa phải không?  Con gái tôi mới xin được một đứa con nuôi bên Trung Quốc.”

                                       -5-

So với phần đông học viên khác tôi ít tuổi và nhỏ người hơn, phần thì tôi thu người lại cho nhỏ thêm.  Người ta tiếng Anh tiếng Mỹ có từ trong bụng mẹ, còn tôi người Việt, học trễ, dù miệt mài đèn sách nhiều năm vẩn không dám so bì, nhưng đã có gan tới lớp học viết văn thì phải liều vậy.  Trong đời tôi làm vài chuyện trái ngược.  Vì mưu sinh tôi dạy học trước khi học dạy.  Vì hòan cảnh và nhiều mơ ước khác tôi viết văn trước khi học viết.

Có vài tiếng khuyến khích gần như ra lệnh và ông thầy hướng mắt về phiá tôi biểu đồng tình.

          Trong cái thế chẵng đặng đừng tôi nói tôi xin đọc bài “Among Strangers.”  (“Giữa Những Người Xa Lạ”).

Bài này tôi kể chuyện một phụ nử nhập viện bất thình lình vì có cơ nguy tai biến mạch máu não.  Bà ta bị mỗ banh ngực phơi trần sáu tiếng để  bác sỉ cắt bỏ mạch máu dẩn vào tim bị nghẽn và nối lại bằng mạch máu lấy nơi chân.  Bà đau đớn oằn oại một mình vì chưa kịp báo cho ai biết.  Chung quanh bà toàn những người khác chũng tộc.  Do một sự ngẫu nhiên họ đến nước Mỹ và làm việc trong cùng một bịnh viện.  Bà Kiên là một bịnh nhân không thiết sống vì cảm thấy không còn sức chịu đựng thêm những thử thách của cuộc đời.  Nhưng nhờ những người chuyên nghiệp tận tâm chăm sóc bà được hồi sinh.  Lòng tốt và lời lẽ ân cần của họ như chất đốt làm bừng dậy niềm tin và hy vọng cho cuộc đời còn lại của bà tốt đẹp hơn.  Bà quyết định cố quên những ấn tượng hãi hùng và nổi bất hạnh của đời mình để sống còn trong tình tương ái.

Tất nhiên tôi gửi gấm ít nhiều nổi niềm riêng, lồng vào câu chuyện vài đoạn cảm động và buồn cười, thêm chi tiết dẫn đường cho đọc giả đến nơi.

Khi tôi chấm dứt có vài người lên tiếng: “Mọt sự đổi mới!”  “Chuyện thật lôi cuốn.” “Được lắm, viết thêm nhé.” “Cho xin một bản, tôi chưa có bài đó.  Tôi lảng tai không nghe rõ.”

Như một diễn viên đáp lại lòng ham mộ cuả khán giả, tôi, nhà văn chập chững, cụu giáo viên chương trình song ngử, mĩm cười quay qua quay lại theo hướng có tiếng nói, gật, gật và cám ơn, cám ơn.

Ra khỏi lớp, tôi nghe lâng lâng cảm giác nhẹ, bớt co rút, bớt hoài nghi về khả năng viết của mình.  Ông lão đi bên cạnh nói ông thich mấy bài viết trước cuả tôi.  Ông xin phép cho ông dùng làm đề tài đàm luận với bạn hữu vì mấy chuyện “đơn giản” của tôi làm ông xúc động và suy nghĩ.  Tôi gật

                                                   -6-

đầu lia lịa vừa tỏ vẻ vui mừng vừa lúng búng ngượng ngùng vì niềm vinh hạnh quá to.  Ông này là học viên kỳ cựu, đôi khi dạy thế ông thầy, ông có tiếng sâu, viết bền, và thêm tài điêu khắc.  Với tánh tình hoà nhã và khiêm nhường ông gây đuợc nhiều thiện cảm.  Trước khi bước vào thang máy ông dơ tay chào tạm biệt và nói vói: “Đừng ngưng viết nhé!”

Có một lần ông thầy bảo trong 10 phút hảy viết vì sao muốn thành ngưòi cầm bút.  Đại khái tôi nói tôi viết vì thích kể chuyện đời mình và đời

người hầu tạo được sự cảm thông hoặc đã phá những bất công, vì muốn đền đáp công ơn những bậc thầy và bạn đồng hành đã mở lối và khai thông trí tuệ tôi.  Còn thêm một chút cao vọng là đem lại phút giây tiêu khiển cho ngườì đọc.  Các học viên khác cũng có ý tương tự, nhưng diển đạt cách khác.  Đa số cho rằng họ viết vì muốn con cháu hiểu được những gì họ đã trãi qua, vì muốn nói lên quan điểm, lập trường riêng, vì cần giết thì giờ truóc khi thời gian tiêu diệt họ, và nhất là để giải toả những oán hận hay uẩn khúc của lòng mình.  Một vài người cho biết do bản chất khép kín khó hòa hợp nên viết để giao tiếp, truyền thông cho vơi nỗi đơn côi.

Ông thầy nhắc đi nhắc lại rằng bất cứ lý do gì, điều quan trọng là phải viết thường xuyên, đừng đợi hứng vì chuyện đó rất hiếm và hứng, có khi hứng không bao giờ đến.  Ngưng viết cũng giống như cơ bắp thiếu vận động sẽ mất dần chức năng của nó.  Như mọi ngành nghề khác, muốn thành công phải luôn luôn chuyên cần học hỏi.  Hảy tập làm nhà văn trong thực tại, trong tư tưởng, trong tiềm thức.  Trước khi đi ngủ và mỗi sang thúc dậy, lúc nhìn vào gương, hảy lập đi lập lại câu này như một lời tụng niệm: “I’m a brilliant writer.  I’m a brilliant writer.”  (“Tôi là nhà văn sáng chói.  Tôi là nhà văn sang chói.”)

 

 

Trần Thị Kim Lan
Boston, 07-12-11

Read Full Post »

Sáng ngày 3 tháng 3 năm 2016, tại Sài Gòn, Ban vận động văn đoàn độc lập VN trao giải Văn Việt lần thứ 1 cho nhiều nhà văn, nhà thơ Việt Nam. Hôm nay có nhiều nhà văn, nhà thơ được mời tham dự nhưng không thể đến tham dự vì bị lực lượng An Ninh ngăn chặn.

 

 

Kịch tính Giải Văn Việt lần thứ nhất

 

 nguồn BBC news

1
Nhà thơ Dương Tường (phải) đại diện gia đình nhà văn Bùi Ngọc Tấn nhận Giải đặc biệt từ nhà văn Nguyên Ngọc

 

Khởi động hơn một năm, Giải Văn Việt lần thứ nhất (2014 – 2015) đã được trao từ lúc 9h30 ngày 3/3/2016 (giờ Việt Nam) tại tư gia nhà thơ Ý Nhi ở Sài Gòn – một thành viên ban giám khảo.
Chọn tư gia của Ý Nhi là việc chẳng đặng đừng, vì phía tổ chức đã tìm kiếm nhiều địa điểm, nhưng cuối cùng đều bất thành, do áp lực từ phía chính quyền.
Thế nhưng, đây vô tình lại là việc rất hay, vì nó đúng với tinh thần dân sự mà Văn đoàn độc lập Việt Nam, cũng như cộng đồng Văn Việt đã chọn để đi.
Với lại, quan trọng nhất vẫn là chất lượng và ý nghĩa của giải thưởng, chứ không phải do địa điểm trao giải quyết định.
Nhìn vào thành phần ban giám khảo và những tác giả được chọn trao dưới đây, có thể thấy phía tổ chức đã rất nỗ lực trong việc tìm kiếm những tác phẩm giàu giá trị văn học.
Tổng giải thưởng lần thứ nhất là 7.500 USD, tương đương 165.000.000 VND. Phía tổ chức đang hi vọng những lần trao giải sau sẽ có giá trị hiện kim nhiều hơn nữa.

Dùng chữ kịch tính để gọi Giải Văn Việt lần thứ nhất, vì thời gian qua việc tuyên bố vận động thành lập Văn đoàn độc lập Việt Nam đã gặp nhiều khó khăn từ chính quyền. Từ 56 thành viên đầu tiên, nhiều người đã không chịu nổi áp lực nên xin rút tên.
Trang web chính thức của Văn Việt – công cụ thể hiện của Văn đoàn độc lập Việt Nam – đã bị tường lửa nặng nề, muốn vào đọc rất khó khăn.
Ngày 12/2/2016, việc bầu chọn Giải đặc biệt đã diễn ra, kết quả văn xuôi trao cho nhà văn quá cố Bùi Ngọc Tấn (1934 – 2014), với sự nhất trí 5/5 phiếu từ 5 thành viên ban giám khảo. Hai tác phẩm được chọn trao giải là Chuyện kể năm 2000 (tiểu thuyết) và Hậu chuyện kể năm 2000 (hồi ức).

 

2

Tiến sĩ Nguyễn Quang A (đại diện những nhà tài trợ) trao giải vắng mặt cho nhà phê bình Thụy Khuê

 

Về nghiên cứu – phê bình, Giải đặc biệt trao cho nhà phê bình Thụy Khuê (Pháp), với sự nhất trí 5/5 phiếu. Loạt tác phẩm nghiên cứu Văn học miền Nam 1954-1975 và công trình biên khảo Những người Pháp với vua Gia Long được chọn xét giải.

Mỗi Giải đặc biệt gồm giấy chứng nhận và 2.000 USD.

Sau đó, ngày 15/2/2016, cuộc bầu chọn Giải chính thức đã hoàn tất theo đúng tiến độ. Kết quả như sau: Văn xuôi trao cho nhà văn Di-Hạnh Nguyên với loạt truyện ngắn Lúc nửa đêm, Cô gái ngồi bên của sổ, Giới hạn của khí trời, Người lạ, Wind shadow: OK, với sự nhất trí 4/5 phiếu.
Thơ trao cho nhà thơ Nguyễn Hoàng Anh Thư, với sự nhất trí 4/5 phiếu. Các tác phẩm được chọn trao gồm Những mảnh rời (chùm thơ), Thiêu hủy bài thơ, Huế mùa khói sương, Có những điều giả định, 12 bài thơ (chùm thơ).

 

3

 Nhà thơ Ý Nhi trao Giải thơ cho Nguyễn Hoàng Anh Thư (trái)

Nghiên cứu – phê bình trao cho nhà thơ – nhà nghiên cứu Inrasara, với sự nhất trí 5/5 phiếu, loạt bài Hồ sơ biên bản so sánh được chọn để chấm.

Mỗi Giải chính thức gồm giấy chứng nhận và 1.000 USD.

Chủ tịch Hội đồng giám khảo là nhà văn Nguyên Ngọc cũng có giải của riêng mình. Ông đã chọn nhạc sĩ Tuấn Khanh với các bài tản văn như Quyền năng của trí tưởng tượng, Phía sau ánh pháo hoa, Đường trải thảm đến cửa địa ngục, Tổ quốc là gì? Tôi vẫn tự hỏi…

Giải này gồm giấy chứng nhận và 500 USD.

 

 

Read Full Post »

Church2

THÁP CHUÔNG CÔ ĐƠN

 

Nguyễn Hoàng Anh Thư

Mọi thứ bắt đầu từ từ một vệt ngang trong ngôi nhà có màu tuyết trong giấc mơ đêm qua, trong những ngày bắt đầu lễ hội Halloween của những đứa trẻ trong căn nhà của cô. Cô giáo của chúng yêu cầu mỗi đứa trẻ phải có một bộ hóa trang ma quỷ. Từ khi cô đón con bé ở trường, con gái cô đã nói đi nói lại một điều là tối nay phải đi mua những thứ hóa trang ấy cùng nhau. Thật tệ rằng, cô đã không hào hứng cho việc này, cứ lần lữa từ chiều cho đến hơn 8h tối. Chứng cảm mạo xảy ra thường ngày với cô, chúng làm mọi thứ trở nên uể oải, mọi thứ đều nặng nề trong những ngón tay, kể cả việc gõ gõ vào bàn phím để lưu lại điều gì đấy. Cô đã bỏ thói quen đó cho đến sáng nay, cô dậy rất sớm, chỉ mới gần 3h, nằm trên giường cô đã nghe tiếng nước đang giọt ra từ cái vòi nước, có lẽ chúng bị hở, ban ngày cô đã không nghe được những âm thanh này của chúng, thứ âm thanh lâu lâu lại nhỏ giọt này đã hòa tan ở một nơi nào đó cô không biết được, một mớ hỗn tạp cứ lưu lại trong đôi tai của cô và chất đầy vào đó, tiếng nhạc bật quá to ở quán cafe cạnh nhà, tiếng người trò chuyện ồn ào quanh những cái bàn vuông, tiếng rù ga, tiếng leng keng của cái xe rác, tiếng gió vù vù từ cái quạt máy… Mọi thứ đang băng qua. Cô bước lên cầu thang đi thắng đến phòng con gái, nhìn ra ngoài buổi sáng từ trên cao. Thật yên ắng, ngoại trừ tiếng động cơ xe máy thỉnh thoảng vẫn phóng vù qua. Mọi thứ đang tiến từ từ, hình như thế, rồi những âm thanh đó sẽ bắt đầu đổ ập vào cô, chúng sẽ có hình thù rất kỳ dị và quái đản. Cô cảm thấy lo lắng bởi không tìm ra một vật gì để có thể ngăn chúng lại từ ngoài cửa. Cô chạy thật nhanh lên phía trên mở cửa ra ban công, chỉ là mấy chậu hoa nhỏ, chúng yếu ớt quá, không thể chắn được, có thể đã có rất nhiều cánh máu đang bay ngoài kia, những cánh máu đang bay diễu binh trên bầu trời đang lặng im che giấu sự cuồng loạn trong cơn giận của sấm sét. Không có một vật gì, đôi tay của cô đã không cầm nổi cán chổi để mà có thể quét chúng đi. Thế giới này đang lây lan mọi thứ, cả sự phản trắc. Thế giới này đã quá rộng lớn. Cô không thể hiểu nổi những hình thù kỳ dị ở phía ngoài kia, qua khe cửa sổ đang khép hờ ở đó. Cô thò tay, bàn tay của cô đã không chạm vào được, cửa vẫn hé, gió rên lên âm ỉ, đôi khi rít lên, mọi thứ đều có thể lèn qua, chúng đang cố lèn qua cơ thể của cô, cả sự cuồng loạn của những giấc mơ cô đã giấu kín dưới những gốc cây đã được đánh dấu cẩn thận ở khu vườn nhà ngoại. Làm thế nào đây, mọi thứ trở nên vô hình, không còn một chút sức lực nào, sự vô hình đi xuyên qua tất cả các đồ đạc mà cô muốn vớ. Cô nhìn thấy chúng, chúng chẳng nhìn thấy cô. Cô đang cầu cứu một sự hỗ trợ nào đó.
Rất nhiều thành phố hôm nay đang bay rất nhiều cánh máu của loài chim ưng bị thương. Cô thấy tất cả, chúng đập vào mắt cô những video đang chạy trên trang facebook. Cô có cảm giác như đang được ôm trong vòng tay ấm áp từ khung hình của người đàn ông xa xôi, một người đàn ông có cơ thể rắn như một chiến binh Asin để bảo vệ cho cô, cho cả thành phố này. Sự tưởng tượng đang cố đi xuyên qua cô, ngoài kia những cánh máu vẫn đang bay, hướng vào cửa sổ, cô ngửi thấy mùi tanh của chúng.
*
Một buổi sáng những ngày mùa Giáng Sinh. Những con đường vắng hơn vào mỗi buổi chiều mùa đông xơ xác lạnh, chỉ có tiếng bước chân lê thê là khi cô cảm thấy thế giới chung quanh đang ngưng chảy.Tiếng rêu đá xám ngắt, khắc chạm vào đôi bàn tay cô. Mỗi lần cô khóc, hai bàn tay úp vào mặt, thời gian in từng lớp màu tàn nhẫn. Hôm nay cô thấy hình tháp chuông đã đổ nghiêng hơn trên bức tranh, giữa dòng thác, sự đợi chờ một điều gì đó đang vặn mình từ từ rồi chực đổ. Chúng sẽ trôi! nhất định là vậy. Tiếng chuông hàng ngày vẫn trôi điều đặn vào mỗi buổi chiều, một dòng thác đổ yên lặng hiền lành. Trong đôi mắt cô, sự yên lặng đôi khi chới với, đôi khi chúng nằm khoanh tròn bình yên trong con ngươi. Mỏng, mềm, và rất trong. Dù ở bên ngoài kia, thời gian đang ung thối trong bóng mặt trời đỏ ửng đi qua từng ngày. Những nếp nhăn đôi khi há miệng hăm dọa khiến cô thấy mình bị buột chặt trong một chiếc bao thật khó thở lúc giữa đêm. Cô đã từng nói, đừng hoài phí màu xanh để khỏa vào những giấc mơ xám xịt. Vậy nên ngày của cô thật hiếm hoi nụ cười. Đêm, nụ cười lại trốn biền biệt vào trong những vòm cây nghe hun hút gió.
Cô muốn kể chuyện. Những câu chuyện của cô vì thế mà chạy tọt vào những đường link không có ngã rẽ. Chúng được khứ hồi trong những cú click chuột. E-mail, Zalo, Viber, Facebook… thỉnh thoảng lại rung lên. Trái đất trôi về đâu trong những cái điện thoại?. Cô không nhìn thấy được điều gì trong ấy cả. Tiếng lao xao, tiếng mời gọi, tiếng nhục tình… chúng đang bận rộn trôi đi để rồi tắc tỵ ở đó. Cô yêu những bức tranh chạy qua đường link của một người họa sỹ. Đã rất nhiều đêm trắng, cô đi vào thế giới ấy để tìm một điều gì đấy mà cô không thể cảm nhận được. Cô muốn chuyển thể nó ra thành một thế giới thơ của mình. Ở đó, những bài thơ sẽ được xếp đặt theo kiến trúc của sự huyền diệu và ảo mộng. Mọi thứ, sẽ diễn ra và trôi chảy trong sự vọng ảo của điều cô muốn.
Sáng nay, một bức tranh mới xuất hiện ở đấy. Đập vào mắt cô là màu vàng tươi của rừng phong đang chảy. Phía bên kia là mây đen. Màu áo tang loang lổ đang tràn qua mùa thu. Chúng đang lấn dần, phủ màu u uất điêu thương lên cái mênh mông huyền mặc tươi tắn của hơi thở mùa thu. Từng ngôi nhà ám khói. Những lằn ngang xuyên qua mái nhà màu hổ phách. Những vệt máu tuyết bầm trên ngọn đồi trắng. Chúng đang phủ tràn tất cả. Có thể ngày mai mọi đường link của cô đều tắc nghẽn. Cô phải tìm ra đêm nay. Đời sống này đang đếm từng tiếng tích tắc rất keo kiệt. Mọi điều vội vã đang đổ xô hối giục làm cô cuống chân. Cô không thốt ra được. Mọi thứ đều bị tắc tỵ trong cuống họng. Những ngón tay cô gõ gõ những ký tự đang ngập tràn dòng sông Lưu Đày. Cô xếp lại từng con thuyền giấy cứ thế thả trôi. Chúng sẽ chở về cho cô những bí mật của thế giới ấy. Cô sẽ bước vào đấy mỗi đêm, đắm chìm trong thế giới tự do hoan lạc của những sắc màu. Ở đó, cô có thể thấy người anh hùng của đức tin đang dùng cánh tay mạnh mẽ kéo lại ngọn tháp chuông. Rõ ràng là nó đang nghiêng dần trên nguồn thác máu của Abraham cuồn cuộn chảy. Chỉ một mình cô lắng nghe được tiếng răng rắc âm ỉ của điều mong chờ cứu rỗi. Thế giới ngoài kia, vẫn lao xao những nỗi đau đớn phải nằm chờ tự hoại trên những thành phố, những con đường, những gốc cây, những đường link nhỏ bé.
Tối nay, cô không quên mang theo một chai vang trắng, sạc đầy pin vào chiếc điện thoại để uống cùng giai điệu Meditation cùng người họa sỹ, để khai vị cho bức tranh mà ông ấy vẽ lại thế giới đang vây quanh cô. Cô sẽ được nghe gió hát, những giai điệu ở một miền xa xôi nhưng thật gần gũi. Và những ngày tháng yên bình sẽ trôi, như tâm hồn của một kẻ tha phương lạc bước đã tìm được lối về. Ở nơi đó, cô sẽ được nằm yên ổn với đôi mắt không còn con ngươi mang điều sợ hãi.

N.H.A.T.
Viết cho mùa Giáng Sinh, 2015

 

Read Full Post »

GiacMong


Truyện ngắn  
Âu Thị Phục An

Khoảng nửa đêm ông Thượng chợt tỉnh giấc vì những tiếng ầm ào trên mái nhà, trời đang nổi một cơn giông rõ to, tiếng gío trượt trên mái tôn rồi bay thẳng ra sau vườn nhà, lại có tiếng rơi của nước mưa lộp độp trên những tàu lá chuối bên hè, cạnh cửa sổ phòng ông Thượng, thường nằm ngủ một mình, mỗi đêm.
Không ngủ lại được, ông Thượng ngồi bó gối trên giường, mắt ông ráo hoảnh nhìn vào bóng đêm, ngày mai đám giổ vợ ông rồi mà chưa thấy đứa con nào về cả …

Tính ra thì bà mất đã hơn bốn mươi năm rồi còn gì, hồi đó bà mới có ba mươi sáu tuổi, còn ông thì cũng mới ngần ấy tuổi mà đã góa vợ. Thời son trẻ ông nổi tiếng hào hoa. Vợ mới mất một năm thì đã có một cô mới đậu tú tài mà đã dám xách vali đến nhà ông ở-đuổi mãi cô cũng không đi- lúc đó sáu đứa con nheo nhóc mồ côi mẹ thì đã có bà ngoại chúng lùa hết về ở với bà dưới quê, ông chỉ còn là một gã góa vợ rảnh tay rảnh chân tha hồ bay bướm. Mà cũng lạ, có cô y tá cạnh nhà không biết hoàn cảnh thế nào lại làm bé một ông thầu khoán , bị vợ lớn đánh ghen một trận tơi bời, cô sợ nên trốn qua nhà ông nhờ giúp đỡ cho cô tránh mặt vài hôm, để rồi sau đó cũng ngã vào vòng tay ông.

Hình như gió đã giật sập cái cửa chống ở nhà sau hay sao mà ông Thượng chợt nghe có tiếng đánh ầm một cái và có tiếng con Cò sủa vang dưới bếp. Ông lên tiếng suỵt suỵt kêu con chó Cò mấy tiếng thì thấy nó chạy đến bên giường ông quẩy đuôi và cọ cọ cái mõm lạnh ngắt vào tay ông.
Ông Thượng vuốt ve đầu con chó mấy cái rồi vỗ vỗ biểu nó đi ngủ đi, con Cò dường như biết nghe, nó lẳng lặng chui xuống gầm giường ông đang ngồi, ông Thượng cúi người xuống nhìn theo và thấy hai con mắt nó lấp lánh trong đêm tối.

Ba năm sau ngày vợ mất, vừa mãn tang vợ thì có người làm mối cho ông một cô lỡ thì bán vải ở nhà lồng chợ.Cô nầy nghe nói vừa giỏi buôn bán mà công dung ngôn hạnh cũng nức tiếng. Lấy cô về làm vợ mà quan trọng nhất là làm mẹ chăm sóc cho mấy đứa con gái đang tuổi dậy thì mới vào trung học đệ nhất cấp thì cũng hay, ai cũng nói như vậy. Ông Thượng đi coi mắt, trong bụng có hơi chê cô xấu, nước da không trắng trẻo như ý thích của ông, nhưng …tìm mẹ cho con mà, chỉ cần cô ta là một bà mẹ giỏi giang quán xuyến và chăm nom tốt cho bầy con của ông thì ông cũng thấy hài lòng lắm rồi.

Ông Thượng bỗng sực nhớ đến mấy con gà nòi cưng đang nhốt ngoài chuồng, nhất là con gà Tử Mị mà thằng Tư Cang trong xóm đang thèm nhỏ dãi, cứ nhất quyết năn nỉ ông bán cho nó với giá cao nhất theo ý ông muốn. Cái thằng đúng là ba xạo, nuôi gà để chơi thì có ai mà đem bán đi con gà cưng của mình chứ? Cái tình thì vô giá mà.
Sợ mấy con gà bị mưa tạt ông Thượng nóng ruột lật đật dở mùng chui ra , lấy cây đèn pin dưới gối ông vói tay bật đèn lên rồi đi ra nhà sau. Con chó Cò cũng chạy theo ông
Quả thật cái cửa chống sau nhà đã bị gió đánh sập xuống. Ông Thượng loay hoay tìm cái cây chống cửa lên , lấy cái nón lá đội lên đầu rồi bước vội qua khoảng sân trống đi về phía cái chuồng gà.
Mấy con gà đang ngủ gà gật bỗng lao xao cựa quậy khi nghe có tiếng động. Ông Thượng lấy tấm nilon phủ lên chuồng để che bớt gió cho chúng rồi quay trở vô.Vô tình ánh đèn pin trong tay ông lia về hướng hai ngôi mộ sau vườn. Bất giác lòng ông chùng xuống, nghĩ sao ông không quay lên nhà trên mà lại đi phăng phăng về phía hai ngôi mộ.

Ông Thượng ngồi cạnh mộ của đứa con gái lớn mà ông mới bốc mộ về cải táng hồi thanh minh năm ngoái. Ông vuốt ve gương mặt ngây thơ của nó trong di ảnh. Con chó Cò nằm sát bên ông kêu ư ử.

Cái điều mà ông Thượng không bao giờ ngờ được là sau khi cưới vợ kế – cưới mẹ cho xấp nhỏ nhà ông- thì tai họa cũng kéo đến với gia đình ông . Bởi vì sau khi cưới có một năm thì cô ấy đã sinh con. Và rồi hể ông đụng đến cô ấy thì cô lại có thai, cứ thế mà sòn sòn năm một. Gái lỡ thì dồn nén nhiều năm nên mắn đẻ quá chăng? Có trời mà biết.
Và chỉ có một mình ông ôm một nổi ê chề trong lòng mà không biết kêu với ai,vì thay vì tìm được một người mẹ cho bầy con ông và chính ông cũng được thanh thản một tí thì ông đã vội vàng rước về thêm rất nhiều nồi lo âu phiền muộn.
Những bất hòa xung đột trong các mối quan hệ giữa mẹ ghẻ con chồng, giữa bà mẹ của bà vợ cũ với cô vợ mới của ông, rồi dần dần là giữa ông với cô vợ mới cũng không được yên ả lắm, do cái thói ghen bóng ghen gió của cô ta đã làm phiền não ông hết sức. Rồi cũng chỉ vì bị ám ảnh bởi câu nói :” ông coi chừng đó nghen, tui thấy con Hà đi học mà kẻ mắt thoa son đó” của cô vợ kế lắm điều đã làm ông mất bình tĩnh khi tình cờ bắt gặp đứa con gái lớn của ông mặc váy đầm ngồi sau lưng một gã con trai chạy honda, mà còn ôm eo thằng đó sát rạt. Máu nóng nổi lên, ý nghĩ về một đứa con gái hư hỏng làm cho ông tối mắt tối mũi đánh nó tới tấp và xé toạc cái váy đầm của con bé .

Nước mắt ân hận của ông Thượng bỗng ứa ra chảy ngoằn nghèo trên gương mặt đã có quá nhiều nếp nhăn của thời gian. Con ơi, con bé dại dột! Mà ta cũng là một thằng cha dại dột nữa, phải không con?

Sau trận đòn đó thì con bé nhà ông bỗng trở nên lầm lì, sau đó không lâu thì nó bỏ nhà đi mất . Hết giận dữ rồi lại lo âu, ông Thượng chết điếng người lo tìm kiếm nó khắp nơi. Cuối cùng không được gì ngoài việc bỗng dưng ông Thượng không còn về nhà mỗi lần tan sở nữa, ông thấy ấm áp và nhẹ nhàng tâm trí rất nhiều trong vòng tay bà vợ góa của một ông cảnh sát mà ông quen trong một lần chơi bài ở nhà ông Đốc Học. Ở gần bà ông Thượng được chìu chuộng và thường đắm mình vào những ván bài thâu đêm suốt sáng. Cuộc sống tràn đầy hoan lạc và làm cho ông quên đi được bao nỗi lo âu rắc rối ở nhà.

Ông Thượng bị con Cò dựa vào người nên mỏi, ông nhẹ đẩy nó ra thì con chó lại cứ xích vào, ông không nở mắng nó nên lại ngồi im, má xấp nhỏ trong tấm hình nhìn ông cười nhẹ , mắt ông Thượng hấp háy run trong bóng tối.

Rồi đến lúc cô vợ kế cũng dắt bốn đứa con mà đi về quê mẹ của cô ấy.Cô nói rằng cô không được hạnh phúc khi sống với ông. Cô muốn một mình nuôi con cái đến lúc khôn lớn. Không hiểu sao ông Thượng lại thấy nhẹ nhõm hết sức. Ông cũng nhẹ nhàng chia tay cô , sau khi hứa sẽ gởi tiền để nuôi bốn đứa nhỏ.

Một buổi trưa ông Thượng còn đang lim dim ngủ thì có người đưa thư tới,một bức điện tín màu xanh và một bưu phẩm ghi tên ông, chẳng hiểu ất giáp gì ông Thượng vội đọc hàng chữ trên bức điện :”con ông,Trần Thị Diễm Hà đã chết vì ngộ độc.”
Ông Thượng ra đến Cam Ranh thì họ đã chôn con ông được bảy ngày rồi.Và nó đã nằm đó suốt gần ba mươi năm sau ông mới đem được nó về.

Một cơn gió lạnh chợt thổi qua làm ông Thượng khẻ rùng mình, mưa đã dứt hột chắc cũng lâu rồi mà ông chưa muốn quay lên nhà . Đêm nay ông bồn chồn quá, ngày mai đám giổ vợ ông không biết mấy đứa ở Sài Gòn có về không? Ông Thượng nhìn đồng hồ, đã hai giờ sáng.

Cái số của ông sao mà kỳ lạ, hết vợ rồi đến con đều bỏ ông mà đi, ông bâng khuâng nhớ đến cô Khoa, người vợ mới đây nhất, sau khi sống cùng ông được tám năm, vừa vặn hai đứa con riêng của cô ra trường đi làm thì cô cũng dọn đi, cô nói cô còn quá trẻ xin cho cô đi làm lại cuộc đời.
Khi đứa con gái thứ ba vượt biên rồi qua Đan Mạch định cư thì nó bảo lãnh cho ông đi. Sau sáu năm” cải tạo” trong tù, suốt ngần ấy năm không có ai thăm nuôi ông được thả về với hai bàn tay trắng , tìm về được tới nhà ngoại xấp nhỏ thì mới hay bà đã qua đời, chỉ còn ông già vợ trông nom lũ trẻ , mà mấy đứa lớn thì đứa lấy chồng đứa lấy vợ, đứa vượt biên tan đàn xẻ nghé hết.

Nương tựa với ông già vợ trong miếng rẫy trồng khóm, ông vất vả qua ngày với miếng cơm manh áo đạm bạc, cho đến khi con gái ông lãnh ông qua Đan Mạch.

Ông quen cô Khoa năm ấy khi cô ba mươi bảy tuổi, góa chồng có hai đứa con trai, khi đó ông sáu mươi ba tuổi. Cô Khoa thường đi vỏ lãi cùng người em trai vào mua khóm chở ra thị trấn bỏ mối ở chợ.
Gần mười năm không còn biết đến đàn bà , cái lần đầu tiên ông nhìn thấy cô Khoa tim ông bỗng đập loạn xạ trong lồng ngực. Cô đội cái nón lá , miệng chúm chím cười khi nói chuyện với ông, dáng cô mủm mỉm , nước da thì trắng hồng mơn mởn dưới ánh nắng trưa hè gay gắt. Khi ông đưa mời cô uống nước trái dừa , đôi môi ươn ướt của cô ngậm cái ống hút thấy mà phát thèm. Ban đầu thì ông không tha thiết gì đến việc đi ra nước ngoài sinh sống, nhất là cái xứ sở lạnh lẽo như Đan Mạch, nhưng rồi sau khi cô Khoa thuận tình lấy ông thì ông lại đồng ý đi.
Qua Đan Mạch chưa đầy năm ông đã vội vàng về nước. Ông đã lén mấy đứa con thuê nhà ngoài thị trấn cho cô Khoa ở với hai đứa con cổ. Ông cũng gởi tiền về chu cấp cho ba mẹ con cô sinh sống. Cô Khoa có nghề may nên cô lãnh đồ trong xóm may lai rai cũng kiếm thêm chút đỉnh.

Cuối cùng rồi thì việc ông có cô vợ trẻ cũng lỡ dỡ. Mấy đứa con phản đối vì chúng sợ ông bị lừa tiền nên đã kéo tới nhà cô Khoa ở để sinh sự. Ông tức giận và thấy nghẹn ở cổ, giống như ông đang đói lâu ngày đang có miếng ăn ngon mà tụi nhỏ hất đổ chén cơm của ông vậy. Ông cương quyết và hùng hổ tuyên bố :” đứa nào đụng tới cô Khoa tao đập chết tại chỗ “.
Thật tình mà nói dạo đó mấy đứa con ông đều nghèo khổ cả, cho nên hết thảy tụi nó đều cứ chăm chăm vào ông để mong ông giúp đỡ tiền bạc ít nhiều khi túng quẩn. Mà ông thì có gì? Vài trăm đô la người ta trợ cấp cho ông ở nước ngoài, về nước may ra còn có chút tiền mà sống, đở phải sống bám vào con cái khi già yếu, vậy mà tụi nó không thương ông.
Chỉ có thế mà khi ông về nước chính thức ở với cô Khoa thì mấy đứa con ông đều từ bỏ ông già, không thấy đứa nào tới thăm ông nữa cả.
Mặc kệ, ông Thượng thấy rất mệt mỏi với lủ con nghèo nàn cứ kêu ca khốn khổ bên tai làm cho ông đâm ra rối rắm và nhức óc. Ông an nhàn thụ hưởng cuộc sống riêng với cô vợ mới và ông cũng phải chăm chút lo cho hai đứa con của cô Khoa ăn học đàng hoàng. Có thế thì cô mới hài lòng mà sống bên cạnh ông.
Thế là ông Thượng được thoải mái hàng năm chỉ qua Đan Mạch ở có hai tháng, thời gian còn lại ông về nước sống với cô Khoa. Con cái giận dỗi , xóm giềng bà con có xì xào thế nào ông mặc kệ. Rồi thằng con trai duy nhất bỏ lên Sài Gòn sống bằng nghề chạy xe ôm.

Có tiếng sột soạt đâu đó trong đám lá làm ông Thượng giật mình ngẩng đầu lên, thì ra nãy giờ hình như ông ngủ gục. Ông ngồi thu lu trước ngôi mộ hai mẹ con, hai cái đầu gối ông nặng trĩu dường như làm cho ông không còn muốn đứng lên nữa vậy. Còn năm ngày nữa là đến Tết Trung Thu , trời se se lạnh , ông thấy thật là cô đơn, vậy mà cô Khoa nỡ bỏ ông đi đã gần sáu tháng rồi, nghe nói cô đi theo thằng cha đại lý vé số ở đầu chợ, cô ở với ông cũng như làm xong một cái hợp đồng vậy thôi, không có tình nghĩa gì cả, không như ông vẫn tưởng và hi vọng rằng cô yêu ông thật sự.

Đột nhiên ông Thượng chợt thấy thèm uống một tách trà , ông cố gắng đứng lên. Vịn vào tấm bia mộ bà vợ ông lần đứng dậy.

Bỗng dưng ông thấy buồn nôn và choáng váng, ông Thượng té bổ.

Con chó Cò loay hoay bên ông, nó rít lên những tiếng kêu nho nhỏ trong cổ họng…

 

ÂU THỊ PHỤC AN

 

Read Full Post »

Văn Nghệ Boston xin giới thiệu đến quý anh em văn nghệ những tác phẩm mới nhất của Nam Dao

1 – Tiếng Cồng ( tiểu thuyết ) –
2 – Bờ Kia – ( tiểu thuyết
3 – 7 Vở Kịch –
4 – Trong Buốt Pha Lê ( tập truyện )
5-  Những Con Người Những Bóng Ma ( bút ký )
6 – Trăng Nguyên Sơ ( tiểu thuyết )
7 – Khoảng Chơi Vơi ( tập truyện )

SachNamDao

Read Full Post »

Phung Nguyen2

Phùng Nguyễn, chiếc lá thu bay…

Trương Văn Dân

 

Thật bàng hoàng khi nghe tin nhà văn Phùng Nguyễn vừa giã từ cuộc chơi văn chương và người thân để đi vào cõi vĩnh hằng. Mới đây thôi, bạn bè văn nghệ gặp mặt đông đủ ở phòng tranh của họa sĩ Trương Vũ, anh còn ký tặng tôi và Elena tập truyện “ Đêm Oakland và những truyện  khác”. Nét mực hãy còn hôi hổi, thế mà…
Biết anh qua vài truyện ngắn đăng trên tập san vhnt Văn Học (do nhà văn Nguyễn Mộng Giác chủ biên)… từ cuối thập niên 90 thế kỷ trước nhưng mãi đến 2011 mới gặp anh lần đầu ở quán cà phê Điểm Mới (Phú Nhuận) cùng anh Nguyễn Hòa (chủ biên vanchuongviet.org) và một số văn hữu khác.
Bạn bè ngồi kín quanh mấy chiếc bàn cà phê kê sát nhau nên không tiện nói chuyện nhiều. Chỉ quanh quẩn chuyện thời tiết, cuộc sống và tình hình văn học. Tôi nhớ có một lúc anh bảo là Sài Gòn có nhiều quán nhậu quá, lớp thanh niên lêu lổng ăn chơi mà tại nhà văn hóa thanh niên người ta chỉ mở các lớp dạy khiêu vũ hay luyện chữ đẹp, viết thư pháp…
Tôi gật đầu và mở màn hình điện thoại cho anh xem bức ảnh chụp tấm bích chương quảng cáo trên đường phố: Người ta đang hồ hởi thông tin là sẽ cố gắng phấn đấu để VN tiêu thụ… 3 tỷ lít bia một năm. Anh chỉ kêu lên một tiếng “trời!” rồi im lặng.
Không nói gì thêm nhưng tôi thấy nét ưu tư qua ánh mắt anh như của bất cứ trí thức nào còn trăn trở về hiện tình đất nước. Tôi sực nhớ hai câu thơ của Phạm Cao Hoàng viết về những kẻ ở xa:
Khi về thăm lại cố hương
Thấy quê nhà nghĩ càng thương quê nhà..

&

“Kỷ niệm” của chúng tôi chỉ có thế. Lần gặp đâu chỉ chừng hơn 30 phút vì sau đó anh có việc phải đi, nhưng hơn bốn năm sau, trong lần gặp ở nhà nhà văn/họa sĩ Trương Vũ ở Virginia, giữa nhiều người anh vẫn nhận ra tôi.
Sau cái bắt tay thân tình anh ký tặng tôi tập truyện ngắn và quyển kỷ yếu về buổi triển lãm và hội thảo về một tờ báo thời tiền chiến. Anh còn nhờ tôi chuyển một tập sách của nhà văn Đặng Thơ Thơ cho nhà văn Trần Thị Nguyệt Hồng ở SG. Tôi từ Mỹ mới về lại Việt Nam, chưa kịp giao sách thì trái tim của anh đã ngừng đập.
Sự ra đi đột ngột và bất ngờ của Phùng Nguyễn làm anh em và bạn hữu sững sờ. Họa sĩ Đinh Cường nghẹn ngào, nửa tin nửa ngờ, rồi cuối cùng kêu lên, thảng thốt :

…có khi nào tim ngừng đập
rồi đập lại không Phùng ?
&

Chúng tôi , bốn anh em trong nhóm Quán Văn đến Virginia vào giữa mùa thu. Những chiếc lá trên cành từng ngày khoe sắc xanh vàng tím đỏ. Khi chúng tôi chia tay nhau để bay về lại San Jose thì lá đã bắt đầu rơi.
Buổi sáng đó trời mưa. Nhè nhẹ. Nhưng vẫn thấy lòng mình se lạnh. Chia tay với những người bạn thân tình, chia sẻ với nhau bằng tấm lòng cùng tình yêu văn chương và những khát khao về cuộc đời và quê mẹ… thật chẳng chút dễ dàng. Vì nói như họa sĩ Đinh Cường thì” Chúng ta chỉ còn chừng đó niềm vui”.
Ngồi trên xe mà nhà thơ Nguyễn Minh Nữu (*) đưa ra sân bay, tôi nhìn qua khung kính những chiếc lá đầy màu sắc đang lìa cành. Lảo đảo. Khác với cách rơi tự nhiên, thong thả, nhẹ nhàng tự tại như khi trời yên, gió lặng.
Mưa tuy không lớn, nhưng những chiếc lá đang rơi như thể bị cuộc đời vùi dập. Trước khi trở về với hư vô. Khi xe dừng ở cột đèn đỏ, tôi chăm chăm nhìn vào một chiếc lá vẫn còn xanh đang rơi bên lề đừng, chưa chạm đất thì được gió thốc lên, rồi như bị những giọt nước mưa rơi trúng, nặng nề thêm, đột ngột rớt nhanh xuống đất.
Giờ nhớ lại cảnh ấy. Nghe hung tin, tôi giật mình đánh thót. Xương sống buốt lạnh. Chiếc lá còn xanh ấy là anh sao, Phùng Nguyễn?
Hơi ấm từ bàn tay anh như còn đọng đây mà.

Xin thắp một nén nhang tiễn anh về nơi cuối trời….
Và cầu nguyện cho linh hồn anh ra đi thanh thản, Phùng Nguyễn ơi!

Sài Gòn 18/11/2015

(*)http://phamcaohoang.blogspot.com/2015/11/2102-tho-nguyen-minh-nuu-tan-mua-le-hoi.html

 

1

Phùng Nguyễn – Trương Văn Dân

Sach

Read Full Post »

Chi tiết tranh James Ensor

Sự ngụy biện của những chiếc mặt nạ

 

Chứng sợ hãi đã lây lan toàn thành phố. Có rất nhiều kẻ gieo rắc phủ khắp các ngóc ngách từ làng xã lên đến những thành phố hoa lệ. Đã có rất nhiều kẻ bỏ nhà lên núi trốn nhưng cũng không thoát khỏi cảm giác ấy. Chúng kiểm soát rất gắt gao. Người ta có thể không sợ chết mà chỉ sợ trước khi chết không nói được lời từ biệt với người thân. Tôi thì biết hắn là một kẻ rất sợ, nỗi sợ thường bám trên mười đầu ngón tay của hắn, hắn thường run run khi viết, hắn đã rất can đảm khi lựa chọn nghiệp viết lách làm mưu sinh. Bên cạnh hắn còn có vợ và con gái, có lẽ điều đó đã làm hắn sợ hơn. Hình như hắn đang tự bào mòn từng lời nói. Tôi có gặp hắn mấy lần. Lần cuối, tôi thấy hắn tự bỏ cái mặt nạ ra và thú nhận, những lời nói bằng máu. Bạn tôi nói: ” nhưng trên gương mặt hắn vẫn là lớp da khá chắc chắn”. Ừ, chắc chắn như thế.Tôi biết chắc đó là cái mặt nạ mà hắn chưa thể gỡ ra. Hắn tự đày đọa mình với sự giả dối trong đôi mắt. Đôi mắt hắn đang lướt nhanh trên bàn phím và gõ gõ. Cái vẻ trầm uất mà tôi thường đọc ở điều hắn viết đang bò như những con rắn độc. Chẳng có một ước nguyện từ ai để hắn biện minh cho những lời nói suông ngọt bằng máu mà hắn đang thè lưỡi ra để liếm.
– Có phải con đang phạm phải sai lầm? – lời của người chú thân tình của hắn hỏi thăm.
Hắn không trả lời thẳng, hắn nói: “con đang khóc đây chú ơi” – ở đầu dây bên kia. Rồi im bặt, mọi thứ.
Một tuần sau hắn viết thư, một bức thư bằng những cơn mưa máu, bàn tay máu, thân thể máu, hắn muốn nhuốm những dòng máu của sự giả dối lên tất cả người thân để đổ lỗi cho họ. Hắn muốn một sự an vị trên niềm cảm thông của người khác.
– Thật bất nhân, bạn tôi nói, hắn đổ tất cả điều đó chỉ vì ước nguyện cha và ông nội, thật là một điều kệch cỡm và thô bỉ hết sức!
Hắn thừa nhận, cả nhà hắn bị lừa, và mười mấy năm cả nhà hắn mắc chứng thần kinh. Haha, đó là một trong những lời ngụy biện thô vụng nhất mà tôi đọc. Hắn đau xót cho cha và ông nội, hắn đau cho chính hắn. Ai làm gì hắn đau? không phải hắn muốn phạm sai lầm để có khoái cảm khi bệt bệt màu lên những bức tranh bị cắt ngang. Những bức tranh bị cắt ngang hay bị buột bằng những sợi chỉ màu đỏ. Hắn treo cổ những bức tranh lủng lẳng giữa phòng rồi ngắm. Mỗi lần như vậy hắn thấy thứ khoái vị tiết ra ngòn ngọt từ đầu lưỡi. Hắn nuốt ực. Tôi gọi hắn: ” mày là thứ AQ thứ thiệt đó nhá”. AQ bây giờ ở Việt Nam cũng có đẳng cấp, có phân loại hẳn hoi. Và những cái mặt nạ hắn vẫn treo ở đầu giường để thật tiện tay cho những buổi sáng thức dậy. Đều đặn, ngày hai buổi đổ xe và lấy xe. Đều đặn như những bản đánh máy những con chữ đỏ chót lên mặt giấy và tiếng leng keng của tiếng thìa đánh bọt café – loại café gây nghiện sự nhàn rỗi.
Khi những lớp chữ nghĩa không đủ diễn tả hết điều hắn huyễn tưởng về gương mặt của mình, hắn đã bắt đầu tập dùng cọ màu để vẽ. Những bức tranh, những mảnh ghép của gương mặt, tay, chân…đã bị cắt lìa, bị trói, bị nhuốm màu máu đỏ và chảy dài trên một dòng sông máu hoặc hun hút tong một thung lũng máu. Những nét vẽ thô vụng bắt đầu nghuệch ngoạc, chúng đi xuyên qua đêm cùng với hắn.
Bạn có tin hắn bị mắc chứng tâm thần gì đó không?. Tôi thì ngờ ngợ. Hắn mắc cái điều lập dị ấy với nỗi đau của Théo để lớn dần lên. Giống như khi bạn tin vào một cái gì đó, bạn hành động như thể nó là sự thật, làm cho nó khó khăn để chứng minh cho một cái gì khác. Niềm tin của bạn mạnh mẽ sẽ tác động tích cực đến sự diễn giải về các sự kiện đã bất ngờ ập tới trong cuộc đời, chúng là bộ lọc định hướng cho bạn hành động như thế nào trong những ngày tới. Hôm nay hắn bị ai đó gỡ chiếc mặt nạ khi đang ngồi nhâm nhi café. Vị café lúc này đắng nghét, mặc dù thường ngày hắn thích vị không đường. Hắn còn nhiều chiếc mặt nạ khác đang để trên đầu giường cơ mà, chiếc mặt nạ bằng da người có lẽ là hữu dụng nhất, chúng cũng có cảm xúc, thật đó bạn ạ.
Hắn tiếp tục vẽ xuyên đêm, suốt cả tháng trời. Hắn cảm thấy những bức tranh nhuốm màu đỏ của những dòng máu sung sức của tấm thân mà cha mẹ ban cho hắn. Hắn ngỡ mình như Salvador Dali (nổi tiếng với những hình ảnh ấn tượng và kỳ lạ trong các tác phẩm siêu thực). Tôi nhớ người họa sĩ thiên tài này đã chú thích về bức họa lừng danh của mình: “tình yêu của tôi với tất cả mọi thứ có ánh vàng, sự cực đoan, niềm đam mê của tôi với sự sang trọng và quần áo phương Đông”. Hắn cũng thích đắm mình trong hành vi bất thường và kỳ vĩ. Có khi hắn chụp hình con gái đứng bên bức tranh có hình bàn chân người vượn bấu víu sự sống một cách man dại, có khi hắn mặc chiếc áo khoác đỏ trùm kín đầu vào ban đêm rồi chụp ảnh với cái hình mới vẽ về con chim nhạn bị trúng mảnh gương rồi rơi, có khi hắn úp mặt vào bàn tay để che cả nhân gian. Đó là những avata của hắn mà tôi thấy.
Hình như hắn không bao giờ cho phép mình xuất hiện trong những buổi hội hè vui chơi như những đám thanh niên trẻ.
Bùm, bùm, xèng…tiếng ghi ta điện, tiếng hò dô, tiếng cười khoái trá…Vô vị! một lũ vô vị. Hắn nghĩ: “ đám trẻ ấy rồi cũng sinh ra chỉ để chết, quan trọng là những gì khi mình níu kéo được sự chết kìa”. Hắn tập vẽ chữ ký của mình rất điêu luyện. Khi thì như dãi mây mềm, khi thì như một bông hồng lửa. Chữ kí của hắn thường đặt khiêm tốn ở một góc bức tranh, nhưng hình như tôi thấy từ đó hắn đã ngước nhìn lên và thiêu cháy cả bức tranh vậy, thiêu cháy tất cả, bột màu, mùi vị của từng lớp acrylic và mùi của vải bố, mùi giấy. Chúng đang bốc lên nồng nặc. Hắn cảm nhận được khoái vị của sự cháy, hắn thấy mình đang cháy dữ dội.
Mỗi sáng sớm mai, tôi đã thấy hắn ngồi ở quán café trước cơ quan, rất đúng giờ.
Một ngày, hắn hỏi tôi (hay chính hắn đang muốn chỉ hướng cho tôi) về một truyện có cấu trúc mà hắn hay viết, tôi nghĩ, đó là cách kiểu rập khuôn theo kiểu sáng tạo của nhiều người đi trước, hắn nói rằng lý thuyết luôn phải có trước trong mỗi hư cấu, trong mỗi sự tưởng tượng của con người. Tôi mở link, ấn tượng nhất là một dòng sông đen ngòm trong “ Chết ”, khi cái chết cũng có lời hẹn trước thì liệu người ta có thờ ơ với một cái mỉm cười của ai đó thoáng qua?. Mọi cái chết như là lời hứa trút ra từ dòng máu ào ạt của những người thân: cha, mẹ, cô, trò, bạn bè…nhường nhau đi trước. Tôi rùng mình, mọi suy nghĩ méo mó. Cảm giác bất an chìm ngập cả dòng sông hiền từ phẳng lặng. Hắn khiến tôi từng khâm phục, khâm phục bởi tôi đã quá sợ hãi. Tôi đã từng gá nỗi sợ hãi của mình vào những dòng lý thuyết sáo rỗng: “ hãy vượt qua những ranh giới ngầm, bạn hãy là một con kỳ nhông biến màu giữa sa mạc”. Tôi đã viết những dòng đánh lừa cảm xúc như vậy mà không một chút mảy may. Hắn nói với tôi về sự phản tỉnh, tư tưởng, triết học, phân tâm, ngôn ngữ điện ảnh, nghệ thuật trình diễn đương đại…, chúng ta muốn lột trần hiện thực đau đớn này bằng chính những điều tưởng như không thực, siêu hư cấu làm được điều đó, càng ảo hóa và phi lí thì càng chạm sâu vào hiện thực, chứ nếu chỉ mô tả, miêu tả kể lể thì sẽ trình ra những hiện thực thiếu sức sống, ẻo lả.
Có vài bức họa của hắn làm tôi kinh ngạc, mọi thứ như bị vỡ từ kỷ Tân sinh. Lớp băng hà bỗng vỡ toang. Chúng từ từ chảy, mọi sự chết bắt đầu ngọ nguậy. Những cây dương xỉ, những cây rong tảo, hay những loài thằn lằn bỗng nhiên sống lại và lấn chiếm mặt đất. Con người đã tự hủy hoại mình bởi những cái nhìn quỷ quyệt, man trá. Nhưng tôi tin điều đó thật đúng, có thể hắn đã tiên tri trước những điều mà chúng ta chưa thấy. Mọi sự sống rồi sẽ bắt đầu từ màu rêu đậm hoen rỉ như bức thành nhà Hồ – màu mà tôi thấy hàng ngày trên những bức tranh của hắn. Chúng kiên cố như những lớp hóa thạch đã chốt lại cái ranh giới của một kỷ đã bị vùi lấp, và lòng tham, sự bạo tàn của con người không thể vượt lên được.
Hôm qua tôi nghe tin hắn mắc chứng sợ hãi, hắn sợ ở một mình trong phòng. Hắn đã bị người ta lấy mất những chiếc mặt nạ để trên đầu giường. Hắn nghĩ là do lũ trẻ con hiếu kỳ thôi. Hắn hét toáng lên khi nhìn lên trần nhà đầy những con mắt trên mái tôn bị thủng lỗ. Ánh sáng dọi vào, hắn nheo mắt và sau đó nhắm tít lại, hỏi: “ chúng mày muốn gì? chúng mày muốn biết sự thật ư? Chúng có màu đỏ ấy, đỏ loét, đỏ từng khúc xương, từng lóng tay, biết chưa, biết rồi thì cút hết cả đi!”. Vợ hắn hoảng, đứa con gái khóc thét lên khi vừa về đến nhà. Giữa trưa trời thật nóng, cái nóng ở trong nhà hắn như lò luyện kim đan. Hắn thấy người ta đang luyện hắn thành một thứ cao gì đấy. Hắn tự nguyện. Hắn xin một ân huệ là hãy gửi một ít cao ấy về với người thân của hắn. Đêm ấy hắn mơ về cánh đồng có rất nhiều mạ non trên những ô ruộng đầy nước mát, mẹ hắn đang phe phẩy cái nón rách bươm bên khuôn mặt đầy mồ hôi nhễ nhại. Ông nội và cha đang ngồi uống nước chè xanh với kẹo vừng. Hy vọng người ta sẽ gửi quà của hắn ra trước mùa giáp hạt.
*
Bệnh viện màu trắng lóa, hắn lại chói mắt. Vị bác sĩ nói:
– Cậu không phải là xác chết, biết chưa
Hắn cười, vẻ mặt thản nhiên:
– Vậy thì xác chết có bị chảy máu?
– Tất nhiên là không, với xác chết máu đã đông không chảy được – ông ta từ tốn trả lời.
Hắn lập tức đưa ngón trỏ lên miệng cắn. Hắn nếm được vị ngọt ngọt và mằn mặn.
– Tôi không bị tâm thần, hiểu chưa! Xác chết vẫn chảy máu, ông xem.
Hắn đưa ngón tay đầy máu trước mặt vị bác sĩ. Vị bác sĩ giật phắc mình, người chung quanh chạy vào, tất cả hoảng loạn.
Hắn khóc:
– Nhưng mà xác chết cũng chảy máu, các người không thấy đó thôi. Tôi đã chết, sự thật là như vậy mà.
Người ta chụp hai cánh tay của hắn và dẫn đi về phía dãy dành cho bệnh nhân bị rối loạn tâm thần nặng.

 

Nguyễn Hoàng Anh Thư

Read Full Post »

GIẢI NOBEL VĂN HỌC 2015

Nobel-Prize-for-Literature

Cây bút ‘can đảm’ được giải Nobel 2015

Nguồn BBC

Nhà văn, nhà báo người Belarus, Svetlana Alexievich, đã giành giải Nobel Văn học 2015.
Ủy ban trao giải nói những gì bà viết “thể hiện lòng can đảm và đau khổ của thời đại chúng ta”.
Giải thưởng trị giá khoảng 691 nghìn bảng Anh.
Alexievich là cây bút chính trị, phê phán chính phủ nước bà.
Một số tác phẩm của bà được dịch sang tiếng Anh như Voices From Chernobyl, lịch sử về thảm họa hạt nhân, và Boys In Zink, viết về cuộc chiến của Liên Xô tại Afghanistan.
Nhưng tại chính Belarus thì sách của bà, viết bằng tiếng Nga không được xuất bản.
Bà từng gọi Tổng thống Belarus, ông Alexander Lukashenko là “kẻ kiểm duyệt lạnh tanh”, theo tờ Telegraph ở Anh.
Bà sinh năm 1948 tại thị trấn Ivano-Frankivsk của Ukraine, có bố người Belarus và mẹ người Ukraine.
Gia đình sang sống ở Belarus sau khi bố rời quân đội, và bà học báo chí tại Đại học Minsk từ 1967 đến 1972.
Bà từng phải sống lưu vong 10 năm từ năm 2000, ở Ý, Pháp, Đức, Thuỵ Điển và một số nơi khác trước khi quay trở về trú ngụ tại Minsk.

 

 

svetlana_books
Sách đã dịch ra tiếng Đức của bà Svetlana Alexievich

Tác phẩm đầu tay của bà (The Unwomanly Face of the War), in năm 1985, dựa trên phỏng vấn với hàng trăm phụ nữ từng tham gia Thế chiến Hai.
Trong cuốn sách về cuộc chiến của Liên Xô ở Afghanistan, bà muốn “mô tả lại cuộc đấu súng giữa Đông và Tây, vừa tàn khốc, vừa vô vọng”.
Trên trang web riêng, bà viết:

 

abandonado_chernobyl_08
Tác phẩm của bà Alexievich viết về hậu quả của vụ Chernobyl

 

“Tôi không chỉ ghi nhận lại các sự kiện khô khan của lịch sử. Tôi viết về lịch sử của cảm xúc con người. Những gì con người nghĩ, hiểu và nhớ về những sự kiện. Những gì họ tin vào, hay đã đặt sự tin cậy sai chỗ, những ảo tưởng, hy vọng và cả những nỗi sợ mà họ trải nghiệm.”

Read Full Post »

Titled

 

Dạo nầy tôi thấy mình hơi lạ, vô tâm và chểnh mảng với mọi thứ quanh mình, ngủ tới 10 giờ sáng như một cô công chúa nhỏ được cưng chìu. Tôi ghét tiếng tích tắc của đồng hồ và tôi đã tháo pin ra. Tôi uống sữa trong tủ lạnh hoặc là một thứ nước giải khát nào đó mỗi khi tôi thức dậy, tôi nốc đến no bụng rồi lười biếng đi đánh răng.

Vừa đánh răng tôi vừa nhìn mình trong tấm kiếng, tóc tôi được quấn vội trong một cái cột tóc, tuy vậy vẫn bù xù đến phát chán, sau đó tôi rửa mặt và cổ, thấy hài lòng vì sự mát mẻ của một đầu ngày không có gì bận rộn.

Sự im lặng không có tiếng người của căn nhà làm tôi thấy khoái trá, tôi nghe tiếng chân mình lê sột soạt trên nền gạch, tôi nghe tiếng hai con chim yến phụng gù nhau trong lồng, phía trái mái hiên, và có lẽ lá mới của cây mai già cạnh bàn thờ ông thiêng cũng đang lách tách chào đời. Vài cái lá non len lén lú ra mới dễ thương làm sao. Và mấy cái nụ hoa lan cũng đang ửng tím dưới sắc vàng của ngày. Mọi thứ gì mới mẻ của tạo hóa kỳ diệu cũng khiến tôi nao lòng, một sự mềm yếu không biết là do đâu.

Sáng nay tôi biết mình đang làm chủ thời gian dù tôi biết ngày vẫn đang trôi đi không có gì cưỡng lại được, dù tiếng đồng hồ không còn tích tắc nhưng mặt trời vẫn đang nghiêng bóng về phía tây, nó cứ nhích dần nhích dần một cách đáng ghét. Và dù tạo hóa thiệt sự là ngon lành đến đâu đi nữa trong cái sự kỳ bí của nó thì trong vô thức tôi vẫn muốn chống lại. Tôi muốn một sự vĩnh hằng của ngưng đọng. Để không thấy mình cứ lập đi lập lại những nhu cầu đáng ghét của hằng ngày, hoặc là những bài tiết không thể kềm chế của cơ thể, và đủ mọi thứ phiền toái khác của cái gọi là đời sống, sao mà nó khủng khiếp thế?

Người đàn ông có đôi mắt màu tro núp dưới đôi chân mày xếch. Mái tóc anh ta rậm và phủ đầy ót, bờ môi bậm lại hơi cong nhưng khi cười chào tôi thì cặp môi banh ra hết cỡ và ngây thơ thiệt tình đến khó mà không gật đầu chào lại. Chúng tôi cùng ngồi trên một chiếc ghế đá trong công viên, ngày có lẽ đã nghiêng về chiều vì tôi thấy nắng đã chếch choáng ngã những cái bóng cây mát rượi về một phía xa xa trên con đường rộng rãi của công viên và cỏ của công viên.

“Ở đây thanh bình quá,” anh ta nói.

“Không phải ngày nào cũng như ngày nào, ý tôi nói thỉnh thoảng tôi ra đây để thở,” anh ta nói tiếp.

“Thỉnh thoảng tôi cũng ra đây,” tôi nói, khi ngả ngửa đầu ra phía sau nhìn lên đám lá xanh dờn phía trên cao.

“Ở đây dẫu sao cũng thanh bình quá chị nhỉ,” anh ta lim dim đôi mắt có vẻ đang thụ hưởng một chiều an bình .

Dưới chân tôi là một đống lỉnh kỉnh túi xốp đựng lỉnh kỉnh mọi thứ phụ tùng cho đời sống của một con người. Tôi không hiểu sao những thứ đó lại nhiều đến thế. Ông trời tạo ra vạn vật cùng mọi thứ nhu cầu để rồi hành xác tất cả. Tôi khổ sở nhất là phải mang cái áo vú chật chội nóng bức và đôi giày cao gót khi ra ngoài. Tôi khổ sở khi ra chợ tìm mua thức ăn cho vài ngày trong tuần. Đi dự một tiệc cưới ư? Sao lại cứ phải đứng chọn mãi một bộ áo váy, một bộ complé nào đó cho phù hợp với đồ trang sức và tỏ ra không bất lịch sự với chủ nhân khi quá xuề xòa?

Lâu ngày không ra khỏi nhà mà cũng có thể là lâu năm không tiếp xúc với ai, tôi lúng túng khi người đàn ông lịch sự nhã nhặn mời tôi cùng vào cái quán nho nhỏ cạnh công viên uống nước. Thời tiết khô ráo và âm ỉ nóng bức dù chiều đã về từ lâu khiến tôi cũng cảm thấy khó từ chối một ly nước cam vắt mà mới nghĩ tới đã thấy thèm. Cũng may con đường đang phủ đầy gió khi tôi đứng lên trao đống túi xốp vào tay người đàn ông lạ lẫm. Ít nhất thì gió của ông trời khó ưa cũng đang thổi mát rượi và làm tôi cao hứng.

Chúng tôi cùng hững hờ khuấy ly nước uống, cùng nhìn những bóng đèn nhỏ xíu xanh đỏ nhấp nháy chạy hờ trên những tàng cây, điều đó làm cho tôi thấy vui mắt . Rồi chúng tôi chia tay, sau khi chúc nhau ngủ ngon. Không quay đầu lại, tôi rồ máy xe chạy thẳng, nhưng lưng tôi cứ nhồn nhột, có lẽ anh ta đang nhìn theo?

Tôi không phải là người khoái mặc mãi màu áo đen góa phụ hay cứ quấn mãi vầng khăn tang trắng trên mái đầu mình, dù thiệt ra thì lòng tôi luôn nặng trĩu một bình tro cốt của quá khứ. Những hoài niệm cứ tìm về như những bóng ma lang thang trong ngôi nhà kín cửa. Tôi thích tắt đèn nằm trong bóng tối để lắng nghe tiếng của đêm sâu thoi thóp trở giấc khăp mọi nơi. Tiếng chân tôi luôn lê lệt xệt xuống bếp tìm cái tủ lạnh lấy nước uống, tiếng tôi thở dài bên gối cũng khiến tôi giật mình trong cái cô tịch của đêm sâu. Người ta nói người hiền chết thì lên thiên đàng chứ không đầu thai, tôi hi vọng anh ấy đang trồng hoa trên thiên đàng, và trong lúc chờ hoa lớn lên và nở, có lẽ anh ấy cũng đang chờ đợi tôi. Tôi hi vọng anh sẽ không đầu thai làm người nữa làm gì, cũng không nên trở lại dương gian trong một hình hài nào khác, như là những bông hoa hay cây cỏ nhỏ nhoi nhất, hay là loài côn trùng dễ thương nhất cũng đừng nên trở lại trần gian nầy. Mỗi khi thắp nhang cho anh tôi thường nhắc anh điều đó.

Khoảng thời gian đầu tiên sau khi anh mất tôi thường đóng cửa phòng và hồi tưởng về những ngày bên nhau. Được ở bên nhau đã là một hạnh phúc, nhưng một quãng thời gian dài quá nhiều khốn đốn khiến cho dục cảm thông thường cũng bị đè nén, khiến cho tôi thường xoãi tay chân ngủ quên với nhiều ác mộng cho một ngày mai đầy âu lo, nhưng anh thì không như tôi, buổi đêm tôi thường có cảm giác anh luôn cố len vào cơ thể tôi cái vật cứng của anh, tràn ngập và đầy yêu thương thường khiến cho tôi mỉm cười trong giấc ngủ. Và tôi luôn thích thú vì biết ơn anh. Hạnh phúc lứa đôi thường thấm thía vào nửa đêm, khi mà trong đầu không có gì vướng bận, khi mà anh thường âu yếm hôn lên má tôi hoặc kéo tôi sát khít vào lòng khiến cho tôi luôn cảm nhận được từ hơi ấm của anh một sự thương yêu nồng thắm nhất.

Bốn năm trời đã trôi qua nhốt tôi trong một không gian hẹp của căn phòng với sự trầm lặng miên man của thời gian mà tôi đang tìm cách trốn tránh nó. Tôi thấy mặt trời chói chang những buổi tôi dậy trễ. Tôi hài lòng khi chiều dần tắt để đêm về tôi lại được một mình nghĩ tới anh và không phải dính líu gì đến cái sự ăn, mặc, vệ sinh, đi đứng, giao tiếp với xung quanh. Có điều hàng tháng tôi vẫn phải gặp vị bác sĩ tâm thần để sửa chữa lại những cảm xúc bất chợt của mình. Đối với con người nầy tôi thường thấy dễ chịu vì ông ta luôn đồng cảm và luôn mỉm cười trước những lời nhăng cuội của tôi. Tôi thường nói về những ám ảnh của thời cuộc đã lâu, đã làm nên căn bệnh của tôi, hoặc nhiều khi tôi kể những ám ảnh về anh.
Trong đó, tôi nhớ lần cuối cùng, trước khi qua đời vài ngày sau , tôi bắt gặp anh đứng im lìm, thở mệt nhọc, và nhìn mãi lên vòm cây cao rậm mát đầy gió của khoảng sân bệnh viện, tôi nhói lòng khi biết anh đang cố nhìn lên mây trời, đang cố hít vào cái phổi hư hao của anh mớ không khí đầy oxy, tôi biết anh đang thèm khát nhiều thứ, hối hận nhiều thứ, và chống chọi với nhiều thứ. Hai tay anh run run bấu chặt vào song cửa sổ. Và anh đứng đó, nghiêng ngả như một cái cây còn non trẻ bị ngọn gió đời quất sụm, không gì có thể chống đỡ nữa.

Tuần nào đi siêu thị tôi cũng đi vào khoảng xế để được la cà chọn lựa và khi về tôi ghé vô công viên thì đã chiều. Tôi gặp lại người đàn ông đó và cũng có chuyện trò chút đỉnh. Tôi ngạc nhiên khi nghe lại cái giọng miền trung của anh ta. Người nầy nói năng chậm rãi và khi cười thì giống như trẻ con .

“Hôm trước chị về tôi cứ nhìn theo mãi.”

“Hèn chi tôi thấy nhột nhột sau lưng.”

“ Thật à?” anh ta ngạc nhiên và cười to.

“ Tại sao anh nhìn theo tôi?”

“Không biết, có lẽ để ghi nhớ.”

“Nhớ gì?”

“Tôi cũng không biết”

Tôi thích gió nơi công viên. Nơi đây chúng thong dong thổi và đuổi nhau. Những tán cây cao vút xanh um cứ đảo qua đảo lại ngó rất vui mắt. Tôi nói với người đàn ông về ý nghĩ nầy và anh ta ngước lên nhìn rồi cười. Tôi nói tôi thích làm gió vì gió là tự do nhất, mát mẻ dịu dàng mà cũng cuồng nộ nhất.

Thỉnh thoảng tôi nhìn kỹ người đàn ông, lắng nghe giọng nói của anh ta, tôi nghe giọng của anh ta chứ không hề nghe anh ta nói gì. Cũng may là người nầy không có gì đáng chán nên tôi có thể trò chuyện loanh quanh về vài đề tài mà tôi và anh ta cùng thích như âm nhạc và hội họa chẳng hạn. Rồi phân tích một bài hát nào đó hoặc một nhạc sĩ nào đó. Câu chuyện cứ thế mà lan man cho đến lúc đèn đường bật sáng.

Chúng tôi ngồi lút vào sâu trong công viên để tránh cái không khí ô tạp của bên ngoài. Sự lọt thỏm nầy đem lại cho tôi một thích thú khác hẳn sự đơn độc hàng ngày của tôi ở nhà. Rồi tôi có một ý nghĩ ngông cuồng là muốn nằm ngủ hoài, ngủ ngon trên đùi anh ta, nếu có thể, với tàng lá trên cao đầy gió và bóng tối…

 

Âu thị phục an
2012

 

 

Read Full Post »

HẢI HẠC

1b

Hải Hạc

Loài Hải Hạc được sinh ra sau một cơn đại hồng thủy. Chúng là những đứa con không hôn thú. Chúng sinh ra từ nỗi sợ hãi của mẹ Âu Cơ. Chúng bay ra từ ánh mắt thất thần của nàng – người phụ nữ xinh đẹp kiều diễm đã bị con rồng biển chín đầu phương Bắc dùng sức mạnh mà cưỡng bức. Đôi mắt đẹp của nàng lúc này đã biến thành một cái hồ, người ta gọi nó là Hồ Ma. Một cái hồ màu đỏ chết chóc nằm giữa thung lũng sâu, bao quanh là những dãy núi đen thẫm. Theo truyền thuyết, người ta nói rằng, Hồ Ma mang lại điều ác mộng cho muôn loài, nếu sinh vật nào nhìn trực diện vào nó thì ngay lập tức bị chúng biến những bộ hài cốt màu trắng bạch. Nếu ai đó lỡ cơn khát uống nhầm giọt nước mắt của Hồ Ma sẽ chỉ còn vài phút để sống, sau đó vĩnh viễn trút làn hơi tàn mà chưa kịp thấy đau đớn. Nhiều ý niệm khủng khiếp bắt đầu hình thành từ cái màu đỏ chết chóc của Hồ Ma ấy. Người ta muốn bỏ chạy mà không được, đành phải tự tử. Những thây xác vừa trút làn hơi cuối vội biến thành những hài cốt cứng như đá vôi, quắt queo cả lại trong chớp mắt. Người dân nơi đây nói với nhau rằng: “Hồ Ma đã bị một lời nguyền của loài quỹ dữ”, nếu không làm thế thì những đứa con Hải Hạc của nàng sẽ rời xa, vĩnh viễn biến mất khỏi thế giới này.
Hồ Ma là khắc tinh của muôn loài. Cứ trời chạng vạng thì nó phát ra một thứ ánh sáng ma quái, xanh nhợt nhạt cả núi rừng, mặt hồ máu thẫm đen. Các loài sinh vật bị nhòa bởi thứ ánh sáng ma quái ấy nên không tìm được lối về. Chúng vừa dừng chân lại thì ngay lập tức bị bất động và hóa đá. Những bức tượng sống của chúng la liệt khắp nơi. Tượng khi chúng vừa chợp mắt ngủ, khi chúng vừa há miệng uống nước, tượng chúng đang rỉa cánh, tượng bà mẹ đang mớm cho đứa con còn đỏ hỏn, tượng khi chúng còn nhìn nhau bằng ánh mắt yêu thương….Tất cả co rút lại. Méo mó. Hãi hùng. Quái dị đến mức không làm người ta sợ hãi mà làm người ta cứ nhìn trân trối cho đến chết.

2b

Những đứa con Hải Hạc của nàng hàng ngày vẫn làm tổ trên những đụn cát chứa đầy những chước quỷ ác độc. Nàng đang cố bảo vệ chúng. Thời tiết ngày càng khô và khắc nghiệt. Hải Hạc luôn khát, khát rất nhanh, cơ thể luôn bị mất nước. Hàng ngày chúng phải sà xuống uống nước mắt của mẹ, chỉ trong chớp mắt, chúng biến thành những bức tượng hài nhi thật đau thương. Nàng khóc thật nhiều. Nước mắt nàng rơi xuống những bức tượng bằng xương khô. Chúng rã cả ra, tan rất nhanh trong đất. Hôm sau, lúc bình minh vừa dậy, lũ Hải Hạc đã lên đường đi kiếm ăn. Chúng bay đi rất xa, cả mấy trăm km về hướng Tây địa cầu. Chúng bay thành từng đàn, loài này rất thương yêu nhau, không có con nào bị bỏ rơi lại trong đói khát.
Chúng bay lên, từ trên cao, chúng nhìn thấy ở bên dưới: những hình hài bất động của đồng loại đang phơi trắng lóa quanh miệng hồ. Đường bờ vòng quanh, không có lối thoát nào cả. Chúng nhìn thẳng vào mắt của mẹ: “con mắt ấy không còn con ngươi”. Tử huyệt của mẹ đang nằm gọn trong bàn tay của con quái thú phương Bắc ấy. Chúng bất lực, khẩn cầu. Bộ lông của chúng ngày càng đỏ hồng rực rỡ, nhất là khi chúng xòe đôi cánh ra và cất lên những giai điệu mang bóng dáng của mặt trời trầm tử lúc hoàng hôn. Màu đỏ hồng của chúng tựa như loài san hô tuyệt vời từ đại dương. Khi mặt trời vừa tắt hẳn thì màu san hô đỏ ấy bị hòa tan theo những dòng cuộn trào của thủy triều đỏ – cơn cuồng thú của con rồng ác độc. Những dòng máu chảy cuộn trào dâng cao thành những cái cột lớn. Hồ Ma lúc này một màu đen thẫm. Những hình hài lại tiếp tục gieo mình xuống hồ và ở lại ở đó vĩnh viễn. Những bộ xương co rút, những bức tượng méo mó kì dị lại mọc lên. Tất cả chúng không nhớ gì về nỗi đau đớn trước khi đi vào cõi chết. Người ta bảo: “ cái chết ở đây êm ái nhất hành tinh, đó là một thiên đường của sự chết chóc”. Dưới đáy hồ vẫn cuồn cuộn những lời tung hô hả hê mừng cho những hình hài hóa thạch mới. Không một tiếng hú man dại nào để báo hiệu cho sự chết. Mọi thứ nơi đây đều tuyệt đối diễn ra trong yên lặng, kể cả tiếng rên rỉ vì yêu thương.

3a

Loài Hải Hạc vẫn tiếp tục sinh sôi trên những đụn cát nóng bỏng chết chóc. Chúng tiếp tục kiếm ăn, chúng có thể ăn bất cứ cái gì có thể: tảo đỏ, xác chết của loài chuột dơi, đại bàng , bồ câu hay là loài mèo chó từng rất thân thiện với chúng. Chúng vẫn uống nước mắt của mẹ ở Hồ Ma và hóa thành những bức tượng đài vĩnh cửu màu trắng bạch giữa mặt hồ màu đỏ.

Hải Hạc
17.4.2015

Read Full Post »

emdem

giấc mơ xưa, một thời thiếu nữ,
buồn trôi
Tuổi thơ xưa đã qua,
(Tóc gió thôi bay )

 

 

Hoàng Long Hải
Tôi vẫn thường nói với các bạn rằng tôi và anh ấy là anh em. Việc dễ hiểu thôi. Anh ấy là em anh rể tôi, còn tôi thì em chị tôi. Tôi và anh ấy cả hai đều gọi hai người ấy là anh chị, như vậy chúng tôi là anh em. Có đứa bạn thì tin lời tôi, có đứa lắc đầu không tin. Mỗi khi thấy tôi và anh ấy dắt tay nhau đi phố, chúng nói là “bồ”. Tôi không tin vậy. Tôi và anh ấy không phải là “bồ” mà chính là anh em.
Quả thật tôi cần một người anh trai. Mẹ tôi chỉ sinh có hai người con gái: Chị tôi và tôi. Chị tôi đã có chồng, anh rể tôi là của chị ấy. Còn tôi, tôi còn nhỏ, chưa lấy chồng, nhưng tôi thấy trong nhà cũng như cuộc sống riêng tôi, trống vắng lắm. Tôi cần một người anh trai, một người anh trai mà tôi có thể nói với anh tôi những chuyện học hành, vui buồn ở lớp, ở trường, chuyện chơi đùa với bạn bè, chuyện ăn, chuyện mặc, có khi có những bài học, bài toán, tôi cần được giảng lại, để tôi hỏi những cái khó, những cái tôi chưa hiểu và còn nhiều chuyện nữa, như để có thể đi chơi, đi phố với anh trai. Có biết bao nhiêu điều cần có đấy, thế mà mẹ tôi lại chẳng đẻ ra cho tôi một người anh trai. Tôi thèm một người anh trai, để bù đắp vào những điều thiếu vắng mà tôi đã nói. Quả thật, nhiều khi thấy bạn tôi đi chơi, đi phố, đi ciné với anh trai, tôi thích lắm. Tôi thèm được như bạn tôi, thèm một người anh trai. Đó chính là cái thật, cái sâu kín trong lòng tôi vậy.
Anh ấy là em của anh rể tôi, học trên tôi mấy lớp, bên trường Quốc Học, còn tôi học năm đầu tiên, lớp Đệ Thất trường Đồng Khánh. Hai ngôi trường nầy cũng như hai anh em. Anh ấy không phải người Huế, từ xa đến Huế trọ học. Thường cuối tuần, anh đến thăm mẹ tôi và chuyện trò chơi với tôi.
Lúc ấy, tôi cũng không ở nhà mẹ tôi mà ở nhà một người chú, gần bến xe Phú-Văn-Lâu. Chú tôi có hai đứa con gái nhỏ, đang học lớp Ba và lớp Tư. Mỗi tối, tôi biểu chúng học bài, tôi dò bài. Thuộc rồi, tôi cho chúng đi ngủ. Còn chú tôi thì cứ mỗi tối đọc cho tôi viết một bài dictée ngắn, cở năm bảy hàng. Rồi tôi dịch, chú ấy sửa, và chỉ cho tôi những chỗ sai, về ngữ vựng cũng như văn phạm vì tôi chọn Pháp Văn làm sinh ngữ 1 và Anh Văn làm sinh ngữ 2. Tôi cần học Pháp Văn nhiều hơn. Vã lại, chú tôi là những người đi học hồi còn Pháp thuộc nên không biết gì về Anh Văn.
Tôi có xe đạp, nhưng tôi đi bộ đến trường. Từ nhà chú ở gần bến xe Phú Văn Lâu, tôi đi bộ băng qua vườn hoa bên bờ sông rồi xuống đò Thừa Phủ. Đò chèo qua bên kia sông, chỉ mấy bước là tới trường. Bọn học trò Đồng Khánh chúng tôi ưa đi bộ đến trường, tuy có nhiều đứa, như tôi vậy, có xe đạp. Tôi ở gần bến đò, đi bộ đã tiện. Có đứa ở trong thành nội, trên “thượng thành” phía trong cửa Thượng Tứ, hay gần cửa Đông Ba, hay quá phía trên cột cờ Ngọ Môn, chúng đều đi bộ hết. Bọn chúng tôi ở bên nầy sông, phải qua đò. Những đứa bạn ở đường Hàng Me, An Cựu, Phú Cam hay Ga Huế, cũng đều đi bộ. Chúng đi dọc theo đường Lê Lợi –đường dọc theo bờ sông Hương. Tiếng giày, tiếng guốc lóc cóc, tiếng chuyện trò, tiếng gọi, tiếng cười làm cho tôi thấy vui vô…
Chiều thứ sáu, tôi về nhà tôi ở gần hồ Tịnh Tâm vì ngày hôm sau, thứ bảy, khỏi đi học, tôi và các em con chú tôi khỏi học bài buổi tối. Tôi ăn cơm với mẹ, vui chơi ở nhà, và chờ đợi… Ngày hôm sau, thứ bảy, thế nào anh ấy cũng đến thăm tôi.
Khi anh ấy đến thì qua một tuần, tôi có biết bao nhiêu điều để hỏi, để chuyện trò với anh ấy. Nhiều chuyện thật vui, ngộ nghĩnh, tôi cứ giữ trong lòng để chờ cuối tuần, kể cho anh ấy nghe và chúng tôi cười khúc khích với nhau.
Có một người anh trai thật thú vị. Tôi kể cho anh ấy tất cả mọi chuyện, kể cả những chuyện rất riêng tư. Có một lần, chiều Chủ Nhật, tôi không ra nhà chú tôi như thường lệ. Anh ấy hơi ngạc nhiên, hỏi. Tôi trả lời, rất tỉnh, như các bạn tôi trả lời cho anh của chúng vậy:
– “Em bị “to be”.
Nghe tôi nói, anh ấy ngạc nhiên, nhưng một lúc sau, anh ấy hiểu ra liền. Như tôi thường nghĩ, anh ấy thông minh lắm…
Không biết từ lúc nào, có lẽ là từ các lớp đàn chị, trước tôi, từ khi họ học Anh-Văn. Trong tiếng Anh, “to be” có nghĩa là “bị”, là thụ động từ. Vì vậy, cứ mỗi tháng, khi chúng tôi bị chuyện ấy, thì chúng tôi gọi là “to be”. Đó là một thứ tiếng lóng của bọn học trò Đồng Khánh, từ khi họ bắt đầu học tiếng Anh. Tôi cũng như các bạn, dùng động từ ấy để chỉ chuyện ấy. Và tôi cũng dùng chữ ấy với anh ấy một cách rất tự nhiên, như các bạn tôi nói với anh của họ vậy, để tránh một danh từ, dù bằng tiếng Hán-Việt, nhưng nghe vẫn không thấy hay.
Vì mẹ tôi có một ngôi hàng nhỏ, nên cuối tuần, tôi vẫn thường đi phố để mua hàng cho mẹ bán. Những món hàng rất thông thường như dầu Nhị Thiên Đường, thuốc Aspirine, nút, kim chỉ, v.v…
Những ngày đi phố, tôi không mặc áo trắng đi học mà thường mặc áo màu. Tôi thích mặc màu tím, nhất là màu tím da-lan, và màu vàng hoàng yến. Đi bên anh, có khi cầm tay nhau, tôi thấy vui, ấm áp, như được che chở.
Chúng tôi đạp xe đạp từ phía hồ Tịnh Tâm, ra cửa Ngăn rồi ra phố. Con đường Hộ Thành trong Thành Nội dài và đẹp, rợpbóng những cây nhãn. Hai chúng tôi đạp xe song song bên nhau, y như trong câu thơ của Vũ Hoàng Chương: “Hai xe cùng dong ruỗi, Hồn mơ về một phương.” (1) Riêng tôi, tôi vui vì đi chơi với anh tôi và tôi không mơ gì hết.
Một lần vào một cửa hàng, không thấy món hàng muốn mua, tôi nói với anh ấy qua cửa hàng bên cạnh. Anh ấy đi trước, tôi đi sau khá xa vì bận coi một món hàng khác. Qua đến nơi, không cần xem hàng, tôi nắm cánh tay anh ấy, kéo sát vào tôi rồi đi ra cửa. Anh ấy nhìn tôi nhưng không nói gì. Khi ra cửa, tôi nguýt mấy anh chàng đang đứng ở cửa một cái thật dài. Ra đến vĩa hè, tôi nói:
– “Anh biết tại sao em kéo anh đi ra ngay không?”
– “Không.” Anh ấy trả lời.
– “Tại vì.” Tôi nói, “mấy thằng đứng ngay cửa, thấy em đi vào, có đứa nói: “Mặt đẹp như vậy mà đi với cái thằng mặc cái áo dơ òm.” Xấu hay đẹp, sạch hay dơ, mắc gì chúng nó. Em nắm tay anh kéo cho thật gần cho bỏ ghét mấy thằng ngứa miệng nói bậy.”
Năm tôi học Đệ Tứ, mẹ tôi mua một căn nhà bên bờ hồ Tịnh Tâm cho anh chị tôi ở. Năm ấy, anh ấy đã học đại học, buổi chiều thường ghé lại nhà anh chị tôi chơi.
Nhà đẹp lắm, mặt ngó ra hồ. Sân trước có trồng mấy cây chanh và hai cây dừa thân nghiêng ra mặt nước, thả từng tàu lá dừa xanh mướt la đà trên mặt hồ. Nước hồ xanh thẳm, lố nhố phía xa xa những búp sen đầu mùa chưa nở, những lá sen non còn xanh mướt. Gió xuân thổi rất nhẹ, phải nhìn kỹ người ta mới thấy được vài ngọn sóng lăn tăn trên mặt hồ. Những buổi chiều đến chơi, anh thường ngồi trên một cái ghế xích đu sát bờ nước, nhìn ra mặt hồ mà không nói một lời. Khi trời gần tối, có con chim chích chòe đến đậu trên ngọn lá dừa, cất lên tiếng hót thật dài và vô cùng thanh thót. Con chim bắt đầu một tiếng “chích” nhỏ, càng lúc âm độ càng lên cao và kéo dài ra, như một cánh diều gặp gió, vút cao, vút cao lên… Đến tột đỉnh của tiếng hót, tiếng chim ngừng lại để một khoảng lặng đột ngột như tiếng đàn bỗng ngưng bặt trong mộtbản nhạc; rồi tiếng hót vỡ ra, bùng một tiếng “chòe” như một cái bong bóng căng đến độ cao nhứt bỗng xì hơi, giải tỏa sự căng thẳng. Cái xì hơi trả lại sự hòa dịu, thư giản cho bầu không khí êm đềm của một buổi chiều xuân.
Trong cảnh im lặng ấy, trong tiếng chim chích chòe thánh thót ấy, tôi ngồi bên anh, lòng không thấy êm ả chút nào mà có khi tưởng như nôn nóng. Tôi muốn anh ấy nói với tôi một lời, hay tôi muốn vội vàng kể những chuyện vui trong một ngày đi học của tôi. Tuy nhiên, khi đến ngồi bên cạnh, thấy anh ấy đăm đăm nhìn ra mặt hồ êm ả, tôi kính trọng sự im lặng ấy mà không nói một lời gì. Một lần, cũng trong cái cảnh lặng im như vậy, anh bỗng nói với tôi: “Em thấy không, mặt hồ êm quá. Ai ai cũng mong có một cuộc đời êm đềm như thế!” Khi ấy, còn nhỏ, tôi chưa hiểu hết ý nghĩa câu nói đó.
Tính tôi hiếu động và nghịch ngợm nên nhiều khi tôi không chơi với anh ấy nữa. Tôi gọi vài đứa bạn đến nhà anh chị tôi, căng ngang sân một cái lưới vũ cầu và đánh vũ cầu với các bạn. Trong khi chúng tôi ầm ĩ, cười đùa, tranh cãi hơn thua một đường banh, anh vẫn một mình ngồi im lặng bên mặt hồ, nhìn ra khung cảnh mông lung, nhìn hòn non bộ giữa hồ hay một áng mây chiều thướt tha trôi trên bầu trời xuân xanh thẳm.
Có khi bỗng con chim chích chòe bay đến, cất lên tiếng hót trong veo, anh ấy ra hiệu cho chúng tôi im để cùng nghe tiếng chim. Con chim đậu trên ngọn lá dừa, cất lên vài hồi hót thánh thót, chờ một con chim mái đến đậu ở cây dừa bên cạnh, nhảy nhót quanh quẩn chờ con chim trống hót xong, cả hai ruỗi cánh bay về phía trời xa, nơi có tổ ấm của chúng để ngủ qua đêm.
Có khi vài đứa bạn tôi hỏi tôi về anh. Tôi cười làm vẻ bí mật. Rồi tôi gọi chúng đến đánh vũ cầu với tôi, lại gọi cả anh ấy đánh vũ cầu với chúng. Trong cách sắp đặt ấy, tôi thường tỏ một vẻ tinh nghịch khác thường. Anh chỉ cười nhìn tôi, từ chối. Sau vài lần như thế, anh ôn tồn nói: “Em đừng làm như thế mất đi cái trong sáng của tuổi xuân.”
Tôi yêu cái tuổi xuân của tôi, tôi muốn gìn giữ nó trong sáng nên nghe lời anh ấy, không bao giờ tôi đùa nghịch theo cách ấy nữa.
Tuy nhiên, vài khi, tôi thấy anh như một người rất trầm lặng, hay đưa tâm hồn mình vào một cõi mơ mộng xa xăm nào đó, thoát ra khỏi cuộc sống hiện tại, không chú ý đến những điều xảy ra chung quanh, làm cho tôi bực mình. Có khi tôi tự hỏi hay anh ấy là một trích tiên, như Lý Bạch vậy. Rồi tôi tự cười thầm vì ý nghĩ vớ vẩn của mình. Một lần tôi nói: “Anh có biết chỉ với anh là em xưng em. Với tất cả mọi người, em xưng tên. Anh biết không?” Anh ấy không trả lời, nhìn tôi âu yếm như thầm cám ơn.
Cuộc sống êm đềm như mặt hồ Tịnh Tâm ấy kéo dài không lâu. Sau ít năm học đại học, anh nhập ngũ. Học hết trung học, tôi vào trường sư phạm và đi dạy.
Ở tất cả những nơi tôi đến dạy, bao giờ tôi cũng nhớ đến anh. Khi dạy ở Cẩm Phô, buổi chiều đi ngang một cây cầu gỗ bắt ngang một con sông nhỏ, tôi thường dừng lại trên cầu, nhìn giòng nước chảy lặng lẽ qua cầu mà nhớ đến hồ Tịnh Tâm và nhớ nhất những chiều anh ấy ngồi im bên mặt hồ êm đềm. Tôi vói nhìn xuống lòng con sông nhỏ tìm những đám mây trôi lững lờ dưới đáy sông, nghĩ tới những đám mây trôi trên mặt hồ Tịnh Tâm mà có lần anh ấy gọi tôi tới chỉ cho tôi ngắm xem. Nhớ anh ấy vô cùng, một người anh hay một người yêu chưa bao giờ tỏ tình, một mối tình câm, trong sáng và lặng lẽ của hai tâm hồn ngây thơ trong những ngày niên thiếu sống bên nhau?

Vậy mà tôi lại được các cụ già trong Hội Đồng Xã khen là cô giáo có lương tâm, biết kiểm soát cây cầu có an toàn vì mỗi ngày đi học, các em đều phải đi về qua chiếc cầu ấy. Tôi được một cái giấy khen. Buồn cười thật.
Năm 1972, anh ấy tử trận. Sống làm sao nỗi! Anh cứ đi hết chiến trường nầy qua chiến trường khác: Kampuchia, Snoul, Dambe, Hạ-Lào, Tây ninh, Long Khánh… Cứ nghe có trận lớn là có tên đơn vị của anh ấy. Âm thầm theo bước chân anh, tôi bỗng trở thành một người hay đọc báo. Rồi một hôm tôi thấy cáo tang. Tôi âm thầm với nỗi dau khổ của tôi trong cảnh dạy học xa nhà. Đám ma anh ấy ở Huế, tôi không về được. Năm ấy, Quảng Trị vừa mới mất, dân Huế hoảng sợ chạy tán loạn vào Đà-Nẵng, làm sao tôi về Huế?!
Rồi tôi lấy chồng. Người chồng tôi hơn tôi những gần chục tuổi, nhưng anh ấy cũng yêu tôi khi tôi còn bé. Anh cũng âm thầm và chờ đến khi anh ấy tử trận thì người chồng của tôi sau nầy mới ngỏ lời xin cưới tôi.
Tôi lấy chồng như là “cho xong chuyện”. Ai cũng phải có chồng. Một người yêu mình khi mình còn niên thiếu, âm thầm chờ đợi những gần mười năm. Tôi còn kén chọn gì nữa. Tôi rất trung thành với chồng. Chắc chắn tôi không sống trong cái cảnh “Đêm đêm bên cạnh chồng già, và bên cạnh bóng người xa hiện về” (2) Nhưng quả thật, tôi vẫn còn nhớ anh ấy, nhớ thời niên thiếu, nhớ khi tôi thèm một người anh trai và tôi đã “được” anh ấy. Trời ban cho tôi một người anh trai. Vì vậy, hôm nay, khi chồng đã chết, khi con đã lớn, tôi đi nửa vòng trái đất trở lại quê nhà.
Anh thân yêu!
Vậy là em đã trở về căn nhà cũ, nơi anh em mình chia tay nhau đã hơn 40 năm. Cũng may, qua bao nhiêu năm chinh chiến, căn nhà cũ vẫn còn. May mà mẹ em đã không bán căn nhà nầy trước khi mẹ qua đời. Mẹ để lại làm nhà từ đường, đặt trên bàn thờ những bình hương, tượng trưng cho những người đã khuất. Mỗi tối, khi chuông chùa vang lên từng tiếng rời rạc và lặng lẽ, em thắp đèn trên bàn thờ và đốt hương cắm lên những bình hương ấy. Dĩ nhiên, không có bình hương nào là của anh ở đây. Vì vậy, mỗi khi thắp hương trên bàn thờ, em lại nhớ đến anh.
Mộ anh chôn ở đâu? Em đâu biết! Có phải là ở nghĩa trang Biên Hòa hay một nghĩa trang, một bãi tha ma nào đó mà nay đã thành bình địa. Tên anh có khắc trên một đài kỷ niệm nào đó bên dưới hàng chữ “Tổ Quốc Ghi Ơn” thì nay cũng đã bị đập phá mất rồi. Làng quê anh không còn. Mẹ anh đã qua đời, anh chị em anh người đã mất, người lưu lạc đất khách. Có thể họ còn nhớ ngày anh tử trận nhưng không chắc ai có thể đốt cho anh một nén hương. Càng nghĩ, em càng thêm đau lòng!
Em lại trở về căn nhà cũ, bên bờ hồ Tịnh Tâm, sau khi em lưu lạc quá nửa vòng địa cầu. Em sợ xứ người, sau khi chồng em qua đời, các con em đã lớn đều có nhà cửa và có cuộc sống riêng. Em bỏ căn nhà quạnh quẽ nơi xứ người để trở về đây, không phải vì quê hương là chùm khế ngọt. Nó còn quá chua hơn một chùm khế chua và cũng không phải để tìm lại những kỷ niệm của thời niên thiếu. Tuy nhiên, anh hiểu đấy, với những người đã khuất, như anh, dù có muốn quên cũng không thể nào quên được!
Bắt chước anh, buổi chiều, em lại ngồi trên một chiếc ghế xích đu bên bờ nước, nhìn ra mặt hồ Tịnh Tâm như anh ngày xưa vậy.
Mùa xuân đã về, mặt hồ êm đềm và xanh trong. Ngoài kia, lại lú lên những búp sen đầu mùa, những lá sen non. Cũng như anh, em nhìn mặt hồ thật kỹ, để có thể thấy được những ngọn sóng lăn tăn trên mặt hồ xanh.
Anh thân yêu!
Có những đám mây trắng giăng ngang từng sợi nhỏ, trôi lững lơ trên bầu trời xanh thẳm, đang soi xuống mặt hồ. Em nhìn lên bầu trời, lại cũng những đám mây ấy đang chầm chậm trôi về hướng Tây, về dãy núi Trường Sơn. Tiếc rằng ở đây, không như ngồi ở bờ sông Hương, để em có thể thấy núi xanh chạy dài tới cuối chân mây. Những đám mây ấy, một thời anh cũng ngồi đây, mãi mê theo dõi. Ngày ấy, anh nghĩ gì về những đám mây trôi lững lờ kia? Còn em, ngày nay, ngồi đây, cũng nhìn những đám mây ấy,
em lại nghĩ đến anh. Em nghĩ đến những đám mây tượng trưng cho những linh hồn. Và linh hồn nào là linh hồn của anh, sẽ trôi vào một khoảng hư vô, một nơi mình cũng không còn nhận ra mình vì tất cả mọi linh hồn đều hòa nhập vào một cõi không gian vô tận.
Cũng như mọi chiều, em đang chờ con chích chòe đến đậu trên cành lá dừa. Nó sẽ hót thánh thót như ngày xưa ấy. Em cũng lắng nghe tiếng chim ấy. Cái âm thanh khởi đầu trong sáng, kéo dài mãi ra và lên cao vút. Tới chỗ tột cùng, tiếng “chích” ấy ngừng lại, bỏ một khoảng im lặng ngộp thở rồi “chòe” ra một tiếng thư giản, dịu dàng. Không như ngày xưa, em ít lắng nghe tiếng chim. Nhưng mấy chiều hôm nay em cứ ngồi chờ con chim trở về, lắng nghe nó hót một cách chăm chú như anh đã từng nghe ngày xưa ấy. Em tưởng như trong tiếng hót của con chim chích chòe có cái gì là của anh. Trong đó có tiếng anh nói dịu dàng với em hay linh hồn anh tiềm ẩn?
Em ngất ngây với tiếng hót của con chim trống, trong khi nhìn con chim mái nhảy nhót ở tàu lá dừa bên cạnh. Thỉnh thoảng, con chim mái quay đầu ngước nhìn con chim trống, như chờ đợi màn trình diễn chấm dứt để hai người yêu nhau dắt tay nhau ra về. Bỗng nhiên em mong cho buổi trình diễn hãy khoan chấm dứt. Tiếng hót con chim chích chòe đang đưa hồn em vào một cõi xa xăm. Nhưng hết rồi anh ơi! Hai con chim đã ruổi cánh bay về phương trời xa mất dạng.
Em nhìn ra mặt hồ và lại nghĩ đến anh. Anh từng nói ai ai cũng muốn có một đời êm đềm như mặt hồ xuân. Có lẽ anh cũng vậy. Nhưng rồi anh đã phải đi. Tiếng gọi linh thiêng của tổ quốc đã đánh thức anh dậy, kéo anh ra khỏi mặt hồ êm đềm, đưa anh vào những trận tiền binh đao súng đạn. Anh đã đi trong chiến tranh, trong vòng lửa đạn bời bời và anh đã nằm lại đó, một nơi nào đó, để lại cho em, chiều hôm nay, trong cảnh muộn phiền của một tuổi già đầy nhung nhớ!
Em lại nhìn ra mặt hồ êm. Và “Chiều lên dần dần, chiều không xuống…” (3) Đầu tiên, mặt hồ đen thẫm lại. Bóng tối từ đó
lên cao dần. Hàng cây bên kia hồ trở thành một vệt đen dài, khiến em không còn trông rõ bóng người qua lại trên con đường cạnh bờ hồ bên ấy. Chỉ có mấy ngọn dừa vươn cao là còn níu lại được chút nắng muộn màn, trông “như những cây nến khổng lồ” (3). Rồi những ngọn nến ấy cũng tắt nốt. Chỉ còn những đám mây trên vòm trời cao thẳm đang hòa màu đỏ cam rực rỡ với ánh nắng chiều. Bỗng những đám mây ấy trôi đi xa và chuyển sang màu tím rồi tối sẫm lại.

Anh thân yêu,
Khi giã từ, anh đã “quên” không nói với em một lời từ biệt, cái ý nghĩ ấy khiến em nhìn lên trời và kìa. Anh hãy xem…
…Mây đã đi xa rồi! Ước chi linh hồn em là đám mây ấy để có thể tìm thấy anh ở cuối chân mây!
Hoàng Long Hải

(những ngày tuyết đầu 2004)

(1) “Trước đây mười chín năm . Thơ Vũ Hoàng Chương
(2) Thơ TTKH
(3) Một câu và ý trong bài “Hoàng Hôn” của Xuân Diệu

Read Full Post »

ATPA1

HỒN MA

 

 

Âu Thị Phục An

 

Khuya.

Không gian ẩm lạnh rơi trên tóc, trên vai tôi.
Ánh trăng yếu ớt soi những cành lá rung rinh trong bóng tối im lìm.
Cánh tay Phùng vẫn quàng nặng qua vai tôi, vẫn im lìm từ khi tôi rấm rức khóc.
Nước mắt có nói lên được gì, có xóa được gì của ngần ấy tháng năm chồng chất lên đời người, có giúp tôi tuôn trào được mọi u uất trong tim?

Khó quá. Khó quá. Tôi bất lực lúc lắc đầu. Tôi chà qua chà lại khuôn mặt mình trên hai cánh tay đang ôm lấy đầu gối. Bàn tay Phùng vỗ về nhè nhẹ.

Bóng tối như đồng lõa với hai con người đang đau đớn.

Cơn mưa buổi chiều còn để lại cái ươn ướt trên những ngọn cỏ mà chúng tôi đang giẫm lên. Mây đen chờn vờn che khuất mặt trăng đêm rằm, những tia sáng lờ mờ soi không rỏ tấm ảnh trên bia của ngôi mộ mà chúng tôi đang ngồi cạnh.

Hơi thở nóng của người đàn ông phủ ấm vùng gáy làm tôi rờn rợn. Tôi lại cọ quậy và Phùng lại vỗ vỗ trên vai tôi, “Nín đi em.” Nghe vậy tôi lại khóc hung. Phùng nói “ Khi nào em có thể thì kể anh nghe nha.”

Đến đây thì tôi không còn chịu nổi nữa, tôi vùng ngẩng đầu lên và quay sang nhìn Phùng, tia mắt chúng tôi chạm nhau, và tia mắt Phùng vội né. Cơn tức trào lên ngực tôi, khao- khát- cũng- trào- lên- ngực-tôi, răng nanh tôi mọc dài ra, và tôi cắn ngập lên cổ Phùng. Máu người đàn ông ngọt lịm.

Ánh trăng bị mây che khiến cho đêm khuya chợt tối sầm khi tôi nằm đè lên Phùng, tôi cười khoái chí khi Phùng cố ngồi lên và đẩy tôi ra. Tôi thở hào hển vì phấn khích. Khi quá yêu một người nào đó thì chỉ còn một cách là giết chết người đó đi thôi. Tôi quơ tay cầm lấy con dao nhọn và đâm phập lên tim Phùng.

Mà không, tôi vẫn còn thút thít khóc một cách hiền lành trong tay Phùng khi ánh trăng ló ra.

Tôi yêu anh từ năm mười lăm tuổi, khi hàng đêm, trong mùng, chị Hai tôi thì thào kể về anh cho tôi nghe. Chị kể tới đâu tôi mơ màng tới đó, nhất là lúc Phùng hôn chị lần đầu dưới gốc dừa sau nhà. Chị kể lúc Phùng ôm siết chị vào lòng và môi tìm môi ra sao, và bàn tay anh xoa nắn vú chị như thế nào, khi đó tôi cũng rùng mình ngất ngây theo chị. Và cũng từ đó, mỗi khi Phùng ghé nhà xách theo cây đàn cùng chị Hai dợt văn nghệ cho trường thì tôi hay núp trong buồng lặng lẽ ngồi nghe say đắm tiếng đàn và tiếng hát của Phùng. Tim tôi thường run lên khi có lúc nào đó, Phùng vô tình nhìn lướt qua tôi, hoặc có khi anh mỉm cười chào tôi, tôi muốn ngất.

“Kể cho anh nghe đi, vì sao chị Hai của em chết?” Phùng thì thào qua tóc tôi.

Chuyện đó quá lâu rồi, gần bốn mươi năm có lẽ, một người chết non và một người thì biền biệt không biết đi về đâu. Tôi thì lặn ngụp trong dâu bể cuộc đời. Nghe Phùng hỏi, tôi lại thấy cay đắng, cùng lúc, nỗi hờn giận dâng tràn trong tôi.

Nhiều năm tháng tôi và chị Hai như hòa nhập vào nhau khi cùng yêu một người đàn ông. Chị vui là tôi vui. Chị khóc là tôi khóc. Ngày hay tin Phùng cưới vợ chị run lẩy bẩy và khóc suốt, tôi thì nghe lạnh buốt toàn thân trong nỗi mất mát vì không còn được nhìn thấy anh nữa. Sau đó, chị tôi thường hay nôn ọe. Phát hiện chị có thai, ba tôi đánh đập chị tàn nhẫn, những lúc đó, đôi mắt chị nhìn tôi lạc đi như một đôi mắt chết. Mỗi khi ba tôi quất roi lên cơ thể chị, tôi cũng oằn oại như chị, tôi khóc, nhưng chị thì không khóc. Chị bặm môi nhăn mặt chịu đau, chỉ có đôi mắt to là cứ nhìn xoáy vào tôi chừng như ứa đầy nước mắt.

 

ATPA2

Cái đêm Phùng và chị quấn lấy nhau sau vườn, tôi ngồi canh ở bụi chuối gần đó. Tôi nín thở khi nghe tiếng chị Hai rên rỉ kêu đau rồi khóc rưng rức. Tôi nghe tiếng Phùng vỗ về nho nhỏ. Rồi lại nghe chị rên rỉ. Những tiếng động lạ lùng. Những tiếng thở. Tôi cứng người khi nghĩ đến đôi môi của Phùng và những ngón tay dài ngoằng của anh đang lướt trên thân thể chị. Tôi nhắm mắt. Tay Phùng cũng lướt trên tôi.Tôi lịm người trong bóng tối.

Chị Hai không đi đâu xa. Đúng vào ngày cúng bốn mươi chín, chị nhập vào tôi nói cười khúc khích rồi hờn dỗi khóc lóc làm cho cả nhà sững sốt và sợ hãi. Nhưng riết rồi cũng quen, tính chị hiền lành nên chị cũng là con ma hiền, không ai sợ mỗi khi chị về nữa. Chỉ có điều tôi không còn được trò chuyện với chị, tôi chỉ gặp chị trong những giấc mơ buồn thảm. Có lần chị dắt một bé gái và khóc với tôi nói ráng tìm ba của nó.

Phùng vén tóc tôi. Những ngón tay lạnh ngắt chạm vào má tôi. Tôi biết mình khao khát như thế nào khi muốn ngậm những ngón tay ấy. Mắt anh long lanh dưới ánh trăng mờ nhạt. Tôi nói: “Sau khi anh lấy vợ thì chị Hai phát hiện có thai. Ba đánh đập và đuổi chị ra khỏi nhà. Em đã tiễn chị tới bờ sông, em đòi đi theo nhưng chị không cho, sau đó vài ngày xác chị nổi lên ở đầu cầu chợ.”

Phùng há hốc nhìn tôi. Cơ thể anh run lên. Cùng lúc đó một cơn gió lạnh thổi qua khiến tôi rùng mình ôm chặt lấy anh. Chưa bao giờ tôi thấy hạnh phúc như lúc nầy, bên Phùng, sau quá nhiều năm tháng nhớ mong.

Phùng khóc. Anh gục đầu lên tấm bia mộ chị Hai.

Trong tấm ảnh, mái tóc đen huyền của chị chợt dài ra vươn về phía người tình cũ, như một quấn quít không rời.

 

 

Âu Thị Phục An

Read Full Post »

SoiDongHoang

Truyện : Âu Thị Phục An

Tên anh là gì tôi không biết, nhưng tôi quen anh qua một trang tìm bạn bốn phương với cái tên đẹp đẽ Vũ Quang.

Những năm 1972, 1973 chiến trường nào cũng sôi động . Tôi sống ở Sài Gòn ngày ngày hồn nhiên đi học , ngày ngày không biết gì về cuộc chiền vẫn rình rập quanh phố thị.

Những cuộc xuống đường khi tôi còn học ở trường Trung học Hưng Đạo Sài Gòn, lại mơ hồ và sôi nổi giống như một trò đùa . Cảnh sát cầm dùi cui đứng gác ở cổng trường và các lớp học. Tên xách động bị cảnh sát dí leo lên tầng cao nhất dọa nhảy xuống. Cảnh sát dã chiến lùa đám nữ sinh ra cổng phụ của trường khi cổng chính đã khóa chặt. Những tà áo dài trắng chạy rối rít chen nhau ra cổng như những con vịt trắng bị lùa trên cánh đồng . Chỉ có khác một điều là chúng tôi không kêu lên quàng quạc. Đám nam sinh các lớp lớn hơn thì phấn khích leo và nhảy qua cửa sổ, tràn ra các hành lang.
Chúng tôi cứ chạy cho đến khi nghe tiếng nổ của lựu đạn cay và dường như sắp ngất vì ngộp thở và cay mắt tôi mới gục xuống che đầu mình vào hai cánh tay . Mở mắt ra được mới thấy mình đang ngồi quỵ trước rạp hát Thăng Long.
Tuy thế, đối với lứa tuổi ấy, tôi vẫn chưa chạm mặt với chiến tranh ,vì họ bắn giết nhau từ đâu đó, những vùng xôi đậu bao quanh bằng những hàng rào kẽm gai. Còn thành phố , nhất là thủ đô Sài Gòn
thì hầu như chiến tranh cũng bị che khuất bởi những đòn tâm lí chiến.
Tất cả bị ru ngủ với các bài ca sến sướt mướt dành cho lính và hậu phương.
Giới trí thức có học hành ít nhiều thì hầu như say ngủ cùng các bài phản chiến của Trịnh Công Sơn, tình ca bi lụy thiết tha của Ngô Thụy Miên, Từ công Phụng. Hoặc điên điên tàng tàng với thuyết hiện sinh ,hippy, J.P.Sartre , Nietzsche và… Phạm công Thiện.
Hầu như, đó là một thời mà không khí chiến tranh lãng mạn phủ ngập cả miền Nam nước Việt. Sống đầy đủ, dư thừa vật chất từ người Mỹ đổ vào, một công chức như ba tôi với chức vụ Trưởng Ban Cải Huấn của một trại giam đã có thể nuôi mười đứa con ăn học ngon lành, nhà tôi có đến hai người giúp việc. Vì má tôi cứ đẻ sòn sòn năm một.

.
Trong một lá thư, anh viết. Anh đã chứng kiến thằng bạn thân nhất ăn một viên đạn vào đầu, mắt nó còn tròn xoe kinh ngạc, nó hớp những hơi thở cuối cùng trước sự hoảng loạn của anh. Anh tê dại ôm đầu nó vào lòng kêu tên nó khản hơi và khóc rống như một mụ đàn bà bị chồng bỏ rơi. Tên thằng bạn anh là Vũ Quang. Từ đó anh trở thành Vũ Quang.

Thư anh viết về cho tôi hàng đống. Chữ viết đẹp. Đôi khi có vài bức họa bằng màu nước nho nhỏ dễ thương. Anh gọi tôi là đóa hoa vô thường. Hoặc có khi gào lên “ có phải em đã về từ tiền kiếp ?”

Anh thường nhắc đến Vũ Quang, cũng như anh không hề chấp nhận nổi sự ra đi như một con chó bị bắn vào đầu như vậy. Bởi với anh Vũ Quang là một con người. Hiển nhiên là một chàng trai tân khỏe mạnh yêu đời, luôn ca hát nghêu ngao và quá yêu cuộc đời nầy. Nếu không có cái cuộc chiến tù mù chó đẻ nầy thì có lẽ hai thằng vẫn còn đang khoác vai nhau chiều chiều tán gái long nhong. Hoặc đêm đêm hì hục gò từng nét chữ cho những lá thư tình lãng mạn.
Em ơi phố thị chiều mưa
Ôm em sao hết sao vừa tay anh ?

Hơn một năm sau đó, tôi thường hỏi anh sao không về Sài Gòn thăm em?
Không về với phố à? Không về với những đêm vui sao? Tìm chút nhẹ nhàng cho lòng mình với chứ? Không yêu em à? Tất cả những mời gọi đều là câu trả lời KHÔNG.
Anh nói anh đã mọc nanh, mọc lông khắp người, móng vuốt thò ra , và hơn hết là hơi thở anh đã tanh mùi máu. Anh thèm uống máu trả thù. Ngày ngày anh chỉ khoái bắn đại bác về cánh đồng hoang trước mặt, bắn cho đến khi chuột cũng chết hết , cỏ không mọc nổi, đến dế cũng tắt tiếng dù có khi những đêm mưa anh cũng thèm nghe chúng nó hòa tấu.

Những lá thư sau nầy của anh đều được anh ký là sói – đồng – hoang.

Nhưng rồi cái bản năng yêu đương của gã trai trong anh cũng cuồng lên như loài sói mùa động tình. Anh kêu tôi gọi tôi thậm chí vừa tru vừa khóc. Anh thèm làm người lại rồi. Anh nói như vậy. Thiết tha đến cảm động .Mà thật ra tôi cũng thèm được chữa lành cho anh cái vết thương chí mạng mà thằng bạn thân của anh để lại , mà cuộc chiến tầm phào anh phải dự phần đã tàn phá gần hết kiếp người của anh, không biết đến bao giờ trên những cánh đồng chó chết của chiến tranh.

Tôi đã điên cuồng chạy về phía anh theo tấm bản đồ mà anh ghi nơi đóng quân, ở một chổ nào đó gần mặt trận Tây Ninh, nơi đang tàn khốc nhất của các mặt trận mà không ai dám đến, nếu không phải là người lính.

SoiDongHoang2

Xe đò thả tôi xuống một con đường khô khốc đầy nắng và đất vụn lởm chởm
Nắng là thứ nhiều nhất ở đây. Nó ướp cả con đường nhỏ xa hút tầm nhìn bằng cái màu vàng hực hỡ kiêu căng của nó. Có tiếng ì ầm của đại bác từ xa vọng lại làm tôi hoang mang . Tôi nhìn về phía cánh đồng và chờ đợi.May quá, có chiếc xe jeep từ trong con đường đất chạy ra. Và tôi được đưa vào trong đó ,vì anh đang đợi tôi, người lính của anh nói vậy.

Có rất nhiều cái hầm được đào sâu dưới đất, bên trên chỉ là những bao cát che chắn làm nắp hầm trú ẩn. Tôi cúi người chui vào một cái hầm như vậy.Thật bất ngờ khi tôi nhìn thấy một sĩ quan mặc đồ rằn ri và một cô gái dáng người chắc đậm đang cùng ngồi bên nhau trên cái giường bố nhỏ hẹp.Anh đứng lên bắt tay tôi và giới thiệu cô bạn với tôi. Anh nói cô cũng mới từ Sài Gòn lên thăm anh. Họ dọn ra bánh mì cùng vịt quay và chúng tôi dùng bữa. Sau đó cô gái ra về. Cô lạnh lùng chào tôi kiêu ngạo. Khuôn mặt bự phấn son đầy vẽ thỏa mãn.

Cô gái về một lát thì anh bỗng tái xanh mặt nằm vật ra giường. Anh kêu đau đầu và nói đang say thuốc lắm, vì muốn mau hết đau nên đã uống thuốc quá liều. Rồi anh chồm lên chửi đổng những tiếng đạn pháo đang vọng về làm cho anh điên tiết. Nó là một nhắc nhớ quá bẩn thỉu trong lúc nầy, trong lúc anh đang đón người yêu. Nó làm anh rơi tõm từ đám mây nhiều màu xuống cái vũng lầy
ngập ngụa thực tại. Anh xin lỗi tôi vì đủ mọi thứ. Về cô gái đang theo đuổi anh. Về cái thằng người chó đẻ của anh. Em trong sáng lắm. Em là thiên thần để cho anh biết mình là quỷ sứ. Em biết không anh… đã…,anh… vừa mới làm tình với cô gái ấy. Em biết không anh phải dọn sạch cái thứ nhục dục bẩn thỉu của mình đi trước khi gặp em đó, em có biết đó là cái quái gì không? Đóa hoa vô thường của anh!

Rồi anh khóc rưng rức trong lòng tôi. Mồ hôi và mùi bia từ người anh lan tỏa trong tôi một thứ cảm xúc ngây ngất kỳ lạ. Tôi vuốt những sợi tóc của anh nhẹ nhàng xoa dịu cơn thống khổ của một con sói không còn có chổ quay về.
Như mọi gã trai trong thời chiến, vô vọng và điên cuồng trước số phận.

Anh trắng trẻo và xanh xao. Bàn tay trái chỉ còn ba ngón. Anh ngồi dựa vào tôi hút thuốc lá. Rồi anh ném khúc thuốc đi và nhìn tôi . Sau đó anh trìu mến đặt tôi nằm dài ra giường. Anh nằm đè lên người tôi. Anh nói . Anh muốn yêu em quá…bờ môi anh lạnh ngắt…
Nhưng hãy cho anh được như thế nầy thôi . Hôn lên những ngón tay em thôi nhé???
Thôi em về đi. Về thành phố mà lo học hành. Làm một cô giáo hay là lấy một thằng kỹ sư nào đó . Đừng lấy mấy thằng lính như anh.

Tôi đã có cảm giác sợ hãi trước anh.Và thêm một chút xót xa khó hiểu Anh không còn là Vũ Quang mềm yếu trong những lá thư , dù đôi khi anh có hằn học một chút khi viết về cuộc chiến, thân phận con người, có thể là những khi say. Tôi ngồi lên và buộc lại mái tóc dài của mình bằng cái khăn tay nhỏ. Tôi tựa lưng vào vách hầm. Những tấm carton loang lổ được dắt xen kẻ nhau để che khuất mấy cái bao cát . Một cái ba lô của lính treo lủng lẳng. Tôi thò tay vào đó lôi ra cuốn sổ màu đen. Tôi e là nhật ký của anh nên không dám mở . Nhưng vài tấm hình lại rơi ra từ đó. Tôi cầm lên xem. Là hình của tôi.
Vũ Quang tự làm tỉnh mình bằng ly đá chanh do người lính đem tới. Tôi được một ly cà phê đá. Ở chỗ đồng không cỏ cháy nầy, đối mặt với Vi Ci ở phía bên kia mặt trận , dưới những cái hầm , cả hai bên , tôi thấy đều như chuột, dù anh không chịu như vậy, vẫn muốn mình là sói. Ý nghĩ nầy khiến tôi
bật cười một mình.
Vũ Quang đang trò chuyện với một thiếu úy. Có lẽ đang truyền đạt lệnh gì đó mà tôi thấy anh nầy dạ dạ luôn miệng. Nghe tôi cười Vũ Quang quay lại nhướng mày hỏi. Tôi khoa tay ra ý không có gì. Anh liền giới thiệu người thiếu úy. Đây là Kha . Ca sĩ của tụi anh. Ê ! Kha, kiếm cây đàn vô chơi một tí .Có vài tiếng nổ uỳnh oàng từ xa vọng lại làm tôi lo lắng. Vũ Quang rít hơi thuốc lá thản nhiên . Không sao đâu em, thỉnh thoảng tụi anh phải nổ vài cái cho lủ việt cộng biết là tụi anh vẫn còn đây. Tôi rụt rè. Anh ơi, họ ở có gần lắm không?Anh vung tay. Tít mù trong rừng kia, em đừng sợ bà xã của anh à.
Câu nói trấn an và âu yếm của anh làm tôi vui lên. Vũ Quang cũng đã điềm tĩnh trở lại. Ly đá chanh có lẽ đang phát huy hiệu lực. Anh lúc bấy giờ mới nhìn tôi thật ấm áp làm tôi sượng sùng nóng ran cả đôi má. Tôi đang nhớ lại lúc nảy khi Vũ Quang trong cơn say thuốc đã hơi quá trớn với mình , mà tôi thì lại không có chút kháng cự . Tôi có yêu anh không , tôi không biết . Đây là lần gặp đầu tiên sau gần một năm thư từ qua lại. Anh không gởi cho tôi tấm hình nào. Nhưng tôi đã không cần biết mặt anh từ lâu, vì trong sâu thẳm của hai tâm hồn, tôi và anh đã gần như quyện chặt lấy nhau và cho nhau trọn cả trái tim rồi còn gì. Tôi quá lãng mạn phải không? thật sự những cuốn tiểu thuyết của Quỳnh Dao , những Geoger Sand, những Francois Sagan đương thời đã ảnh hưởng đến tôi rất nhiều. Tôi thường chìm vào những giấc mơ tình ái buông thả đến mê đắm khi hay tưởng tượng về một người tình oai dũng lãng mạn như Vũ Quang. Và bằng lời thư thật hay , nét vẽ lãng mạn, tính cách ngang tàng, tất cả của tâm hồn anh đã như một lực hút mạnh khiến tôi gan góc bỏ thành phố leo lên xe đò tìm đến anh như một con điên. Dù tôi biết rằng anh đang ở trên mặt trận, tôi cũng không sợ, vì tôi không hình dung ra nó.Không phải tôi đã từng xem Cuốn Theo Chiều Gió sao? Tình yêu vô cùng lãng mạn trong chiến tranh chỉ bởi vì nó mong manh và tuyệt đẹp.

Thiếu úy Kha bước vào , trên tay là cây guitar . Kha khá đẹp trai. Da màu đồng khỏe mạnh. Uống gì không anh em lấy. Kha nói. Kiếm cho anh vài chai con Cọp đi, cho vui.
Kha chui ra ngoài. Vũ Quang lại nhìn tôi. Em rất dễ yêu, nhỏ à.
Chuyện khi nảy ?? anh xin lỗi nha??? Nhưng anh yêu em quá đó thôi.
Đừng nghĩ nhiều về chuyện đó nữa.
Tôi câm bặt không nói gì. Tôi vốn e thẹn và ít nói. Nhất là nói về cái điều đang ngợp trong lòng tôi lúc nầy. Hạnh phúc.
Kha đem bia vào định đi thì Vũ Quang kêu lại. Hát một bài cho bà xã mình nghe đi Kha. Một bài gì đó của Lê Uyên Phương đi. Cho Lần Cuối nhé?
Bài đó hơi buồn. Nhưng mà cũng đúng với mấy thằng lính như mình .
Cũng được đó Kha.
“… giờ nầy còn gần nhau, cầm chắc mối duyên bẽ bàng, cầm chắc mắt môi ngỡ ngàng, cầm chắc nổi thương đau…”
Trời, anh Kha hát hay quá, mà buồn thí mồ. Tôi nói . Rồi gượng cười.
Bàn tay ấm nóng của Vũ Quang đã cầm lấy tay tôi từ khi nào không biết nữa.

Thời gian như ngưng lại cho những lứa đôi.
Tôi đọc câu nầy ở đâu không nhớ nhưng hiện tại thì tôi lại thấy thời gian không ngưng mà sao trôi qua nhanh quá.
Trong thoáng chốc tôi thấy mình hạnh phúc đến muốn tắt thở.
Đã chiều rồi.
Thấy tôi ngó đồng hồ, Vũ Quang tiếc rẻ. Anh rất muốn em ở lại với anh đêm nay.
Nhưng anh biết là không thể. Thôi em về đi kẻo muộn.
Thiếu úy Kha đã lặng lẽ đi từ lúc nào. Tôi cứ thừ người ra không biết nói gì làm gì .
Ánh mắt anh như đốt tôi . Như nọc độc con ong chích vào thịt da đến tê dại. Bất giác tôi liếm môi mình . Tôi thú nhận là mình cũng khát khao anh. Muốn ở lại với anh một đêm quá. Muốn được anh ghì trong tay. Muốn … ,trời đất ! tôi điên rồi. Tôi còn muốn cả cái việc, như lúc nảy, anh nằm đè lên người tôi . ..
Nhưng,
Chiếc xe jeep lại lắc lư đưa tôi ra đường lộ lớn.
Tôi ngoái nhìn dáng anh từ từ khuất xa tầm mắt. Cái dáng dong dỏng cao, cô đơn đến kỳ lạ. Anh vẫy tay mãi để chào tôi.
Theo gió, tôi nghe tiếng con sói hét lên tạm biệt.
Tôi gặp lại Kha ba tháng sau .
Không phải gặp đâu đó mà Kha đến tìm tôi tận trường học, sau buổi tan trường .
Chúng tôi ngồi ở một quán cà phê thời thượng. Có nhạc Trịnh dịu vợi đầy ắp
những giai điệu buồn lãng đãng của chiến tranh , thân phận, tình yêu . Đôi khi có xen vào một chút Phạm Duy đầy mê hoặc với bài hát như một cơn lên đồng :” Kỷ Vật Cho Em”.
Kỷ vật của Vũ Quang, mà không , tên anh bây giờ tôi đã biết , là Hữu Việt , để lại cho tôi chính là cuốn nhật ký bìa đen mà hôm nào tôi đã thấy nó trong ba lô của anh. Trong đó vẫn còn tấm hình tôi, nhưng nó đã bị xé làm tư làm tám và được dán lại bằng băng keo ngang ngang dọc dọc như băng bó một vết thương .
Kha cười nửa miệng khi tôi tròn mắt nhìn . À, cái vụ nầy là do một cơn ghen ầm ỉ mà ra.
Kha giải thích. Một cô bồ trong vài cô bồ của Vũ Quang đã nổi ghen …với em mà xé tấm hình nầy. Vũ Quang đã cặm cụi dán lại. Tôi buồn rầu. Sao anh ấy nhiều bồ bịch vậy anh?
Đùa vậy thôi, lính tráng mà em, biết giờ nào đi mà hứa hẹn với ai. Có yêu thì cũng …để đó. Còn lại chỉ là tình hờ với các cô vủ nữ hoặc gái bán bar. Lính có tình yêu thật sự không anh. Có chứ. Nhưng đều dấu trong tim em à.
Tôi nhìn Kha qua ánh sáng mù mờ của quán. Có một cô gái nào đó trong phố thị như tôi cũng đang chờ Kha. Và trong tim Kha, cô ấy trong veo như thủy tinh. Dệt mộng và thương nhớ. Như tôi ư.?

Kha đưa tôi về. Mưa tháng tám lất phất bay . Tôi sợ hải thấy mình chưa chịu khóc . Có gì đóng chặt cửa trái tim tôi lại. Có gì lạ lắm. Như cái cách con phù du cứ đập thân nó mãi vào khung cửa kính có ánh sáng . Và chết.
Chết. ? Vậy là anh không còn nữa sao Vũ Quang ? chết ra sao? chết hồi nào? Có việc đó thật sao? Nó thế nào nhỉ ?
Tôi bê người đi như say vậy. Loạng choạng. Và nó tới thật sảng khoái. Cơn khóc trụi lủi bỗng ào đến như một cơn mưa bất thần.. ..
Âu Thị Phục An

Read Full Post »

MH1


BẾN BỜ BỎ LẠI

 

Truyện ngắn Âu Thị Phục An

 

Tôi xuống sân bay và đi qua những thủ tục. Một xấp đô la lẻ dọn đường là chuyện đương nhiên. Tôi đi qua và đưa chúng cho những người gác cửa thủ tục. Êm xuôi hết.

Đưa tay nắn cái điện thoại di động trong túi áo khoác, tôi mơ hồ yên tâm. Tôi vẫn giữ được nó bên mình sau một chuyến bay dài. Cái số điện thoại bạn chàng cho còn nằm trong đó mà. Như vậy là tốt. Tuy vậy tôi cũng đã cẩn thận ghi nó vào cuốn sổ nhỏ trong ví tay.

Khi Bob tiễn và ôm hôn lên môi tôi ở phi trường Los, tôi luôn nắm cái di động trong bàn tay mình. Bước lên cầu thang máy bay, tôi quên phắt đôi mắt màu xanh lơ của Bob . Và khi ngồi trên không trung, tâm trí tôi cũng bay bằng đôi cánh xoãi dài trên từng mây cao tít.

Nắng ngập cả mắt khi tôi bước ra ngoài . Loay hoay với đống hành lý trên xe đẩy, tôi nghe tiếng gọi. Hạnh! Hạnh! em đây! em đây nè!
Đứa em gái đưa tay vẫy gọi lia lịa khiến tôi mừng quýnh. Hai chị em ôm nhau. Em tôi nhảy cỡn lên như còn trẻ lắm, nó vừa li dị chồng và nuôi con dại. Con bé dại dột của năm xưa giờ vậy đó, vừa bước qua một loại tai ương của hôn nhân. Tôi ôm đầu em gái sát vào ngực mình . Mùi của tóc em, mùi của tình ruột thịt thơm thoang thoảng nghe như một mùi chi đó trong ký ức toàn màu xanh của lục bình quê nhà. Em tôi thút thít dù mới đó miệng cười toe toét.

Một tuần lễ trong tay những người thân khiến tôi ngây ngất vui , dù còn đó một nỗi buồn vì má vẫn gầy gò và không còn tỉnh táo như lần trước tôi về. Má vẫn long mắt lên và chửi xa xả khi có người cán bộ nào đi ngang cửa, dù người ta đã cẩn thận xây lên một bức tường cao chắn ngang ngôi nhà cũ của má, nay là một cơ quan nhà nước. Chắc nghe cũng đã quen tai, mấy người cán bộ cắm cúi bước qua không dám ngó má cái nào, lủi mất . Ngày miền nam Việt Nam được “giải phóng” má bị kết tội tư sản. Hai dãy nhà cho thuê bị lấy hết. Má uất. Lũ con 11 đứa vượt biên, ngôi biệt thự xây theo kiểu Pháp cuối cùng cũng bị lấy luôn. Đôi mắt má bắt đầu nhìn lá cờ đỏ bay bay trên ngôi nhà cũ của mình bằng đôi mắt có máu.
Em tôi chắc nghĩ tôi thèm mấy món đặc sản của quê nhà nên đãi tôi mấy bữa ngon lành. Tô bún cá bốc khói với màu trắng của bún, cá lóc, giá. Màu xanh của rau húng cây húng lủi, của hành lá xắt nhỏ. Màu đỏ của vài con tôm nhỏ và ớt bằm. Sau đó cẩn thận chan lên tô bún một tí nước mắm nhỉ Phú Quốc thơm lừng, nước miếng tôi ứa ra trong miệng. Ngon gì đâu! Tôi nuốt những cọng bún đậm đà hương vị vào cuống họng, trong một thoáng tưởng như mình chưa hề bước ra khỏi cái miền đất mộc mạc thân thương nầy. Cũng trong một thoáng, tôi biết mình vừa nuốt vào lòng vài giọt nước mắt nhỏ nhoi chực rơi ra trên khóe mắt, tôi ngậm nó lại, chớp chớp mắt hít hà vì cay. Em tôi thỏa mãn nhìn tôi cười xòa. Ngon không chị?

Những ngày gia đình quây quần bên nhau vô cùng thích thú khiến tôi như trở lại thời còn nhỏ được ba má cưng chìu. Bây giờ ngay chính em gái cũng cưng chìu tôi . Nó đã làm mẹ, đã biết chăm sóc cái gia đình nhỏ nầy thay chúng tôi. Chúng tôi, một lũ anh chị của nó, trong một thời điểm giao động ngặt nghèo của đất nước, của gia đình và chính bản thân mỗi người, đều đã quay lưng lại miền đất biển nầy, vượt qua một biển cả mênh mông khác, để rồi như đàn chim vỡ tổ, mỗi đứa một nơi đậu xuống những miền đất lành nào đó trên các dấu chấm tròn trên bản đồ thế giới, khác xa quê hương mình, mà sống tiếp. Riêng tôi, vì một lý do rất riêng tư, tôi cũng ra đi, vì tôi hay tin chàng đã vượt biên trước tôi một năm. Đau đớn, chờ đợi, hoang mang suốt một thời gian dài, cuối cùng không chịu nổi nữa tôi đã vượt biên cùng anh trai, chị dâu và ba đứa cháu nhỏ. Cái lúc con tàu vượt biển của anh em tôi sắp chìm, lúc tôi nhảy xuống biển và bơi cật lực đến một con tàu xa xa trong tầm mắt để cầu cứu, lúc đó, trái tim tôi đầy ắp hình bóng chàng, tôi muốn sống sót để còn gặp lại chàng.

Nhưng không phải ông trời lúc nào cũng chìu lòng người, ở trại tị nạn một thời gian, tôi đã nhận lời lấy Bob, một luật sư Mỹ, anh đã giúp đỡ hết lòng để đưa mấy anh em tôi đến định cư tại Hoa Kỳ. Lần lượt tôi có hai đứa con với Bob. Bob luôn yêu thương và chăm sóc mẹ con tôi tận tình. Tôi có một cuộc sống bình yên và đầy đủ mà ai cũng mơ ước. Đắm mình trong cuộc sống mới, bận rộn với con cái, tôi quên lửng thời gian đã vùn vụt trôi qua. Cuộc sống cứ như nuốt chững và xóa bỏ hết những gì xưa cũ vì người ta không còn có lúc nào ngưng lại cái vòng quay của sự sinh tồn để mà nhớ thương tiếc nuối. Cho đến một ngày nọ tôi tình cờ gặp một cô bạn thời trung học, trong lúc đi mua sắm, thì bất chợt mọi cánh cửa của quá khứ bỗng mở toang.

 

MinhHoa

 

Tôi như người vừa tỉnh dậy sau cơn mộng du dài. Tin tức về các bạn học cũ, những người quen cũ tới tấp đến với tôi. Bao nhiêu năm quá khứ nằm im bỗng trỗi dậy những nỗi niềm khiến lòng tôi thổn thức. Và trên hết, tôi biết là mình đâu đã quên chàng?

Rồi trong một buổi họp mặt trường cũ mà cô bạn đã khuyến khích tôi đi dự, tôi đã gặp một người bạn thân của chàng. Và chân tôi như quỵ xuống khi tôi biết tin chàng vẫn còn kẹt lại Việt Nam, sau vài lần vượt biên, vài lần tù tội, trong đó có lần chàng bị bắt vì tội phản động, và bạn chàng nói, khi tôi vượt biên là lúc chàng đang ở tù, sau đó nghe tin tôi đã ra đi thì chàng lại vượt biên lần nữa, và lại ở tù lần nữa.

Tôi khóc thật nhiều trên vai cô bạn, khóc đến sưng húp cả mắt. Những dòng nước mắt tủi buồn của tuyệt vọng năm nào và hi vọng bây giờ cứ như từ trái tim tôi tràn lên khóe mắt, rơi lặng lẽ xuống cuộc đời có quá nhiều cơn mộng vỡ.
Và người bạn chàng cho tôi số điện thoại của chàng, còn nói rằng đây là số mới nhất, gần đây nhất, nên tôi có thể liên lạc là gặp ngay thôi.
Khi cầm lấy tờ giấy có số điện thoại của chàng, tay tôi run lẩy bẩy, còn trái tim thì như nghẹn thở vì ước mơ gặp lại chàng cuối cùng rồi cũng đến. Dẫu quá muộn màng.

Thành phố đã có quá nhiều thay đổi. Năm năm trước về thăm cha mẹ lần đầu tôi đã không đi ra ngoài nhiều. Năm đó con trai tôi còn nhỏ nên sau hai tuần thăm cha mẹ tôi đã hối hả quay về Mỹ.
Em gái chở tôi trên xe máy chạy loanh quanh trong thành phố. Rạch Giá bây giờ thật lạ, không còn là một tỉnh nhỏ nằm ven biển với những tàu đánh cá ra vào nhộn nhịp của ngày xưa nữa. Bây giờ người ta đã lấn biển để xây những dãy biệt thự xinh xắn, và mở những con đường mới lạ lẫm trong mắt tôi. Không thể nào nhận ra được chỗ nào là nơi tôi và chàng thường hò hẹn. Cái địa danh Tắc Ráng tôi không còn biết nó nằm ở đâu, khoảng nào trên con đường mới. Đâu là chỗ ven biển mà hai đứa hay ngồi tâm sự dưới những cành lá cây bần đầy bóng mát? Đâu là nơi chốn tôi đã nhận lấy nụ hôn đầu ấm áp của chàng? Khúc biển nào tôi đòi tắm đã để nguyên quần áo nhảy ùm xuống tung tăng, sau đó phải ngồi phơi nắng cả buổi cho khô quần áo lại vì không chịu cho chàng cởi áo ra phơi? Và nụ hôn chàng đặt lên ngực trần đã làm tôi quýnh quíu, khi đó hai đứa ngồi chỗ nào trên con đường mới mở bây giờ?

*
Hai chị em vào một quán cà phê gần biển.
Tôi kể cho em gái nghe về chuyến về quê lần nầy, ngoài việc thăm gia đình, thầy cô và bạn bè, tôi còn có một người để thăm viếng nữa. Tôi thú thật với em gái là tôi còn phân vân và thậm chí, sợ hãi, không biết có nên gọi cho chàng? Gọi để làm gì, vì chàng biết có còn nhớ đến tôi không? chàng cũng đã có gia đình như tôi? cũng có niềm hạnh phúc riêng như tôi?

Em gái tôi im lặng rất lâu. Gió từ biển thổi vào lồng lộng. Quê hương là một bến bờ tuyệt diệu nhất cho đứa con tha hương là tôi trở về trong nao nức. Mỗi một con đường, mỗi một khu phố có biết bao kỷ niệm êm đềm của tuổi học trò. Những đêm mưa nơi xứ lạ tôi đã từng bao đêm quặn thắt nhớ về mảnh đất nầy, nhớ về cuộc tình dang dở nầy với biết bao là nước mắt nhớ thương.

– Giờ chị tính sao? em gái tôi hỏi dò.
– Chị không biết.
– Hay là em gọi ảnh giùm chị thử xem thế nào nhé?

Em gái nhìn tôi thương cảm. Tim tôi đập thình thịch. Định mệnh quái ác quá, biết sao giờ? Tôi ứa nước mắt. Cái điện thoại như có lửa đốt nóng bàn tay tôi khi tôi thò tay vào túi xách lôi nó ra. Gặp hay không gặp? Chàng vẫn ở lại đây. Nơi nầy. Thành phố nầy. Thành phố biển của chúng tôi. Thành phố của một tình yêu đã cũ mà sao giờ đây cứ nhưng nhức trong lòng?

Cuối cùng tôi bằng lòng để em gái tôi gọi trước cho chàng.

Tim tôi như ngừng đập trong lúc chờ em tôi ra ngoài nói chuyện.

Lúc em gái bước vào, tôi bàng hoàng đón ánh mắt em, thậm chí từng nét xao động trên gương mặt em.
Em gái buông người xuống ghế rồi nhìn tôi cười như mếu.

– Chị à, anh ấy mới qua đời hồi tháng trước vì ung thư, anh chưa hề lấy vợ.

 

Âu Thị Phục An
tháng 9.2011

Read Full Post »

HoaVongVang

Chiều đã chuyển sang đen nhiều hơn tím. Mặt biển sẫm lại đầy bí hiểm và đe dọa. Bên vách núi dựng đứng, vươn lên bầu trời một đốm đỏ nhưng nhức… chưa chịu tắt trong hoàng hôn. Cô gái chun chun chiếc mũi hếch về phía anh, bướng bỉnh:
– Em bảo đấy là hoa vông vang…
*
… Đã lâu lắm rồi mà anh vẫn luôn bị ám ảnh bởi chiếc mũi chun chun hơi hếch của em. Em mặc áo màu trắng. Cổ khoét hơi rộng, để lộ cả đường hõm chân ngực. Rất đàn bà. Anh bảo: “Em lẳng lắm”. Em toét miệng cười. Anhy hỏi: “Có thích anh không?” Em gật đầu: “Thích”, rồi lại toét miệng cười.
Ngày ấy, anh cứ nghĩ: “Cô ả nông choen choẻn”. Anh nào biết, bên khóe mắt em đọng những giọt nước mắt to, tái nhợt nỗi buồn…
– Ê, anh trai! Dạo bờ biển một mình… quê quá.
Một dúm dăm sáu em từ các bar ào tới. Hót chũn chọe bên tai anh như yểng. Anh thương lượng: “Các em xinh quá. Đợi anh chút nghe, đang bận”. “Bận gì? Tụi em giúp?”. “Anh đang tìm”. “Tìm gi?”. “Gì hả? Cái cuộc tình cũ rích mà anh đánh mất ấy mà”. “Ôi, thằng này bị điên! Mả mẹ mày, đ… có tiền thì nói cho các mẹ mày nhờ, lại còn giở giọng văn chương bốc mùi”.
Anh cố nhếch mép, cười. Đấy, em thấy không? Anh đang tìm em giữa ký ức và cuộc đời. Giữa thiêng liêng và trần trụi, bẩn thỉu. Dù biết chẳng để làm gì?
Mà sao hôm ấy em cứ bướng bỉnh cãi rằng: “Đó là hoa vông vang!”.
*
Hoàng hôn thứ nhất.
Chúng ta cùng dạo chơi trên bờ biển. Anh hỏi em: “Có ngửi thấy gì từ biển không?”. “Em bảo: “Có” “Gì? . “Mùi tanh”. “Ừ, tanh thật. Mẹ kiếp toàn là xác chết trương phình dạt lên bờ. Tởm quá!” Không ngờ em phản đối quyết liệt: “Đừng nói thế. Đấy là mùi của sự sống đang quẫy đạp trong nước biển”. Anh cười: “Văn hoa chảy tồ tồ”. Em cong cớn: “Chứ còn gì!” Lúc ấy môi em cong lên, trông đanh đá. Mãi đến bây giờ anh mới hiểu em cũng nhân hậu biết bao.
– Cây gì mà hoa đỏ thế nhỉ? – Anh hỏi vu vơ.
– Vông vang!
– Nhầm rồi. – Anh cười chế giễu.
– Đúng là hoa vông vang. Anh phải tin thế – Em bắt đầu đỏ mặt vì tự ái.
– Kìa, anh đã phản đối gì lắm đâu… Sao em hiếu chiến thế – Anh chọc tức.
– Đúng – Em nhướng đường chân mày, nói quả quyết. Em hiểu nó hơn anh.
“Này nhóc, ta không thèm chấp mi đâu nhé!” – Anh độ lượng nghĩ vậy.
“…Hồi bé, tụi con gái bọn em toàn rủ nhau ra gốc cây vông vang đầu làng để chơi chuyền, chơi chắt. Em chơi giỏi như thần. Tay nhặt thẻ mềm như múa. Dẻo hơn cả mấy bà mấy cô lên đồng cơ đấy. Chơi dưới gốc chán, bọn em hê nhau trèo cây. Hái những chùm hoa đỏ lựng. Mút chùn chụt như chó con bú để tìm chút vị ngọt, nhân nhẩn- đắng. Rất hay. Bà em vẫn dạy: “Hoa có mật ngọt là hoa lành…”.
Miệng em nói líu ríu.
Chả biết từ lúc nào, mắt anh bị hút chặt vào cái miệng em mấp máy. Nó chả đẹp. Hơi dày so với khuôn mặt. Nhưng có một nốt ruồi rất đậm đậu ở môi dưới. Khi em nói, nó ẩn hiện, tinh nghịch. Anh cảm giác mình bị thôi miên. Anh muốn nhặt nó ra để yên lòng bàn tay. Cho nó nhảy tí tách. Anh muốn đặt lên đó một cái hôn. Em biết không, lúc đó anh thèm được hôn em một cái.
Đến bây giờ vẫn là khát vọng đau đớn trong anh.
*
Hoàng hôn thứ hai.
Này, bảo thật, anh bắt đầu quý em rồi đấy!
– Thật không?
– Thật.
– Chắc không?
– Chắc. Còn em?
– Quý chứ. Người như anh ai mà chẳng quý.
“Lại hớ hênh rồi em gái ơi. Em nhẹ dạ quá đấy. Đời nó sẽ lừa em vỡ mặt ra”- Anh thầm nghĩ. “Đừng nghĩ em là đứa nông cạn”- Em nheo mắt nhìn, cái nhìn có vẻ đo đếm. Giọng già đinh như một mụ nạ dòng: “Anh là thằng đa cảm”, em nói thế. Anh móc máy hỏi: “Biết xem tướng đấy hả?” Em cười buồn: “Anh lên gân bỏ mẹ. Cái bề mặt lạnh lùng, tàn nhẫn của anh… trông đểu lắm”. Anh muốn giễu em một câu thật ác: “Biết đếch gì mà hót như bà già”. Nhưng anh không nói thế, anh bảo: “Cái bộ mặt thỏ non, với giọng nói ríu rít oanh vàng của em chắc là lừa được ối thằng. Quần áo, giày dép, nước hoa… chắc là cũng bọn ấy cung phụng cả chứ?” Em nhổ một bãi nước bọt vèo qua mặt anh, đẩu mỏ: “Tưởng người tử tế, hóa ra cũng chỉ toàn ý nghĩ đen tối”. Em vùng vằng bỏ đi. Anh giữ lại. Xoay mặt em về phía anh, thấy hai hòn nước mắt tròn, từ khoe mắt em ứa ra: “Đồ lừa dối”. Anh dịu dàng: “Đừng giận, ai lừa em”. “Đàn ông”. “Tiền à”. “Không! Tình”. Anh cười ngất: “Ai lừa ai trong chuyện yêu đương được?”. “Lừa tốt! Đàn ông rót mật vào tai đàn bà để chỉ làm mỗi một việc là lừa được lưỡi của họ vào miệng đàn bà và đôi tay của họ quờ quạng lung tung” – Em nói chua chát.
Anh thương em. Thứ tình thương của con diều hâu đối với chú gà non ngơ ngác. Em thật thà một cách giả dối. Anh như kẻ đứng bên bờ vực chênh vênh. Vừa thích vừa sợ.
Thích được khám phá. Và sợ vì hiểu biết.
Trên mặt em chan hòa nước. Mặt anh cũng vậy. “Em khóc à?” Chỉ im lặng. Mưa nữa. “ừ, đúng rồi. Mưa”. Anh dìu em, hay là bế em chạy trên bờ cát. Nước làm cho da thịt em mềm lại, đúng là em.
Nước mưa ở biển mặn mòi như nước mắt.

Girl2
*
Hoàng hôn thứ ba.
– Em đang buồn.
– Sao buồn.
– Biển cứ lặng sẫm như đang đeo tang ai…
– Em nói kinh quá!
Em chỉ cười, ngậm ngùi. Hoàng hôn loang lổ. Đậm nhạt không đều. Trên mặt em có cả hoàng hôn, chia thành hai phần đậm nhạt. Mắt em buồn như đêm ba mươi tết. Hoang hiu. Lại hơi ma quái. Anh không dám soi vào đó, chỉ nói vu vơ: “Em thất tình hả?”. Em gọn lỏn: “Đúng”. “Nó bỏ em!”. “Không, em bỏ nó”. “Tại sao?”. “Nó đểu lắm… Có nghe không em kể cho mà nghe?”.
– …
…”Em yêu nó ba năm, trung thành như một con chó cái. Mẹ em trợn mắt: “Mày bước qua xác tao mà đi theo nó”. Ba em bảo: “Tao coi mày như đã chết lúc mới đẻ”. Còn anh trai thì vác dao đuổi: “Con khốn nạn kia, mày cướp công bố mẹ”. Em nói với nó: “Càng hay, chúng mình càng yêu nhau hơn”. Đêm đến, khi mẹ em xoay mặt vào tường, ngủ kỹ, em dậy len lén ra khỏi nhà và chạy đến với nó. Hai tay em nâng đầu nó đặt lên đùi mình và bắt đầu ru – ngớ ngẩn và u mê như một kẻ hát xẩm mà bụng đói rỗng:
“Ru anh ngủ những đêm khuya. Ru anh ngủ tháng âm u “.
… Cho đến khi nó ngủ mềm, em lặng ngắt quay về, nằm vào chỗ cũ…
Tiếng biển oàm oạp vỗ vào bờ. Đôi ba cánh buồm nhỏ nhoi, khắc khoải xa xa. Em nói:
– Ồ kia, vông vang đỏ cháy như sắp gục xuống mà chết.
Đỏ quên mình. Nhiều khi em nghĩ. Thế là ngu xuẩn.
Mắt em nhìn đâu đâu. Anh bồn chồn.
– Rồi sao nữa?
… Chẳng sao cả, chúng em vẫn yêu nhau như lửa. Nó bị ốm, em lấy cắp cả hộp nhân sâm quý giá của mẹ em cho nó dùng. Sau đó, ba em ốm. Mẹ em tìm mãi không thấy, cụ nói run run: “Tôi già lẫn mất rồi, hộp sâm biến mất đâu mà không biết”. Em cúi gằm mặt trong bát cơm ăn dở. Nước mắt chan chứa… Với mọi người, em là đứa mất dạy, hư đốn, xấu xa. Nhưng em là Đức Mẹ đồng trinh thống khổ và nhẫn nhục của nó… Nó bảo em: “Hãy chiều anh…”. “Vâng!”. Em vui vẻ chứ không khóc lóc, vật vã. Mà thật là như thế. Không phải vì em thích. Cũng không phải là em trơ trẽn, chai lì… Em thấy tất cả đều thiêng liêng. Em tin nó, hạnh phúc khi thấy nó hài lòng…
Em tắc nghẹn trong câu nói dang dở. Thoắt nhìn em, thấy gương mặt lênh loáng nước. Người đàn bà u tối, mong manh ngồi còm cõi bên bãi biển. Đá thì cứ sững sờ. Mặc sóng. Mặc gió. Mặc thời gian.
… Một lần, nó cởi cúc áo của em. Rồi nó nheo nheo mắt. Cười một nửa. Nó ngả người ra sau duỗi thẳng tấm thân trần. Nó bảo: “Đàn bà như em… dễ chơi nhỉ”. Em trừng mắt, với đại bình pha lê trên bàn, ném vào tường. Vỡ tan. Em nhảy tạt xuống đất, rồi đi. Không thèm ngoái lại nhìn mặt nó. Cho đến tận bây giờ…
– Tại sao anh lại giật mình?
– Anh không biết?
Anh giận dữ ôm một hòn đá to, thét lên một tiếng rồi ném nó xuống biển. Đá va vào đá, kêu lục cục như tiếng nấc nghẹn. Em cười “Điên à?” Anh nhếch mép bảo em: “Điên…” Rồi hất hàm: “Ngu! Cho nó lừa, là phải”. Em từ từ khép mắt lại.
Trong anh sôi lên thứ tình cảm dữ dằn. Yêu thương. Căm ghét. Kính phục. Khinh bỉ. Anh muốn ôm ghì em mà hôn tới tấp. Anh muốn là người nâng niu nỗi đau của em, lại thèm muốn được tát vào mặt em mấy cái. Còn em, tai họa khốn nạn nằm trong đứa con gái ngây thơ, trong sáng, và người đàn bà đạo đức, lẫn vô đạo đức…
Anh cười hiền: “Thôi, chuyện cũ ấy mà… Em quên đi mà sống… Hy vọng vào ngày mai”. Anh nhẹ nhàng vuốt tóc em. Anh nói đùa: “Tóc em cũng lả lơi ra phết”. Em không cười. Mắt nhìn nhoi nhói như xát muối.
Đến lúc ấy thì màu hoa đỏ đến nhức nhối cũng đã tắt vào đêm.
Trăng đang ngoi lên từ lòng biển.
*
Hoàng hôn cuối cùng.
– Anh nghĩ gì thế?
– Nghĩ đến cái vô hạn và hữu hạn.
– !!!
– Sự sống là vô hạn, còn chúng ta là hữu hạn. Cái của ngày hôm nay, mai đã mất rồi. Vô lý quá!
– Anh hay triết lý nhỉ?
Không, em không biết đâu! Thói ghen tuông khủng khiếp. Đầy đọa kiếp người. Anh gọi: “Ngần này, mắt em dài có đuôi”. “Ô thế á! Thì sao?”. “Đàn bà mắt ấy, khổ một đời. Lại đĩ nữa”. Em cười phá lên, anh cũng cười. Chợt gặp ánh sáng dằn dỗi và tức giận trong cái nheo cười của em.
– Thôi nhé, anh hỏi thật… Em có yêu anh không?
Em lặng phắt. Biển rì rầm. Rừng xao xác. Anh thấy sợ khi đôi bờ vai em cứ đẩy lên tận cùng theo nhịp thở. Anh gặng hỏi: “Sao em?”. Em ngước nhìn anh, khẽ khàng: “Có…” Nhưng anh không làm gì cả. Không hôn em. Không âu yếm. Hình như em chờ đợi. Còn anh không vượt qua được chính mình. Anh vuốt nhẹ tóc em, nói:
– Anh đùa thôi, một vợ hai con rồi. Anh nghĩ là em sẽ khóc, vì đôi mắt em bao giờ cũng như chực khóc. Vì anh nghĩ, em nông nổi. Nhưng mắt em chỉ to thêm, sẫm màu biển chiều. Lặng lẽ… cười.
Cuối cùng, em gửi anh mẩu thư này.
“Biển Hạ Long,
Em biết là anh chưa có vợ. Anh là người thợ săn tìm con chim mồi. Mãi mãi sẽ là thế. Cảm ơn anh về lời nói dối và chúc anh may mắn
Em: Ngần”
Trên bãi biển. Một cô gái mặc áo trắng. Tóc dài lả lơi. Cô đi lững thững với hai bàn tay đầy sắc đỏ của loài hoa đốt cháy.
– Ngần!
Anh chạy theo níu áo:
– Anh tìm em mãi.
– Ô, cái ông này… làm trò gì đấy?
– Anh đây, Phương đây mà.
Đúng là em rồi. Cái mũi chun chun hơi hếch. Chiếc nốt ruồi đậm ở môi dưới hơi dày. Chiếc áo trắng cổ khoét hơi rộng… “Đúng em rồi” – Anh giữ tay cô gái.
– A, cái thằng này… Tưởng là điếm hả? Tiên sư thằng đểu!
Cô gái cong cớn, giọng oanh vàng, anh ngạc nhiên:
– Ơ kìa, ngày xem em vẫn cãi anh là hoa vông vang mà?
Cô gái lu loa:
– Cút mẹ mày đi, thằng dê đực!
Nhanh như chớp, “Roạt” một cái, cả bó hoa đỏ ối tấp ngang người anh.
Dáng cô gái xa dần. Anh nhận thấy, ngày xưa, mỗi khi bước dáng em hơi vươn lên, chứ không chùng thế kia. Anh không dám chắc…
Những cánh hoa bị dập nhàu, nổi trôi theo sóng, dưới chân anh.

Hồ Thị Hải Âu

 

Read Full Post »

Green Table

GREEN TABLE – Oil on Canvas 36 x 36
Artist: Nguyễn Trọng Khôi – Collector: Lê Quỳnh Mai
Copyright by Lê Quỳnh Mai

CÂM

                 

Ngày gặp người đàn ông có đôi mắt đẹp che khuất dưới hàng mi rậm. Biết mình không là đá. Tôi muốn nói với anh bằng ngôn ngữ của loài người khi yêu nhau. Nhưng lại không có khả năng diễn tả được những cảm nhận phát xuất từ trái tim của một người câm. Bố không bao giờ muốn đứa con gái duy nhất học ký âm dành cho người tàn tật. Chỉ dạy ký hiệu riêng đặt ra. Thừa hưởng khả năng xử dụng cả đôi bàn tay cầm cọ. Chúng tôi sống bằng những bức tranh mang gởi bán dưới thành phố. Rất ít khi tôi xuống nơi ấy vì không muốn bị đùa cợt. Một người câm không có khả năng tự vệ trước sự tàn nhẫn chà đạp của tiếng người.

Ngày gặp nhau trên căn nhà nhỏ ở ngọn đồi này. Anh đưa tay nắm. Tôi lùi lại đứng nhìn chết sững rồi quay lưng chạy ra sau bếp. Tim như ngừng đập tự lúc nào. Vườn hoa bên hông nhà ngày hôm qua mới nở bung những cánh hồng khi mùa đông vừa dứt. Từ ngày Mẹ bỏ đi. Tôi thường xử dụng cả hai bàn tay vẽ lên khung vải những cánh hồng vàng mà phần gai có những vệt máu đỏ đọng lại. Những người đàn bà yêu hồng vàng. Là những người đàn bà có trái tim phản bội và đam mê bất tận. Mẹ không phản bội. Nhưng chỉ là không chịu đựng được khi nhìn thấy tội lỗi ẩn hiện trên khuôn mặt tảng đá câm. Tôi cũng yêu hồng vàng. Và biết trong dòng máu của mình thừa hưởng cái đam mê vượt ra ngoài lễ giáo của loài người. Tôi yêu anh. Như mỗi sáng nhìn xuống đồi chờ anh trở lại. Như mỗi chiều thấy hụt hẫng khi anh bắt đầu quay lưng đi theo triền dốc xuống thành phố. Cứ như thế. Tình yêu tôi dành cho người đàn ông có thân thể thật nồng nàn quyến rũ mỗi ngày nhiều hơn một chút. Anh thường bắt đầu bỏ thành phố dưới ấy lên ngồi bên giá vẽ. Những lúc có anh bên cạnh. Như bừng sống lại sau cơn chết rũ. Tôi bắt đầu miên man bằng cả hai bàn tay mà không biết vẽ hình thể hay đề tài nào. Chỉ biết sau khi dừng cọ thì mới khám phá ra mình đang vẽ tình yêu.

Sinh nhật tôi. Tuần lễ thứ ba của mùa lá xanh bắt đầu bừng sức sống. Anh hôn tôi vào buổi chiều hôm ấy trước khi trở về thành phố. Như chết lịm trong thân thể rắn chắc và kiêu hãnh của người đàn ông có màu mắt nâu trong suốt. Tôi bắt đầu dẫm vào vết chân cũ. Giống ngày Mẹ vừa mười tám tuổi. Khi rời khỏi nhau. Anh ngồi rũ dưới gốc cây. Như con báo đen bị thương sau lần gặp phải thợ săn bắn trúng. Còn tôi. Tôi ú ớ cố gắng phát ra tiếng người. Em yêu anh. Nhưng càng cố gắng tôi càng thấy ở lồng ngực đau nhói. Âm thanh ấy chuyển trong cơ thể như điệu luân vũ tích tụ về trái tim của tảng đá câm. Cho đến khi nhận ra đôi môi mình có vị mặn và chát. Hơi ấm của dòng nước chảy từ khoé mắt làm gò má giật lên. Lần đầu tiên trong đời sống. Tôi biết khóc. Và đã khóc cho đến khi anh hốt hoảng nhận ra rồi đứng bật lên kéo tôi đẩy sát vào gốc cây sồi to tướng trước cửa nhà. Anh hôn tôi ngấu nghiến. Trên mặt mũi. Trên khắp thân thể. Cho đến khi cảm thấy đau thốn như có vật gì xuyên qua phần thiếu nhất trong thân thể phía dưới. Tôi bấu chặt vai anh. Hai bàn tay thường ngày xử dụng cho giá vẽ và cây cọ sơn bỗng nhiên không còn thừa thãi. Tôi cào cấu lưng anh mỗi lần phần thừa của thân thể anh làm phần thiếu của mình đau thốn. Cho đến khi tôi hoảng hốt nhận ra phần thiếu của thân thể mình phía dưới chảy ra dòng nuớc ấm trắng đục xen lẫn những sợi li ti màu đỏ sền sệt. Như chất hồ khuấy hư vì quá lỏng để dán khung tranh vẽ. Cho đến khi nhận ra cái lạnh đang mơn trớn thân thể mình. Là lúc anh buông tôi ra người ướt đẫm. Ánh mắt nâu trong. Giống như lúc đùa nghịch bị bắt quả tang phạm tội. Anh bắt đầu ve vuốt từ trên cổ cho đến hai bàn chân. Không nói một câu nào. Buổi tối hôm đó. Tôi ngồi lặng lẽ trước cửa sổ nhìn ra bóng đêm sau nhà. Những bụi hồng vàng bắt đầu nở bung từng cánh.

Những ngày kế tiếp. Trở lại mang những hộp nhỏ đựng đầy son phấn. Anh muốn dắt tôi trở về thành phố sống với tiếng người. Hân hoan vì hạnh phúc anh cho. Hai bàn tay tôi bắt đầu tập viết thứ ngôn ngữ của tình yêu. Anh nói con người thường giả dối lạm dụng loại ngôn ngữ này để lừa bịp lẫn nhau. Lừa bịp chính bản thân họ. Và dạy tôi hãy viết những gì muốn viết. Lần đầu tiên tôi viết được chữ V. Qua ngày kế tiếp kéo dài chân chữ V thành chữ Y. Anh cười. Nói nếu tôi được đi học chắc sẽ thông minh lắm. Tôi vẽ hai chữ V và Y quyện vào nhau. Tình yêu và hòa bình. Hai mẫu tự lồng vào ngón trỏ và ngón giữa. Ánh sáng mặt trời làm mắt anh trong một mầu nâu xuyên thấu tâm hồn tôi. Và anh cầm cây cọ vẽ thêm trái tim bên cạnh. Bố vẫn không biết hai đứa yêu nhau mỗi ngày như vậy trên ngọn đồi khi vắng nhà. Những lúc thân thể tôi rướn lên đón nhận phần thừa của anh ấn sâu vào. Là lúc nỗi nhớ Mẹ hòa lẫn niềm hạnh phúc bất tận. Làm tôi nghe như tiếng mình la hét vang cả vùng đồi cỏ úa vàng đang bắt đầu trổ lên xanh biếc. Tiếng la hét trong tôi biến anh thành con báo đen lành vết thương sau lần bị tên bắn trúng. Hai đứa hòa nhập vào nhau như một.

Ngày nối tiếp ngày. Tranh gởi bán dưới phố được chú ý nhiều hơn. Bố cũng ngạc nhiên không kém. Chỉ có anh hiểu tại sao loài người dưới thành phố thích tranh như vậy. Nửa phần người trong tôi thường xuất thần vẽ sau khi thân thể được bù đắp no đủ. Tôi vẽ dưới chân anh một vòng dây gai sắc nhọn. Những dây gai làm đôi bàn chân chảy máu có lần. Có khi tôi vẽ lên ngực trần phía bên chỗ trái tim anh đang đập. Một khuôn mặt mang hình nửa mặt trăng nửa mặt trời. Biểu tượng cho nửa ngày nửa đêm. Biểu tượng cho loài người có hai mặt sáng tối. Có lần tôi vẽ lên lưng trần của anh những hình thù kỳ quái mà chính tôi không hiểu được. Khuôn mặt trẻ con nằm giữa cánh hồng vàng làm nhụy hoa. Khuôn mặt trẻ con. Mà có lần anh giận dữ ném tung những cây cọ sơn xuống thung lũng khi biết ra bị đùa nghịch chế nhạo không ngừng. Những cây cọ sơn tôi để dành từ ngày bắt đầu vẽ hai chữ V và Y. Rồi anh gạch lên khung vẽ bức tranh tình yêu một chữ X. Giống như bức tranh hoàn toàn vô dụng. Vì tác giả của nó không có tài và kém tự tin. Mặc dù tôi đã cố gắng tô điểm tình yêu bằng những màu sắc không ai tưởng tượng ra được.

Khi anh trở về dưới thành phố với tiếng người chiều hôm đó. Tôi ngồi lặng lẽ trước giá vẽ hàng giờ dù gió đầu xuân làm hai bàn tay lạnh buốt. Không khóc. Không nhìn khi anh bỏ đi xuống núi. Hai bàn tay bắt đầu cầm cọ vẽ lại bức tranh tình yêu trong trí tưởng tượng của mình. Nhưng lần này. Tác phẩm tình yêu trên giá vẽ mang thêm một vết dài màu đen bên cạnh bởi khả năng diễn đạt của một tảng đá câm không làm anh hiểu được. Rồi tôi vẽ khổ đau của mình quyện trong máu hòa lẫn với màu của biển. Hi vọng tiếng người sẽ tha thứ cho tình yêu của chúng tôi. Chỉ có tình yêu và tha thứ mới có thể xóa tan hận thù và đau khổ. Lúc ấy. Anh dắt tôi trở về dưới thành phố. Chúng tôi sẽ có những đứa con xinh xắn đẹp như cánh hồng vàng.

Có lần mang giá vẽ dắt anh đi xuống con đường tắt xuyên qua lộ để vào thành phố. Con đường tôi thường ra đấy ngồi một mình dưới tàn cây rủ lá vào những buổi trưa nắng gắt. Dùng bàn tay trái của mình quệt sơn chung quanh thân thể anh trên lớp vải mà hai đứa dùng làm khăn trải trên mặt đất. Khi cây cọ trên tay phải có màu đỏ máu vừa kết thúc đường song song với màu đen mù mịt kéo từ bàn tay trái. Thì cũng là lúc anh quay người trườn lên kéo thân thể tôi ập xuống. Như con báo đen vừa bắt được mồi. Tới tấp. Hung hãn. Điên cuồng. Chúng tôi bắt đầu vẽ số sáu ngược trên hai thân thể không còn mảnh vải. Và cứ thế. Tôi nghe như mình đang bay chơi vơi giữa không khí. Cho đến khi mang cảm giác bầu ngực trần căng cứng vì những dấu răng sắc nhọn. Cho đến khi hai đứa cùng quay đầu trườn lên người nhau. Nhồi lên. Ép xuống. Không đau thốn. Như lần đầu tiên bị vật cứng đâm thật mạnh vào nơi chốn ấy. Cảm giác hoan lạc dâng lên tột cùng. Sóng nhấp nhô. Tôi đón nhận lớp sóng màu trắng đục đang tràn lan trong phần thiếu. Rồi anh hôn lên đó. Tôi cũng hôn lên phần thừa của con báo đen. Như anh dạy. Chập chững đón nhận thêm bài học tự nhiên của hai giống khác nhau. Tò mò. Thích thú. Thèm muốn. Anh dạy cho tôi biết trong thân thể mình có bản năng đòi hỏi và dâng hiến. Anh cũng hiểu được ngôn ngữ câm. Khi những ngón tay bắt đầu di chuyển trên thân thể còn chưa dứt cơn khát trong buổi trưa hè nóng như lửa đốt. Hai đứa tôi lăn lộn trong tận cùng của tuyệt vọng mù khơi. Rồi con báo đen nằm phủ phục dưới chân con nai sau khi đã no say đầy đủ. Tôi trổi dậy nhìn chung quanh. Không có tiếng chân. Không có tiếng người. Chỉ có tiếng gió vi vu. Âm thanh sắc lạnh. Tôi rùng mình. Mang cảm giác của một tử tội trước giờ hành quyết.

Buổi chiều hôm ấy mang tấm vải trở về. Trên nền bê bết hai màu đen đỏ mà hình như có xen lẫn vài vệt trắng ngà. Hai bàn tay tôi không ngừng trên giá vẽ tô đậm màu đen thành nửa thân hình con báo phía dưới. Nửa trên mang mặt người. Còn lại đọng toàn màu máu loang lổ khắp bức tranh. Tôi thấy hình dáng mình tan biến thành màu trắng đục nhỏ li ti. Nhiều ngày sau đó. Bức tranh mang hình nửa người nửa thú vẫn chưa hoàn tất. Bởi tôi không biết phân chia đâu là ranh giới cần dừng lại.

Trời tháng sáu ngày mưa ngày nắng làm cả hai điên đảo yêu nhau mỗi khi gặp mặt. Anh bắt đầu học vẽ. Bắt đầu nhúng cây cọ quét những vệt sơn lên thân thể tôi. Cũng có lúc giá vẽ chờ đợi sự chiếm đoạt của cây cọ sơn. Tôi trở thành bức tranh sống mang hình tượng nhục thể của loài người. Hai đứa tôi hòa lẫn vào nhau thành một. Lăn lộn trong tận cùng vực thẳm mù khơi. Càng đau đớn vì tội lỗi. Càng cầu xin được tha thứ. Chúng tôi như không tìm được lối về. Sợ hãi. Càng sợ hãi. Tuyệt vọng. Càng bám víu vào nhau như khung và cọ vẽ. Không thể nào tách rời ra được. Buổi trưa hôm ấy. Trời nắng gắt. Gió hè không đủ làm dịu cơn nhiệt trong hai thân thể. Anh kéo tôi đẩy vào nhà tắm. Bắt đầu cho một ngày tập vẽ. Tôi dạng hai chân ngồi trên thành bồn. Ngón tay trỏ lần kéo từ phía dưới ở khoảng tối đen đi lên. Ngón tay tôi đến đâu anh theo bằng đầu cây cọ sơn đến đấy. Ngón tay đi về nơi nhịp tim thở rồi dừng lại. Tôi muốn hét lên thật to cho không gian thời gian lắng nghe tình yêu thoát ra tự trái tim của một con người. Nhưng không ai hiểu. Tôi đau đớn. Nỗi đau đớn của một kẻ tàn tật. Biết yêu mà không nói được tiếng người. Rồi bàn tay tôi buông thõng. Nét cọ anh chập chững đi thành vòng tròn chung quanh trái tim bé nhỏ. Càng đau đớn. Tôi càng mong chờ đầu cây cọ sơn đi mau về nơi chốn cũ tối mù. Chỉ ở nơi ấy. Tôi mới có đủ khả năng diễn đạt mối tình dành cho anh phát xuất tự óc não phát xuất tự con tim. Chỉ ở nơi ấy. Tôi mới thể hiện được chức năng không tàn tật của mình. Chỉ ở nơi ấy. Tôi mới nói được tiếng người. Em yêu anh. Khi cây cọ trên tay anh dừng lại. Cánh hồng màu đen thăm thẳm. Tình yêu của hai đứa tôi là màu đen. Tối mịt. Tôi nghe như có tiếng nước chảy trong thân thể. Bắt đầu như tiếng gõ của đồng hồ treo trên tường ngoài nhà bếp. Tắc. Tắc. Tắc. Tắc. Rồi từ từ càng lúc càng dồn dập những tiếng tắc tắc tắc tắc. Cho đến khi nghe như tiếng nổ bung lên. Vỡ òa.Và tôi lịm đi vì hai phần thiếu dư vừa bù đắp cho nhau. Thật đầy đủ. Khi cánh hồng đen nhạt nhòa vì màu trắng đục. Cũng là lúc thân thể tôi được phủ đầy những bọt bong bóng nhờn. Anh bắt đầu chùi cho sạch vết tích của cánh hoa hồng đen nằm ở phần dưới. Chà xát da thịt. Càng lúc càng mạnh. Như muốn tẩy xóa phần thú trong thân thể tôi bằng những giọt nước tóe ra từ vòi sen trong bồn tắm. Nhưng cơn thèm muốn lại chiến thắng. Tôi gác chân lên vai con báo. Anh bắt đầu hung hãn như ngày đầu dưới gốc cây sồi trước cửa nhà. Thú và người tìm nhau trong hoan lạc. Sóng vỗ về. Tới tấp. Thật nhanh. Con báo đen càng hung hãn. Tôi càng chơi vơi như bị lớp sóng cuốn ra tận ngoài khơi xa tắp. Không lối về.

Lần cuối. Anh nói không muốn nhìn mặt khi hai đứa cởi từng khuy áo cho nhau. Tôi quay lưng lại chống tay lên thành ghế. Cơn điên cuồng. Chỉ bắt đầu hạ xuống. Khi tôi nghe tiếng trong tim mình rên rỉ từ từ la hét liên tiếp trong một khoảng thời gian nào đó. Rồi chỉ tỉnh lúc anh cắn bả vai đau điếng. Quay đầu trở lại. Hai đứa hôn nhau đắm đuối. Nhưng trong ánh mắt con báo đen lúc ấy. Tôi chụp bắt được bóng mình trần truồng ẩn hiện. Cái bóng của hình tượng nhục thể không có đầu trong sự khoái lạc đang dâng cao của con báo đen đã bắt được mồi. Và tôi khóc.

Tôi không biết thế nào là tình mẫu tử bắt đầu từ khi Mẹ bỏ đi không về. Hoàn toàn bị quên lãng bởi loài người. Lâu dần như quên ngôn ngữ chính là tiếng người dù khi nghe vẫn hiểu người ta bàn tán về Mẹ. Không nói ra thành tiếng như những người chung quanh. Tôi chỉ nói ngôn ngữ riêng. Ngôn ngữ của một thiếu nữ câm. Những ngày cuối xuân. Ánh nắng mặt trời chói lòa xuyên qua những kẽ lá in xuống mặt lộ làm thành những hình thù ngộ nghĩnh. Tôi thường đi xuống phía dưới chân đồi có rải rác những ngôi nhà không lớn lắm vào buổi sáng. Ngồi thu gọn. Tò mò nhìn khuôn mặt người qua lại. Từng người. Từng người. Họ như đang thì thầm chế diễu một tảng đá câm có linh hồn. Tôi đoán như vậy sau lần biết mình là đứa con không bao giờ được chấp nhận sống trong xã hội loài người. Tôi đau đớn về bản thân mình từ khi hiểu được tiếng người.

Có những ngày đau khổ đến cùng cực. Ngồi lặng lẽ bất động một mình bên cửa sổ nhìn ra sau nhà. Thung lũng thăm thẳm có khi là cứu cánh cuối cùng tôi nghĩ đến. Thung lũng mang những chiếc lá xanh lá vàng cuốn vòng theo chiều gió. Bay xoắn lại như chiếc phễu lọc sữa đậu nành vào những ngày gió lớn. Chỉ có duy nhất một con đường giải thoát. Biến mình thành chiếc lá xanh. Trốn loài người. Trốn khổ đau. Trốn cô đơn. Trốn thời gian. Trốn không gian. Tôi thường nghĩ đến giấc mơ làm chiếc lá mỗi khi nghe tiếng người tàn nhẫn nói về Mẹ. Lúc ấy. Hai bàn tay cầm cọ sơn vẽ vòng chung quanh cổ. Những cánh hoa hồng vàng nhỏ li ti nối nhau bằng vòng dây thừng màu xanh cánh lá. Vẽ hai bên cổ tay vòng dây thừng xoắn quanh. Phía trên đôi chân trần cũng hai vòng dây thừng nâu đậm. Tôi. Tội nhân đau khổ của tiếng người. Rồi nhảy múa trước gương cho đến khi mệt lả. Thân tôi cũng giống như cánh lá bị cuốn tận đáy thung lũng. Cứ thế. Xoay vòng tròn chung quanh bàn ăn. Chờ anh đến. Chỉ có anh bên cạnh. Tôi mới mang cảm giác an toàn. Chỉ có anh bên cạnh. Tôi mới nguyên vẹn không tật nguyền. Chỉ có anh bên cạnh. Ước mong biến thành chiếc lá xanh mới tan dần. Chỉ nghe anh nói đi tìm cái chết là một điều tồi tệ nhất. Tôi mới nguôi dần cơn mơ nằm sâu dưới thung lũng. Những lúc nhìn tôi nhảy múa với đôi bàn tay còn cầm hai cây cọ. Anh ngồi lặng lẽ không nói. Ngón tay gõ nhịp. Vang mặt bàn.

Mùa thu làm vùng đồi chung quanh óng vàng lên những chiếc lá sắp lìa cành. Buổi sáng tôi thường đạp lên xác lá khô. Tiếng gió thổi như thầm thì một điều gì không rõ. Những khuôn mặt người. Nói. Cười. Và tôi. Hoàn toàn cô độc. Lặng lẽ một mình. Mẹ bỏ đi trong ngày mưa tầm tã. Nếu tiếp tục sống với nhau. Hai người chỉ tạo thêm những tảng đá câm. Tôi níu tay gọi mẹ đừng bỏ con. Nhưng không có khả năng giữ Mẹ lại. Bởi tiếng nói phát ra từ trái tim tôi là ngôn ngữ của tảng đá câm. Ngôn ngữ mà loài người không bao giờ hiểu được. Tôi bất lực hoàn toàn không có khả năng giữ được tình mẫu tử cho mình. Có lúc tôi thù ghét cái tôi đến tận cùng. Tôi biết như vậy bởi thấy hai bàn tay mình múa rối bời trên khung vải bố mà không ra một hình thù nào cả. Khi ngừng lại. Trước mặt. Trên giá vẽ. Chỉ toàn là những màu nóng. Những lúc ấy bố ngồi lặng lẽ ở bên cạnh tiếp tục vẽ bằng tay trái một màu lạnh. Màu của biển. Mênh mông và vô tận.

Ngày Mẹ bỏ đi. Chúng tôi đi tìm dưới thành phố nhưng bị người ta xua đuổi. Chế diễu bố là thằng thú vật. Trên đường trở lại căn nhà thế giới riêng của hai cha con. Bố khóc. Lấy tay rờ lên mặt thằng thú vật. Tôi cười. Câm đôi khi là niềm hạnh phúc. Nếu không tôi cũng có nước mắt đau khổ của một kiếp người. Khi tiếp nhận những hành hạ tinh thần bằng tiếng nước tôi. Cho đến ngày gặp anh. Tôi mới được nếm vị mặn của dòng nước mắt trên khuôn mặt tật nguyền. Khuôn mặt của kiếp nửa người . Gió thu mỗi lúc càng thổi mạnh. Tôi nghe máu di chuyển trong thân thể như điệu luân vũ cuối cùng. Ngày từng ngày. Sáng từng sáng. Trưa từng trưa. Ngày chuyển tiếp ngày bằng bóng tối dày đặc. Tôi chờ anh trở lại dù biết chờ đợi là cực hình kinh khủng nhất. Mỗi buổi sáng sau khi thức giấc. Khoác áo choàng ngồi trước giá vẽ. Hai bàn tay bắt đầu cầm cọ viết lên khung vải chữ V xen kẽ chữ Y. Bàn tay trái nối tiếp bàn tay phải miên man không dừng lại. Cho đến khi nhận ra mình đã vẽ chữ V và chữ Y chổng ngược trở lại bằng hai màu đen trắng. Tôi tiếp tục là tảng đá câm sau ngày anh đi không trở lại.

Cứ như thế thời gian trôi nhanh. Mùa đông mang đến một màu tuyết trắng xóa chung quanh nhà trên ngọn đồi cao hơn thành phố. Đông năm nay lạnh buốt. Ngày hôm qua tôi ra đắp hai hình nhân trước cửa nhà cho đến tối mịt. Sáng nay qua làn cửa kính. Hai người tuyết đứng sừng sững quay mặt nhìn xuống đồi như chờ đợi người thân trở về. Gần cuối đông trời bắt đầu lên nhiệt độ. Tuyết rơi từ chiều thứ bẩy không ngừng. Những cánh tuyết mỏng manh bị thổi tung bay tứ phía chưa kịp chạm mặt đất đã tan thành bọt nước. Tôi thích đứng ngửa mặt lên trời vào những lúc như thế. Để đón nhận cảm giác đau đớn của bụi tuyết tan vào hư vô. Sau khi nhảy múa đùa nghịch không ngừng tìm cách len lỏi vào từng sợi tóc của loài người. Nhiệt độ càng lúc càng lên cao. Sáng chủ nhật tuyết ngừng rơi cũng là lúc những giọt mưa mùa đông đổ xuống. Khi cơn mưa nhẹ hột không còn nữa. Nhiệt độ tự nhiên xuống thấp như giữa tháng giêng. Lạnh buốt. Cơn lạnh kéo dài. Cho đến khi những cây trụi lá biến thành cây crystal trong suốt như nước đá. Và cả vùng đồi trở thành sân trượt băng rộng lớn. Những năm có verglas như vậy. Tôi thường đứng rất lâu trong cửa kính nhìn cây sồi trước hiên nhà. Nhưng chưa bao giờ thể hiện được đúng hình ảnh một cây crystal trên giá vẽ. Sau trận verglas ngày chủ nhật. Tuyết bắt đầu chảy từ từ thành nước. Tôi không còn mang cảm giác chờ đợi nữa.

Những ngày đông thiếu anh. Tâm hồn chìm sâu xuống tận đáy vực thẳm. Tôi nghe như tiếng mình vọng lên cầu cứu loài người. Tôi đớn đau hơn ngàn lần ngày anh chưa hiện hữu trong đời sống của một người tàn tật. Có ngày điên cuồng vì nhớ. Đôi bàn tay vẽ rối bời những hình thù kỳ quái. Rồi tôi dùng dao rạch nát những bức tranh vừa vẽ được và nghe như thân thể điên cuồng trong cơn khát vọng. Tôi thèm nghe tiếng anh. Thèm nghe tiếng người. Thèm được yêu thương vuốt ve từ đôi bàn tay của người đàn ông có bản năng hung hãn. Thèm nghe mùi đàn ông của anh. Người đã biến tôi thành đàn bà năm mười tám tuổi. Cơn thèm muốn của phần thú làm kiếp nửa người điên đảo từng ngày. Có lần nằm thu mình trong bồn tắm. Tôi nhìn thấy mình cầm cọ vẽ. Dạng hai chân theo điểm tựa trên tường. Bàn tay chập choạng đi về chốn tối mù. Tôi làm tôi sung sướng. Như ngày chúng tôi mang hạnh phúc cho nhau. Ngón tay lần theo thân thể. Từ trên đôi môi không còn biết khóc. Mò mẫm kéo theo đường song song với một tay cầm cọ. Đi xuống hai bầu ngực trần. Rồi như phản xạ. Cây cọ lần theo về chốn tối mù. Vẽ cánh hoa hồng đen. Như ngày anh bắt đầu tập vẽ trên thân thể mình. Tôi nhắm mắt tìm lại cảm giác của những ngày hoan lạc xưa cũ. Cây cọ bắt đầu len lỏi đi vào chốn tối mù. Càng len lỏi vào tận cùng sâu thẳm. Khoái lạc càng từ từ xâm chiếm từng phần thân thể. Nhưng dù cảm giác thèm muốn được cây cọ bồi đắp một phần. Tôi càng nhận ra không bao giờ trong đời sống còn lại. Tôi có thể tìm được cảm giác ngày cũ. Không có phần thừa của anh nhập lại. Tôi chỉ là một sinh vật không đầy đủ. Không có phần thừa của anh bồi đắp. Tôi trở lại kiếp nửa người. Không có phần thừa của anh. Phần thiếu trên thân thể tôi chỉ là tàn tật. Và. Không có thân thể anh quấn chặt. Tôi. Không còn là tôi nữa.

Những ngày nhận ra sự thật. Tôi hốt hoảng điên cuồng. Có khi xé nát tung lớp áo đầm đang mặc và đứng trước gương. Hai tay cầm cọ vẽ những lớp sóng lên đôi ngực trần. Một lớp. Hai lớp. Ba lớp. Bốn lớp. Sóng dồn lên nhau. Cuốn thân thể trần truồng ra ngoài khơi xa tắp. Tôi nghe tiếng mình gào thét gọi tên anh trong tận cùng của mênh mông biển cả. Tiếng gào thét càng lúc càng vang dội làm đôi bàn tay quơ lên đập nát mặt kính. Tôi thù ghét tôi. Tôi thù ghét tấm gương trước mặt. Nếu không có nó. Tôi vĩnh viễn không biết hình hài mình ra sao. Chắc sẽ hạnh phúc hơn nhiều. Có khi tôi nghe tiếng mình gọi tên anh vang vọng trên khắp ngọn đồi phủ đầy tuyết. Có đêm không ngủ được. Ngồi trên chiếc ghế mà lần cuối anh cắn bả vai khi tôi chống tay quay lưng lại. Tiếng tíc tắc của đồng hồ lẻ loi làm bóng đêm dày đặc biến thành nhà mồ của một người tàn tật. Tôi câm. Vì cha mẹ là hai anh em ruột. Tôi câm. Vì bố mẹ cùng một dòng máu sanh thành. Tôi chơi vơi trong đau khổ. Thèm muốn. Nhớ thương. Thù hận. Còn anh. Anh ở đâu. Sao không trở về cho tôi dâng hiến kiếp nửa người. Sao anh không trở về như lời đã hứa.

Ngồi trước bàn mở hộp trang điểm có những loại phấn đặc biệt vẽ trên khuôn mặt người. Bắt đầu bằng cách trộn bột và keo đắp lên che khuất hai lông mày. Khuôn mặt phẳng lỳ trơn nhẵn trên gương phản chiếu lại. Làm tôi bật cười lên khô khan. Rồi trộn phấn bột bằng cọ vẽ trước khi cầm bút chì đen chấm ở trung tâm điểm trên chân tóc giữa trán. Tôi kéo dài xuống một đường đi qua sóng mũi. Vẽ cong thành cái miệng cái mũi con người bắt đầu ở nhân trung cho đến cằm chia đôi khuôn mặt của mình thành hai. Lại bắt đầu từ chân tóc bên cạnh đường đã vẽ kéo một đường cong theo mang tai chạy dài xuống cằm. Bên mặt và bên trái. Khuôn mặt phẳng lỳ nhẵn thín bắt đầu có bóng dáng người. Tiếp tục cầm bút phấn quét lên phía má bên trái. Cho đến khi dầy đặc một màu trắng và mầu xanh nuớc biển bên phía đối diện. Tiếp tục làm công việc cuối cùng. Cho mặt ngày có ánh sáng chói lòa bằng bụi kim tuyến. Mặt ngày mà loài người hãnh diện về mình không ít. Có khi lại hãnh diện những điều không có thật. Ngôi sao nhỏ và ánh trăng bên mặt đêm làm mặt ngày bị che khuất. Bởi đêm về không ai che dấu được phần tâm linh sâu kín của riêng mình.

Tôi miệt mài vẽ. Cho đến khi trước gương xuất hiện một khuôn mặt khác xa tảng đá câm mà tôi thấy trong gương mỗi ngày. Đó là một thằng hề với hai mặt sáng tối của một kiếp người. Khi nốt nhạc cuối cùng của đoạn giao hưởng-Le mariage de Figaro-Mozart vừa dứt tiếng. Cũng là lúc bàn tay buông cây cọ vẽ xuống mặt bàn. Tôi đứng lên bước vào nhà bếp. Lần cuối cùng gặp nhau ở nơi này. Anh hứa sẽ tặng cái nhẫn bằng platinum để chúng tôi suốt đời ở bên cạnh nhau. Vì platinum không làm nhẫn méo mó như chất vàng thường. Muốn hai đứa sống với nhau như vợ chồng. Dù chúng tôi là hai anh em họ. Dù khuôn mặt anh giống bố như con ruột. Vì bác và bố là hai anh em song sinh. Lúc ấy tôi chống tay lên thành ghế. Không quay mặt lại và gật đầu. Ngày níu tay Mẹ ú ớ không thành tiếng cũng ở căn bếp này. Nơi chứng kiến sự đau khổ cũng như niềm hạnh phúc của một kiếp người tàn tật. Mẹ bỏ đi. Tuổi thơ tôi chôn vùi theo cát bụi. Anh bỏ đi. Thời thiếu nữ ngắn ngủi cũng không còn nữa. Nhìn lần cuối tất cả vật dụng chung quanh. Không gian. Thời gian. Với tôi. Hoàn toàn không còn giá trị.

Trong tuyệt vọng và cô đơn cùng cực. Mang bộ mặt nửa ngày nửa đêm. Nửa mặt trăng nửa mặt trời. Nửa người nửa thú. Khuôn mặt với đôi vòng nhật nguyệt. Tôi quay đầu bước từ từ ra cửa.

 

Lê Quỳnh Mai

Read Full Post »